Tổng quan tài liệu
Tổng quan về thân mềm chân bụng (Gastropoda)
Trong ngành Thân mềm, lớp Chân bụng (Gastropoda) là lớp phong phú nhất, chiếm khoảng 80% số loài Thân mềm hiện nay Lớp này có 611 họ, trong đó có
202 họ đã tuyệt chủng, được tìm thấy trong các hóa thạch (Bouchet & Rocroi,
Vị trí phân loại: Theo Cuvier, 1795
Ngành động vật thân mềm: Mollusca
Lớp chân bụng: Gastropoda
2.1.2 Đặc điểm cấu tạo và sinh lý Đặc điểm nổi bật nhất của động vật chân bụng là cơ thể mất đối xứng và được chia thành 3 phần là phần đầu, phần thân và phần chân Đầu ở phía trước, có mắt và các tua cảm giác (râu) Thân (hay được gọi là khối phủ tạng) nằm trên chân, là một túi xoắn Chân là khối cơ khoẻ nằm ở mặt bụng, cử động uốn sóng khi bò
Cơ thể được bao bọc bởi một vỏ xoắn, thường có hình chóp hoặc xoắn trên mặt phẳng, và có thể đi kèm với nắp vỏ Mức độ phát triển của vỏ này rất đa dạng.
Vỏ của động vật có cấu tạo điển hình với nhiều lớp, bao gồm lớp sừng (periostracum), lớp lăng trụ canxi và lớp xà cừ, lớp xà cừ chỉ xuất hiện ở một số loài như bào ngư và ốc xà cừ.
Số vòng xoắn của vỏ ốc trưởng thành có sự khác biệt, ví dụ như ốc nhồi (Pila polita) có 5 vòng, trong khi ốc sên (Achatina fulica) thường có từ 6 đến 7 vòng Vòng xoắn có thể theo chiều kim đồng hồ (xoắn thuận) hoặc ngược chiều kim đồng hồ (xoắn ngược) (Thái Trần Bái, 2005).
Hình 2.1 Vỏ của thân mềm (theo Hickman)
Chi chú: A và B Vỏ Busycon canca; C Vỏ của B corytatum; 1 Đỉnh; 2 Các vòng xoắn; 3 Phần lồi vỏ;
4 Các gờ dọc ngoài; 5 Gờ dọc trong; 6 Mép trong; 7 Mép ngoài; 8 Rãnh siphon; 9 Trụ vỏ Nội quan của động vật thân mềm được lớp áo bao phủ, nằm trong vỏ
Hệ tiêu hóa của chân bụng chủ yếu ăn thực vật, nhưng cũng có một số loài ăn thịt bằng cách bắt con mồi, tiết men tiêu hóa để phân hủy và hút vào ống tiêu hóa Một số loài khác lọc thức ăn trong nước hoặc sống ký sinh Đặc điểm nổi bật của hệ tiêu hóa chân bụng là có hàng trăm ngàn răng ở lưỡi gai, chủ yếu thực hiện tiêu hóa ngoại bào, mặc dù có khối gan có khả năng tiêu hóa nội bào Dạ dày của chúng quay hướng từ trước ra sau, và tuyến nước bọt có khả năng tiết ra các chất hòa tan đá vôi hoặc chất độc.
Dạ dày của một số chân bụng ăn lọc như giống Lambris và Strombus có trụ gelatin tiết men tiêu hóa, giúp bào mòn thức ăn Trong khi đó, hệ tiêu hóa của một số chân bụng ký sinh lại bị tiêu giảm.
Hệ tuần hoàn của động vật chân bụng có cấu trúc phức tạp hơn so với giun đốt, với hệ tuần hoàn hở và máu không màu Nhịp tim thay đổi tùy theo loài, dao động từ 20 đến 40 lần mỗi phút ở nhiệt độ 20 độ C Tim của chúng có một tâm thất và một hoặc hai tâm nhĩ, nằm trong bao tim trong suốt Cụ thể, ở ốc sên, tim có hai ngăn: tâm nhĩ ở phía trước liên kết với hệ tĩnh mạch và tâm thất ở phía sau kết nối với hệ động mạch Từ tâm thất, một động mạch lớn phân chia thành hai nhánh: động mạch đầu chạy lên phía trên và động mạch nội tạng đi vào các vòng xoắn Động mạch đầu tiếp tục phân nhánh nhỏ vào các nội quan như tiêu hóa và sinh dục, trong khi nhánh chính chạy thẳng lên trên, đi qua vòng thần kinh hầu và hướng về phía sau vào chân ốc sên.
Hệ tĩnh mạch không kết nối với động mạch qua mao mạch mà thông qua khe xoang Máu từ khe xoang được tập trung thành ba đường tĩnh mạch: tĩnh mạch chính, tĩnh mạch trụ và cung tĩnh mạch mép áo Sau đó, máu di chuyển vào phổi, nơi diễn ra quá trình trao đổi khí trong xoang phổi, và cuối cùng được tập trung vào tĩnh mạch phổi lớn, nằm ở giữa xoang phổi, mang máu chảy thẳng vào tâm nhĩ.
Hình 2.2 Cấu tạo nội quan của ốc sên (theo Hickman)
Ghi chú: 1 Ống dẫn tinh; 2 Màng nối ống dẫn; 3 Ống dẫn trứng; 4 Áo; 5 Động mạch phổi (trong áo);
6 Tuyến nhầy; 7 Âm đạo; 8 Túi mực; 9 Lỗ sinh dục; 10 Mắt; 11 Tua bắt mồi; 12 Hạch trung tâm; 13 Miệng; 14 Hạch chân; 15 Dương vật; 16 Diều; 17 Tuyến nước bọt; 18 Lỗ bài tiết; 19 Hậu môn; 20 Chân; 21 Tim; 22 Thận; 23 Tuyến tinh; 24 Dạ dày; 25 Gan; 26 Vỏ; 27 Tuyến albumin; 28 Tuyến trứng; 29 Ống dẫn liệu sinh dục; 30 Ruột
Hệ hô hấp của chân bụng bao gồm mang lá đối hoặc phổi, với mang thường gặp ở những loài sống dưới nước Một số chân bụng chuyển sang đời sống trên cạn và phát triển phổi, trong khi một số loài sống dưới nước vẫn giữ phổi Phổi được cấu tạo từ thành trong của áo có nhiều mạch máu, bao gồm tĩnh mạch phổi lớn và các mạch nhỏ phân nhánh Xoang phổi là một khoang kín, được giới hạn bởi vỏ áo và khối nội quan Một số loài chân bụng như ốc nhồi có cả mang và phổi, cho phép chúng sống lâu hơn trên cạn Ngoài ra, nhiều loài chân bụng có cơ quan hô hấp thay đổi với các phần phụ sinh mọc trên bề mặt cơ thể, và số lượng cùng vị trí của mang ảnh hưởng đến cấu trúc của tâm nhĩ.
1800 và lần quay nhả xoắn điều hoà trong quá trình tiến hoá của động vật chân bụng (Thái Trần Bái, 2005)
Hình 2.3 Tiến hoá của mang ở Chân bụng (theo Hickman)
Tổ tiên có cấu trúc đối xứng hai bên, nhưng trong quá trình phát triển, một bên mang bị tiêu giảm dẫn đến sự mất đối xứng Bên mang còn lại tiếp tục phát triển và gắn vào biểu mô của xoang áo, tạo thành mối liên hệ với ruột.
Hệ thần kinh và giác quan của chân bụng được cấu trúc bởi các hạch thần kinh phân tán, với sự tập trung các tế bào thần kinh và dây thần kinh theo kiểu đối xứng hai bên Cấu tạo phổ biến bao gồm năm đôi hạch lớn: não điều khiển các hoạt động giác quan ở phần đầu, hạch chân điều khiển chân, hạch áo điều khiển cơ quan áo, hạch mang điều khiển mang và osphradium, cùng với hạch nội quan điều khiển khối nội quan Một số chân bụng còn có các hạch phụ như hạch miệng và hạch osphradium Hệ thần kinh của chân bụng có đặc điểm là bị bắt chéo do hiện tượng xoắn vặn cơ thể, điều này tạo nên sự khác biệt cho chúng.
Hình 2.4 Hệ thần kinh của một số Chân bụng (theo Hickman)
Bào ngư, Buscon, Helix, và Aplysia là những loài động vật có hệ thần kinh phức tạp Hệ thống hạch của chúng bao gồm hạch não, hạch bên, hạch chân, hạch nội tạng, hạch miệng, hạch mang, hạch chân - bên, cùng với các dây thần kinh như dây nội tạng và dây chân, và cấu trúc như thực quản.
11 Vòi; 12 Ống dẫn nước bọt; 13 Tuyến nước bọt
Cơ quan cảm giác của chân bụng rất đa dạng, bao gồm xúc giác từ tua miệng và bờ vạt áo, cùng với các cơ quan cảm giác hoá học như osphradi và đôi râu thứ hai Ngoài ra, chân bụng còn có bình nang và mắt, có thể nằm ở gốc hoặc đỉnh của đôi tua đầu thứ hai Mắt của chân bụng có thể có cấu tạo đơn giản như mắt của ốc nón, hoặc phức tạp như mắt của một số loài chân bụng ăn thịt như Fissurella.
Nghiên cứu động vật thân mềm trên thế giới
ĐVTM chân bụng là nhóm động vật thân mềm quan trọng, chủ yếu phân bố ở vùng triều nông và cận triều, đại diện cho khoảng 2% tổng số động vật thân mềm được đánh bắt toàn cầu Một số loài như bào ngư Haliotis spp., Strombus spp., Busycon spp và Concholepas concholepas có giá trị kinh tế cao và đóng vai trò quan trọng trong nghề khai thác thủ công quy mô nhỏ.
Trong 25 năm qua, sản lượng khai thác động vật chân bụng sống trong tự nhiên đã tăng từ 75.000 tấn năm 1979 lên 103.000 tấn năm 1996 Số quốc gia tham gia đánh bắt động vật chân bụng cũng tăng từ 23 lên 47 Động vật chân bụng chủ yếu được khai thác ở lục địa Châu Mỹ, với sự chiếm ưu thế của loài ốc C concholepas tại Chile và Peru, cùng với các loài ốc xà cừ như Turbo spp và Strombus spp.
Bào ngư, thuộc chi Haliotis spp., chủ yếu được tìm thấy ở California và bờ biển phía tây bán đảo Baja California, cũng như ở Châu Á và Châu Đại Dương, nơi nghề đánh bắt bào ngư phát triển mạnh, đặc biệt là ở Úc và New Zealand Tại Nhật Bản và Hàn Quốc, ốc khăn lá sừng, Turbo truncatus, cũng được khai thác Ở Châu Phi và Châu Âu, Haliotis midae là loài bào ngư chủ yếu được đánh bắt ở Nam Phi, trong khi các loài như Littorina littorea và Buccinum undatum được khai thác phổ biến ở Châu Âu (Leiva, 2001).
Năm 2017, nghiên cứu vùng triều bán đảo Malaysia đã xác định 9 họ và 28 loài trong năm lớp phụ của động vật chân bụng Tại Tanjung Jara, vùng trên triều có chỉ số đa dạng và độ đều cao nhất với chỉ số đa dạng Shannon-Wiener H' = 0,702 ± 0,213 và chỉ số độ đều Pielou J' = 0,303 ± 0,075 Họ Planaxidae và Muricidae là những loài chiếm ưu thế ở tất cả các vùng bãi triều Ngược lại, vùng dưới triều ở Teluk Bidara ghi nhận chỉ số đa dạng và độ đều cao nhất với H' = 0,414 ± 0,082.
Pielou: J' = 0,269 ± 0,028) so với vùng trên triều và các khu giữa Các loài Littorinidae và Neritidae chiếm ưu thế ở đây (Baharuddin, 2018)
Từ tháng 1 năm 2008 đến tháng 9 năm 2009, nghiên cứu đa dạng sinh học tại bờ biển Goa, Ấn Độ đã xác định 86 loài, 51 chi và 24 họ trong 2.493 mẫu vật (David, 2013) Năm 2013, tại vùng biển Asry, Bahrain, 2.136 loài cá thể đã được xác định ở bãi triều cát và đá, thuộc 16 họ, 5 chi và 28 loài động vật chân bụng (Lumeran, 2015) Năm 2014, nghiên cứu tại Fiji ghi nhận 85 loài động vật thân mềm chân bụng thuộc 29 họ trong 4 sinh cảnh khác nhau (Suratissa, 2017) Jayaraj Mohanraj (2015) đã đánh giá đa dạng các quần thể động vật chân bụng liên quan đến rạn san hô ở Vịnh Đảo Mannar, xác định tổng số 40 loài từ 19 họ, với mật độ quần thể thay đổi ở các trạm khác nhau.
Từ các đảo Vaan, Koswari và Hare, đã ghi nhận tổng cộng 1.123 loài động vật chân bụng Tại bờ biển phía tây Ấn Độ, các loài này được thu thập trong các đợt triều cường mùa xuân từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 5 năm 2015 Kết quả cho thấy có 60 loài động vật chân bụng thuộc 38 chi, 25 họ và 8 bộ khác nhau.
Động vật chân bụng biển là nguồn cung cấp các hợp chất hoạt tính sinh học quý giá, được ứng dụng trong dược phẩm với nhiều đặc tính như kháng u, chống bệnh bạch cầu, kháng khuẩn và kháng vi-rút Các hợp chất này cũng được sử dụng để điều trị các bệnh như Alzheimer, Parkinson, trầm cảm, động kinh, hen suyễn, còi xương, một số bệnh về da, cũng như hỗ trợ cho nạn nhân của đột qụy và bệnh tim.
Tình hình nghiên cứu động vật thân mềm ở viêt nam
Nguyễn Văn Chung và cộng sự (1978) đã tổng hợp toàn bộ các công trình nghiên cứu về hệ động vật đáy biển tại Việt Nam, ghi nhận 74 công trình nghiên cứu trên toàn lãnh thổ Nổi bật trong số đó là các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài và chuyến tàu khảo sát hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc Một trong những công trình đáng chú ý là nghiên cứu của Dawydoff từ năm 1930.
Từ năm 1959 đến 1962, Gurjanova và đội điều tra Việt - Trung đã đóng góp quan trọng vào việc nghiên cứu thành phần khu hệ động vật đáy biển Việt Nam, thống kê được 6.377 loài, trong đó có 1.064 loài chưa được công bố và 667 loài chưa xác định Trong số này, 925 loài đã được mô tả, còn lại 4.388 loài được công bố danh mục Đặc biệt, ngành Thân mềm ghi nhận 2.523 loài, bao gồm 154 loài chưa xác định, 1.632 loài công bố danh mục, 308 loài công bố mô tả và 583 loài chưa công bố, trong đó có 200 loài mới được tổng hợp từ các nghiên cứu trước đây.
Nguyễn Văn Chung (1994) đã tổng hợp các nghiên cứu về động vật đáy tại vùng biển Việt Nam, chủ yếu tập trung vào phân bố các loài Tác giả đã xem xét hơn 100 báo cáo từ nhiều tác giả như Dawydoff, Serene, Gurjanova và đội điều tra Việt - Trung, những người đã có đóng góp quan trọng vào nghiên cứu thành phần loài sinh vật đáy biển Việt Nam Kết quả điều tra sinh thái khu hệ động vật đáy dưới triều tại vịnh Bắc Bộ, được thực hiện qua hợp tác Việt - Trung (1959 - 1960 và 1962) và Việt - Xô (1960 - 1961), đã cung cấp thông tin về thành phần loài, phân bố, sinh vật lượng và các đặc điểm của khu hệ động vật đáy tại đây.
Bộ từ độ sâu hớn hơn 20m
Từ năm 1962 đến 1964, Tổng cục Thủy Sản đã thực hiện điều tra bổ sung về sinh vật đáy ở vùng gần bờ Tây vịnh Bắc Bộ Đến năm 1974, các nhà nghiên cứu như Nguyễn Văn Chung và Nguyễn Xuân Dục đã tiến hành điều tra sinh vật đáy ven bờ biển Quảng Ninh - Hải Phòng ở độ sâu không quá 30m, nhằm mục đích hoàn thiện khu hệ sinh vật đáy của vịnh Bắc.
Bộ Nguyễn Văn Chung & cs (1978), đã điều tra khu hệ sinh vật đáy vịnh Bình Giang - Nha Trang (1978) và vùng biển Thuận Hải - Minh Hải (1981) Năm 1981
Vào năm 1985, trong khuôn khổ chương trình hợp tác Việt - Xô, nghiên cứu về hệ sinh thái ven biển Nam Việt Nam đã được thực hiện, tập trung vào quần xã sinh vật đáy trên đáy mềm Từ năm 1986 đến 1990, dựa trên các dữ liệu thu thập được từ tàu Biển Đông (1979 - 1980) và những kết quả nghiên cứu mới, các tác giả Nguyễn Văn Chung và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu tổng hợp, góp phần hoàn thiện hiểu biết về khu hệ sinh vật đáy toàn vùng biển Việt Nam.
Tổng số loài đã phát hiện dược cho thấy thành phần loài phân bố của động
- Ở vịnh Bắc Bộ (từ vĩ độ 17 0 trở ra phía Bắc) số loài chiếm khoảng 20%
- Ở biển miền Trung và Nam Bộ (từ vĩ độ 17 0 trở vào phía Nam) số loài chiếm khoảng 50%
- Số loài phát hiện được ở cả 3 vùng chiếm khoảng 30%
Thành phần loài ở biển miền Trung và phía Nam tương đối giống nhau, với xu hướng gia tăng từ Bắc vào Nam Hầu hết các loài có nguồn gốc và đặc tính phân bố địa lý rộng rãi trên toàn cầu, ngoại trừ một số ít loài phân bố toàn cầu (Cosmopolite) có khả năng thích nghi cao với điều kiện sống Phần lớn các loài còn lại chủ yếu phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương.
Động vật thân mềm (Mollusca) là nhóm động vật đáy có số lượng loài phong phú nhất, với gần 2.500 loài thuộc 163 họ đã được phát hiện Một số họ như Pyramidellidae, Veneridae, Conidae, Muricidae, Cypraeidae, Nassidae, và Pectinidae có số loài tương đối nhiều Chúng phân bố rộng rãi trên các loại chất đáy, từ đá tảng ven biển đến vùng bùn nhuyễn ở độ sâu vài chục mét Sự phân bố này cũng có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng biển khác nhau.
- Ở vịnh Bắc Bộ đã phát hiện được gần 1.000 loài, các loài thường gặp là
Distorsio reticulata, Bursa rana, Murex tiapa, Amussium pheuronectes, Drupa margariticola, Turricula tuberculata, Angulus vestalis…
Biển miền Trung có sự đa dạng sinh học phong phú với gần 1.500 loài thân mềm được phát hiện Các loài thường gặp bao gồm sò (Arca), hầu (Ostrea), sò Cardium pulcherum, Cerithium kochi, Natica chilensis, Surcula tuberculata, Tellina radiata, Terebellum terebellum, Pinna vexillum, P nigra, trai tai tượng (Tridacna squamosa, T crocea), và ốc đụn (Trechus niloticus, Tectus pyramis).
- Vùng biển phía Nam đã phát hiện được khoảng 500 loài, các loài thường gặp là Turbo bruneus, Nerita albicilla, Thais acleata, Arca antiquata, Chlampys nobilis, Strombus succinctus
- Ở vịnh Bắc Bộ đã phát hiện được gần 1.000 loài, các loài thường gặp là
Distorsio reticulata, Bursa rana, Murex tiapa, Amussium pheuronectes, Drupa margariticola, Turricula tuberculata, Angulus vestalis…
Biển miền Trung có sự đa dạng sinh học phong phú với gần 1.500 loài thân mềm được phát hiện Các loài thường gặp bao gồm sò (Arca), hầu (Ostrea), Cardium pulcherum, Cerithium kochi, Natica chilensis, Surcula tuberculata, Tellina radiata, Terebellum terebellum, Pinna vexillum, P nigra, trai tai tượng (Tridacna squamosa, T crocea), và ốc đụn (Trechus niloticus, Tectus pyramis).
- Vùng biển phía Nam đã phát hiện được khoảng 500 loài các loài thường gặp là Turbo bruneus, Nerita albicilla, Thais acleata, Arca antiquata, Chlampys nobilis, Strombus succinctus
Ngành thân mềm hiện có tổng cộng 2.523 loài, trong đó có 154 loài chưa được xác định Đã có 1.632 loài được công bố trong danh mục, 308 loài đã được mô tả, và 583 loài vẫn chưa được công bố Đặc biệt, trong số các loài đã công bố, có 200 loài mới được tổng hợp từ nghiên cứu của Dawydoff.
Kết quả khảo sát năm 2004 và 2008 tại 15 điểm rạn ở Cù Lao Chàm cho thấy có 102 loài thân mềm, bao gồm 73 loài chân bụng và 29 loài hai mảnh vỏ Trạm 8 ghi nhận số lượng loài nhiều nhất với 43 loài, tiếp theo là các trạm 3, 4 và 6 với 39 loài Ngược lại, trạm 11 có số lượng loài thân mềm ít nhất với 19 loài Đặc biệt, các loài như Tridacna squamosa, Tridacna maxima, Pinctada margaritifera và Haliotis ovina được liệt kê là những loài quý hiếm trong Sách đỏ Việt Nam.
Một số loài như Turbo chrysostomus, Trochus maculates, Chicoreus bruneus và Chicoreus torrefastus hiện đang được khai thác thương phẩm Mật độ trung bình của các loài thân mềm này trong năm đạt 153,76 cá thể trên 250m², gấp ba lần so với năm trước.
Năm 2004, chỉ số đa dạng (H’), chỉ số cân bằng (J’) và chỉ số giống nhau về thành phần loài tại các trạm phụ thuộc vào mật độ của hai đối tượng hàu Chama sp và một loài hai mảnh vỏ chưa xác định.
Trong chuyến khảo sát biển Đông vào tháng 5-6/2007 bằng Tàu “Viện sĩ Oparin”, Bùi Quang Nghị (2011) đã phát hiện 44 loài động vật thuộc 4 lớp trong ngành Động vật thân mềm (Mollusca) Cụ thể, bao gồm 1 loài thuộc lớp Nhiều mảnh vỏ (Polyplacophora), 34 loài thuộc lớp Chân bụng (Gastropoda), 8 loài thuộc lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) và 1 loài thuộc lớp Chân đầu (Cephalopoda).
Hứa Thái Tuyến và Thái Minh Quang (2017) đã ghi nhận 148 loài động vật thân mềm thuộc 73 giống, 36 họ và 2 lớp trong rạn san hô vùng biển Bình Định Kết quả khảo sát tháng 4 năm 2017 tại 24 điểm rạn cho thấy có 117 loài thân mềm với mật độ trung bình 15,73 cá thể/100 m² Trạm Mũi Đìa có số lượng loài đa dạng nhất với 28 loài, tiếp theo là các trạm Tây Hòn Nhàn và Bãi Nồm.
- Hòn Đất, Đông Hòn Nhàn (26 loài) Trạm có số lượng loài thân mềm ít nhất là
Điều kiện tự nhiên của KBTB Cồn Cỏ, Quảng Trị
Cồn Cỏ là một hòn đảo nằm trên vùng biển tỉnh Quảng Trị, cách đất liền từ
13 - 19 hải lý (điểm đất liền gần nhất là Mũi Lài xã Vĩnh Thạnh huyện Vĩnh Linh
13 hải lý, cách cửa Tùng 15 hải lý và cách cảng Cửa Việt 19 hải lý) Cồn Cỏ có tọa độ địa lý:
Đảo Cồn Cỏ có tổng diện tích tự nhiên là 4 km² khi triều thấp và 2,2 km² khi triều cao Đảo nằm ở vĩ độ Bắc 17°08'15" - 17°10'05" và kinh độ Đông 107°19'50" - 107°12'40" Độ cao tuyệt đối của đảo là 101 m với độ dốc từ 15° đến 20°, bao gồm hai đồi và bãi đá.
Nguồn: Đỗ Văn Khương & cs (2008)
Hình 2.5 Sơ đồ vị trí đảo Cồn Cỏ
Đảo Cồn Cỏ có địa hình chủ yếu được hình thành từ đá bazan, với một phần nhỏ diện tích được bao phủ bởi lớp trầm tích san hô Địa hình của đảo chủ yếu là gò đồi thoải, có độ cao trung bình từ 5 đến 10 m Hình dạng của đảo kéo dài theo hướng Bắc - Nam, giống như một yên ngựa, với hai đỉnh cao nằm ở phía Nam (37 m) và trung tâm (67 m), sau đó dần thoải xuống về phía Bắc.
Cồn Cỏ là một hòn đảo núi lửa dạng vòm thoải, nổi bật với địa hình đặc trưng có giá trị cho du lịch sinh thái Miệng núi lửa có diện tích khoảng 0,5 ha và nằm ở độ cao trên 63 m, với bề mặt được bao phủ bởi nhiều đá bazan dạng bọt.
Bề mặt sườn núi lửa có độ dốc từ 20 - 30% xung quanh miệng núi lửa, với lớp vỏ phong hóa tạo ra đất nâu đỏ dày hơn so với các khu vực khác Khu vực này cần được bảo tồn và khôi phục lớp phủ thực vật, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch biển đảo.
Trên đảo có hai bậc thềm biển: thềm mài mòn tích tụ cao 6 - 8 m với đá bazan hoặc lớp vụn san hô và vỏ sinh vật, và thềm tích tụ cao 3 - 4 m chủ yếu từ cát sạn có thành phần vỏ sinh vật Bề mặt nền mài mòn hiện đại và vách mài mòn phân bố rộng sát mép nước Ngoài ra, đảo còn có các bãi tảng đá cuội lớn trên nền mài mòn và những bãi biển hẹp tại các cung bờ lõm ở phía Đông, Đông Nam và Nam, rộng khoảng 20 - 40 m và nghiêng thoải Một số bãi biển được cấu tạo từ đá vụn san hô, với nhiều tảng lăn đá bazan phân bố trên bãi biển.
Khí hậu khu vực đảo chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng, với nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 25,3°C và lượng mưa 2.277,8 mm Mặc dù tháng 5 đến tháng 8 là thời gian nóng nhất, nhưng điều kiện khí hậu vẫn nhẹ nhàng hơn so với đất liền Khu vực này có 1.900 giờ nắng mỗi năm và tốc độ gió trung bình là 3,9 m/s Mùa bão diễn ra từ tháng 7 đến tháng 11, với đỉnh điểm vào tháng 9 và tháng 10, trung bình có 0,8 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp mỗi năm, mặc dù có những năm không có bão.
Khi gió đạt cấp 6 trở lên, tàu thuyền gặp khó khăn trong việc tiếp cận đảo Trong trường hợp bão lớn, cư dân cần phải xuống địa đạo để tránh bão Thủy triều bán nhật không đều với mực nước trung bình 76 cm, cao nhất 140 cm và thấp nhất 10 cm Sóng có độ cao trung bình 0,7 m, có thể đạt tối đa từ 3 đến 3,5 m, và trong bão có thể lên đến 7 m (Trần Đức Thạnh & cs., 2016).
Nhiệt độ nước biển thường dao động từ 26,9 đến 29,7 °C, với đỉnh nhiệt độ xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm Nhiệt độ thấp nhất thường xảy ra từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau Độ muối trung bình của nước biển nằm trong khoảng 31 đến 33‰ (Trần Đức Thạnh & cs., 2016).
Dòng chảy quanh đảo thống trị hướng Bắc khi triều lên, hướng Nam khi triều xuống, tốc độ 0,10 - 0,65 m/s (Trần Đức Thạnh & cs., 2016).
Tình hình nghiên cứu động vật thân mềm ở Cồn Cỏ, Quảng Trị
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Huy Yết (1999), Hồ Thanh Hải & cs (1998,
Năm 1999, đã xác định được 108 loài động vật đáy cỡ lớn ven đảo Cồn Cỏ, trong đó ngành thân mềm chiếm 89 loài, tương đương 82,5% Đỗ Văn Khương và cộng sự (2008) đã trình bày phân bố thành phần loài của nhóm thân mềm, bao gồm 2 lớp, 5 bộ, 9 họ và 17 loài, như thể hiện trong bảng 2.1.
Bảng 2.1 Thành phần loài thân mềm trên vùng rạn san hô tại Cồn Cỏ
Pinna bicolor Atrina vexillum Pinna albina
Pinctada fucata martensii Peria breviata
Tectus pyramis Trochus maculatus form vevoucocus Trochus maculatus
Theo kết quả nghiên cứu của Đỗ Văn Khương & cs (2010), trong hai năm
Từ năm 2007 đến 2008, đã xác định được 135 loài động vật đáy cỡ lớn thuộc 51 họ tại khu vực này, trong đó ngành thân mềm (Mollusca) chiếm ưu thế với 99 loài thuộc 37 họ, tương đương 73,3% tổng số loài Đỗ Thanh An (2014) ghi nhận 102 loài động vật thân mềm tại vùng biển Cồn Cỏ trong khảo sát năm 2010 - 2011 Trong chuyến khảo sát trên tàu Oparin năm 2016-2017, Thái Minh Quang (2018) xác định được 10 loài thân mềm chân bụng Đỗ Văn Khương (2016) đã tổng hợp và bổ sung danh mục loài động vật thân mềm trong ba chuyến khảo sát năm 2010, 2011, và 2015 tại vùng rạn san hô ven bờ Cồn Cỏ, với tổng số 186 loài.
Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm điều tra thực địa: Tại KBTB Cồn Cỏ, từ ven bờ đến độ sâu khoảng
Khảo sát 10 mặt cắt đại diện cho hệ sinh thái rạn san hô ở độ sâu 18 m so với mực nước 0 m hải đồ, ghi nhận thành phần loài, mật độ và đặc điểm phân bố Các thông tin về địa điểm, tên trạm, vĩ độ và kinh độ cũng được thu thập trong quá trình nghiên cứu (Hình 3.1).
Hinh 3.1 Địa điểm và tọa độ điều tra nghiên cứu KBTB Cồn Cỏ
Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu khảo sát ngoài thực địa diễn ra từ ngày 28/7/2020 đến 31/7/2020 tại KBTB Cồn Cỏ, trong đó thu mẫu từ vùng triều xung quanh đảo và từ ngư dân địa phương trong khoảng thời gian từ tháng 6/2020 đến tháng 6/2021.
Thời gian nghiên cứu phân tích, đánh giá trong phòng thí nghiệm: từ tháng 6/2020 – 6/2021.
Đối tượng/vật liệu nghiên cứu
Tất cả các loài thuộc lớp TMCB (Gastropoda) tại khu bảo tồn biển Cồn Cỏ, Quảng Trị
3.3.2 Tài liệu và thiết bị sử dụng
Số liệu sử dụng trong báo cáo
Nguồn số liệu chính trong nghiên cứu về lớp ĐVTM chân bụng thuộc đề tài KC.09.41/16-20 tập trung vào cơ chế phát tán nguồn giống và tính liên kết quần thể nguồn lợi Mục tiêu của nghiên cứu là nâng cao hiệu quả quản lý các khu bảo tồn vùng biển ven bờ từ Quảng Trị đến Kiên Giang, với sự tham gia trực tiếp của học viên.
Gần đây, tài liệu nghiên cứu về ĐVTM chân bụng tại khu bảo tồn biển Cồn Cỏ, Quảng Trị đã được sử dụng, bao gồm đề tài KC.09.04/06-10, tập trung vào việc đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của các khu bảo tồn biển trọng điểm nhằm phục vụ cho việc xây dựng và quản lý Ngoài ra, còn có đề tài điều tra tổng thể đa dạng sinh học các hệ sinh thái rạn san hô và vùng ven đảo ở vùng biển Việt Nam, góp phần vào phát triển bền vững.
Tiểu dự án I.2 - thuộc Hợp phần I, Đề án 47 của Chính Phủ
Các thiết bị sử dụng trong nghiên cứu
Thiết bị khảo sát bao gồm SCUBA để lặn sâu, máy quay phim và máy chụp ảnh dưới nước, cùng với thiết bị ghi chép dưới nước, tất cả đều phục vụ cho việc nghiên cứu lớp động vật thân mềm chân bụng.
- Thiết bị khảo sát vùng triều: Khung định lượng, dụng cụ thu mẫu, đựng mẫu
Thiết bị cố định mẫu tại hiện trường bao gồm dụng cụ xử lý mẫu, lọ đựng mẫu, cồn 90% và máy ảnh kỹ thuật số để chụp ảnh các mẫu do ngư dân khai thác tại địa điểm nghiên cứu.
- Thiết bị phòng thí nghiệm: Sử dụng các thiết bị trong phòng thí nghiệm của Viện nghiên cứu Hải sản.
Nội dung nghiên cứu
Đánh giá hiện trạng đa dạng thành phần loài động vật thân mềm chân bụng tại Khu bảo tồn biển Cồn Cỏ bao gồm việc phân tích đa dạng loài, cấu trúc thành phần loài, cũng như xác định các loài kinh tế, quý hiếm và loài ưu thế trong khu vực này.
Đánh giá đặc điểm sinh thái phân bố của lớp động vật thân mềm chân bụng tại Khu bảo tồn biển Cồn Cỏ bao gồm các yếu tố như phân bố địa lý, dạng nền đáy, chất đáy và sinh cảnh Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu rõ sự phân bố và đa dạng sinh học của động vật thân mềm trong khu vực này.
Nội dung 3: Đánh giá hiện trạng nguồn lợi (sinh lượng, trữ lượng) lớp động vật thân mềm chân bụng tại Khu bảo tồn biển Cồn Cỏ
Nội dung 4: Đề xuất giải pháp bảo tồn nguồn lợi lớp động vật thân mềm chân bụng.
Phương pháp nghiên cứu
Việc thiết kế và lựa chọn vị trí cho các trạm khảo sát đa dạng sinh học và nguồn lợi ngoài thực địa được thực hiện dựa trên các tiêu chí cụ thể.
- Sử dụng phương pháp kéo Manta - tow để khảo sát sơ bộ khu vực nghiên cứu trong, vùng rạn san hô (WWF, 2005)
Xác định vị trí các mặt cắt đại diện dựa trên thông tin từ các nghiên cứu trước và kết quả khảo sát sơ bộ là bước quan trọng để tiến hành thu thập số liệu Tính đại diện cần được thể hiện rõ ràng về mặt vị trí và vùng đa dạng sinh học.
Tiến hành khảo sát chi tiết để thu thập số liệu đánh giá nguồn lợi và đa dạng sinh học của lớp động vật thân mềm chân bụng (Gastropoda) trên các mặt cắt đại diện Tọa độ và vị trí các mặt cắt tại mỗi khu vực khảo sát được xác định bằng máy định vị vệ tinh GPS, đảm bảo tính lặp lại theo không gian và thời gian trong suốt quá trình nghiên cứu.
- Tiến hành điều tra tại các chợ, cửa hàng hải sản, khảo sát vùng triều, bờ biển xung quanh đảo Cồn Cỏ
3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu, mẫu vật
Phương pháp khảo sát, thu mẫu
+ Thu mẫu ngoài hiện trường: Thu thập mẫu ở các phần bãi cát, vùng triều, đáy mềm, đáy cứng, các bãi hải sản
Mẫu vùng dưới triều được thu thập theo hướng dẫn của English, Wilkinson & Baker (1994) bằng phương pháp lặn có khí tài (SCUBA) kết hợp với dải dây mặt cắt Mặt cắt khảo sát được thực hiện song song với đới bờ, đảm bảo duy trì ở độ sâu ổn định.
Mẫu sinh vật vùng triều được thu thập theo phương pháp mặt cắt và ô định lượng với kích thước ô 1/16 m² Mỗi mặt cắt sẽ thu 3 điểm tại các mức triều cao, triều trung và triều thấp, và tại mỗi điểm sẽ lấy 3 mẫu đại diện.
- Mẫu định lượng từ khu định lượng và mang về lọc phân tích, cân đo đong đếm số lượng và khối lượng của chúng
Mẫu tại hiện trường được cân đo và chụp ảnh bằng máy ảnh, sau đó được bảo quản bằng cồn 70 độ Tất cả mẫu vật đều được ghi nhãn đầy đủ để phục vụ cho việc phân tích trong phòng thí nghiệm.
Tổng hợp số liệu từ nhiệm vụ "Điều tra tổng thể đa dạng sinh học các hệ sinh thái rạn san hô và vùng ven đảo ở vùng biển Việt Nam" (Đỗ Văn Khương, 2015) nhằm so sánh và đánh giá thành phần loài trong khu vực này.
- Kế thừa số liệu tổng diện tích rạn san hô tại khu bảo tồn biền Cồn Cỏ
3.5.3 Phân tích mẫu và xử lý số liệu
3.5.3.1 Phân tích và xử lý số liệu
Phương pháp phân loại loài:
Ghi chép chi tiết các kết quả nghiên cứu ngoài hiện trường là rất quan trọng, bao gồm việc phân tích hình ảnh chụp và quay phim trực tiếp dưới nước Cần ghi lại các thông tin như đặc tính phân bố, tập tính sinh thái, đặc điểm bề mặt mẫu và màu sắc mẫu để phục vụ cho việc định loại chính xác hơn Việc sử dụng hình ảnh màu và phân loại ngay khi mẫu còn tươi sẽ mang lại kết quả chính xác hơn.
Trong phòng thí nghiệm: Dựa vào phương pháp hình thái so sánh, đối chiếu các chỉ tiêu chính theo các tài liệu: “Marine mollusks in Japan” (Takashi Okutani,
2000) để định danh ra loài
+ Cách bước tiến hành trong phòng thí nghiệm:
- Làm sạch mẫu bằng cách rửa hết cồn vào nước sạch
- Viết thông tin ký hiệu vào bảng mẫu và giấy etiket
- Đưa mẫu vật lên kính hiển vi để xác định
Dựa vào hình thái cấu tạo để xác định ra phân ngành Thân mềm (Mollusca) -> lớp chân bụng (Gastropoda)
+ Xác định theo đặc điểm phân loại (Marine mollusks in Japan): Từ lớp ĐVTM chân bụng -> xác định ra giống -> xác định ra loài
+ Cố định mẫu và viết thông tin nhãn mác và lưu lại trong phòng thí nghiệm
+ Phương pháp xác định chỉ tiêu định loại: Chú trọng các chỉ tiêu trên vỏ hình dạng đực, cái
3.5.3.2 Phương pháp xử lý số liệu
* Đánh giá chỉ số tương đồng: Sử dụng công thức Sorensen (S) để đánh giá mức độ tương đồng loài giữa các khu vực nghiên cứu
Trong đó: S: Hệ số tương đồng
C: Số loài giống nhau giữa hai điểm khảo sát
A: Số loài ghi nhận được ở điểm a
B: Số loài ghi nhận được ở điểm b
Chỉ số S có giá trị từ 0 đến 1, với giá trị càng gần 1 cho thấy mức độ tương đồng loài giữa hai khu vực nghiên cứu càng cao Theo phân bậc mức độ tương đồng Sorensen, có ba mức độ: ít tương đồng (S từ 0 đến 0,34), tương đồng vừa (S từ 0,35 đến 0,69) và rất tương đồng (S từ 0,7 đến 1).
* Chỉ số đa dạng H’ được tính theo công thức của (Shannon & Weiner, 1963):
Trong đó: H’: Chỉ số đa dạng Shannon
Pi: Tỷ lệ của một loài i trên toàn bộ quần xã
∑: Tổng số loài từ 1 đến n
Chỉ số H’ dao động từ 0 – 5 và càng cao thể hiện tính đa dạng loài càng cao
* Đánh giá sinh lượng tức thời cho một số nhóm loài lớp chân bụng ưu thế: Dựa theo tài liệu của Michael King (1995) b + b + + b 1 2 n b = n
Trong đó: b: Sinh lượng trung bình (kg/m 2 ) b1, b2, …, bn: Sinh lượng ở mỗi điểm thu mẫu 1,2, …, n (kg/m 2 )
* Đánh giá trữ lượng tức thời cho môt số loài lớp chân bụng chiếm ưu thế:
Trong đó: w: Trữ lượng tức thời của lớp chân bụng (kg)
B: Sinh lượng (thể tích, khối lượng) trung bình (kg/m 2 ) S: Diện tích phân bố các loài lớp chân bụng (m 2 )
* Các phần mềm xử lý dữ liệu:
Sử dụng phần mềm Excel-Office 2010 để phân tích kết quả nghiên cứu và tạo ra các biểu đồ, đồ thị giúp thể hiện rõ ràng các kết quả đạt được.
- Sử dụng phần mềm Primer 5 để phân tích và xử lý số liệu
- Xây dựng bản đồ các dữ liệu thu thập được với sự trợ giúp của phần mềm
Kết quả và thảo luận
Đa dạng thành phần loài
4.1.1 Đa dạng thành phần loài
Kết quả phân tích từ chuyến khảo sát tháng 7 và thu mẫu tại vùng triều cùng ngư dân địa phương trên đảo Cồn Cỏ trong thời gian từ tháng 6/2020 đến 6/2021 đã xác định được 82 loài, 40 giống, 24 họ và 6 bộ của nhóm động vật thân mềm chân bụng (Gastropoda) Trong số 82 loài, bộ Neogastropoda chiếm số lượng lớn nhất với 40 loài, tiếp theo là bộ Littorinimorpha với 19 loài, và bộ Trochida với 16 loài Các bộ còn lại được xác định từ 01 đến 04 loài, với tỷ lệ phần trăm giữa các bộ trong lớp thân mềm chân bụng tại đảo Cồn Cỏ được thể hiện trong hình 4.1.
Hình 4.1 Tỷ lệ giữa các bộ động vật thân mềm chân bụng tại KBTB Cồn Cỏ
Trong 24 họ động vật thân mềm chân bụng phân bố ở đảo Cồn Cỏ đạt trung bình 3,46 loài/họ Các họ có số loài cao nhất tại khu vực khảo sát gồm: họ ốc gai (Muricidae) với 14 loài, họ ốc sứ (Cypraeidae) 8 loài, họ ốc cối (Conidae) 7 loài, họ ốc xà cừ (Turbinidae) 6 loài, các họ còn lại xác định được từ 1 đến 5 loài Như vậy có thể thấy họ chiếm ưu thế tại đảo Cồn Cỏ chủ yếu thuộc hai bộ Neogastropoda và bộ Littorinimorpha (Bảng 4.1)
Trong nghiên cứu này, tác giả đã xác định được 82 loài động vật thân mềm chân bụng, trong đó có 68 loài trùng khớp với nghiên cứu trước đó của Đỗ Văn Khương và cộng sự.
Bảng 4.1 Số lượng thành phần loài động vật thân mềm chân bụng được xác định tại KBTB Cồn Cỏ
TT Thành phần loài Loài/ họ Loài/ Bộ Loài/ Lớp
4.1.2 Một số họ thuộc lớp chân bụng chiếm ưu thế và có giá trị kinh tế tại KBTB Cồn Cỏ
Họ ốc gai (Muricidae), họ ốc sứ (Cypraeidae), họ ốc cối (Conidae) và họ ốc xà cừ (Turbinidae) là bốn họ ốc chiếm ưu thế và có giá trị kinh tế cao tại đảo Cồn Cỏ, đóng góp 43,68% tổng số loài được xác định trong khu bảo tồn thiên nhiên Cồn Cỏ.
4.1.2.1 Họ ốc gai (Muricidae) Ốc gai là một họ lớn và đa dạng, trên thế giới có khoảng 1.600 loài đang sinh sống và chúng phân bố ở hầu hết các vùng biển trên thế giới Chúng chủ yếu sinh sống tại các vùng rạn, có nguồn thức ăn dồi dào do là động vật ăn thịt, thức ăn chủ yếu của chúng là động vật thân mềm khác có kích thước nhỏ hơn Vỏ của chúng có hình dạng khác nhau và thường có hình chóp nên khá được ưa thích làm thủ công mỹ nghệ và làm vật trang trí (Merle, 2011)
Tại Việt Nam, số lượng loài họ Ốc gai được ghi nhận là rất hạn chế Theo nghiên cứu của Đỗ Văn Khương (2015), trong khuôn khổ dự án “Điều tra tổng thể đa dạng sinh học các hệ sinh thái rạn san hô và vùng ven đảo ở vùng biển Việt Nam phục vụ phát triển bền vững”, chỉ có 32 loài được xác định tại 19 đảo khảo sát trong các năm 2010, 2011 và 2015.
Hình 4.2 Họ ốc gai (Muricidae)
Chuyến khảo sát học viên đã ghi nhận được 14 loài ốc gai (hình 4.2) gồm:
Chicoreus torrefactus(Sowerby, 1841), Coralliophila neritoides (Lamarck, 1816),
Coralliophila radula (Adams, 1855), Drupa clathrata (Lamarck, 1816), Drupa grossularia (Rửding, 1798), Drupa morum morum Roding, 1798, Drupa ricinus ricinus
(Linnaeus, 1758), Drupa sp., Drupella conus (Rửding, 1798), Durpa rubusidaeus
(Roeding, 1798), Mancinella alouina (Rửding, 1798), Mancinella tuberosa (Roding,
1798), Nassa francolina (Bruguiere, 1789), Purpura hippocastanum (Linnaeus,
1758) Trong đó, Chicoreus torrefactus (Sowerby, 1841) là loài ốc lớn có giá trị kinh tế, Coralliophila neritoides (Lamarck, 1816), Coralliophila radula (Adams,
1855), Drupella conus (Rửding, 1798) là những loài ốc ăn san hụ
4.1.2.2 Họ ốc sứ (Cypraeidae) Ốc sứ (Cypraeidae) là họ động vật thân mềm sống ở biển Chúng phân bố ở hầu khắp vùng biển trên thế giới, nơi có đáy cứng sỏi cát, đá, san hô, thường ở độ sâu 5 - 20 mét Vỏ của chúng có dạng hình trứng, nhẵn và đẹp nên thường được dùng để trang trí và trưng bày Chúng hầu như chỉ kiếm ăn vào ban đêm nên chưa xác định được chính xác thức ăn của chúng nhưng thức ăn phổ biến nhất của chúng là bọt biển (Lorenz, 2017) Ở Việt Nam, số lượng loài thuộc họ ốc sứ (Cypraeidae) theo ghi nhận của Đỗ Văn Khương (2015) tại 19 đảo là 19 loài
Hình 4.3 Họ ốc sứ (Cypraeidae)
Chuyến khảo sát tác giả đã ghi nhận được 8 loài ốc sứ (hình 4.3) gồm: Cypraea caputserpentis Linnaeus, 1758; Cypraea erosa Linnaeus, 1758; Cypraea helvola
Linnaeus, 1758; Cypraea mauritiana Linne’, 1758; Cypraea ostergaardi Dall,
1921; Cypraea tigris Linnaeus, 1758 8 loài này có mặt ở hầu hết các mặt cắt khảo sát, trong đó Cypraea arabica asiatica (Schilder, 1939), Cypraea mauritiana
Linne’, 1758, Cypraea tigris Linnaeus, 1758 là những loài ốc sứ có kích thước lớn và có giá trị kinh tế
4.1.2.3 Họ ốc cối (Conidae) Ốc cối (Conidae) là họ động vật thân mềm chân bụng sống ở biển, tính đến tháng 3 năm 2015 đã xác định được hơn 800 loài này trên thế giới Chúng thường có vỏ hình nón và nhiều màu sắc trên bề mặt vỏ Đây là loài động vật săn mồi, thức ăn chủ yếu của chúng là là động vật thân mềm, giáp xác cỡ nhỏ Trong cơ thể chúng có nọc độc và chúng có khả năng đốt gây tê và có thể gây tử vong cho con người (Tucker & Tenorio, 2009)
Hiện nay, theo Đỗ Văn Khương (2015) tại 19 đảo vùng rạn san hô chỉ xác định được 19 loài thuộc họ này
Hình 4.4 Họ ốc cối (Conidae)
The survey conducted by the author identified seven species of cone snails, including Conus ebraeus, Conus litteratus, Conus marmoreus marmoreus, Conus miles, Conus rattus, Conus vexillum vexillum, and Conus virgo.
Ốc cối thường xuất hiện trong hầu hết các mặt cắt khảo sát, nhưng do chứa một lượng nhỏ độc tố trong cơ thể, chúng ít được sử dụng làm thực phẩm.
4.1.2.4 Họ ốc xà cừ (Turbinidae) Ốc xà cừ (Turbinidae) là một họ ốc biển chân bụng quý hiếm thường được dùng làm thủ công mỹ nghệ Chúng là loài có nguồn gốc từ rất lâu (cách đây khoảng 47 triệu năm) và phân bố ở hầu hết các vùng biển, từ vùng nước nông đến nước sâu, từ vùng nhiệt đới đến vùng cực, tuy nhiên chúng hầu như chỉ phân bố ở vùng nước nông nhiệt đới và cận nhiệt đới Ốc xà cừ có hình dáng tương tự như dạng hình nón và có nắp mang, chúng sống riêng rẽ trên các rạn đá, rạn san hô Thức ăn yêu thích của chúng là rong biển và thực vật bám trên đá (Williams, 2008)
Theo Đỗ Văn Khương (2015) đã xác định được 7 loài thuộc họ này trong đó có 6 loài đã được tìm thấy tại đảo Cồn Cỏ
Chuyến khảo sát học viên đã ghi nhận được 6 loài xà cừ (hình 4.5) gồm:
Turbo argyrostomus Linnaeus, 1758; Turbo brunneus Rửding, 1798; Turbo chrysostomus Linne’, 1758; Turbo conutus Lightfoot, 1786; Turbo setosus
Các loài ốc xà cừ được tìm thấy tại đảo Cồn Cỏ, bao gồm Gmelin, 1791 và Turbo stenogyrus P Fischer, 1873, đều thuộc họ phổ biển và có giá trị thực phẩm cao.
Hình 4.5 Họ ốc xà cừ (Turbinidae)
4.1.3 Chỉ số tương đồng loài Sorensen
Chỉ số tương đồng theo địa lý
Kết quả phân tích cho thấy chỉ số tương đồng loài Sorensen ở 10 mặt cắt tại khu bảo tồn biển Cồn Cỏ có sự khác biệt, với chỉ số trung bình dao động từ 0,58 đến 0,75 Quần xã động vật thân mềm chân bụng giữa mặt cắt CCS4 và CCS5 đạt chỉ số cao nhất là 0,75, tiếp theo là mặt cắt CCS2 và CCS7 với giá trị 0,74 Mặt cắt CCS4 và CCS8 có chỉ số tương đồng thấp nhất, chỉ đạt 0,58.
Bảng 4.2 Chỉ số tương đồng thành phần loài giữa 10 mặt cắt khảo sát CCS1 CCS2 CCS3 CCS4 CCS5 CCS6 CCS7 CCS8 CCS9 CCS1 1,00
Theo phân bậc mức độ tương đồng Sorensen (S), có ba mức độ: ít tương đồng (S từ 0 đến 0,34), tương đồng vừa (S từ 0,35 đến 0,69) và rất tương đồng (S từ 0,7 đến 1) Kết quả cho thấy chỉ số tương đồng loài giữa các mặt cắt nghiên cứu đạt mức độ tương đồng vừa và rất tương đồng khi so sánh các cặp mặt cắt.
Nguyên nhân khiến cho mức đồng ở các mặt cắt khảo sát cao như vậy là do
Mười mặt cắt khảo sát đều nằm trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn biển Cồn Cỏ, do đó, nguồn lợi sinh vật sống tại khu vực này hầu như không bị khai thác quá mức như ở những vùng khác.
Đặc điểm phân bố
4.2.1 Phân bố thành phần loài theo địa lý
Trong 82 loài động vật thân mềm chân bụng xác định tại 10 mặt cắt khảo sát tại đảo Cồn Cỏ thì mặt cắt CCS1 có số loài phân bố cao nhất là 64 loài, mặt cắt CCS3, CCS5 có số loài phân bố lần lượt là 62, 63 loài… và thấp nhất là mặt cắt CCS10 có 49 loài phân bố (Hình 4.8)
Hình 4.8 Số lượng loài động vật thân mềm chân bụng tại các mặt cắt khảo sát
Kết quả nghiên cứu, phân tích thành phần loài động vật thân mềm chân bụng
CCS1 CCS2 CCS3 CCS4 CCS5 CCS6 CCS7 CCS8 CCS9 CCS10
Coralliophila neritoides Coralliophila radula Drupella conus
Các mặt cắt từ CCS1 đến CCS5 có số lượng loài phong phú hơn so với các mặt cắt từ CCS6 đến CCS10 Số loài có xu hướng cao ở khu vực xa cầu cảng, khu dân cư và khu du lịch, trong khi đó, số loài giảm dần ở những vùng gần dân cư hơn.
4.2.2 Phân bố theo nền đáy
Nghiên cứu cho thấy lớp động vật thân mềm chân bụng (Gastropoda) phân bố rộng rãi ở các kiểu nền đáy xung quanh đảo Cồn Cỏ, đặc biệt là ở nền đáy đá, san hô và san hô sống Trong khi đó, ở nền đáy đá, cát và đá, thực vật, số lượng loài thân mềm chân bụng phân bố ít hơn Tỷ lệ phân bố số loài tại các kiểu nền đáy đạt khoảng 90% tổng số loài được phát hiện tại khu bảo tồn biển Cồn Cỏ.
Bảng 4.6 Phân bố thành thần loài tại các kiểu nền đáy
Phân bố thành phần loài Nền đáy san hô sống
Nền đáy đá, san hô
Nền đáy đá, thực vật
Nguồn lợi lớp động vật thân mềm chân bụng
4.3.1 Mật độ và sinh khối
Nghiên cứu cho thấy các loài động vật thân mềm chân bụng phân bố rộng rãi trong khu bảo tồn biển Cồ Cỏ, với sự phân bố không đồng đều về mật độ cá thể/m² và khối lượng trung bình g/m² trong 500m² khảo sát Khu vực Tây – Bắc của đảo có mật độ cá thể/m² cao hơn khu vực Đông – Nam do khoảng cách xa khu dân cư và cầu cảng Cụ thể, mật độ trung bình cá thể/m² tại 05 mặt cắt khảo sát ở khu vực Tây – Bắc (CCS1 – CCS5) đạt 2,4 cá thể/m², trong khi khu vực Đông – Nam (CCS6 – CCS10) đạt 2,2 cá thể/m².
Bảng 4.7 Mật độ, sinh khối động vật thân mềm chân tại Cồn Cỏ
STT Khu vực khảo sát Mật độ (cá thể/m 2 ) Sinh khối (g/m 2 )
Mặc dù chỉ số mật độ trung bình cá thể trên mỗi mét vuông không có sự khác biệt rõ rệt giữa các khu vực khảo sát, sinh khối tại khu vực Tây – Bắc của đảo Cồn Cỏ lại cao hơn đáng kể so với khu vực Đông – Nam (35,4 g/m² so với 23,8 g/m²) Điều này cho thấy rằng các loài động vật thân mềm chân bụng ở khu vực Đông – Nam có khối lượng nhỏ hơn so với những loài ở khu vực Tây – Bắc.
Sự phân bố của động vật thân mềm chân bụng không đồng đều giữa các kiểu nền đáy khác nhau Mật độ trung bình cao nhất là ở nền đáy đá và san hô với 2,5 cá thể/m², tiếp theo là nền đáy san hô sống và đá thực vật với 2,4 và 2,2 cá thể/m² Nền đáy đá và cát có mật độ thấp nhất, chỉ đạt 2,0 cá thể/m² xung quanh đảo Cồn Cỏ.
Bảng 4.8 Mật độ và sinh khối của lớp động vật thân mềm chân bụng theo nền đáy Chỉ tiêu
Nền đáy san hô sống
Nền đáy đá, san hô
Nền đáy đá, thực vật
Mật độ cá thể/m² giữa các kiểu nền đáy không có sự khác biệt lớn, nhưng sinh khối lại không tỷ lệ thuận với mật độ trung bình Nền đá, san hô có mật độ cao nhất, nhưng sinh khối của nền đáy đá san hô (26,8 g/m²) lại thấp hơn so với nền đáy san hô sống (38,5 g/m²) và nền đáy đá, thực vật (32,0 g/m²) Kiểu nền đá, cát có sinh khối thấp nhất (19,2 g/m²) Sự sai khác trong sinh khối không tỷ lệ thuận với mật độ trung bình cho thấy các loài có kích thước lớn thường tập trung ở những vùng có nền đáy nhiều san hô sống.
4.3.2 Trữ lượng và khả năng khai thác
Dữ liệu thu thập từ các dự án và phân tích về mật độ cũng như sinh khối của các loài thân mềm chân bụng (Gastropoda) tại khu bảo tồn biển Cồn Cỏ cho thấy tổng trữ lượng của các loài này ở vùng rạn san hô ước tính khoảng 79,6 tấn.
Bảng 4.9 Trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi động vật thân mềm chân bụng tại KBTB Cồn Cỏ
Vùng nghiên cứu Diện tích rạn phân bố (ha)
Tổng trữ lượng tức thời (tấn)
Khả năng khai thác bền vững (tấn)
Theo báo cáo tổng kết dự án “Đánh giá điều kiện tư nhiên và kinh tế - xã hội các Khu bảo tồn biển trọng điểm phục vụ cho xây dựng và quản lý”, các khu bảo tồn biển đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Trong tổng trữ lượng 79,6 tấn của KBTB Cồn Cỏ, ba bộ chính là Littorinimorpha, Neogastropoda và Trochida chiếm 98% tổng khối lượng Đặc biệt, các họ ốc gai (Muricidae), ốc sứ (Cypraeidae), ốc cối (Conidae) và ốc xà cừ (Turbinidae) là những họ đặc trưng của vùng, với tổng khối lượng chiếm 45% toàn bộ khối lượng khu vực này.
So sánh với nghiên cứu của Đỗ Văn Khương (2010-2011), trữ lượng nguồn lợi động vật thân mềm chân bụng ở Việt Nam đã giảm trung bình khoảng 80% sau gần 10 năm (2010-2018) Nhiều loài có giá trị kinh tế như ốc gai, ốc sứ và ốc xà cừ bị khai thác quá mức, dẫn đến suy giảm nghiêm trọng Nguyên nhân chính là do khai thác quá mức, diện tích sống bị thu hẹp do hoạt động cầu cảng và lượng khách du lịch tăng cao Để bảo tồn và phát triển nguồn gen các loài quý hiếm, cần triển khai các biện pháp quản lý và bảo vệ nghiêm ngặt trong khu bảo tồn, cấm khai thác ở các bãi đẻ và bãi giống Chính sách hỗ trợ ngư dân và sự phối hợp giữa các nhà quản lý và ngư dân là cần thiết để thực hiện hiệu quả các biện pháp này.
Đề xuất giải pháp quản lý và sử dụng bền vững
Nghiên cứu cho thấy cấu trúc và đa dạng sinh học của quần xã ĐVTM chân bụng đang thay đổi theo chiều hướng bất lợi, với trữ lượng nguồn lợi suy giảm nhanh chóng và nhiều loài kinh tế bị đe dọa nghiêm trọng Chất lượng nguồn lợi thấp và sự thay đổi trong cấu trúc đa dạng sinh học là những vấn đề đáng lo ngại Nguyên nhân của sự suy giảm này bao gồm yếu tố tự nhiên, môi trường và con người, trong đó con người là yếu tố chính tác động đến nguồn lợi và đa dạng sinh học tại KBTB Cồn Cỏ Do đó, việc bảo tồn và phát triển nguồn lợi ĐVTM chân bụng cần tập trung vào quản lý và sử dụng hợp lý, nhằm phát triển kinh tế xã hội ven biển, duy trì sản lượng khai thác bền vững, bảo vệ đa dạng sinh học và đảm bảo an toàn môi trường Để đạt được mục tiêu này, cần chú trọng vào bốn quan điểm chính.
Bảo vệ và sử dụng bền vững nguồn lợi tự nhiên từ động vật thủy sản chân bụng là cần thiết thông qua việc quản lý tập trung vào các khu vực quan trọng như bãi đẻ và bãi giống, nhằm đảm bảo khai thác hợp lý và hiệu quả.
Khôi phục và tái tạo nguồn lợi động vật thủy sản chân bụng thông qua nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và sản xuất giống là cần thiết để thả ra tự nhiên Tập trung vào các loài có giá trị kinh tế, quý hiếm và đang bị đe dọa hoặc suy giảm nguồn lợi là ưu tiên hàng đầu.
Khai thác hợp lý và bền vững cần được thực hiện thông qua việc quy định mùa vụ khai thác hợp lý, xác định kích cỡ và sản lượng khai thác cho phép, thiết lập các vùng cấm và hạn chế khai thác, đồng thời kết hợp giữa khai thác và bảo tồn nguồn lợi.
Quản lý nguồn lợi và đa dạng sinh học cần được thực hiện theo cách tiếp cận tổng hợp, đa ngành, với sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý ở cấp địa phương.
Dựa vào các quan điểm và kết quả nghiên cứu của luận văn, một số giải pháp cụ thể đã được đề xuất nhằm bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn lợi động vật thủy sản chân bụng.
4.4.1 Giải pháp khoanh vùng bảo vệ bãi đẻ, nguồn giống ĐVTM chân bụng Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, trước hết cần phải tiến hành đồng bộ các giải pháp quản lý, tiếp cận trên quan điểm tổng hợp nhằm bảo vệ môi trường và tài nguyên sinh vật Một trong những giải pháp bảo tồn và phát triển nguồn lợi tự nhiên là phân vùng cấm/hạn chế khai thác trong mùa vụ sinh sản tập trung, thiết lập các khu vực bảo tồn các bãi giống lớn ngoài tự nhiên gồm 02 bãi giống chính là rạn đá san hộ phái Tây Bắc đảo và phía Đông Nam đảo Cồn Cỏ
Khu vực rạn đá và rạn san hô phía Tây Bắc đảo Cồn Cỏ là nơi phân bố của nhiều nguồn giống cá rạn san hô, bao gồm cá mú/song, cá dìa, hải sâm đen, ốc đụn, bào ngư bầu dục, và mực nang Phạm vi bãi giống ven bờ kéo dài từ bờ ra khoảng 250 - 300 m, mở rộng hơn về phía Bắc theo vùng phân bố của rạn san hô Điểm nguồn giống tập trung nhất quanh bãi Đá Đen, nơi có sự phát triển mạnh mẽ của các loài san hô cứng với độ phủ cao Diện tích bãi giống và khu vực xuất hiện con giống định cư khoảng 31 ha.
Khu vực rạn đá và rạn san hô phía Đông Nam đảo Cồn Cỏ có độ phủ san hô cứng lớn, đặc biệt quanh Bến Tranh và Bến Nghệ Đây là nơi phân bố của các bãi rạn đá tảng ven bờ với nền đáy cát xen lẫn rạn san hô và san hô sống, diện tích khoảng 20 ha Các đối tượng con giống quan trọng tại đây bao gồm cá mú/song, cá dìa, hải sâm đen, ốc đụn, bào ngư bầu dục, mực nang và mực sim Đặc biệt, con giống hải sâm đen và ốc đụn được ghi nhận nhiều, cùng với bào ngư xanh kích cỡ 0,4-1 cm và cá dìa kích cỡ 2-5 cm.
Bãi giống và đối tượng con giống khu vực Cồn Cỏ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nguồn lợi động vật thủy marine chân bụng và điều chỉnh các hoạt động phát triển có thể gây hại cho môi trường và tài nguyên biển Các vùng cấm khai thác và khu bảo tồn bãi giống, cùng với khu bảo tồn biển, không chỉ giúp duy trì cân bằng sinh thái và bảo vệ đa dạng sinh học, mà còn đảm bảo chức năng điều hòa môi trường và tái tạo nguồn lợi Điều này có ý nghĩa lớn đối với phát triển kinh tế bền vững, phục vụ cho nghiên cứu khoa học, giáo dục cộng đồng, giải trí và du lịch sinh thái.
4.4.2 Giải pháp bảo vệ các loài ưu thế, bản địa, giá trị kinh tế và quý hiếm Đối với các loài ưu thế bản địa: Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra một số nhóm loài ưu thế mang tính chất bản địa tại Khu bảo tồn biển Cồn Cỏ gồm: 14 loài ốc gai, 8 loài ốc sứ và 6 loài ốc xà cừ Những loài này có giá trị khoa học, đặc trưng sinh thái bản địa, cần có những biện pháp sử dụng và khai thác nguồn gen bản địa hiệu quả ở vùng biển Cồn Cỏ Hầu hết, các loài này thường bắt gặp phân bố ở các vùng rạn san hô cho nên cần có sự kết hợp với Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cồn
Cỏ được sử dụng để tuần tra và giám sát hoạt động lặn khai thác tại vùng lõi của KBTB nhằm duy trì bền vững quần thể tự nhiên Nghiên cứu đã ghi nhận 20 loài có giá trị kinh tế cao ở biển Cồn Cỏ, như ốc ếch, ốc sứ, ốc nhảy, ốc đụn và bào ngư, nhưng nguồn lợi của chúng đang bị suy giảm nghiêm trọng do khai thác quá mức Cần có giải pháp bảo vệ kịp thời, bao gồm nghiên cứu sản xuất giống để phục vụ nuôi thương phẩm và giảm áp lực khai thác, cũng như thả giống bảo tồn cho các loài như bào ngư và ốc đụn Khu bảo tồn biển Cồn Cỏ đã ghi nhận 2 loài quý hiếm là ốc đụn cái Tectus niloticus và ốc đụn đực Tectus pyramis, với số lượng tự nhiên rất ít Giải pháp phục hồi quần đàn nhanh nhất là thả giống nhân tạo, tuy nhiên, chưa có thử nghiệm sinh sản nhân tạo thành công cho hai loài này tại Việt Nam Do đó, cần kết hợp giữa khu bảo tồn và các viện nghiên cứu để sản xuất giống và thả bảo tồn tại vùng biển Cồn Cỏ Trong quá trình khảo sát, đã ghi nhận 03 loài nguy hại đến san hô gồm Coralliophila radula, Coralliophila neritoides và Drupella conus.
Để ngăn chặn sự phát triển bùng nổ của các loài cá thể tại vùng rạn san hô KBTB Cồn Cỏ, cần thực hiện một số giải pháp hiệu quả Thứ nhất, KBTB Cồn Cỏ nên tổ chức các chuyến lặn và thu gom để giảm thiểu số lượng quần đàn gây hại Thứ hai, cần nghiên cứu và thả giống một số loài thiên địch của ba loài ốc nhằm cân bằng chuỗi thức ăn trong hệ sinh thái tự nhiên.
4.4.3 Giải pháp khai thác hợp lý
Khai thác đúng mùa vụ và áp dụng kỹ thuật khoa học, đồng thời cấm hoặc hạn chế khai thác trong mùa sinh sản của các loài động vật thủy sản chân bụng, là giải pháp đã được nhiều quốc gia trên thế giới thực hiện và đã mang lại những kết quả tích cực.
Việc cấm khai thác cá hồi trong thời gian di cư để sinh sản ở Nga và cấm đánh bắt hải sản vào mùa sinh sản ở Trung Quốc là rất quan trọng Đối với các loài động vật thủy sản chân bụng, thời gian sinh sản thường tập trung từ tháng 6 đến tháng 10 hàng năm, tùy thuộc vào từng loài.