Đề xuất giải pháp: thứ nhất nên có biện pháp tuyên truyền nâng cao ý thức cho người dân về tác hại của việc sử dụng thuốc tới sức khỏe con người và môi trường; thứ hai bố trí lại hệ thốn
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG - -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KĨ THUẬT QUẢN LÝ VÀ
XỬ LÝ BAO GÓI HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT
TRÊN ĐẤT TRỒNG CÂY VỤ ĐÔNG TẠI
XÃ LIÊM SƠN HUYỆN THANH LIÊM
TỈNH HÀ NAM”
Hà Nội – 2020
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG - -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KĨ THUẬT QUẢN LÝ VÀ
XỬ LÝ BAO GÓI HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT
TRÊN ĐẤT TRỒNG CÂY VỤ ĐÔNG TẠI
XÃ LIÊM SƠN HUYỆN THANH LIÊM
TỈNH HÀ NAM”
Người thực hiện : VŨ HÀ ANH
Giáo viên hướng dẫn : TS NGUYỄN NGỌC TÚ
Địa điểm thực hiện : XÃ LIÊM SƠN HUYỆN THANH LIÊM
TỈNH HÀ NAM
Hà Nội – 2020
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng của bản thân tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn với những sự giúp đỡ đó
Trước hết, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của T.S Nguyễn Ngọc Tú là người đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn em trong quá trình thực hiện
đề tài nghiên cứu này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của cán bộ Ủy ban nhân dân xã Liêm Sơn, Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Bắc Sơn xã Liêm Sơn, các hộ nông dân trên địa bàn xã Liêm Sơn đã cung cấp cho tôi những thông tin, tài liệu liên quan đến đề tài để hoàn thành khóa luận này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thành viên trong gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi trong suốt những năm học vừa qua tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 20…
Người thực hiện
Vũ Hà Anh
Trang 4ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
TÓM TẮT KHÓA LUẬN vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.1 Tổng quan về thuốc bảo vệ thực vật 3
1.1.1 Khái niệm về thuốc BVTV 3
1.1.2 Phân loại thuốc BVTV 3
1.1.3 Đặc điểm của thuốc BVTV 7
1.1.4 Vai trò của thuốc BVTV đối với sản xuất nông nghiệp 8
1.1.5 Tình hình sử dụng thuốc BVTV 8
1.1.6 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến con người và môi trường 13
1.2 Tổng quan về hiện trang sử dụng phát sinh bao gói thuốc BVTV 16
1.3 Tổng quan về hiện trạng thu gom và xử lý bao gói thuốc BVTV 18
1.4 Tổng quan về các công nghệ xử lý bao bì hóa chất bảo vệ thực vật 20
1.5 Cơ sở pháp lí trong quản lí bao gói thuốc bảo vệ thực vật 24
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27 2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.2 Phạm vi nghiên cứu 27
2.3 Nội dung nghiên cứu 27
2.4 Phương pháp nghiên cứu 27
2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin 27
2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 28
Trang 5iii
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Hiện trạng sử dụng đất và tình hình sản xuất nông nghiệp tại xã Liêm Sơn huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam 29
3.1.1 Hiện trạng sử dụng đất 29
3.1.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp xã Liêm Sơn 30
3.2 Thực trạng phát sinh bao gói hóa chất bảo vệ thực vật trên đất trồng cây vụ đông tại xã Liêm Sơn, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam 32
3.2.1 Tình hình sử dụng hóa chất BVTV 32
3.2.2 Thực trạng phát sinh bao gói hóa chất BVTV trên đất trồng cây vụ đông 38 3.3 Hiện trạng công tác quản lí và xử lí hóa chất BVTV tại xã Liêm Sơn, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam 41
3.3.1 Hiện trạng thu gom xử lý bao gói thuốc bảo vệ thực vật của người dân 41
3.3.2 Hiện trạng công tác quản lý và xử lý thuốc BVTV tại xã Liêm Sơn 42
3.4 Đề xuất giải pháp kĩ thuật quản lí và xử lý bao gói hóa chất BVTV phù hợp với xã Liêm Sơn, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam 45
3.4.1.Giải pháp về tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân 45
3.4.2 Giải pháp kĩ thuật quản lí và xử lí bao gói hóa chất BVTV 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
1 Kết luận 55
2 Kiến nghị 56
Trang 6iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 : Bảng phân loại độ độc của thuốc BVTV theo WHO 4
Bảng 1.2 : Tình hình nhập khẩu hóa chất BVTV tại Việt Nam gần đây 9
Bảng 3.1 : Hiện trạng sử dụng đất xã Liêm Sơn……….29
Bảng 3.2 : Diện tích cây trồng vụ đông xã Liêm Sơn (sào) 31
Bảng 3.3 : Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 32
Bảng 3.4 : Loại hóa chất được sử dụng, liều lượng phun với từng loại cây 33
Bảng 3.5 : Loại hóa chất BVTV được sử dụng với cây dưa bao tử 35
Bảng 3.6 : Khối lượng thuốc BVTV phát sinh trên 1 sào 39
Bảng 3.7 : Khối lượng thuốc BVTV phát sinh trên vụ 40
Trang 7v
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 : Con đường di chuyển của thuốc BVTV trong môi trường 13
Hình 1.2 : Quy trình xử lí thuốc BVTV 19
Hình 3.1 : Biểu đồ về cách thức sử dụng thuốc của người dân………… …36
Hình 3.2 :Biểu đồ về việc phun thuốc BVTV theo hướng dẫn 36
Hình 3.3 : Các loại dụng cụ bảo hộ được sử dụng khi phun thuốc BVTV 37
Hình 3.4 : Biểu đồ các triệu chứng gặp phải sau khi phun thuốc BVTV 38
Hình 3.5 : Biểu đồ cách thức xử lý bao bì thuốc BVTV sau khi sử dụng 41
Hình 3.6 : Biểu đồ thể hiện cách thức xử lý thuốc và dụng cụ sau khi phun thuốc BVTV 42
Hình 3.7: Biểu đồ hiện trạng công trình thu gom thuốc BVTV tại xã Liêm Sơn 43
Hình 3.8 : Biểu đồ đánh giá công tác quản lý tại địa phương 44
Hình 3.9 : Loại bể chứa cần được bố trí 44
Hình 3.10 : Bản đồ thể hiện vị trí bể chứa bao gói thuốc BVTV và bổ sung một số điểm thu gom cho hợp lý 47
Trang 8CTNH Chất thải nguy hại
FAO Tổ chức lương thực thế giới
HCBVTV Hóa chất bảo vệ thực vật
HĐND Hội đồng nhân dân
HTXDVNN Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
UBND Ủy ban nhân dân
TTLT Thông tư liên tịch
WHO Tổ chức y tế thế giới
Trang 9
356 kg/vụ Đề xuất giải pháp: thứ nhất nên có biện pháp tuyên truyền nâng cao
ý thức cho người dân về tác hại của việc sử dụng thuốc tới sức khỏe con người
và môi trường; thứ hai bố trí lại hệ thống bể chứa bao bì thuốc BVTV để tiện việc thu gom, thứ ba là dùng phương pháp tác nhân oxi hóa Fenton để tách lượng tồn dư thuốc BVTV từ bao bì thuốc BVTV, với các loại bao bì sau xử lí
có thể đóng rắn để chôn lấp hoặc trộn xi măng để đóng gạch dùng để xây dựng
bờ mương, đường xá
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, nền nông nghiệp Việt Nam trong những năm gần đây luôn được đầu tư và phát triển không ngừng Nước ta thuộc điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm nên càng thuận lợi cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, cùng với điều kiện thuận lợi cho sự phát triển này thì cũng rất thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng Theo thống kê của Tổ chức Lương thực Thế giới (FAO) hàng năm, thiệt hại mùa màng do sâu, bệnh gây ra trung bình khoảng 20 - 30% tổng sản lượng Do đó, việc sử dụng hoá chất BVTV đã trở thành một trong những phương pháp để phòng trừ sâu hại, dịch bệnh bảo vệ mùa màng, và giữ vững an ninh lương thực quốc gia
Trong những năm gần đây việc lạm dụng và thói quen thiếu khoa học trong bảo quản và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của người dân đã gây những tác động không tốt đến sức khỏe người dân và môi trường xung quanh Bên cạnh những ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật thì ô nhiễm do bao gói các loại thuốc bảo vệ thực vật cũng là một trong những vấn đề nan giải đối với khu vực canh tác nông nghiệp ở khu vực nông thôn Mặc dù đã có những hướng dẫn kỹ thuật quản lý, xử lý bao gói hóa chất BVTV nhưng ở một số địa phương, người dân vẫn còn chưa ý thức được việc thải bỏ bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau khi sử dụng sao cho hợp vệ sinh, tránh gây nên ảnh hưởng không tốt cho cộng đồng
Theo Chi cục Trồng trọt - BVTV, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hà Nam, mỗi năm nông dân trong tỉnh sử dụng khoảng 150 tấn thuốc BVTV phòng trừ sâu, bệnh cho lúa, rau màu và cây ăn quả các loại Với tỷ lệ chiếm khoảng 12 - 15%, lượng vỏ thuốc BVTV khoảng 18 - 22,5 tấn Sẽ rất độc hại đến môi trường nếu toàn bộ lượng vỏ bao này bị vứt bỏ ra môi trường
Trang 112
đồng ruộng Điều đáng lo ngại hơn là các bao bì này phần lớn không được xúc, tráng kỹ nên vẫn còn một lượng thuốc đáng kể dính trong vỏ bao, khi vứt ra môi trường sẽ thấm vào nguồn đất, nguồn nước và tích tụ qua hàng vụ, hàng năm sản xuất sẽ rất nguy hiểm
Xã Liêm Sơn thuộc huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam là một xã thuần nông với diện tích đất nông nghiệp là 720,71 ha, trong đó diện tích đất trồng lúa là 529,67 ha; đất trồng cây hàng năm khác là 34,61 ha Đây là một xã sản xuất nông nghiệp lớn, cung cấp lương thực thực phẩm chủ yếu huyện Thanh Liêm Hàng năm ngoài hai vụ lúa chính là chiêm và mùa, thì người dân nơi đây còn tiến hành trồng cây vụ đông để tăng vụ, nâng cao thu nhập
Năm 2020, toàn xã tiến hành trồng được 13,53 ha cây màu các loại bao
gồm ngô, dưa chuột, cà chua, đỗ, su hào, khoai tây và các loại rau màu khác Với diện tích trồng cây vụ đông như vậy, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thường xuyên cũng như việc phát sinh bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau khi sử dụng là điều không tránh khỏi Phần lớn người dân chỉ phun thuốc trừ sâu hại lúa theo thông báo của cán bộ bảo vệ thực vật tại cơ sở, còn lại trên cây hoa màu đều do bà con sử dụng dựa trên kinh nghiệm cá nhân là chủ yếu
Đây cũng chính là lý do để tôi tiến hành đề tài: “Đề xuất giải pháp kĩ
thuật quản lí và xử lý bao gói hóa chất bảo vệ thực vật trên đất trồng cây vụ đông tại xã Liêm Sơn, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam”
2 Mục tiêu nghiên cứu
+ Xác định hiện trạng phát sinh bao gói hóa chất BVTV trên đất trồng cây vụ đông tại xã Liêm Sơn, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam
+ Đánh giá hiện trạng quản lí và xử lí hóa chất BVTV của người dân trên đất trồng cây vụ đông tại xã Liêm Sơn, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam + Đề xuất một số giải pháp kĩ thuật cho việc quản lí và xử lý bao gói hóa chất BVTV phù hợp với địa phương
Trang 123
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về thuốc bảo vệ thực vật
1.1.1 Khái niệm về thuốc BVTV
Thuốc BVTV là những chế phẩm có nguồn gốc hóa chất, thực vật, động vật, vi sinh vật và các chế phẩm khác dùng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật Gồm: các chế phẩm dùng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật; chế phẩm điều hòa sinh trưởng thực vật, chất làm rụng hay khô lá; các chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các loài sinh vật gây hại cho tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt (Nguyễn Trần Oánh và cs, 2007) Ngày nay khoa học đã đạt được những thành tựu to lớn về nhiều mặt như: sinh thái học dịch hại, miễn dịch thực vật,… nhiều biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại bằng biện pháp sinh học trong bảo vệ thực vật, quản lí dịch hại tổng hợp… nhưng thuốc BVTV vẫn có vai trò to lớn trong việc kiểm soát dịch bệnh trong nông nghiệp Đặc biệt, đối với người nông dân, việc sử dụng thuốc BVTV được coi là phương pháp đơn giản, hiệu quả và được áp dụng thường xuyên
1.1.2 Phân loại thuốc BVTV
Hiện nay, thuốc BVTV đang được sử dụng rộng rãi và phong phú cả về chủng loại lẫn số lượng Theo Thông tư số 10/2020/TT- BNNPTNT ngày 09 tháng 9 năm 2020 Ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, cấm sử dụng tại Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành tại Việt Nam có 1.847 hoạt chất với 4.229 tên thương phẩm,
danh mục thuốc BVTV cấm sử dụng có 31 hoạt chất khác nhau
Tuy nhiên, tùy theo mục đích nghiên cứu có nhiều cách để phân loại thuốc BVTV:
a.Phân loại theo tính độc
Trang 134
Trên bao bì của các loại thuốc BVTV luôn ghi rõ độc tính của từng loại Trong đó đơn vị đo lường gây độc được biểu thị dưới dạng LD50 (Lethal Dose 50) và được tính bằng µg/g hay mg/kg Trường hợp gặp những cá thể sinh vật nhỏ, có kích thước khá đồng đều nhau, người ta cá thể biểu hiện bằng µg/cá thể (ví dụ: µg/ong)
Bảng 1.1 : Bảng phân loại độ độc của thuốc BVTV theo WHO
(mg/kg trọng lượng cơ thể) Đường miệng Đường da
U Không có khả năng nguy
LD50 cao sẽ an toàn hơn so với thuốc có LD50 thấp
b.Phân loại theo con đường xâm nhập
Phân loại theo con đường xâm nhập hay cách tác động của thuốc đến dịch hại:
Thuốc xâm nhập vào cơ thể dịch hại bằng con đường tiếp xúc (còn gọi
là những thuốc ngoại tác động): là những thuốc gây độc cho sinh vật khi thuốc
xâm nhập qua biểu bì chúng
Thuốc xâm nhập vào cơ thể dịch hại bằng con đường vị độc (còn gọi là
những thuốc có tác động đường ruột hay nội tác động): là những loại thuốc gây
Trang 145
độc cho động vật khi thuốc xâm nhập qua đường tiêu hóa của chúng Độ pH dịch ruột và thời gian tồn tại của thuốc trong dạ dày và ruột non ảnh hưởng rất mạnh đến hiệu quả của thuốc
Thuốc có tác động xông hơi: là những thuốc có khả năng bay hơi/ bụi,
đầu độc bầu không khí bao quanh dịch hại và gây độc cho sinh vật khi thuốc xâm nhập qua đường hô hấp
Thuốc có tác động thấm sâu: là những thuốc có khả năng xâm nhập qua
biểu bì thực vật, thấm vào các tế bào phía trong, diệt dịch hại sống trong cây và các bộ phận của cây Các thuốc này chỉ có tác động theo chiều ngang, mà không
có khả năng di chuyển trong cây
Thuốc có tác động nội hấp: là những loại thuốc có khả năng xâm nhập
qua thân, lá, rễ, và các bộ phận khác của cây; thuốc dịch chuyển được trong cây, diệt được dịch hại ở những nơi xa vùng tiếp xúc của thuốc
c Phân loại theo nguồn gốc hóa học
Thuốc BVTV phân loại theo nguồn gốc hóa học được phân thành 4 nhóm như sau:
Thuốc có nguồn gốc thảo mộc: bao gồm các thuốc BVTV làm từ cây cỏ
hay các sản phẩm chiết xuất từ cây cỏ có khả năng tiêu diệt dịch hại
Thuốc có nguồn gốc sinh học: gồm các loài sinh vật (các loài kí sinh thiên
địch), các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật (như các loài kháng sinh …) có khả năng tiêu diệt dịch hại
Thuốc có nguồn gốc vô cơ: bao gồm các hợp chất vô cơ (như dung dịch
boocđô, lưu huỳnh và lưu huỳnh vôi…) có khả năng tiêu diệt dịch hại
Thuốc có nguồn gốc hữu cơ: gồm các hợp chất hữu cơ tổng hợp có khả
năng tiêu diệt dịch hại (như các hợp chất clo hữu cơ, lân hữu cơ, cacbonat…) Gần đây, do nhiều dịch hại đã hình thành tính chống nhiều loại thuốc có
cùng một cơ chế, nên người ta đã phân loại theo cơ chế tác động của các loại
thuốc như: thuốc kìm hãm men (cholinesterase, GABA, kìm hãm hô hấp…)
Trang 156
hay theo phương thức tác động (thuốc điều khiển sinh trưởng côn trùng, thuốc triệt sản, chất dẫn dụ, chất xua đuổi hay chất gây ngán)
Phân chia theo các dạng thuốc (thuốc bột, thuốc nước…) hay phương
pháp sử dụng (thuốc dùng để phun lên cây, thuốc xử lí giống…)
Ngoài cách phân chia chủ yếu trên, tùy mục đích nghiên cứu và sử dụng, người ta còn phân loại thuốc BVTV theo nhiều cách khác
Không có sự phân loại thuốc BVTV nào mang tính tuyệt đối, vì một loại thuốc có thể trừ được nhiều loại dịch hại khác nhau, có khả năng xâm nhập vào
cơ thể dịch hại theo nhiều con đường khác nhau, có cùng lúc nhiều cơ chế tác động khác nhau; trong thành phần của thuốc có các nhóm hay nguyên tố gây độc khác nhau… nên các thuốc có thể cùng lúc xếp vào nhiều nhóm khác nhau
d Phân loại theo công dụng
Thuốc BVTV được chia thành từng nhóm khác nhau tùy theo công dụng của chúng được phân ra như sau:
Thuốc trừ sâu (Insecticide) là chất hay hỗn hợp các chất có tác dụng tieu
diệt, xua đuổi hay di chuyển bất kì loại côn trùng nào có mặt trong môi trường Chúng được dùng để diệt trừ hoặc ngăn ngừa tác hại của côn trùng đến cây trồng, cây rừng, nông lâm sản, gia súc và con người Trong thuốc trừ sâu, dựa vào khả năng gây độc cho từng giai đoạn sinh trưởng, người ta còn chia ra: thuốc trừ trứng, thuốc trừ sâu non
Thuốc trừ bệnh (Fungicide) bao gồm các hợp chất có nguồn gốc hóa học
(vô cơ và hữu cơ), sinh học (vi sinh vật và các sản phẩm của chúng, nguồn gốc thực vật), có tác dụng ngăn ngừa hay diệt trừ các loài vi sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản (nấm kí sinh, vi khuẩn, xạ khuẩn) bằng cách phun lên bề mặt cây, xử lí giống và xử lí đất… Thuốc trừ bệnh dùng để bảo vệ cây trồng trước khi bị các loài vi sinh vật gây hại tấn công tốt hơn là diệt nguồn bệnh và không
có tác dụng chữa trị những bệnh do yếu tố phi sinh vật gây ra (thời tiết, đất úng, hạn,…) Thuốc trừ bệnh bao gồm cả thuốc trừ nấm (Fungicides) và trừ vi khuẩn
Trang 167
(Bactericides) Thường thuốc trừ vi khuẩn có khả năng trừ được cả nấm; còn thuốc trừ nấm thường ít có khả năng trừ vi khuẩn
Thuốc trừ chuột (Rodenticide) là những hợp chất vô cơ, hữu cơ, hoặc
có nguồn gốc sinh học có hoạt tính sinh học và phương thức tác động rất khác nhau, được dùng để diệt chuột gây hại trên ruộng, trong nhà và kho tàng và các loại gặm nhấm Chúng có tác động chủ yếu bằng con đường vị độc và xông hơi (ở nơi kín đáo)
Thuốc trừ nhện (Acricide) là những chất được dùng chủ yếu để trừ nhện
hại cây trồng và các loài thực vật khác, đặc biệt là nhện đỏ Hầu hết thuốc trừ nhện thông dụng hiện nay đều có tác dụng tiếp xúc Đại đa số thuốc trong nhóm
là những thuốc đặc hiệu có tác dụng diệt nhện, có khả năng chọn lọc cao, ít gây hại cho côn trùng có ích và thiên địch Nhiều loại trong chúng còn có tác dụng trừ trứng và nhện mới nở; một số khác còn diệt nhện trưởng thành Nhiều loại thuốc trừ nhện có thời gian hữu hiệu dài, ít độc và động vật máu nóng Một số thuốc trừ nhện nhưng cũng có tác dụng diệt sâu Một số thuốc trừ sâu, trừ nấm cũng có tác dụng trừ nhện
Thuốc trừ tuyến trùng (Nematocide) các chất xông hơi và nội hấp được
dùng để xử lí đất trước tiên trừ tuyến trùng rễ cây trồng, trong đất, hạt giống và
cả trong cây
Thuốc trừ cỏ (Herbicide) các chất dược dùng để trừ các loài thực vật cản
trở sự sinh trưởng cây trồng, các loài thực vật mọc hoang dại, trên đồng ruộng, quanh các công trình kiến trúc, sân bay, đường sắt… và gồm cả các thuốc trừ rong rêu trên ruộng, kênh mương Đây là nhóm thuốc dễ gây hại cho cây trồng nhất Vì vậy khi dùng các thuốc trong nhóm này cần đặc biệt thận trọng
1.1.3 Đặc điểm của thuốc BVTV
Thuốc BVTV độc với cơ thể sinh vật: tác động đến hệ thần kinh làm các loài sinh vật bị tê liệt và dẫn tới tử vong
Trang 178
Thuốc có thể tồn dư lâu dài ở trong đất, nước và qua chuỗi thức ăn sẽ xâm nhập vào cơ thể con người gây rối loạn và phát triển thành các bệnh hiểm nghèo, ung thư, viêm loét ngoài da,…
1.1.4 Vai trò của thuốc BVTV đối với sản xuất nông nghiệp
Thuốc BVTV tiêu diệt các loại côn trùng, sâu bệnh, nấm mốc bảo vệ cây trồng Thuốc BVTV tiêu diệt các loại cỏ dại làm giảm sự cạnh tranh về dinh dưỡng và ánh sáng giúp cây trồng phát triển tốt hơn Tác hại của sâu, bệnh, nấm, vi khuẩn rất lớn không thể lường trước được Người ta đã dự tính tác hại của sâu bệnh, cỏ dại, vi khuẩn lên tới 46% tiềm năng suất lúa của thế giới (Cramter, 1967) Riêng Châu Á thiệt hại đến 51,6% và riêng ở Mỹ hàng năm thiệt hại khoảng 80 tỷ đô la Theo Viện lúa Quốc tế (IRRI), trong thí nghiệm nhờ sử dụng thuốc BVTV mà đã bội thu được 2,7 tấn/ha Đó là kết quả nghiên cứu dài hạn từ 1964 – 1972 (Pathak và Dyek, 1974) Tương tự tình hình ở nhiều nơi, người ta cũng đã xác định năm 1971 nếu không dùng thuốc BVTV thì riêng
ở Mỹ sản lượng rau, hoa quả giảm mất 50% (Nguyễn Đình Mạnh, 2000)
1.1.5 Tình hình sử dụng thuốc BVTV
a.Trên thế giới
Mặc dù sự phát triển của biện pháp hóa học có nhiều lúc thăng trầm, song tổng giá trị tiêu thụ thuốc BVTV trên thế giới và số hoạt chất tăng lên không ngừng, số chủng loại ngày càng phong phú Nhiều thuốc mới và dạng thuốc mới an toàn hơn với môi sinh môi trường liên tục xuất hiện bất chấp các quy định quản lí ngày càng chặt chẽ của các quốc gia đối với thuốc BVTV và kinh phí đầu tư cho nghiên cứu để một loại thuốc mới ra đời ngày càng lớn
Trong 10 năm gần đây tổng lượng thuốc BVTV tiêu thụ có xu hướng giảm, nhưng giá trị của thuốc tăng không ngừng Nguyên nhân là cơ cấu thuốc thay đổi: nhiều loại thuốc cũ, giá rẻ, dùng với lượng lớn, độc với môi sinh môi trường được
Trang 189
thay thế dần bằng các loại thuốc mới hiệu quả, an toàn và dùng với lượng ít hơn, nhưng lại có giá thành cao (Nguyễn Trần Oánh và cs, 2007)
Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO), năm 1972 toàn thế giới
sử dụng lượng HCBVTV trị giá 7,7 tỷ USD, năm 1985 khoảng 16 tỷ USD, đến năm 1990 sử dụng trên 3 triệu tấn hoạt chất HCBVTV trị giá khoảng 25 tỷ USD Trong đó thuốc trừ cỏ 46%, thuốc trừ sâu 31%, thuốc trừ bệnh 18% và 5% các thuốc khác Khoảng 80% HCBVTV sản xuất ra được sử dụng tại các nước phát triển Tuy vậy, tốc độ sử dụng của nước đang phát triển tăng 7 - 8%/ năm, nhanh hơn các nước phát triển (2 - 4%/ năm) Trong đó chủ yếu là các loại thuốc trừ sâu (chiếm 70%) (Nguyễn Thị Hồng Hạnh, 2006)
b Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, thuốc BVTV được sử dụng phổ biến từ thế kỉ thứ XIX, trước đó việc diệt trừ sâu bệnh hại chủ yếu là bằng phương pháp bắt sâu hay biện pháp mang tính mê tín, bùa phép
Đầu thế kỉ XX, khi nền nông nghiệp của Việt Nam bắt đầu phát triển và hình thành nên nhiều đồn điền, trang trại nông nghiệp lớn thì việc sử dụng thuốc BVTV gia tăng Trong thời kì này, Việt Nam cũng sử dụng chủ yếu các hợp chất hóa học vô cơ như các nước trong khu vực và trên thế giới
Do nhu cầu tăng vụ, tăng năng suất cây trồng, những năm gần đây, các loại thuốc BVTV được sử dụng ngày càng tăng cả về số lượng và chủng loại Nếu như trước 1985, Việt Nam sử dụng khoảng 6.500 – 9.000 tấn thuốc BVTV mỗi năm, thì giai đoạn 2012-2013, lượng thuốc BVTV nhập khẩu và sử dụng
đã tăng đột biến từ 70.000 tấn lên 100.000 tấn Tất cả được thể hiện tại bảng dưới đây:
Bảng 1.2 : Tình hình nhập khẩu hóa chất BVTV tại Việt Nam gần đây
Trang 192018, tuy lượng nhập thuốc BVTV và nguyên liệu có giảm so với cùng kì năm
2017, nhưng Việt Nam vẫn chi tới 618 triệu USD để nhập khẩu thuốc BVTV Phân từng loại thì thuốc trừ cỏ chiếm 48% (19.000 tấn), thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn Chỉ riêng với lúa đã có tới 3.321 loại thuốc BVTV; đối với rau cũng có 260 sản phẩm thuốc BVTV Các loại cây lấy quả như điều,
hồ tiêu, cà phê cũng phải chịu tới hàng chục loại thuốc BVTV/giống cây (Khánh Vũ, 2018)
Trung bình 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi từ 500 - 700 triệu USD để nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật Trong số này, 48% là thuốc diệt cỏ, tương đương 19 nghìn tấn, còn lại là thuốc trừ sâu, trừ bệnh, khoảng 16 nghìn tấn Khối lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1ha cây trồng mỗi năm ở Việt Nam lên đến 2kg, trong khi một số nước khác trong khu vực chỉ từ 0,2 - 1 kg/ha (Phương Mai, 2019)
Trang 2011
Việc lưu thông phân phối thuốc BVTV là vấn đề đáng lo ngại nhất.Hiện nay, cả nước có hơn 200 doanh nghiệp thuốc BVTV, hơn 30.000 đại lí thuốc BVTV, hơn 100 nhà máy chế biến thuốc, hơn 50% lượng chế phẩm sử dụng trong nước, ước tính 30.000 – 40.000 tấn mỗi năm Thuế nhập khẩu 0%, dư địa thị trường thuốc BVTV lớn 70.000 – 100.000, doanh nghiệp tranh đua nhau thị phần, tăng doanh số
Theo kết quả điều tra của Cục BVTV, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT) năm 2018 cho thấy, tỷ lệ nông dân sử dụng đúng nồng độ, liều lượng thuốc BVTV là 22,1- 48% đối với lúa, 26,7% đối với rau và 23,5 - 34,1% đối với chè Nhiều nông dân tăng liều lượng gấp 3-5 lần so với khuyến cáo và 29,7% số hộ tự ý pha trộn nhiều loại thuốc với nhau khi sử dụng (Đào Ngọc Thủy, 2020)
Kết quả thanh, kiểm tra tình hình sử dụng thuốc BVTV trong thời gian gần đây của Cục BVTV đối với 13.912 hộ nông dân sử dụng thuốc BVTV cho thấy, có đến 4.167 hộ (chiếm 29,9%) sử dụng thuốc BVTV không đúng quy định Các vi phạm chủ yếu người dân không có phương tiện bảo hộ lao động,
sử dụng thuốc BVTV không đúng nồng độ, liều lượng,…(Nguyễn Bình, 2015)
Ngoài việc không tuân thủ những quy định sau khi phun thuốc BVTV, tình trạng vứt bao bì thuốc BVTV bừa bãi sau khi sử dụng khá phổ biến Thói quen rửa bình thuốc và dụng cụ pha chế thuốc khi phun không đúng nơi quy định gây ô nhiễm nguồn nước, gây ngộ độc cho động vật thủy sinh cũng cần được cảnh báo và khắc phục ngay
c Tình hình sử dụng thuốc BVTV tại Hà Nam
Theo Chi cục Trồng trọt - BVTV, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hà Nam, mỗi năm, nông dân trong tỉnh sử dụng khoảng 150 tấn thuốc BVTV phòng, trừ sâu, bệnh cho lúa và rau màu, cây ăn quả các loại Trong đó
có khoảng 18 đến 22,5 tấn thuốc còn sót lại trong vỏ bao bì Trong khi người nông dân có thói quen vứt bỏ bao bì đựng thuốc tùy tiện, tồn tại từ ngày này
Trang 21sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, môi trường… nhưng do tâm lý thích sản phẩm nông sản hình thức, mẫu mã đẹp của người tiêu dùng cho nên người nông dân sẵn sàng đầu tư thêm tiền, công sức để phun thuốc kích thích tăng trưởng cho vườn rau, củ quả nhanh được thu hoạch mà không cần tuân theo một quy định nào Rõ nhất là trên các loại dưa chuột vẫn còn tình trạng sáng phun thuốc, chiều hái quả Qua tìm hiểu được biết, phần lớn người dân chỉ phun thuốc sâu hại lúa theo thông báo của cán bộ BVTV cơ sở, còn lại trên cây hoa màu đều
do bà con sử dụng tự phát
Trong những năm gần đây, ngành nông nghiệp tỉnh Hà Nam phát sinh nhiều loại sâu bệnh nguy hiểm như bệnh đạo ôn, sâu cuốn lá, sâu đục thân, rầy nâu,….Vì lí do này, việc sử dụng thuốc BVTV trên cánh đồng không có chiều hướng giảm sút, tình trạng số lượng thuốc BVTV được sử dụng ngày càng lớn trên địa bàn tỉnh Năm 2019, toàn tỉnh hiện có 671 đại lý, cửa hàng kinh doanh phân bón, thuốc BVTV, trong đó có 154 cửa hàng và 8 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phân bón, còn lại kinh doanh thuốc BVTV Qua đánh giá các cửa hàng, đại lý trên địa bàn phần nhiều quy mô nhỏ, chủ yếu bán lẻ phục vụ nông dân địa phương Theo Ông Nguyễn Phú Cường, Phó Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường cho biết: Trong 6 tháng đầu năm 2017, chi cục đã tổ chức kiểm tra 61 cơ sở kinh doanh phân bón, đã xử lý 54 trường hợp, trong đó 51 trường hợp xử phạt vi phạm hành chính, tổng số tiền thu nộp ngân sách Nhà nước hơn 53 triệu đồng Các hành vi vi phạm chủ yếu về nhãn mác hàng hóa chiếm 48,1%; không niêm yết đầy đủ về giá chiếm 31,5%; về điều kiện kinh doanh và sản xuất 22% tổng số vụ kiểm tra (Phùng Thống, 2017)
Trang 2213
1.1.6 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến con người và môi trường
Ảnh hưởng tới môi trường
Việc sử dụng thuốc BVTV có nhiều mặt tích cực là tiêu diệt được sâu, bệnh, làm giảm thiệt hại do chúng gây ra Nhưng không vì thế mà lạm dụng quá mức thuốc BVTV sẽ gây ra sự tồn lưu thuốc trong đất, nước, không khí, trong cây trồng và cả thực phẩm, hậu quả đã ảnh hưởng xấu đến động, thực vật
và đặc biệt là con người
Môi trường đất: đất canh tác là nơi tập trung nhiều dư lượng thuốc BVTV Tồn dư thuốc BVTV đi vào đất đã để lại các tác hại đáng kể tới môi trường
Thuốc BVTV đi vào đất do các nguồn: xử lí trực tiếp trên đất, phun xịt trên cây trồng, theo mưa lũ,…
Hình 1.1 : Con đường di chuyển của thuốc BVTV trong môi trường
(Nguồn: Hồ Phương Anh, 2010)
Thuốc trừ sâu phun lên cây trồng thì trong đó có đến 50% số thuốc phun
bị rơi xuống đất Khi vào trong đất một phần thuốc trog đất được cây trồng hấp
Quang hóa
Bay hơi
Chảytràn Cây trồng
Hấp thụ và phân giải
Phân giải hóa
học trong đất
Hấp thụ bởi hạt đất
Phân hủy sinh học trong đất
Rò rỉ xuống nước ngầm Hóa chất BVTV
Trang 23điều kiện thời tiết, phương thức tưới tiêu và các vi sinh vật có trong đất
Nhiều loại động vật, VSV sống trong đất (giun, nấm, ve, vi khuẩn, các loại côn trùng,…) có khả năng phân giải các tàn dư thực vật, xác động vật làm cho đất tơi xốp, thoáng khí, tạo điều kiện cho cây trồng và VSV đất phát triển, giúp cải tạo, duy trì độ màu mỡ của đất Các loại thuốc BVTV khi rơi xuống đất không chỉ ảnh hưởng cho đất mà còn ảnh hưởng đến hoạt động của VSV đất làm cho đất bị thoái hóa, chai cứng dẫn đến cây không hút được chất dinh dưỡng sẽ khó phát triển
Môi trường không khí: khi phun thuốc BVTV sẽ bị phát tán trong môi trường không khí ở dạng hơi, bụi gây mùi khó chịu khiến cho không khí bị ô nhiễm Rất nhiều loại thuốc BVTV có khả năng hay hơi và thăng hoa, ngay cả hóa chất có khả năng bay hơi ít như DDT cũng có thể bay hơi vào không khí, đặc biệt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm nó có thể vẫn chuyển đến những khoảng cách xa hơn Dưới tác động của các yếu tố bên ngoài như: gió, nhiệt
độ, tính chất hóa học của thuốc,… sẽ thúc đẩy quá trình khuếch tán của thuốc lan rộng, xa đến nơi khác làm ô nhiễm không khí Ô nhiễm không khí do thuốc BVTV sẽ ảnh hưởng xấu đến con người và các loại động vật thông qua con đường hô hấp
Môi trường nước: có thể bị ô nhiễm do việc đổ các hợp chất thuốc BVTV còn thừa sau khi phun xong; nước rửa dụng cụ chứa thuốc xuống mương máng,
ao, hồ Dùng thuốc ở sát những khu vực nhạy cảm như nguồn nước sinh hoạt, nơi đông dân cư hay do nước thải công nghiệp từ các nhà máy sản xuất thuốc BVTV
Thuốc trừ sâu trong đất dưới tác dụng của mưa và rửa trôi sẽ tích lũy và lắng đọng trong lớp bùn đáy ở ao, hồ, sông,… sẽ làm ô nhiễm nguồn nước
Trang 2415
Những phần thuốc chưa được thấm vào đất thì sẽ chảy tràn trên bề mặt nước, chảy vào kênh rạch gây ô nhiễm nguồn nước mặt hoặc thông qua đất mà ngấm vào mạch nước ngầm từ đó làm suy thoái chất lượng nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sống của con người và các loài động vật thủy sinh
Ảnh hưởng tới con người
Thuốc BVTV ngoài việc tiêu diệt côn trùng có hại, ngăn cỏ dại, nấm gây hại cho cây trồng thì thuốc BVTV còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người Thuốc có thể xâm nhập vào cơ thể người qua nhiều con đường khác nhau như: tiếp xúc da, ăn hoặc hít phải thuốc do trực tiếp hay qua nông sản, môi trường
bị ô nhiễm,…
Nhiễm độc cấp tính là do nhiễm một lượng hóa chất cao trong một thời gian ngắn, người bệnh thường có những triệu chứng dễ thấy như: nôn mửa, nhức đầu, chóng mặt,… những triệu chứng nhiễm độc tăng khi tiếp xúc thường xuyên và trong một số trường hợp nặng có thể dẫn đến tử vong Ngược lại, nhiễm độc mãn tính xảy ra khi nhiễm nhiều lần độc tố trong thời gian dài nhưng chỉ nhiễm liều nhỏ vào cơ thể mỗi lần Thông thường, không có triệu chứng nào xuất hiện ngay trong mỗi lần nhiễm Thay vào đó, bệnh nhân sẽ mệt mỏi
từ từ một thời gian trong nhiều tháng hoặc nhiều năm Sau một thời gian dài lượng chất độc tích tụ trong cơ thể sẽ gây ra các bệnh: rối loạn thần kinh, kém trí nhớ, giảm thị lực, suy nhược cơ thể và có thể dẫn tới ung thư
Nguyên nhân gây lên những tình trạng ngộ độc là do người dân chưa đảm bảo được trang thiết bị bảo hộ khi phun thuốc BVTV.Theo điều tra của Cục Y tế dự phòng và Môi trường Việt Nam, hàng năm có trên 5000 trường hợp nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật phải cấp cứu tại bệnh viện và có trên
300 trường hợp tử vong (Trung Kiên, 2016)
Khi thuốc BVTV được sử dụng với nồng độ cao và thường xuyên hay vào thời điểm gần thu hoạch, lượng thuốc tồn dư rất cao trong các sản phẩm thu được, từ đó người tiêu dùng cũng có nguy cơ bị nhiễm độc cao
Trang 2516
Ngoài tác dụng diệt dịch bệnh, các loại cỏ và sâu bệnh phá hoại mùa màng, dư lượng hóa chất BVTV cũng đã gây nên các vụ ngộ độc cấp tính và mãn tính cho người tiếp xúc và sử dụng chúng, và cũng là nguyên nhân sâu xa dấn đến những căn bệnh hiểm nghèo Các độc tố trong hóa chất BVTV xâm nhập vào rau quả, cây lương thực, thức ăn gia súc và động vật sống trong nước rồi xâm nhập vào các loại thực phẩm, thức uống như: thịt cá, sữa, trứng,… Một
số loại hóa chất BVTV và hợp chất của chúng qua xét nghiệm cho thấy có thể gây quái thai và bệnh ung thư cho con người và gia súc Con đường lây nhiễm độc chủ yếu là qua ăn, uống (tiêu hóa) 97,3%, qua da và hô hấp chỉ chiếm 1,9%
và 1,8% Thuốc gây độc chủ yếu là Wolfatox (77,3%), sau đó là 666 (14,7%)
và DDT (8%) (Tổng cục Môi trường 2015)
Phân tích thử nghiệm của EWG (tổ chức phi chính phủ vì môi trường) bởi Bộ Nông Nghiệp Hoa Kì cho thấy gần 70% mẫu của 48 loại nông sản thông thường bị nhiễm dư lượng của một hoặc nhiều loại thuốc trừ sâu Dư lượng thuốc trừ sâu vẫn còn trên trái cây và rau quả ngay cả sau khi chúng được rửa sạch và trong một số trường hợp được bóc vỏ Trong đó, dâu tây đứng đầu danh sách thực phẩm chứa nhiều thuốc trừ sâu nhất, sau đó là rau bina, mật hoa, táo, đào, cần tây, nho, lê, anh đào, cà chua, ớt chuông ngọt và khoai tây Mỗi loại thực phẩm này được thử nghiệm dương tính với một số dư lượng thuốc trừ sâu khác nhau và chứa nông độ thuốc trừ sâu cao hơn các sản phẩm khác (Monica Amarelo, 2017)
Quá trình nhiễm độc do thuốc BVTV là điều khó tránh vì ở một số nước điều kiện cho việc mặc áo bảo hộ hay đeo mặt nạ là không thực hiện được Trong những tình huống như vậy, người dân có thể thực hiện việc thay quần áo sau khi phun thuốc BVTV có thể giảm thiểu các rủi ro do thuốc BVTV gây ra
1.2 Tổng quan về hiện trang sử dụng phát sinh bao gói thuốc BVTV
Mỗi năm nước ta sử dụng tới khoảng 35.000 đến hơn 100.000 tấn hóa chất BVTV, kéo theo đó lượng bao bì, vỏ đựng khổng lồ, đa phần là những loại
Trang 2617
vật liệu không tự phân hủy, gây hại đến môi trường xung quanh Đặc biệt ở các vùng sản xuất nông nghiệp, tình trạng sử dụng thuốc BVTV của nông dân có chiều hướng gia tăng (Nguyễn Hồng Sáng, 2016)
Các loại HCBVTV tồn lưu gồm rất nhiều chủng loại và ở nhiều dạng khác nhau như: dạng thuốc, dạng bột, dạng ống, dạng lẫn trong đất và cả các loại không còn nhãn mác đa chủng loại,… tập trung chủ yếu ở các khu vực kho
cũ của xã, các cơ sở và trong vườn các hộ dân, tại kho của Chi cục BVTV, các trạm BVTV phục vụ nông nghiệp,… (Văn Hữu Tập, 2015)
Các kho thuốc BVTV tồn lưu hiện đang lưu giữ khoảng 217 tấn và 37.000 lít thuốc BVTV các loại cùng 29 tấn vỏ bao bì đựng thuốc trong đó có nhiều loại bao bì, vỏ chai, thùng phuy chứa đựng thuốc BVTV không có nhãn mác, không rõ nguồn gốc xuất xứ Đây chủ yếu là các loại thuốc BVTV tồn lưu
từ thập niên 80 trở về trước như: DDT, basa, thuốc diệt chuột, gián, muỗi của Trung Quốc (Thụy Anh, 2014)
Trong số địa phương trên cả nước có tồn lưu thuốc BVTV thì Nghệ An
là tỉnh có số điểm tồn lưu thuốc BVTV lớn nhất cả nước với 954 điểm, trong
đó có 268 điểm thuốc Quyết định 1946 và 686 điểm phát sinh ngoài Quyết định
1946, hiện mới điều tra xong 240 điểm, còn lại 714 điểm đang tiến hành điều tra Nhiều nhất trong số đó tập trung ở các huyện như Nghĩa Đàn, Thanh Chương, Tân Kì, Yên Thành,… (Phạm Tuân, 2019)
Hầu hết, người dân sử dụng thuốc BVTV đều chưa ý thức được sự nguy hại do rác thải của chúng gây ra Có tới 65% những người dân được hỏi khẳng định họ vứt vỏ bao bì ngay tại nơi pha thuốc (Trung Kiên, 2016) Đơn giản họ nghĩ bao gói, chai lọ đựng thuốc BVTV là một loại rác thải thông thường, không
có hại nên việc vứt chúng ở đâu cũng được Họ chưa lường trước được tính độ hại của bao bì đựng thuốc BVTV đối với môi trường cũng như bản thân họ Có biết bao nhiêu tấn thuốc BVTV các loại được phun rải rác để bảo vệ cây trồng,
Trang 2718
mùa màng,… thì cũng đồng nghĩa với việc số lượng rác thải từ các bao bì thải
ra đồng ruộng nhiều tương ứng
1.3 Tổng quan về hiện trạng thu gom và xử lý bao gói thuốc BVTV
Thời gian qua, tình trạng ô nhiễm môi trường do vỏ bao bì thuốc BVTV diễn ra khá phức tạp Ở nhiều địa phương, sau một vụ sản xuất nông nghiệp, người dân sử dụng và thải ra môi trường một lượng lớn bao bì, chai lọ thuốc BVTV khiến cho môi trường bị ô nhiễm, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
Mặc dù, theo Thông tư liên tịch số 05/2016/ TTLT-BNNPTNT-BTNMT hướng dẫn việc thu gom, vận chuyển và xử lí bao gói thuốc BVTV sau sử dụng quy định: “Người sử dụng thuốc BVTV phải thu gom bao gói thuốc BVTV sau pha chế, phun rác để vào bể chứa, không để chung bao gói thuốc BVTV sau sử dụng với rác thải sinh hoạt và rác vệ sinh đồng ruộng Bao gói thuốc BVTV sau khi sử dụng xong thì không được sử dụng vào mục đích khác, không tự ý xử lí, đem chôn hoặc đốt bao gói thuốc BVTV” Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay tại một số địa phương không đáp ứng được quy định này Nguyên nhân của tình trạng trên, là do nguồn kinh phí hỗ trợ thu gom, xử lí bao bì thuốc BVTV còn hạn chế Vấn đề sau khi thu gom bao bì thuốc BVTV lại không có hình thức xử
lí theo đúng quy định, đa số lượng bao bì thuốc BVTV sau thu gom đều được đốt hoặc xử lí với rác thải sinh hoạt
Theo nhiều người dân, mặc dù biết rõ bao bì, vỏ chai thuốc BVTV là rác thải nguy hại cho môi trường nhưng vì không có bể chứa hoặc do bể chứa để quá xa nên buộc họ phải vứt ngay tại ruộng hoặc gom thành đống nhỏ sau đó đem chôn, đốt mà chưa có một biện pháp xử lí nào khác
Theo các nhà khoa học, bao bì thuốc BVTV được liệt kê vào dạng chất thải nguy hại, khi đốt sẽ phát thải ra khí đi-ô-xin, một trong những chất gây ung thư Do đó, loại rác thải này cần phải được tiêu hủy đúng quy trình và có phương pháp xử lí an toàn
Trang 2819
Nhằm nâng cao kiến thức sử dụng an toàn, hiệu quả thuốc BVTV trên
lúa, giảm thiểu mức thấp nhất những nguy cơ gây độc trong quá trình sử dụng
cũng như sau khi sử dụng, được sự tài trợ của Tổ chức CropLife Vietnam và
CropLife Asia, Chi cục BVTV Kiên Giang phối hợp cùng Cục BVTV phát
động phong trào “Toàn dân thu gom vỏ chai, bao bì thuốc BVTV đã qua sử
dụng để tiêu hủy” Sau đó phân loại đóng gói theo quy cách và vận chuyển đi
tiêu hủy theo công nghệ đốt nhiệt độ cao tại nhà máy xi măng của Holcim Việt
Nam ở Hòn Chông, Kiên Giang (Nguyễn Trường Sơn, 2010)
Trung tâm Công nghệ Hóa học và Môi trường (ECHEMTECH) – Liên
hiệp các Hội khoa học kĩ thuật Việt Nam, đã nghiên cứu một giải pháp mới, đó
là tiêu hủy thuốc BVTV không đốt, chi phí xử lí rẻ hơn cách dùng lò đốt đến
50% - 60%
Hình 1.2 : Quy trình xử lí thuốc BVTV
Dựa trên đặc tính chung của các loại thuốc BVTV là tan được trong nước,
GS- TSKH Trần Mạnh Trí dùng nước để pha loãng thuốc đến nồng độ cần thiết,
sau đó đưa vào xử lí nước chứa thuốc BVTV này Trong quá trính xử lí, GS Trí
đã áp dụng kĩ thuật tích hợp các quá trình phân hủy sinh học và hóa học một
cách chặt chẽ nhằm để các quá trình hỗ trợ nhau và tạo điều kiện cho quá trình
tiếp sau xảy ra thuận lợi và triệt để Kết quả sẽ dẫn đến phân hủy hoàn toàn các
chất hữu cơ độc hại, khó phân hủy thành các chất vô hại như CO2, H2O hoặc
Thuốc BVTV cần hủy
Pha vào nước sạch Hấp thụ trên than
hoạt tính
Phân hủy hóa học
Phân hủy sinh học
Trang 2920
các các axit vô cơ phân tử thấp Các quá trình trong hệ tích hợp này bao gồm: các quá trình phân hủy hóa học, dùng các nhân oxy hóa mạnh để phân hủy hoàn toàn các hóa chất hữu cơ độc hại khó phân hủy nhất; các quá trình phân hủy sinh học sử dụng các giá thể có bề mặt lớn giúp tạo ra mật độ vi sinh cao, nâng cao hiệu quả quá trình phân hủy, tăng mức độ đề kháng trước các chất độc hại Ngoài ra, còn có các quá trình hấp thụ vật lí, hấp thụ tất cả các hợp chất hữu cơ còn sót lại trên than hoạt tính, giữ lại tất cả những gì còn sót lại trong nước xử
lí để thu nước sạch hoàn toàn Riêng phần bao bì, sau khi lấy hết thuốc BVTV
sẽ được rửa sạch Nước rửa này cho nhập chung quy trình nói trên để xử lí Bao
bì là thủy tinh sẽ chuyển về các công ty sản xuất thuốc BVTV để đóng gói thuốc mới hoặc chuyển về lò nấu thủy tinh để tái sinh Bao bì giấy và nhựa sẽ đưa vào lò đốt rác công nghiệp hai cấp nhiệt độ để tiêu hủy (Thanh Lê, 2009)
1.4 Tổng quan về các công nghệ xử lý bao bì hóa chất bảo vệ thực vật
Phương pháp màng lọc
Dư lượng hoá chất BVTV trong môi trường thường là dạng ít tan trong nước và có kích thước rất nhỏ Do vậy để loại bỏ dư lượng hoá chất BVTV trong môi trường bằng phương pháp màng lọc, người ta thường sử dụng các loại màng có kích thước lỗ rất nhỏ Cho đến nay, có nhiều công trình nghiên cứu sử dụng phương pháp màng lọc để xử lý hoá chất BVTV, có thể kể ra một
số công trình tiêu biểu như:
Plakas và cộng sự (2012) đã nghiên cứu loại bỏ thuốc trừ sâu ra khỏi nước bằng phương pháp lọc nano (Nanofiltration) và thẩm thấu ngược (Reverse Osmosis - RO) Nghiên cứu ngoài việc chỉ ra khả năng loại bỏ thuốc trừ sâu bằng phương pháp màng còn đưa ra các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng loại bỏ thuốc trừ sâu của phương pháp: vật liệu cấu tạo của màng , kích thước lỗ màng, khả năng khử muối của màng…
Trang 3021
Tuy nhiên, phương pháp màng lọc chỉ là giải pháp phân tách và cô lập các hóa chất BVTV chứ chưa xử lý triệt để, sau đó vẫn phải áp dụng các công nghệ khác để phân hủy thành các sản phẩm không gây hại
Phương pháp hấp phụ
Là việc sử dụng các chất hấp phụ có nguồn gốc tự nhiên hoặc các chất hấp phụ tổng hợp khác để hấp phụ các thuốc bảo vệ thực vật sau khi chúng được hoà tan vào nước Các loại chất hấp phụ bao gồm: than hoạt tính, silicagel, nhựa tổng hợp có khả năng trao đổi ion, cacbon sunfua, than nâu, than bùn, than cốc, dolomit, cao lanh, tro và các dung dịch hấp phụ lỏng
Rojas và cộng sự (2015) đã nghiên cứu sử dụng các vật liệu giá rẻ để loại bỏ thuốc trừ sâu ra khỏi nước bằng phương pháp hấp phụ Các vật liệu được nghiên cứu như: vỏ hạt hướng dương, vỏ trấu, bùn compose và đất nông nghiệp Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng vỏ trấu có khả năng hấp phụ tốt nhất để loại
bỏ thuốc trừ sâu ra khỏi nước
Phương pháp này có chi phí thập, nguyên liệu đơn giản, dễ kiếm tìm ngoài tự nhiên, hiệu quả xử lý cao Nhưng nó chỉ là giải pháp phân tách và cô lập các hóa chất BVTV chứ chưa xử lý triệt để, sau đó vẫn phải áp dụng các công nghệ khác để phân hủy thành các sản phẩm không gấy hại Ngoài ra, dung lượng hấp phụ của các vật liệu cũng là một điểm hạn chế của phương pháp này
Phương pháp sinh học
Xử lý hoá chất BVTV bằng phương pháp sinh học là quá trình sử dụng các loại vi sinh vật có khả năng phân huỷ các chất hữu cơ bền ở trong thành phần của thuốc BVTV Các nghiên cứu cho thấy trong đất tồn tại rất nhiều nhóm vi sinh vật có khả năng phân huỷ các hợp chất phospho hữu cơ, ví dụ như
nhóm Bacillus mycoides, B.subtilis, Proteus vulgaris,…, đó là những vi sinh
vật thuộc nhóm hoại sinh trong đất Rất nhiều vi sinh vật có khả năng phân huỷ
2,4-D, trong đó có Achrombacter, Alcaligenes, Corynebacterrium,
Flavobaterium, Pseudomonas,…Yadav J S và cs đã phát hiện nấm
Trang 3122
Phanerochaete Chrysosporium có khả năng phân huỷ 2,4- D và rất nhiều hợp
chất hữu cơ quan trọng có cấu trúc khác như Clorinated phenol, PCBs, Dioxin, Monoaromatic và Polyaromatic hydrocacbon, Nitromatic Năm 1976, Franci
và cs đã nghiên cứu về khả năng chuyển hoá DDT Analogues của chủng
Pseudomonas sp Năm 1977, Doughton và Hsieh nghiên cứu sự phân huỷ
parathion như một nguồn dinh dưỡng và nhận thấy quá trình phân huỷ diễn ra nhanh hơn. Trong những năm gần đây xu hướng sử dụng vi sinh vật để phân hủy lượng tồn dư hóa chất BVTV một cách chú trụng nghiêm cứu
Nhược điểm của phương pháp này là phải tìm ra được chủng vi sinh vật thích hợp để phân hủy các hóa chất BVTV
Phương pháp oxy hóa khử
Có hai loại phản ứng oxy hoá khử là oxy hoá trong môi trường axit và oxy hoá trong môi trường kiềm Mục đích của quá trình oxy hoá khử là dùng các chất có tính oxy hoá để phá vỡ một số liên kết nhất định, chuyển hoá chất có độc tính cao thành chất có độc tính thấp hơn hoặc không độc Các tác nhân oxy hóa thường được dùng là: Chlorine, Ozone, Potassium permanganate (KMnO4), Dihydro dioxit (H2O2)
Oxy hóa ở nhiệt độ cao
Ưu điểm của biện pháp xử lý nhiệt độ cao là biện pháp tổng hợp vừa tách chất ô nhiễm ra khỏi, vừa làm sạch triệt để chất ô nhiễm; khí thải rất an toàn cho môi trường (khi có hệ thống lọc khí thải) Hiệu suất xử lý tiêu độc cao
>95%; cặn bã tro sau khi xử lý chiếm tỷ lệ nhỏ (0,01%)
Hạn chế của biện pháp này là chi phí cho xử lý cao, không áp dụng cho xử lý đất bị ô nhiễm kim loại nặng, khí thải cần phải lọc trước khi thải ra môi trường
Công nghệ đốt
Theo kết quả thực hiện dự án: "Hoàn thiện quy trình công nghệ xử lý
thuốc BVTV tồn đọng bằng phương pháp thiêu đốt và sinh hoá’’ Viện môi
trường Nông nghiệp đã nêu lên giải pháp đốt thuốc BVTV tồn đọng trong điều
Trang 3223
kiện Việt Nam Tuy nhiên đây là một phương pháp đốt chưa đạt hiệu suất cao
và không có hệ thống kiểm soát ô nhiễm không khí Cách đốt này là chấp nhận được song chỉ với các thuốc BVTV không chứa Clo nhìn chung, có thể coi đây
là giải pháp tình thế và chỉ nên xử lý đối với thuốc không chứa clo (gồm nhóm
clo-chloro hữu cơ, một số thuốc thuộc nhóm lân hữu cơ, pyrethroids và các nhóm khác, kể cả thuốc trừ cỏ)
Trên cơ sở phản ứng của Aldolphe Wurtz năm 1860, Fittig đã mở rộng
ra rằng, các các hợp chất cac-bua hydro thơm chứa hologen cũng phản ứng
mạnh mẽ với natri kim loai ( phản ứng 2):
R-X+Ar-X + 2Na ->R -Ar + 2NaX (2)
Theo kết quả của đề tài “Ứng dụng các kỹ thuật phân tích để phân loại thuốc BVTV tồn đọng chưa rõ nguồn gốc ở Việt Nam, phục vụ công tác tiêu hủy và xây dựng mô hình tiêu hủy thí điểm” cho thấy phương pháp khử thuốc clo-chloro hữu cơ bằng Na-Tech đã bước đầu thu được kết quả: thuốc Endosulfan sau xử lý đã không còn ở dạng ban đầu Tuy nhiên, kiểm tra sản
Trang 3324
phẩm bằng GC/MS, sản phẩm của qúa trình vẫn có hợp chất hữu cơ vòng thơm chứa Clo Chỉ khi đa số Clo đã được "cố định" vào NaCl thì sản phẩm có thể tiếp tục xử lý đốt theo công nghệ của Bộ tư lệnh Hoá học
Như vậy hiện nay ở trong nước các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu khá nhiều công nghệ xử lý khác nhau Tuy nhiên mỗi công nghệ đều có những ưu, nhược điểm và phạm vi ứng dụng nhất định Mặt khác khó áp dụng các công nghệ riêng lẻ để xử lý khu vực bị ô nhiễm do đặc điểm địa chất, địa lý, mức độ
ô nhiễm của các điểm là rất khác nhau
1.5 Cơ sở pháp lí trong quản lí bao gói thuốc bảo vệ thực vật
Luật số 41/2013/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2013 của Quốc hội Luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật;
Nghị định số 116/2014/NĐ-CP ngày 04 tháng 12 năm 2014 của Chính Phủ Quy định một số điều của Luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật;
Nghị định số 04/2020/NĐ-CP ngày 03 tháng 1 năm 2020 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 31/2016/nđ-cp ngày 06 tháng 5 năm 2016 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật; nghị định số 90/2017/nđ-cp ngày
31 tháng 7 năm 2017 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y
Công văn số 7838/VPCP – KTN ngày 14 tháng 11 năm 2018 của Văn phòng chính phủ về việc xử lí tiêu hủy thuốc bảo vệ thực vật tồn đọng, cần tiêu hủy ở các tỉnh;
Thông tư số 38/2010/TT-BNNPTNT ngày 28 tháng 6 năm 2010 của Bộ NN&PTNT về việc quy định về quản lý thuốc bảo vệ thực vật và Công văn số 1538/BVTV-QLT ngày 08 tháng 9 năm 2010 hướng dẫn thi hành Thông tư số 38/2010/TT-BNNPTNT;
Trang 34Thông tư số 10/2020/TT- BNNPTNT ngày 09 tháng 9 năm 2020 của Bộ NN&PTNT về Ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, cấm sử dụng tại Việt Nam;
Quyết định số 278/QĐ-BNN-BVTV ngày 08 tháng 02 năm 2017 của Bộ NN&PTNT về việc loại bỏ thuốc bảo vệ thực vật chứa hoạt chất 2.4D và Paraquat ra khỏi Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam;
Quyết định số 4154/QĐ-BNN-BVTV ngày 16 tháng 10 năm 2017 của
Bộ NN&PTNT về việc loại bỏ các thuốc BVTV chứa hoạt chất Trichlorfon khỏi danh mục được phép sử dụng;
Quyết định số 501/QĐ-BNN-BVTV ngày 12 tháng 2 năm 2019 của Bộ NN&PTNT về việc loại bỏ thuốc bảo vệ thực vật chứa hoạt chất Chlorpyrifos Ethyl và Fipronil ra khỏi Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam;
Quyết định số 1186/QĐ-BNN-BVTV ngày 10 tháng 4 năm 2019 của Bộ NN&PTNT về việc loại bỏ thuốc bảo vệ thực vật chứa hoạt chất Glyphosate ra khỏi Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam;
Quyết định số 1675/QĐ-UBND ngày 24 tháng 10 năm 2016 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Nam Về việc phân công, phân cấp trong hoạt động kiểm tra
Trang 3526
điều kiện sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp và quản lý an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản thuộc phạm vi quản lý của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn tỉnh Hà Nam ;
Trang 3627
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bao gói hóa chất bảo vệ thực vật sử dụng trên đất trồng cây vụ đông tại
xã Liêm Sơn, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: xã Liêm Sơn, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 11/2020 đến tháng 02/2021
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng phát sinh bao gói hóa chất bảo vệ thực vật trên đất trồng cây vụ đông tại xã Liêm Sơn, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam
- Đánh giá hiện trạng công tác quản lí và xử lý hóa chất BVTV trên đất cây vụ đông tại xã Liêm Sơn, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam
- Đề xuất giải pháp kĩ thuật quản lí và xử lý bao gói hóa chất BVTV phù hợp với xã Liêm Sơn, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin
a Thu thập thông tin thứ cấp
- Thu thập số liệu thống kê từ UBND xã Liêm Sơn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình phát triển nông nghiệp của toàn xã
- Thu thập thông tin từ tạp chí, sách báo, kết quả nghiên cứu,…đã được công nhận liên quan đến đề tài đang thực hiện
- Thu thập các thông tin về hệ thống quản lí phân bón và thuốc bảo vệ thực vật
- Các thông tin về diện tích trồng màu trên địa bàn, bản đồ hiện trạng sử dụng đất xã Liêm Sơn
Trang 3728
b Thu thập thông tin sơ cấp
- Khảo sát trực tiếp: bằng cách quan sát, chụp ảnh, ghi chép cách người dân địa phương sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, xử lí bao gói sau khi sử dụng
và số lượng bao gói thuốc bảo vệ thực vật, hiện trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật thu gom bao gói hóa chất BVTV sau khi sử dụng tại địa phương
- Điều tra nông hộ bằng phiếu hỏi: Câu hỏi phỏng vấn thường tập trung đến những vấn đề chính trong nội dung nghiên cứu như: diện tích đất trồng màu, cách thức sử dụng hóa chất BVTV, yếu tố chi phối đến loại và lượng hóa chất BVTV, hiện trạng về hoạt động thu gom/xử lý bao gói hóa chất BVTV của người dân Số lượng phiếu điều tra tùy vào số lượng hộ gia đình trồng cây vụ đông và diện tích trồng Theo như tìm hiểu có tất cả 30 hộ gia đình trồng cây
vụ đông (dưa bao tử, ngô, đỗ, khoai tây,…) với tổng diện tích là 13,53 ha Căn
cứ với số lượng hộ gia đình trồng tiến hành điều tra tổng số phiếu là 30 phiếu
- Đối với Cán bộ khuyến nông và các chủ cửa hàng bán thuốc bảo vệ thực vật thì hỏi trực tiếp không thông qua phiếu điều tra với các nội dung liên quan đến thuốc bảo vệ thực vật mà người dân trong xã hay sử dụng
- Phương pháp khối lượng xác định lượng bao gói hóa chất BVTV phát sinh (phân loại bao bì hóa chất BVTV: chai nhựa, túi nhựa, thủy tinh; cách tính toán theo kilogam [chai nhựa hoặc túi nhựa hoặc thủy tinh]/sào cây trồng,)
- Phương pháp phân loại bao bì thuốc BVTV chai nhựa, túi nhựa, thủy tinh
Trang 3829
3.1 Hiện trạng sử dụng đất và tình hình sản xuất nông nghiệp tại xã Liêm Sơn huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam
3.1.1 Hiện trạng sử dụng đất
Xã Liêm Sơn thuộc huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam Tổng diện tích đất
tự nhiên là 1.113,66 ha trong đó đất nông nghiệp là 720,71 ha; đất phi nông nghiệp là 391,45 ha; đất chưa sử dụng 1,5 ha
Bảng 3.1 : Hiện trạng sử dụng đất xã Liêm Sơn
2.6 Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp 6,24
2.7 Đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản
Trong đó
Đất xây dựng cơ sở văn hóa 1,59
Đất xây dựng cơ sở y tế 0,14
Đất xây dưng cơ sở giáo dụ-đào tạo 3,08
Đất xây dưng cơ sở thể duc-thể thao 4,66