1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp giải pháp chống thất thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện đan phượng, thành phố hà nội

120 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp chống thất thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
Tác giả Nguyễn Anh Trường
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Mậu Dũng
Trường học Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1. Đặt vấn đề (14)
    • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (14)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (15)
      • 1.2.1. Mục tiêu chung (15)
      • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể (15)
    • 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (15)
      • 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu (15)
      • 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu (15)
    • 1.4. Những đóng góp mới của đề tài (16)
  • Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chống thất thu thuế giá trị gia tăng (17)
    • 2.1. Cơ sở lý luận về quản lý chống thất thu thuế gía trị gia tăng (17)
      • 2.1.1. Một số khái niệm cơ bản (17)
      • 2.1.2. Đặc điểm, vai trò của thuế giá trị gia tăng (20)
      • 2.1.3. Nội dung quản lý chống thất thu thuế giá trị gia tăng (22)
      • 2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chống thất thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh (30)
    • 2.2. Cơ sở thực tiễn (33)
      • 2.2.1. Kinh nghiệm của một số quốc gia và địa phương trong nước trong công tác chống thất thu thuế (33)
      • 2.2.2. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế (35)
      • 2.2.3. Hoàn thiện hệ thống chính sách thuế (36)
  • Phần 3. Phương pháp nghiên cứu (40)
    • 3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (40)
      • 3.1.1. Đặc điểm tự nhiên (40)
      • 3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (42)
    • 3.2. Phương pháp nghiên cứu (47)
      • 3.2.1. Chọn điểm nghiên cứu (47)
      • 3.2.2. Phương pháp thu thập thông tin (48)
      • 3.2.3. Phương pháp xử lý số liệu (49)
      • 3.2.4. Phương pháp phân tích thông tin (49)
      • 3.2.5. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu (50)
  • Phần 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận (51)
    • 4.1. Kết quả thực hiện thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Đan Phượng (51)
      • 4.1.1. Khái quát về chi cục thuế huyện Đan Phượng (51)
      • 4.1.2. Khái quát về các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Đan Phượng (56)
      • 4.1.3. Kết quả thực hiện thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Đan Phượng (59)
    • 4.2. Công tác quản lý chống thất thu thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại chi cục thuế huyện Đan Phượng (62)
      • 4.2.1. Công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế (62)
      • 4.2.2. Tình hình quản lý công tác đăng ký thuế, kê khai thuế và nộp thuế (64)
      • 4.2.3. Tình hình quản lý công tác hoàn thuế giá trị gia tăng (71)
      • 4.2.4. Tình hình quản lý công tác kiểm tra thuế (74)
      • 4.2.5. Tình hình quản lý công tác nợ thuế (77)
    • 4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chống thất thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại chi cục thuế huyện Đan Phượng (79)
      • 4.3.1. Các yếu tố chủ quan (79)
      • 4.3.2. Các yếu tố khách quan (82)
      • 4.4.1. Tăng cường quản lý chống thất thu thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (84)
      • 4.4.2. Giải pháp (86)
  • Phần 5. Kết luận và kiến nghị (98)
    • 5.1. Kết luận (98)
    • 5.2. Kiến nghị (99)
  • Tài liệu tham khảo (101)
  • Phụ lục (103)

Nội dung

Công tác quản lý chống thất thu thuế GTGT trên địa bàn huyện Đan Phượng nhìn chung đạt được nhiều kết quả tích cực: tỉ lệ đăng kí thuế tăng bình quân 17,6%/năm, số thu thuế thực tế cao h

Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chống thất thu thuế giá trị gia tăng

Cơ sở lý luận về quản lý chống thất thu thuế gía trị gia tăng

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Khái niệm thuế giá trị gia tăng

Thuế giá trị gia tăng (GTGT), viết tắt là VAT từ tiếng Anh Value Added Tax, có nguồn gốc từ thuế doanh thu và được Pháp ban hành lần đầu tiên vào năm 1954 Từ khi ra đời, thuế GTGT đã được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới, với khoảng 130 quốc gia hiện nay, bao gồm các nước thuộc Liên minh Châu Âu, châu Phi, châu Mỹ La Tinh và một số quốc gia châu Á như Việt Nam, đã chính thức áp dụng loại thuế này.

Theo Điều 2 của Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12, thuế giá trị gia tăng (GTGT) là loại thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Thuế này chỉ áp dụng cho phần giá trị tăng thêm qua từng khâu, và tổng số thuế thu được ở mỗi khâu tương đương với tổng số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng Về bản chất, thuế GTGT do các nhà sản xuất kinh doanh nộp thay cho người tiêu dùng bằng cách tính gộp thuế vào giá bán, do đó, đây là một loại thuế gián thu.

Thuế giá trị gia tăng (VAT) là loại thuế gián thu áp dụng cho giá trị tăng thêm của hàng hóa và dịch vụ trong quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng Đối tượng chịu thuế GTGT bao gồm hàng hóa và dịch vụ phục vụ cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tại Việt Nam.

2.1.1.2 Thất thu thuế giá trị gia tăng

Thất thu thuế GTGT xảy ra do nhiều cơ sở sản xuất và kinh doanh không thực hiện đăng ký kinh doanh hoặc không đăng ký mã số thuế Một số cơ sở có thể đã đăng ký kinh doanh nhưng lại không đăng ký mã số thuế, dẫn đến việc họ vẫn tiến hành hoạt động sản xuất và kinh doanh mà không tuân thủ quy định pháp luật.

5 cơ sở này xin tạm nghỉ kinh doanh nhưng thực tế vẫn tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh

Nhiều doanh nghiệp đang tìm cách trốn thuế bằng cách lập hai hệ thống sổ sách kế toán để đối phó với cơ quan thuế Thực tế cho thấy, nhiều kế toán của các công ty sở hữu hàng trăm chữ ký khác nhau.

Trốn thuế thông qua buôn lậu, nhất là buôn bán qua biên giới không những không giảm mà có chiều hướng ngày càng tăng và phức tạp hơn trước

Thất thu từ các lĩnh vực xây dựng, du lịch lữ hành, vận tải tư nhân và cho thuê nhà nghỉ đang diễn ra nghiêm trọng do thiếu biện pháp quản lý hiệu quả từ nhà nước Nhiều cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp không thực hiện khai báo và đăng ký nộp thuế, dẫn đến việc trốn tránh nghĩa vụ thuế với nhà nước.

Thất thu thuế do không bao quát hết thu nhập của người nộp thuế và số lượng người phải nộp thuế thu nhập cá nhân Số lượng người lao động tự do ở nước ta vẫn lớn, với thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau, thường cao hơn quỹ lương Tuy nhiên, nhà nước chỉ quản lý được phần thu nhập qua quỹ lương mà các cơ quan, đơn vị chi trả, còn các khoản thu nhập từ nguồn khác chưa có biện pháp quản lý hiệu quả (Bộ Tài chính, 2013).

Thất thu thuế từ phí và lệ phí đang diễn ra do thiếu biện pháp quản lý hiệu quả, điển hình là tình trạng mua bán vé cầu đường giả đang diễn ra phổ biến mà chưa có sự can thiệp từ nhà nước.

Vì lợi ích cá nhân cán bộ thuế móc ngoặc với người nộp thuế để làm giảm số thuế phải nộp vào NSNN để chia chác

2.1.1.3 Quản lý chống thất thu thuế

Quản lý thuế là quá trình mà các cơ quan thuế thực hiện các quy trình nhằm tác động đến đối tượng chịu thuế, với mục tiêu đạt được kết quả và mục tiêu đã đề ra.

Quản lý chống thất thu thuế GTGT không chỉ giúp cơ quan thuế kiểm soát các căn cứ tính thuế mà còn phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm và gian lận thuế Điều này góp phần đảm bảo nghĩa vụ thuế công bằng và hợp lý giữa các thành phần kinh tế và doanh nghiệp, từ đó tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước và hạn chế thất thu thuế.

2.1.1.4 Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Theo Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 có quy định

Doanh nghiệp là một tổ chức được thành lập theo quy định pháp luật, có tên riêng, tài sản và trụ sở giao dịch, với mục tiêu chính là hoạt động kinh doanh.

Các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH (bao gồm công ty TNHH 2 thành viên trở lên và công ty TNHH 1 thành viên), công ty cổ phần, công ty hợp danh, công ty liên doanh và công ty 100% vốn nước ngoài Doanh nghiệp được chia thành hai loại hình theo hình thức sở hữu tài sản: doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh (NQD) Số lượng doanh nghiệp tăng nhanh qua các năm, trong đó tỷ trọng doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm trên 90% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động.

Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về doanh nghiệp NQD, trong đó một số tác giả cho rằng doanh nghiệp NQD là loại hình doanh nghiệp không thuộc sở hữu Nhà nước, với chủ doanh nghiệp là người quyết định mọi vấn đề liên quan Một số khác lại cho rằng doanh nghiệp NQD là doanh nghiệp không chịu sự chi phối nào của Nhà nước và tự chủ trong hoạt động tài chính Tuy nhiên, một quan niệm chung được thừa nhận về doanh nghiệp NQD là

Doanh nghiệp NQD là loại hình doanh nghiệp không thuộc sở hữu nhà nước, ngoại trừ Hợp tác xã Tất cả vốn và lợi nhuận đều thuộc sở hữu tư nhân hoặc tập thể người lao động Chủ sở hữu hoặc chủ cơ sở sản xuất kinh doanh hoàn toàn chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh và có quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước, mà không bị chi phối bởi các quyết định của nhà nước hay cơ quan quản lý.

Các hình thức doanh nghiệp NQD bao gồm: Công ty cổ phần, Công ty TNHH (bao gồm Công ty TNHH 1 thành viên và Công ty TNHH 2 thành viên trở lên), Công ty hợp danh, Doanh nghiệp tư nhân và Hợp tác xã.

Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia và địa phương trong nước trong công tác chống thất thu thuế

Thuế GTGT đánh vào giá trị tăng thêm của hàng hóa và dịch vụ qua từng giai đoạn sản xuất và tiêu dùng, cho phép người nộp thuế khấu trừ và hoàn lại thuế đã nộp Tuy nhiên, thuế này cũng dễ bị gian lận, đặc biệt trong khâu hoàn thuế Để quản lý và hạn chế gian lận, nhiều quốc gia đã áp dụng các phương thức khác nhau.

+ Chuyển số thuế GTGT chưa khấu trừ hết sang các kỳ tiếp theo

Một số quốc gia như Thái Lan, Bungari, Ba Lan và Chi Lê quy định rằng số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ trong một kỳ phải được chuyển sang kỳ tính thuế tiếp theo Người nộp thuế chỉ có thể hoàn thuế GTGT khi còn số thuế đầu vào chưa khấu trừ vào cuối kỳ, với thời gian chuyển có thể từ 30 ngày đến hơn 1 năm, thường là từ 3 đến 6 tháng Đặc biệt, một số nước như Thổ Nhĩ Kỳ, Maroc và Panama không cho phép hoàn thuế GTGT bằng tiền, mà chỉ cho phép chuyển sang bù trừ ở các kỳ tiếp theo, trừ trường hợp xuất khẩu.

+ Bù trừ vào các nghĩa vụ thuế khác

Một số quốc gia quy định rằng số thuế GTGT không được khấu trừ hết có thể được sử dụng để bù trừ vào các nghĩa vụ thuế khác đến hạn thanh toán Trong khi đó, một số quốc gia khác cho phép bù trừ vào các nghĩa vụ thuế chưa đến hạn Đặc biệt, các nước thuộc Liên Xô cũ cho phép người nộp thuế bù trừ vào các khoản nợ ngân sách khác.

+ Kiểm tra chéo hóa đơn, phân loại đối tượng nộp thuế

Nhiều quốc gia như Pakistan, Hàn Quốc và Trung Quốc đang nỗ lực chống gian lận trong hoàn thuế GTGT thông qua cơ chế kiểm tra chéo các giao dịch hàng hóa lớn và phân loại đối tượng nộp thuế Tại Hàn Quốc và Trung Quốc, cơ chế kiểm tra chéo hóa đơn được thực hiện một cách triệt để, trong đó hóa đơn bán hàng của người nộp thuế được soát xét và đối chiếu qua hệ thống máy tính, nhằm phát hiện sai sót và mâu thuẫn giữa doanh số mua vào và bán ra.

Để hạn chế gian lận thuế GTGT và giảm thiểu công việc cho cơ quan thuế, một số quốc gia quy định ngưỡng thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ phải vượt qua một mức nhất định mới được hoàn thuế, như ở Singapore, Pháp, Ba Lan và Nam Phi Theo diễn đàn pháp lý của tác giả Văn Chiến, hàng năm, các nước OECD mất khoảng 100 - 240 tỷ USD do hành vi làm xói mòn cơ sở thu thuế và chuyển lợi nhuận ra nước ngoài (BEPS), tương đương 4 - 10% thuế thu nhập doanh nghiệp Các quốc gia đang phát triển chịu tác động nặng nề hơn từ việc thất thu thuế do phụ thuộc vào nguồn thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp và hệ thống pháp lý chưa đủ mạnh để quản lý hiệu quả.

Chính sách ưu đãi thuế giá trị gia tăng đối với hàng xuất khẩu cho phép các doanh nghiệp sản xuất Trung Quốc trốn thuế bằng cách khai báo sai giá bán cho các công ty thương mại trung gian trong nước, đặc biệt khi tiêu thụ sản phẩm tự sản xuất Hành vi này có thể liên quan đến giao dịch biên mậu, thông qua việc khai báo sai trị giá hàng hóa xuất khẩu cho đối tác nước ngoài.

Công tác chống thất thu thuế tại Việt Nam đang được ngành Thuế chú trọng và tìm kiếm giải pháp hiệu quả Nhiều doanh nghiệp lợi dụng kẽ hở của chính sách để trốn thuế, như việc sử dụng các sân sau để hợp thức hóa hóa đơn đầu vào cho hàng hóa và dịch vụ Đặc biệt, các doanh nghiệp nước ngoài thường thực hiện hình thức chuyển giá thông qua việc mua bán hàng hóa và dịch vụ với doanh số cao cho các công ty con, dẫn đến giá vốn lớn nhưng tỷ trọng lợi nhuận lại thấp.

Cục thuế TP Hà Nội đã phát triển một hệ thống phần mềm phân tích rủi ro dựa trên 17 tiêu chí, nhằm cảnh báo các mức độ rủi ro từ vừa đến rất cao Hệ thống này đi kèm với sổ tay nghiệp vụ “Nhận diện dấu hiệu rủi ro và trình tự thực hiện kiểm soát loại trừ rủi ro”, được xây dựng dựa trên việc mã hóa các tiêu chí trong hồ sơ khai thuế của doanh nghiệp và đối chiếu với quy định của luật thuế Qua đó, Cục thuế đã biên soạn các bước, kỹ năng và phương pháp phát hiện rủi ro trong quá trình kiểm tra.

Vào ngày 31/10/2007, Tổng cục Thuế và Tổng cục Cảnh sát đã ký kết quy chế phối hợp số 1527/QCPH/TCT-TCCS nhằm đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực thuế Quy chế này đã tăng cường công tác điều tra các dấu hiệu tội phạm liên quan đến trốn thuế và gian lận thuế Trong quá trình kiểm tra thuế, nếu phát hiện doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm pháp luật với mức độ rủi ro cao, cơ quan thuế sẽ chuyển hồ sơ cho cơ quan công an để điều tra và xử lý Các hành vi cấu thành tội phạm sẽ bị xử lý hình sự, trong khi các vi phạm hành chính sẽ được xử lý kịp thời để ngăn chặn vi phạm kéo dài.

Cần xử lý nghiêm các trường hợp sử dụng hóa đơn bất hợp pháp, áp dụng hình thức phạt từ 01 đến 03 lần thuế và xử phạt hành chính đối với vi phạm liên quan đến hóa đơn và ấn chỉ, với mức phạt cao nhất.

Xử phạt 20% do lỗi khai sai dẫn đến phát sinh dương số thuế phải nộp phạt chậm nộp tiền thuế 0,03% do chậm nộp tiền thuế

Cưỡng chế tài chính có thể được thực hiện qua nhiều hình thức, bao gồm phong tỏa tài khoản tại Kho bạc, ngân hàng và các tổ chức tín dụng của đối tượng; khấu trừ tiền lương và một phần thu nhập; thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng; thu tiền và tài sản do tổ chức, cá nhân khác nắm giữ; và thu hồi các giấy tờ như giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập doanh nghiệp và giấy phép hành nghề.

2.2.2 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế

Hiện nay, các quốc gia đang tập trung vào việc hoàn thiện hệ thống chính sách thuế, đặc biệt là thuế Thu nhập doanh nghiệp và thuế Giá trị gia tăng Đồng thời, cần cải thiện hệ thống quản lý thu thuế, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thu thuế, và phát triển nguồn nhân lực để nâng cao trình độ cán bộ quản lý thuế.

Gần đây, nhiều quốc gia OECD đã mở rộng cơ sở thuế thu nhập doanh nghiệp để chống thất thu thuế, đặc biệt là hiện tượng tránh thuế quốc tế Ví dụ, Áo đã mở rộng cơ sở tính thuế cho các giao dịch bất động sản, trong khi Nhật Bản giảm thuế suất từ 25,5% xuống 23,2% và thực hiện các biện pháp mở rộng cơ sở thuế như đơn giản hóa hệ thống thuế khấu hao Để nâng cao hiệu quả quản lý thuế, nhiều quốc gia đã ứng dụng công nghệ thông tin, không chỉ nhằm cắt giảm chi phí mà còn nâng cao chất lượng quản lý Thái Lan, Malaysia, Kenya và Uganda đã triển khai dịch vụ thuế qua điện thoại di động, trong khi Indonesia giới thiệu chương trình “Biết người nộp thuế” để theo dõi và giám sát các trường hợp cụ thể, từ đó cải thiện quản lý hệ thống thu thuế.

Việc sử dụng hóa đơn điện tử thay thế hóa đơn giấy giúp các doanh nghiệp giảm đáng kể chi phí phát sinh nhờ vào khả năng tuân thủ tự động Các quốc gia Mỹ La Tinh dẫn đầu trong lĩnh vực này, trong khi Trung Quốc và một số nước Châu Âu cũng áp dụng hóa đơn điện tử để hạn chế gian lận thuế giá trị gia tăng Đặc biệt, Hà Lan đã ứng dụng 100% công nghệ thông tin vào quản lý thuế và sử dụng các ứng dụng truyền thông xã hội để nâng cao hiệu quả quản lý.

2.2.3 Hoàn thiện hệ thống chính sách thuế Để ngăn chặn các hành vi trốn thuế, các nước OECD đã triển khai mở rộng cơ sở thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm chống chuyển giá, chống chuyển lợi nhuận đối với các tập đoàn kinh doanh đa quốc gia Theo đó, Áo mở rộng cơ sở tính thuế đối với các giao dịch bất động sản (tăng mức thuế suất) Tại Nhật Bản, ngoài việc tiến hành giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp từ 25,5% năm 2015 xuống còn 23,9% năm 2016; 23,4% năm 2017 và 23,2% vào năm 2018, Chính phủ nước

Phương pháp nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Ngày đăng: 13/07/2023, 23:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm