Nhằm tăng cường khả năng tiếp cận với các hoạt động và mô hình TMĐT, Giáo trình THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CĂN BẢN được biên soạn cho đối tượng là sinh viên hệ đại học chính quy ngành TMĐT của Đ
TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Khái niệm Thương mại Điện tử
1.1.1 Sự phát triển của Internet
Theo Điều 3 Luật Viễn thông (Quốc hội, 2009):
Internet là một hệ thống thông tin toàn cầu, sử dụng giao thức Internet để cung cấp dịch vụ và ứng dụng cho người dùng Tài nguyên Internet bao gồm tên miền, địa chỉ Internet, và các số hiệu mạng theo quy định của các tổ chức viễn thông quốc tế Giao thức Internet cho phép các máy tính thiết lập liên kết và trao đổi thông tin giữa các thiết bị mạng khác nhau.
Internet là một hệ thống thông tin công cộng, bao gồm các mạng máy tính liên kết với nhau Hệ thống này truyền tải thông tin qua việc chuyển gói dữ liệu theo giao thức Internet (IP) đã được chuẩn hóa Nó bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn từ doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, người dùng cá nhân và chính phủ trên toàn thế giới.
1.1.1.b Các mốc phát triển của Internet
Mạng Internet hiện nay bắt nguồn từ ARPANET, được phát triển bởi Cơ quan quản lý dự án nghiên cứu phát triển ARPA thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ Mục tiêu của ARPANET là kết nối các địa điểm nghiên cứu, hay còn gọi là các nút mạng Tin nhắn đầu tiên đã được gửi đi qua mạng này.
In 1969, the first message was sent over ARPANET from Professor Leonard Kleinrock's laboratory at the University of California, Los Angeles (UCLA) to the second network node at the Stanford Research Institute (SRI) ARPANET was the world's first wide area network (WAN).
Các mốc quan trọng trong lịch sử phát triển Internet từ năm 1969 đến 1991 đƣợc khái quát nhƣ sau:
Năm 1969: Internet lần đầu đƣợc giới thiệu bởi UCLA bằng thông cáo báo chí vào ngày 3 tháng 7 năm 1969
Vào năm 1970, mạng ARPANET đã được thiết lập giữa Đại học Harvard, Học viện Kỹ thuật Massachusetts (MIT) và công ty BBN, đơn vị phát triển bộ vi xử lý giao diện dòng tin cho phép các máy tính kết nối vào mạng.
Năm 1971: Thƣ điện tử (Email) ra đời
Năm 1973: Công nghệ mạng máy tính Ethernet hình thành; Cuộc gọi VoIP đầu tiên đƣợc thực hiện
Năm 1974, một đề xuất đã được đưa ra nhằm liên kết các mạng ARPANET lại với nhau, tạo thành một mạng mới gọi là “liên mạng”, đánh dấu bước khởi đầu cho sự ra đời của giao thức TCP/IP vẫn còn tồn tại đến ngày nay Cùng năm đó, phiên bản thương mại của ARPANET, mang tên Telenet, được giới thiệu và được xem là nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) đầu tiên.
Năm 1977: Ra mắt modem máy tính
Năm 1978: Giao thức Internet - TCP/IP chính thức đƣợc tạo ra Ngày nay, TCP/IP vẫn là giao thức chính đƣợc sử dụng trên Internet
Năm 1980, siêu văn bản Enquire được ra mắt, cho phép các nhà khoa học trong các phòng nghiên cứu lưu trữ phần mềm và dự án thông qua việc sử dụng siêu liên kết.
Năm 1984: Hệ thống phân giải tiên miền (DNS: Domain name system) đƣợc cho ra mắt
Năm 1989: Nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) dial-up đầu tiên ở Mỹ, tên là
"The World", đƣợc giới thiệu
Năm 1990: Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản đƣợc phát triển (HTML: Hyper text markup language); Công cụ tìm kiếm đầu tiên tên là Archie đƣợc viết
Kể từ khi website đầu tiên ra đời vào năm 1991, Internet đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống xã hội, với nhiều cột mốc phát triển quan trọng.
Hình 1 1 Những cột mốc quan trọng của Internet
(Thông tấn xã Việt Nam, 2020)
1.1.2 Định nghĩa thương mại điện tử
Theo Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế của Liên hợp quốc (OECD, 2005):
“TMĐT được định nghĩa sơ bộ là các giao dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông nhƣ Internet”
Theo Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ, khái niệm thương mại điện tử (TMĐT) được định nghĩa là hoạt động thực hiện một phần hoặc toàn bộ quy trình thương mại thông qua các phương tiện điện tử kết nối với Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác.
Một định nghĩa đáng chú ý về TMĐT của Laudon và Traver – hai tác giả cuốn sách nổi tiếng có tựa đề “E-commerce, business technology society” nhƣ sau:
TMĐT, hay thương mại điện tử, là việc sử dụng Internet và các ứng dụng trên thiết bị di động để thực hiện giao dịch kinh doanh Theo Laudon & Traver (2017), TMĐT được định nghĩa là các giao dịch thương mại được kích hoạt kỹ thuật số giữa các tổ chức và cá nhân.
Thương mại là hoạt động chủ đạo và mục đích chính của thương mại điện tử (TMĐT) Các thiết bị điện tử và nền tảng kết nối giữa chúng đóng vai trò là phương tiện để thực hiện các hoạt động thương mại Do đó, TMĐT có thể được định nghĩa là việc tiến hành các hoạt động thương mại thông qua các thiết bị điện tử được kết nối với nhau.
TMĐT, hay thương mại điện tử, còn được biết đến với các thuật ngữ như thương mại kỹ thuật số, thương mại trực tuyến, thương mại không giấy tờ và kinh doanh điện tử Trong đó, "thương mại điện tử" là thuật ngữ phổ biến nhất tại Việt Nam, và thuật ngữ gần gũi nhất có thể thay thế là thương mại kỹ thuật số.
1.1.2.b Hai quan điểm tiếp cận đối với TMĐT
Hiện nay tồn tại hai quan điểm khác nhau trong tiếp cận đối với TMĐT, đó là quan điểm TMĐT theo nghĩa hẹp và TMĐT theo nghĩa rộng
Theo định nghĩa hẹp, thương mại điện tử (TMĐT) là quá trình mua bán hàng hóa hoặc dịch vụ thông qua các thiết bị điện tử kết nối Giao dịch có thể diễn ra giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B), doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C), hoặc giữa người tiêu dùng với nhau (C2C).
TMĐT được hiểu rộng rãi dựa trên khái niệm thương mại trong Luật mẫu về TMĐT (Model law on Electronic commerce, 1996) của UNCITRAL.
Thương mại bao gồm tất cả các vấn đề phát sinh từ các mối quan hệ thương mại, bất kể có hợp đồng hay không Các mối quan hệ này bao gồm, nhưng không giới hạn ở, các giao dịch cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa và dịch vụ, đại diện thương mại, ủy thác hoa hồng, cho thuê dài hạn, xây dựng công trình, tư vấn, kỹ thuật công trình, đầu tư vốn, ngân hàng, bảo hiểm, thỏa thuận khai thác, liên doanh và các hình thức hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh khác, cũng như chuyên chở hàng hóa và hành khách qua các phương tiện như đường biển, đường không, đường sắt và đường bộ.
Đặc điểm và phân loại Thương mại Điện tử
1.2.1 Đặc điểm của thương mại điện tử
Khác với thương mại truyền thống, yếu tố điện tử và công nghệ trong TMĐT khiến cho nó mang những đặc điểm sau:
Trong thương mại truyền thống, chợ là nơi giao dịch nhưng trong TMĐT
Thương mại điện tử (TMĐT) hiện diện mọi lúc, mọi nơi, giải phóng thị trường khỏi giới hạn không gian vật lý Người tiêu dùng có thể mua sắm từ nhiều thiết bị điện tử như điện thoại và máy tính, tại nhà, nơi làm việc hoặc bất kỳ đâu Khái niệm này được gọi là không gian thị trường, mở rộng ra ngoài ranh giới truyền thống và không bị giới hạn bởi vị trí địa lý hay thời gian Sự phổ biến của TMĐT giúp giảm chi phí giao dịch và chi phí tham gia thị trường, loại bỏ nhu cầu di chuyển đến chợ, tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho người tiêu dùng.
Công nghệ thương mại điện tử (TMĐT) giúp các giao dịch thương mại vượt qua ranh giới văn hóa, khu vực và quốc gia, mang lại sự thuận tiện và tiết kiệm chi phí hơn so với thương mại truyền thống Quy mô thị trường tiềm năng cho người bán gần như tương đương với số lượng dân số trực tuyến toàn cầu Internet tạo điều kiện cho người bán tại một quốc gia dễ dàng tiếp cận khách hàng mục tiêu ở quốc gia khác Số lượng người dùng hoặc khách hàng tiềm năng mà một doanh nghiệp TMĐT có thể tiếp cận thể hiện khả năng tiếp cận khách hàng của doanh nghiệp đó.
TMĐT được xây dựng dựa trên các tiêu chuẩn kỹ thuật của Internet, giúp tạo ra các tiêu chuẩn phổ biến được áp dụng toàn cầu Những tiêu chuẩn này không chỉ giảm thiểu chi phí gia nhập thị trường cho người bán mà còn giúp người tiêu dùng tiết kiệm chi phí và công sức trong việc tìm kiếm sản phẩm phù hợp trong môi trường TMĐT.
Bằng cách thiết lập một không gian thị trường toàn cầu, nơi giá cả và thông tin sản phẩm được công khai, việc khám phá giá trở nên dễ dàng, nhanh chóng và chính xác hơn.
Sự phong phú của thông điệp
Công nghệ TMĐT mang lại sự phong phú và phức tạp cho thông điệp, vượt trội hơn so với các phương tiện truyền thống như máy in, đài phát thanh và truyền hình Khả năng tương tác và tùy chỉnh thông điệp đến từng người dùng giúp các công ty tiếp thị sản phẩm một cách hiệu quả hơn, giảm thiểu sự cần thiết của nhân viên bán hàng trong quá trình này.
Tính tương tác giữa các bên tham gia TMĐT
Công nghệ thương mại điện tử (TMĐT) tạo ra sự tương tác hai chiều giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng (B2C) cũng như giữa các người tiêu dùng với nhau (C2C) Tính tương tác này giúp người bán thu hút khách hàng giống như trong trải nghiệm mua sắm trực tiếp Các tính năng như bình luận, diễn đàn cộng đồng và mạng xã hội cho phép người tiêu dùng tương tác tích cực với người bán và với nhau Ngoài ra, các thiết kế tối ưu như thay đổi định dạng website theo thiết bị, hình ảnh sản phẩm thay đổi khi di chuột qua, và khả năng phóng to hoặc xoay hình ảnh cũng góp phần làm giảm khoảng cách trong giao dịch TMĐT.
Mật độ thông tin dày đặc
Mật độ thông tin là tổng hợp lượng và chất thông tin có sẵn cho tất cả người tham gia thị trường Công nghệ thương mại điện tử giúp giảm chi phí thu thập, lưu trữ, xử lý và truyền thông tin, đồng thời nâng cao độ chính xác và tính kịp thời của thông tin Điều này làm cho thông tin trở nên phong phú, ít tốn kém và chất lượng cao hơn, từ đó giảm tình trạng thông tin bất cân xứng giữa các bên tham gia thị trường Giá cả và chi phí trở nên minh bạch hơn, tạo ra khả năng cạnh tranh cao hơn cho những doanh nghiệp áp dụng chiến lược cạnh tranh bằng chi phí thấp Ngoài ra, người bán có thể hiểu rõ hơn về người tiêu dùng, giúp phân đoạn thị trường với các đặc điểm rõ nét hơn.
30 hành các hoạt động marketing tùy biến đối với từng đoạn thị trường
Khả năng cá nhân hóa và tùy chỉnh
Người bán hàng có thể tối ưu hóa thông điệp tiếp thị bằng cách cá nhân hóa nội dung cho từng khách hàng, bao gồm tên, sở thích và lịch sử mua sắm Công nghệ thương mại điện tử (TMĐT) cho phép tùy chỉnh sản phẩm hoặc dịch vụ dựa trên lựa chọn và hành vi trước đó của người tiêu dùng.
Mạng xã hội và hiện tượng người dùng sáng tạo nội dung
Các công nghệ thương mại điện tử (TMĐT) đã phát triển theo hướng xã hội hóa, cho phép người dùng tạo và chia sẻ nội dung với cộng đồng toàn cầu Người dùng có thể xây dựng và củng cố các mạng xã hội mới, khác với mô hình truyền thông đại chúng trước đây chỉ cho phép một người gửi tin đến nhiều người Trong TMĐT, người dùng có khả năng tạo và phân phối nội dung trên quy mô lớn, từ đó lập chương trình tiêu thụ nội dung của riêng họ Điều này tạo ra một mô hình truyền thông độc đáo, mô hình “nhiều-nhiều”, nơi nhiều người gửi tin đến nhiều người.
1.2.2 Phân loại thương mại điện tử
Có nhiều tiêu chí để phân loại thương mại điện tử (TMĐT), bao gồm mức độ số hóa của các thành phần tham gia, chủ thể giao dịch, mô hình doanh thu, và phân loại theo bên mua và bên bán.
1.2.2.a Phân loại theo mức độ số hóa của các yếu tố tham gia TMĐT
Choi và cộng sự (1997) đã phát triển một khung mẫu về kích cỡ của thương mại điện tử (TMĐT), mô tả các loại hình TMĐT trong không gian ba chiều Khung mẫu này dựa trên mức độ số hóa của ba yếu tố chính: sản phẩm (Products), quá trình thực hiện (Process) và mức độ số hóa của người tham gia (Player).
Sản phẩm trong thương mại điện tử (TMĐT) có thể là hữu hình hoặc số, và quá trình giao dịch cũng có thể diễn ra dưới dạng hữu hình hoặc số Người tham gia thị trường TMĐT bao gồm các tổ chức hữu hình với cửa hàng bán trực tiếp và các tổ chức số với cửa hàng ảo Ba yếu tố này tạo thành tám tập hợp khác nhau: trong đó, tập hợp hoàn toàn hữu hình được gọi là thương mại truyền thống, tập hợp hoàn toàn số là TMĐT toàn phần, và nếu có ít nhất một yếu tố số hóa, nó được gọi là TMĐT từng phần.
1.2.2.b Phân loại theo các thành phần tham gia giao dịch
Chính phủ, bao gồm các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và tổ chức phi lợi nhuận (NPOs), cùng với doanh nghiệp và người tiêu dùng, đều có thể tham gia vào các giao dịch thương mại điện tử Thương mại điện tử được phân chia thành chín loại hình khác nhau, mỗi loại hình có những đặc trưng riêng.
TMĐT từng phần TMĐT toàn phần
Tổ chức hữu hình Tổ chức số Người tham gia
Hình 1 3 Mô hình khung ba chiều phân loại TMĐT theo mức độ số hóa
Consumer / Citizen Người tiêu dùng
Bên cung cấp Consumer / Citizen Người tiêu dùng
Consumer to Consumer (C2C) Đấu giá trực tuyến
Consumer to Business (C2B) Đường dẫn đến doanh nghiệp trên trang cá nhân
Bầu cử, bỏ phiếu qua mạng
Business to Business (B2B) Đặt hàng với nhà cung cấp
Dịch vụ công Cung cấp thông tin quốc gia
Government to Business (G2B) Đấu thầu công
Hợp tác trong cộng đồng ảo
Hình 1 4 Giao dịch điện tử và các loại hình giao dịch TMĐT cơ bản
Giao dịch điện tử giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng (C2C)
Mô hình thương mại điện tử C2C cho phép cá nhân giao dịch trực tiếp với nhau, nhờ vào sự phát triển của Internet Người dùng có thể tự tạo website để bán sản phẩm của mình hoặc sử dụng các nền tảng có sẵn để đấu giá hàng hóa Tuy nhiên, giá trị giao dịch từ mô hình này chỉ chiếm khoảng 10% tổng giá trị giao dịch thương mại điện tử Ebay.com là một trong những ví dụ thành công nhất của mô hình C2C trên toàn cầu.
Hình 1 5 Ebay là trang web điển hình của loại hình giao dịch C2C
Giao dịch điện tử giữa người tiêu dùng với doanh nghiệp (C2B)
Mô hình C2B trong thương mại điện tử cho phép người tiêu dùng tạo ra giá trị mà doanh nghiệp có thể tiêu thụ Ví dụ, khi người tiêu dùng viết đánh giá hoặc đưa ra ý tưởng cho sản phẩm mới, họ đang cung cấp thông tin quý giá cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát triển và cải thiện sản phẩm của mình.
Lợi ích và hạn chế của Thươn mại Điện tử
1.3 Lợi ích và hạn chế của Thương mại Điện tử
1.3.1 Lợi ích của Thương mại điện tử
1.3.1.a Lợi ích của TMĐT đối với doanh nghiệp
Các doanh nghiệp nhận đƣợc những lợi ích vô cùng to lớn từ việc ứng dụng TMĐT, cụ thể nhƣ sau:
Mở rộng thị trường với chi phí đầu tư thấp hơn so với thương mại truyền thống giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận khách hàng và đối tác toàn cầu Việc phát triển mạng lưới nhà cung cấp và trung gian phân phối không chỉ giúp doanh nghiệp mua hàng với giá rẻ hơn mà còn tăng khả năng bán ra nhiều sản phẩm hơn.
Giao dịch điện tử giúp doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất bằng cách cắt giảm chi phí giấy tờ, chi phí chia sẻ thông tin, cũng như chi phí in ấn và chuyển phát tài liệu giao dịch truyền thống.
Tối ưu hệ thống phân phối là yếu tố quan trọng trong kinh doanh truyền thống, nơi nhà sản xuất thực hiện nghiên cứu thị trường để xác định các tính năng và đặc điểm sản phẩm được ưa chuộng nhất Dựa trên những thông tin này, họ tiến hành sản xuất các sản phẩm mà họ dự định đưa ra thị trường.
Nhà cung cấp của nhà cung cấp
Quy trình và các chức năng của tổ chức Trung gian
Khách hàng của khách hàng
Hình 1.11 TMĐT bên mua và TMĐT bên bán
Nhiều ô tô sẽ phải bán với giá thấp do không phù hợp với nhu cầu thị trường, khi các nhà sản xuất ô tô đã chuyển từ phương thức "sản xuất để tồn kho" sang "sản xuất theo đơn đặt hàng" Cách tiếp cận này, tương tự như mô hình của Dell trong sản xuất máy tính, giúp cắt giảm tới 50% chi phí tồn kho và đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của khách hàng Hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm cũng đang được thay thế hoặc hỗ trợ bởi các cửa hàng điện tử (e-Shop), giúp tiết kiệm chi phí đầu tư cho mặt bằng bán hàng và chi phí trưng bày hàng hóa.
Tự động hóa giao dịch qua web và Internet cho phép doanh nghiệp hoạt động liên tục 24/7, 365 ngày trong năm mà không phát sinh nhiều chi phí biến đổi như chi phí thuê cửa hàng hay chi phí nhân công.
Cá nhân hóa sản phẩm là chiến lược "kéo" mà doanh nghiệp sử dụng để thu hút khách hàng bằng cách đáp ứng nhu cầu đa dạng của họ Các thương hiệu thể thao như Adidas, Nike và mô tô Harley Davidson đã áp dụng khả năng cá nhân hóa sản phẩm ngay trên website của mình.
Các công ty đang liên tục triển khai các mô hình kinh doanh mới, mang lại lợi thế và giá trị mới cho khách hàng Điển hình cho sự thành công này là mô hình của Amazon.com, mua hàng theo nhóm, và đấu giá nông sản qua Internet, cùng với các sàn giao dịch B2B.
Tăng tốc độ ra mắt sản phẩm mới là một lợi thế quan trọng, nhờ vào việc tối ưu hóa thông tin và khả năng phối hợp giữa các doanh nghiệp Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn rút ngắn thời gian cần thiết để đưa sản phẩm mới ra thị trường.
- Củng cố quan hệ khách hàng Thông qua việc giao tiếp thuận tiện qua
Internet, quan hệ với trung gian và khách hàng đƣợc củng cố dễ dàng hơn
- Thông tin cập nhật Mọi thông tin trên website nhƣ sản phẩm, dịch vụ, giá cả đều có thể đƣợc cập nhật nhanh chóng và kịp thời
1.3.1.b Lợi ích của TMĐT đối với người tiêu dùng
Ngày nay, người tiêu dùng không còn gặp rào cản nào trong việc thỏa mãn nhu cầu mua sắm của mình, nhờ vào những lợi ích rõ rệt mà thương mại điện tử (TMĐT) mang lại.
- Vượt giới hạn về không gian và thời gian TMĐT cho phép khách hàng mua sắm mọi nơi, mọi lúc đối với các cửa hàng trên khắp thế giới
TMĐT mang đến cho người mua nhiều lựa chọn sản phẩm và dịch vụ hơn, nhờ vào việc tiếp cận với nhiều nhà cung cấp khác nhau.
Khách hàng có thể dễ dàng so sánh giá cả giữa các nhà cung cấp nhờ vào thông tin phong phú và thuận tiện, từ đó tìm ra mức giá phù hợp nhất.
Giao hàng nhanh chóng, đặc biệt đối với hàng hóa số hóa như phim, nhạc, sách và phần mềm, được thực hiện dễ dàng qua Internet.
Khách hàng có thể nhanh chóng và dễ dàng tìm kiếm thông tin phong phú, chất lượng cao thông qua các công cụ tìm kiếm Thêm vào đó, các thông tin đa phương tiện như âm thanh và hình ảnh giúp quảng bá và giới thiệu sản phẩm hiệu quả hơn.
Mô hình đấu giá trực tuyến đã xuất hiện, cho phép mọi người tham gia mua bán trên các sàn đấu giá và tìm kiếm, sưu tầm những món hàng yêu thích từ khắp nơi trên thế giới.
Cộng đồng thương mại điện tử (TMĐT) tạo ra một môi trường kinh doanh năng động, nơi mọi người có thể dễ dàng phối hợp, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm một cách hiệu quả và nhanh chóng.
1.3.1.c Lợi ích của TMĐT đối với xã hội
- Hoạt động trực tuyến TMĐT tạo ra môi trường để làm việc, mua sắm, giao dịch từ xa nên giảm việc đi lại, ô nhiễm, tai nạn
Sự phát triển của Thương mại Điện tử và ảnh hưởng của Thương mại Điện tử đến các lĩnh vƣc khác
1.4.1 Sự phát triển của Thương mại điện tử
1.4.1.a Các cấp độ phát triển của TMĐT
Có nhiều phương pháp để phân loại các cấp độ phát triển thương mại điện tử (TMĐT) Trong tài liệu này, chúng tôi sẽ trình bày những cách phân loại phổ biến và thường gặp nhất.
Cách phân chia thứ nhất: Ba cấp độ phát triển TMĐT theo UNCTAD
Cấp độ 1 - Thương mại thông tin (i-commerce)
Trong giai đoạn này, website đã trở thành công cụ quan trọng để giới thiệu thông tin về hàng hóa, dịch vụ và doanh nghiệp Tuy nhiên, thông tin chủ yếu mang tính chất tham khảo, và việc trao đổi, đàm phán hợp đồng giữa doanh nghiệp và khách hàng vẫn chủ yếu diễn ra qua email, diễn đàn và chat room, dẫn đến việc thông tin hai chiều còn hạn chế Mặc dù người tiêu dùng có thể mua hàng trực tuyến, phương thức thanh toán vẫn chủ yếu theo cách truyền thống.
Cấp độ 2 - Thương mại giao dịch (t-commerce)
Sự ra đời của thanh toán điện tử đã thúc đẩy thương mại điện tử (TMĐT) tiến thêm một bước quan trọng, chuyển sang giai đoạn thương mại giao dịch Thanh toán điện tử không chỉ hoàn thiện quy trình mua bán hàng trực tuyến mà còn dẫn đến sự xuất hiện của nhiều sản phẩm mới như sách điện tử và các sản phẩm số hóa Trong giai đoạn này, các doanh nghiệp đã xây dựng mạng nội bộ để chia sẻ dữ liệu giữa các đơn vị, đồng thời ứng dụng phần mềm quản lý nhân sự, kế toán, bán hàng, sản xuất và logistics, cũng như thực hiện ký kết hợp đồng điện tử.
Cấp độ 3 - Kinh doanh cộng tác (c-Business) là giai đoạn phát triển cao nhất của thương mại điện tử (TMĐT) hiện nay, yêu cầu sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, cũng như với nhà cung cấp, khách hàng, ngân hàng và cơ quan quản lý nhà nước Giai đoạn này đòi hỏi ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn bộ chu trình sản xuất và phân phối hàng hóa Doanh nghiệp cần triển khai các hệ thống phần mềm như Quản lý khách hàng (CRM), Quản lý nhà cung cấp (SCM) và Quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) để tối ưu hóa quy trình hoạt động.
Ba giai đoạn phát triển TMĐT đƣợc khái quát trong hình 1.12
Cách phân chia thứ hai: Khung phân cấp TMĐT theo Zwass (1996)
Zwass (1996) đã giới thiệu "Khung phân cấp TMĐT" nhằm phân tích sự phát triển của hệ thống Hệ thống TMĐT được hình dung như một cấu trúc phân cấp với ba cấp độ chính: Cơ sở hạ tầng, Dịch vụ và Sản phẩm Mỗi cấp độ thấp hơn cung cấp hỗ trợ chức năng rõ ràng cho cấp độ cao hơn.
Cơ sở hạ tầng bao gồm phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu và viễn thông, cung cấp chức năng như World Wide Web qua Internet, đồng thời hỗ trợ EDI và các hình thức nhắn tin khác qua Internet hoặc mạng giá trị gia tăng.
(1) Thương mại thông tin (i-Commerce)
Thông tin (Information) lên Internet
Trao đổi, đàm phán, đặt hàng qua Internet (email, chat, forum,…)
Thanh toán, giao hàng truyền thống
(2) Thương mại giao dịch (t-Commerce)
Hợp đồng điện tử (ký kết qua Internet) Thanh toán điện tử (thực hiện qua Internet)
(3) Thương mại cộng tác (c-Business) Integrating/
Nội bộ doanh nghiệp các bộ phận liên kết (integrating) và kết nối đối với các đối tác kinh doanh (connecting)
Hình 1 12 Các giai đoạn phát triển TMĐT theo UNCTAD
Dịch vụ tin nhắn và các dịch vụ khác hỗ trợ tìm kiếm và phân phối thông tin theo điều kiện kinh doanh, đồng thời cho phép thương lượng, giao dịch và dàn xếp trong lĩnh vực kinh doanh.
Sản phẩm và cấu trúc của chúng tôi cung cấp dịch vụ thương mại trực tiếp cho người tiêu dùng và đối tác kinh doanh, đồng thời hỗ trợ chia sẻ và cộng tác thông tin nội bộ, sàn thương mại điện tử và chuỗi cung ứng.
Bảng 1 2 Khung phân cấp TMĐT theo Zwass (1996)
Sản phẩm và cấu trúc
7 Thị trường điện tử và hệ thống phân cấp điện tử Đấu giá điện tử, môi giới, đại lý và tìm kiếm trực tiếp thị trường
Quản lý chuỗi cung ứng trong tổ chức
6 Sản phẩm và hệ thống
Dịch vụ tiêu dùng từ xa (mua sắm, ngân hàng, môi giới chứng khoán)
Thông tin giải trí theo yêu cầu (trang web nội dung tính phí, dịch vụ giáo dục)
Mối liên kết giữa nhà cung cấp và người tiêu dùng Tiếp thị trực tuyến
Hệ thống phúc lợi điện tử
Hệ thống cộng tác dựa trên mạng nội bộ
5 Các dịch vụ đƣợc kích hoạt
Danh mục / thƣ mục điện tử, hệ thống phân phối điện tử Tiền điện tử, dịch vụ xác thực kỹ thuật số
Thƣ viện số, dịch vụ bảo vệ bản quyền Kiểm tra lưu lượng truy cập
Hệ thống thẻ thông minh
4 Tin nhắn bảo mật EDI, E-mail, EFT
3 Quản lý đối tƣợng World Wide Web
46 siêu đa phương tiện / đa phương tiện
2 Các tiện ích giao tiếp công cộng và tƣ nhân
Internet và mạng giá trị gia tăng (VAN)
1 Cơ sở hạ tầng viễn thông băng rộng
Mạng truyền thông không dây và điều dẫn
Phân chia các cấp độ TMĐT bên mua và bên bán
Doanh nghiệp có thể xác lập các cấp độ khác nhau trong thương mại điện tử (TMĐT) đối với bên mua và bên bán Để bán hàng, doanh nghiệp có thể bắt đầu từ việc gửi email chào hàng, đến việc phát triển một website tối ưu cho khách hàng Trong khi đó, để mua hàng từ nhà cung cấp, doanh nghiệp có thể thực hiện các bước từ việc đánh giá nhà cung cấp, chia sẻ thông tin hàng hóa tồn kho, lựa chọn sản phẩm qua ca-ta-log trực tuyến, đặt hàng trực tuyến, cho đến việc tích hợp cơ sở dữ liệu và tối ưu hóa chuỗi cung ứng với nhà cung cấp.
Hình 1 13 Các cấp độ TMĐT bên mua và TMĐT bên bán
Bậc 6 Tối ưu chuỗi cung ứng
Bậc 5 Tích hợp dữ liệu
Bậc 4 Đặt hàng trực tuyến
Bậc 3 Ca-ta-log trực tuyến
Bậc 2 Trạng thái còn hàng
Bậc 1 Đánh giá nhà cung cấp
Bậc 5 Xây dựng quan hệ
Bậc 4 Đặt hàng trực tuyến
Bậc 1 Gửi e-mail chào hàng
TMĐT bên mua TMĐT bên bán
1.4.1.b Tình hình phát triển TMĐT trên thế giới và ở Việt Nam
Tình hình phát triển TMĐT trên thế giới (tổng hợp từ Whitman)
Theo eMarketer (2021), tốc độ tăng trưởng thương mại điện tử toàn cầu sẽ giảm xuống còn 14,3% mỗi năm vào năm 2021, do sự phục hồi của thương mại truyền thống và mức tăng trưởng cao trước năm 2020 Tuy nhiên, tổng doanh số bán lẻ toàn cầu dự kiến sẽ phục hồi với mức tăng trưởng 5,1% trong năm 2021, trong đó Trung Quốc tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu.
Vào năm 2021, số lượng "người dùng số" đạt 792,5 triệu người, chiếm 33,3% tổng số toàn cầu, tạo ra doanh thu thương mại điện tử (TMĐT) lên tới 2,779 nghìn tỷ USD, tương đương 56,8% tổng doanh thu toàn cầu Trung Quốc đã trở thành quốc gia đầu tiên trong lịch sử khi doanh thu từ TMĐT bán lẻ vượt qua doanh thu từ bán lẻ truyền thống, với 52,1% doanh số bán lẻ được thực hiện trên môi trường điện tử.
Thị trường thương mại điện tử lớn nhất thế giới bao gồm Mỹ, Trung Quốc và Châu Âu, trong đó Trung Quốc dẫn đầu với giá trị 1.343,5 tỷ USD vào năm 2020 và dự kiến đạt 1.996,0 tỷ USD vào năm 2025, với tốc độ tăng trưởng hàng năm 8,2% Thời trang là lĩnh vực chiếm ưu thế trong thị trường Trung Quốc Tại Mỹ, doanh thu đạt 537,7 tỷ USD vào năm 2020, với tốc độ tăng trưởng 6,1%, dự kiến sẽ vượt 723,6 tỷ USD vào năm 2025 Châu Âu đứng thứ ba với doanh thu 460,5 tỷ USD vào năm 2020, và mức tăng trưởng hàng năm 7,3% sẽ đưa doanh thu lên 655,6 tỷ USD vào năm 2025.
Theo eMarketer, doanh thu thương mại điện tử bán lẻ toàn cầu dự kiến sẽ đạt 4.891 tỷ USD vào năm 2021 và tăng lên 6.388 tỷ USD vào năm 2024, cho thấy mức tăng trưởng mạnh mẽ trong giai đoạn 2021 – 2025.
Hình 1 14 TMĐT bán lẻ toàn cầu 2014 – 2024
Trong năm 2020, toàn cầu ghi nhận mức tăng trưởng thương mại điện tử (TMĐT) bán lẻ đạt 25,7% so với năm 2019 Argentina dẫn đầu với mức tăng 100,6%, tiếp theo là Canada với 75% Tại châu Á, Singapore đứng thứ ba với mức tăng trưởng 73,6%, trong khi Thái Lan xếp thứ bảy với mức tăng 40%.
Hình 1 15 Mười quốc gia phát triển TMĐT nhanh nhất năm 2020
Theo thống kê lưu lượng truy cập hàng tháng năm 2020, Amazon dẫn đầu với 3.676,58 triệu lượt truy cập, vượt xa eBay Rakuten, trang web bán lẻ hàng đầu Nhật Bản, đứng thứ ba thế giới, tiếp theo là Samsung và AliExpress của tập đoàn Alibaba.
Hình 1 16 Các trang web bán lẻ hàng đầu trên toàn thế giới năm 2020 theo lưu lượng truy cập (eMarketer, 2021)
Tình hình phát triển TMĐT tại Việt Nam
Theo Báo cáo chỉ số TMĐT (EBI) của Hiệp hội TMĐT Việt Nam (VECOM,