Cơ sở lý luận và thực tiễn về giải pháp duy trì tiêu chí nông thôn mới
Cơ sở lý luận về giải pháp duy trì tiêu chí nông thôn mới
Nông thôn là khu vực không nằm trong nội thành, nội thị của các thành phố, thị xã, thị trấn, và được quản lý bởi Ủy ban nhân dân xã theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Trên thế giới hiện nay, có nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về "nông thôn" Một số quan điểm so sánh nông thôn với thành thị dựa trên trình độ phát triển và cơ sở hạ tầng Một số khác lại căn cứ vào khả năng tiếp cận thị trường và phát triển hàng hóa để phân biệt giữa hai khu vực này Ngoài ra, cũng có quan điểm cho rằng nông thôn là khu vực dân cư chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và thu nhập từ lĩnh vực này.
Khái niệm nông thôn là tương đối và thay đổi theo thời gian cũng như quan niệm của từng quốc gia Tại Việt Nam, nông thôn được hiểu là vùng sinh sống của cộng đồng dân cư, chủ yếu là nông dân, tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng từ các tổ chức khác (Mai Thanh Cúc & cs., 2005).
Các nhà nghiên cứu có nhiều tiếp cận khác nhau và đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn mới ở nước ta
Theo tác giả Vũ Trọng Khải (2007), thì nông thôn mới là nông thôn văn minh hiện đại nhưng vẫn giữ được nét đẹp của truyền thống Việt Nam
Mô hình nông thôn mới, theo Phan Xuân Sơn và Nguyễn Cảnh (2008), là một tổ chức nông thôn hiện đại với các đặc điểm và cấu trúc đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh hiện nay So với nông thôn truyền thống, mô hình này vượt trội hơn về mọi mặt, bao gồm tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường Mô hình nông thôn mới không chỉ đạt hiệu quả cao trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội mà còn có khả năng phổ biến và nhân rộng trên toàn quốc.
Tô Văn Trường (2009) nhấn mạnh rằng, nông thôn mới (NTM) cần bảo tồn tính truyền thống và bản sắc văn hóa đặc trưng của từng vùng, từng dân tộc, đồng thời nâng cao giá trị đoàn kết cộng đồng và cải thiện mức sống của người dân Mô hình nông thôn tiên tiến phải được xây dựng trên nền tảng nông dân có tri thức.
Các học giả đồng thuận rằng NTM (Nông thôn mới) là một mô hình phát triển nông thôn, trong đó kinh tế nông thôn được cải thiện, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao, dân trí được nâng cao, và bản sắc văn hóa dân tộc được bảo tồn và phát triển.
Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008, của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã xác định rằng NTM là khu vực nông thôn với hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, kết nối nông nghiệp với phát triển công nghiệp và dịch vụ Phát triển nông thôn cần gắn liền với đô thị theo quy hoạch, đảm bảo xã hội nông thôn dân chủ, ổn định và giàu bản sắc văn hóa Bảo vệ môi trường sinh thái, giữ vững an ninh trật tự, và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân theo định hướng XHCN là những mục tiêu quan trọng.
Theo Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ, xây dựng nông thôn mới (NTM) cần có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, và tổ chức sản xuất gắn kết nông nghiệp với phát triển công nghiệp và dịch vụ Đồng thời, phát triển nông thôn phải liên kết với đô thị theo quy hoạch, đảm bảo xã hội nông thôn dân chủ, ổn định và giàu bản sắc văn hóa Bảo vệ môi trường sinh thái, giữ vững an ninh trật tự, và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân cũng là những mục tiêu quan trọng, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nông thôn mới là khu vực nông thôn có hạ tầng kinh tế hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý và các hình thức tổ chức sản xuất hiệu quả Nơi đây có xã hội dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đời sống vật chất và tinh thần được cải thiện, môi trường sinh thái được bảo vệ, và an ninh trật tự được duy trì.
2.1.2 Sự cần thiết và quan điểm xây dựng nông thôn mới ở nước ta
2.1.2.1 Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới
Nông nghiệp, nông dân và nông thôn có mối quan hệ chặt chẽ, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Do đó, việc xây dựng nông thôn mới (NTM) trong bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa là rất cần thiết.
Nông thôn Việt Nam hiện đang đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm sự phát triển tự phát và thiếu quy hoạch, hạ tầng kinh tế xã hội kém, ô nhiễm môi trường, và gia tăng tệ nạn xã hội Điều này dẫn đến việc nhiều người không còn muốn sống ở nông thôn Tình trạng nữ hóa lao động và già hóa nông dân cũng trở nên phổ biến, với thực tế rằng ngành nông nghiệp ngày càng ít người muốn tham gia, nông thôn ít người muốn sinh sống, và nông dân cũng ít người muốn làm việc trong lĩnh vực này.
Thứ hai, sản xuất nông nghiệp còn lạc hậu, quan hệ sản xuất chậm đổi mới
Kinh tế hộ hiện nay chủ yếu có quy mô nhỏ và manh mún, với việc bảo quản và chế biến sản phẩm còn hạn chế, chưa kết nối hiệu quả với thị trường tiêu thụ Chất lượng nông sản chưa đủ sức cạnh tranh, trong khi chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp diễn ra chậm Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp vẫn còn thấp và cơ giới hóa chưa được thực hiện đồng bộ.
Cuộc sống của người dân hiện nay đang đối mặt với nhiều khó khăn, với thu nhập bình quân chỉ đạt mức thấp so với trung bình cả nước Tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao, và khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng, đặc biệt là giữa khu vực thành thị và nông thôn cũng như giữa các vùng khác nhau.
Để nâng cao mức thụ hưởng thành tựu của công cuộc đổi mới cho nông dân, cần chú trọng đến việc cải thiện cơ sở hạ tầng và điều kiện sản xuất Hơn 65% dân số Việt Nam là nông dân, nhưng họ đang phải đối mặt với nhiều khó khăn như thu nhập thấp, khả năng tiếp cận dịch vụ hạn chế và chất lượng cuộc sống kém Do đó, việc xây dựng nông thôn mới (NTM) là cần thiết để nhà nước có thể hỗ trợ và quan tâm nhiều hơn đến đời sống của nông dân.
Để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn, cần có đất đai, vốn và lao động kỹ thuật, trong đó hai yếu tố quan trọng thuộc về nông nghiệp và nông dân Việc xây dựng nông thôn mới sẽ giúp quy hoạch lại đồng ruộng và đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu công nghiệp hóa Mục tiêu của Đảng và Chính phủ là đến năm 2020, Việt Nam sẽ cơ bản trở thành nước công nghiệp, do đó, không thể để nông nghiệp và nông thôn lạc hậu, cũng như nông dân sống trong nghèo khó.
2.1.2.2 Quan điểm về xây dựng nông thôn mới
Phương pháp nghiên cứu
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên a Vị trí địa lý
Yên Mô là huyện có lịch sử hình thành lâu đời, trước đây được gọi là Mô Độ thời nhà Trần Năm 1977, Quốc hội đã quyết định hợp nhất 9 xã phía bắc của huyện Yên Khánh với huyện Yên Mô và thị trấn Tam Điệp thành huyện Tam Điệp Sau 17 năm, vào ngày 04/7/1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 59-NĐ/CP tách 9 xã của huyện Yên Khánh cũ, lập lại huyện Yên Khánh và đổi tên huyện Tam Điệp thành huyện Yên Mô Ngày 01/9/1994, huyện Yên Mô chính thức được thành lập.
Yên Mô là vùng đất có truyền thống văn hóa và cách mạng phong phú, nổi tiếng với nhiều danh nhân như Ninh Tốn, Vũ Phạm Khải, và Phạm Thận Duật Đây cũng là một trong những địa phương đầu tiên tiếp thu Chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của huyện được thành lập vào năm 1929 tại làng Côi Trì, xã Yên Mỹ, do ông Tạ Uyên, Cố Bí thư xứ ủy Nam Kỳ, sáng lập, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng của tỉnh Ninh Bình.
Yên Mô là vùng đất nổi bật với nhiều di tích lịch sử và văn hóa phong phú, cùng với các lễ hội truyền thống đặc sắc Nơi đây còn được biết đến như cái nôi của nghệ thuật hát chèo và hát xẩm, đặc biệt là giọng ca thiên bẩm của cố nghệ nhân Hà Thị Cầu.
Yên Mô nằm ở phía Nam tỉnh Ninh Bình cách trung tâm Thành phố Ninh Bình 15km, Yên Mô có vị trí địa lý như sau:
+ Phía Bắc: Giáp huyện Hoa Lư;
+ Phía Nam giáp huyện Nga Sơn (tỉnh Thanh Hóa);
+ Phía Đông: Giáp huyện Yên Khánh và Kim Sơn;
+ Phía Tây: Giáp thành phố Tam Điệp
Huyện Yên Mô bao gồm 17 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 16 xã và 1 thị trấn, với 9 xã miền núi Tính đến tháng 4/2020, tổng dân số huyện đạt 119.697 người, trong đó có 7.293 người theo đạo Công giáo (chiếm 6,1%) và 3.978 người theo đạo Phật (chiếm 3,3%).
Tổng diện tích đất tự nhiên của khu vực là 14.609,8 ha, bao gồm 10.042,4 ha đất nông nghiệp, trong đó có 7.925,1 ha đất sản xuất nông nghiệp, 1.648,5 ha đất lâm nghiệp, 452 ha đất thủy sản và 16,8 ha đất khác Ngoài ra, diện tích đất phi nông nghiệp là 4.101,2 ha, và còn 466,1 ha đất chưa sử dụng.
Khoáng sản chủ yếu bao gồm hai loại: đá vôi và đất sét Đá vôi có trữ lượng hạn chế, chủ yếu được sử dụng trong sản xuất vật liệu xây dựng dân dụng Trong khi đó, đất sét có trữ lượng thấp và hàm lượng sét nhỏ, thường được dùng để sản xuất gạch và ngói.
Huyện Ninh Bình sở hữu hai hồ chứa nước lớn nhất tỉnh là hồ Đồng Thái và hồ Yên Thắng, với dung tích 16,4 triệu m³, tạo nên cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và tiềm năng phát triển du lịch sinh thái Sân golf Hoàng Gia 54 lỗ tại hồ Yên Thắng, rộng 670 ha, thu hút du khách trong và ngoài nước đến luyện tập thể thao và nghỉ dưỡng Huyện có 58 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 11 di tích quốc gia và khu di chỉ khảo cổ học Mán Bạc, nổi tiếng với gốm sứ Bát Tràng Các lễ hội truyền thống như lễ hội Báo bản Nộn Khê và lễ hội làng Bình Hải cũng thu hút đông đảo du khách Ngoài ra, huyện còn có 11 làng nghề truyền thống như nề, mộc, chế biến thực phẩm, và gốm sứ Bồ Bát, với các đặc sản nổi tiếng như nem chua Yên Mạc, giò trứng Yên Từ, và bún Khánh Dương, được tiêu thụ rộng rãi trong và ngoài tỉnh.
Khí hậu của khu vực này là nhiệt đới gió mùa hải dương, với dãy núi thấp Tam Điệp ở phía nam có tác dụng chặn gió mùa đông bắc, dẫn đến lượng mưa cao hơn vào đầu mùa đông so với các vùng lân cận Đặc điểm này càng rõ nét ở những dãy núi cao hơn Trong mùa đông, nhiệt độ trung bình tháng 1 thường dưới 17°C, với nửa đầu mùa đông từ tháng 11 đến tháng 2 có thời tiết khô hanh, trong khi nửa cuối mùa đông chuyển sang thời tiết nồm ẩm vào tháng 2.
Lượng nồm ẩm phụ thuộc vào gió mùa đông bắc lệch đông, mang theo hơi ẩm Độ ẩm cao nhất có thể đạt tuyệt đối khi nhiệt độ tăng từ lạnh lên trong khoảng 18 - 26°C, với 22°C là mức lý tưởng cho hiện tượng ngưng tụ Hiện tượng nồm ẩm sẽ biến mất khi nhiệt độ không phù hợp, tức là dưới 16°C hoặc trên 28°C Đây là kiểu thời tiết đặc trưng của huyện và khu Đông Bắc.
Mùa mưa diễn ra từ tháng 2 đến tháng 4, trong khi mùa hè kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 Gió mùa đông nam mang theo hơi ẩm từ biển, tạo ra không khí mát mẻ và mưa nhiều Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu mùa hè từ tháng 5 đến tháng 7, có những đợt gió mùa tây nam hay còn gọi là phơn, mang đến thời tiết nóng và khô, với nhiệt độ có thể vượt quá 40°C.
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Cơ sở hạ tầng nông thôn
Huyện có nhiều tuyến giao thông quan trọng như đường sắt Bắc-Nam, cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình, và các quốc lộ 1A, 12B, 21B kéo dài, cùng với ĐT 480B, ĐT 480C, ĐT 477, tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển Giao thông đường thủy cũng phát triển với các tuyến sông Vạc, sông Ghềnh, sông Trinh Nữ, sông Bút, và kênh Nhà Lê, trong đó sông Vạc và kênh Nhà Lê là hai tuyến chính có lưu lượng tàu thuyền lớn, đóng vai trò quan trọng trong giao thông thủy của huyện và các khu vực lân cận Hệ thống giao thông liên huyện, liên xã đã được đầu tư và nâng cấp đạt chuẩn, đảm bảo kết nối và giao thương thuận tiện, đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.
3.1.2.2 Kết quả phát triển kinh tế
Trong những năm gần đây, huyện Yên Mô đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng với sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu kinh tế Giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng tăng mạnh, cùng với việc cải thiện kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội Sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng hàng hóa, với giá trị sản xuất trên mỗi ha đất canh tác tăng cao Phong trào xây dựng nông thôn mới và nông thôn mới kiểu mẫu đã mang lại nhiều kết quả tích cực, làm đổi mới diện mạo nông thôn Văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, an sinh xã hội được đảm bảo, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc phòng và quân sự địa phương Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được chú trọng, đạt được nhiều kết quả nổi bật, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của chính quyền các cấp.
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn giai đoạn 2016-2020 đạt hơn 1.004,7 tỷ đồng, với bình quân 200,94 tỷ đồng/năm, tăng 702,7 tỷ đồng so với giai đoạn 2011-2015.
2020 đạt 3.196,7 tỷ đồng, bình quân đạt 639,34 tỷ đồng/năm, trong đó chi đầu tư phát triển chiếm 29,7% tổng chi ngân sách
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được Huyện ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo thực hiện đồng bộ và sâu sát, phù hợp với tình hình địa phương Nhân dân tích cực ủng hộ và tham gia đóng góp tiền bạc, công sức, trí tuệ để xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp và văn minh.
Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu a Thuận lợi
Huyện Yên Mô có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho nông nghiệp, thủy sản và tiểu thủ công nghiệp Trong những năm qua, Đảng bộ và chính quyền huyện đã củng cố hệ thống chính trị vững mạnh, phát huy dân chủ và tăng cường khối đại đoàn kết Phát triển kinh tế - xã hội được xác định là trung tâm, trong khi xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần Huyện cũng chú trọng bảo đảm quốc phòng - an ninh Tiềm năng của các xã được phát huy để phát triển nhanh và bền vững, với quyết tâm nâng cao chất lượng tiêu chí nông thôn mới, hướng tới việc huyện Yên Mô sớm được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu.
Quỹ đất phát triển xây dựng khá hạn chế do đất đồi núi, đất sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng tương đối lớn.
Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu và chọn mẫu điều tra a Chọn điểm nghiên cứu
Huyện Yên Mô có 16 xã và 01 thị trấn, và đến năm 2020, tất cả 16 xã đã đạt chuẩn nông thôn mới (NTM) Theo số liệu từ Văn phòng ban chỉ đạo xây dựng NTM huyện, năm 2015 chỉ có 4 xã đạt chuẩn NTM, nhưng con số này đã tăng lên 6 xã vào năm 2016, 8 xã vào năm 2017, 10 xã vào năm 2018, và 14 xã vào năm 2019 Cuối cùng, đến năm 2020, 2 xã cuối cùng đã đạt chuẩn NTM, nâng tổng số xã đạt chuẩn lên 16 Đặc biệt, trong số đó, xã Yên Từ và xã Yên Hòa đã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu.
Theo đánh giá của Ban chỉ đạo xây dựng NTM huyện Yên Mô, 8 xã đạt chuẩn NTM từ năm 2018 đến 2020 vẫn duy trì tốt các tiêu chí Tuy nhiên, do thời gian từ khi đạt chuẩn đến năm 2020 còn ngắn, chúng tôi chỉ lựa chọn nghiên cứu 4 trong 8 xã đạt chuẩn NTM từ năm 2017 trở về trước.
Đến năm 2014, chỉ có 2 xã đạt chuẩn NTM, trong đó xã Yên Thắng đạt chuẩn vào năm 2013 Đến năm 2015, xã Yên Hòa cũng được công nhận đạt chuẩn NTM.
Chúng tôi đã chọn nghiên cứu hai xã đạt chuẩn NTM và có kết quả duy trì tốt, được công nhận là xã NTM kiểu mẫu, nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho các xã trong huyện Năm 2017, trong số hai xã đạt chuẩn, xã Yên Lâm được chọn để nghiên cứu Kết quả duy trì tiêu chí NTM ở bốn xã này sẽ cung cấp những bài học quý giá cho việc duy trì tiêu chí NTM tại các xã khác trong huyện Để thực hiện nghiên cứu, chúng tôi sẽ tiến hành điều tra và thu thập thông tin từ các nhóm đối tượng liên quan.
(i) Ban chỉ đạo và ban quản lý xây dựng nông thôn mới cấp xã, mỗi xã điều tra
15 người; Tổng số mẫu là 15 người/xã * 4 xã = 60 người;
(ii) Ban phát triển thôn, mỗi xã điều tra 3 thôn và mỗi thôn điều tra 3 người, Tổng số mẫu điều tra là 3 người/tôn * 3 thôn/xã * 4 xã = 36 người;
(iii) Mỗi xã điều tra 30 hộ dân ở 2-3 thôn, mỗi hộ điều tra 1 người, tổng số điều tra 30 người/xã; Tổng số mẫu điều tra 30 người/xã * 4 xã = 120 người;
Chúng tôi đã thực hiện phỏng vấn sâu với 5 cán bộ huyện, bao gồm lãnh đạo UBND huyện, Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện, và Văn phòng điều phối xây dựng nông thôn mới huyện Mục đích là để có cái nhìn tổng quát và đánh giá đa chiều về kết quả xây dựng nông thôn mới (NTM) cũng như việc duy trì các tiêu chí đối với xã đạt chuẩn nông thôn mới của huyện.
Bảng 3.1 Số lượng và cơ cấu mẫu điều tra
TT Chỉ tiêu Số lượng (người) Cơ cấu (%)
1 Ban chỉ đạo, ban quản lý cấp xã (15 người/xã * 4 xã)
2 Ban phát triển thôn (9 người/xã * 4 xã) 36 16,29
3 Người dân (30 người/xã * 4 xã) 120 54,30
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu, thông tin a Thu thập tài liệu thứ cấp
Thông tin thứ cấp là số liệu đã được công bố về các vấn đề như:
- Quá trình triển khai và kết quả xây dựng NTM của huyện Yên Mô
Tình hình huy động các nguồn lực như nhân lực, đất đai, tài chính từ ngân sách Nhà nước, đầu tư của doanh nghiệp tư nhân và cộng đồng dân cư là rất quan trọng cho việc xây dựng và duy trì tiêu chí NTM.
Chủ trương chính sách của tỉnh Ninh Bình và huyện Yên Mô tập trung vào việc duy trì và nâng cao chất lượng thực hiện các tiêu chí NTM tại các xã đã đạt chuẩn.
Thông tin thứ cấp được thu thập từ các cơ quan như Văn phòng điều phối xây dựng nông thôn mới huyện, Phòng Nông nghiệp, Chi cục Thống kê, Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới, cùng với UBND huyện và UBND các xã: Yên Thắng, Yên Hòa, Yên Từ, Yên Lâm.
Chúng tôi đã tham khảo các đề tài khoa học, công trình đã công bố và thông tin trên internet để hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu Để thu thập số liệu sơ cấp, chúng tôi tiến hành điều tra trực tiếp 120 hộ dân tại 4 xã được chọn, nhằm thu thập thông tin liên quan đến việc duy trì các tiêu chí sau khi xã được công nhận đạt chuẩn NTM Các thông tin chính cần thu thập bao gồm:
+ Thông tin về hộ gia đình;
+ Nhận thức về Chương trình xây dựng NTM;
+ Sự tham gia của cá nhân và gia đình vào duy trì tiêu chí NTM ở địa phương;
Ban chỉ đạo và Ban quản lý chương trình cấp xã, thôn/xóm, cùng với các tổ chức đoàn thể như phụ nữ, cựu chiến binh, mặt trận, phụ lão và thanh niên, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và duy trì tiêu chí NTM Sự phối hợp hiệu quả giữa các tổ chức này không chỉ nâng cao nhận thức cộng đồng mà còn thúc đẩy sự tham gia tích cực của người dân trong quá trình phát triển nông thôn mới.
Đánh giá việc huy động và sử dụng các nguồn lực như đất đai, công lao động, tiền đóng góp của dân, doanh nghiệp và nguồn tài chính từ chương trình là rất quan trọng để duy trì các tiêu chí xây dựng nông thôn mới (NTM).
+ Đánh giá về thực trạng kết quả duy trì các tiêu chí NTM;
+ Những thuận lợi và khó khăn trong duy trì tiêu chí NTM ở địa phương;
- Đề xuất kiến nghị tăng cường huy động nguồn lực để duy trì và nâng cao chất lượng thực hiện tiêu chí NTM ở địa phương
3.2.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
3.2.3.1 Phương pháp tổng hợp số liệu
Sau khi thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp, chúng tôi tổng hợp thông tin về tình hình triển khai và kết quả xây dựng, duy trì tiêu chí nông thôn mới Các số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel và trình bày dưới dạng bảng số liệu.
3.2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu a Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp nghiên cứu này sử dụng các chỉ tiêu số tuyệt đối, số tương đối và số bình quân để trình bày dữ liệu thu thập từ bảng thống kê và đồ thị Nó được áp dụng để phân tích ý kiến của người dân và cán bộ tại các xã khảo sát về mức độ duy trì các tiêu chí sau khi xã được công nhận đạt chuẩn NTM Đồng thời, phương pháp cũng giúp đánh giá nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến việc duy trì tiêu chí tại các xã của huyện Yên Mô.
Phương pháp này được sử dụng để đối chiếu các chỉ tiêu đã tính toán, so sánh thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, cũng như theo thời gian và không gian Mục tiêu là đưa ra những nhận xét chính xác về thực trạng duy trì các tiêu chí và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau đến việc duy trì các tiêu chí sau khi xã được công nhận đạt chuẩn NTM.
Phương pháp này tính điểm đánh giá mức độ duy trì cho từng chỉ tiêu của các tiêu chí NTM dựa vào ý kiến của người dân tại từng xã Qua đó, mức điểm đánh giá bình quân cho từng tiêu chí ở mỗi xã và toàn huyện được xác định Cụ thể, người dân và cán bộ xã sẽ đánh giá mức độ duy trì các chỉ tiêu NTM theo 3 mức độ khác nhau.
Mức cho điểm đánh giá:
- Nếu người dân/cán bộ xã đánh giá tiêu chí không còn duy trì được như qui định trong Bộ tiêu chí NTM: Tương ứng cho điểm 1;
- Nếu người dân/cán bộ xã đánh giá tiêu chí vẫn duy trì được như qui định trong Bộ tiêu chí NTM: Tương ứng cho điểm 2;