1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại theo pháp luật việt nam từ thực tiễn thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh thanh hóa

67 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Phạm Minh Nghiêm
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Tuyến
Trường học Trường đại học Mở Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu đề tài Việc nghiên cứu, đánh giá thực tiễn và đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về xử lý TSTC và cụ thể đối với vấn đề xử lý TSTC trong hoạt đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

XỬ LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Luật, Trường Đại học Mở Hà Nội, các phòng, ban, thư viện và ngoài trường đã tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình làm luận văn

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến TS – Nguyễn Văn Tuyến đã tận tình động viên, hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành luận văn

Tác giả luận văn

Phạm Minh Nghiêm

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là: Phạm Minh Nghiêm học viên lớp K19 khóa 2019-2021 xin cam đoan đây là công trình độc lập của riêng tôi mà không sao chép từ bất kỳ nguồn tài liệu nào đã được công bố Các tài liệu, số liệu sử dụng phân tích trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, có xác nhận của cơ quan cung cấp số liệu Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi được thực hiện một cách khoa học, trung thực, khách quan Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của các nguồn số liệu cũng như các thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu của mình

Tác giả luận văn

Phạm Minh Nghiêm

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 5

7 Kết cấu của luận văn 5

Chương 1 6

1.1 Những vấn đề lý luận pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 6

1.1.1 Khái niệm và nguồn của pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 6

1.1.2 Cấu trúc pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 7

1.1.2.1 Các quy định về thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 7

1.1.2.2 Các quy định về nguyên tắc xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 9

1.1.2.3 Các quy định về phương thức và trình tự, thủ tục xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 10

1.1.2.4 Các quy định về giải quyết tranh chấp khi xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 12

Kết luận chương 1 27

Chương 2 28

Trang 6

2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về xử lý tài sản thế chấp trong hoạt

động cho vay của Ngân hàng thương mại 28

2.1.1 Thực trạng quy định về thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 28

2.1.2 Thực trạng quy định về nguyên tắc xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 30

2.1.3 Thực trạng quy định về phương thức và trình tự, thủ tục xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 34

2.1.3.1 Quy định về phương thức xử lý tài sản thế chấp 34

2.1.3.2 Trình tự, thủ tục xử lý tài sản thế chấp 38

2.1.4 Thực trạng quy định về các trường hợp xử lý tài sản thế chấp và thứ tự ưu tiên khi xử lý tài sản thế chấp 42

2.1.4.1 Về các trường hợp xử lý tài sản thế chấp 42

2.1.4.2 Thứ tự ưu tiên thanh toán từ số tiền xử lý tài sản thế chấp 44

2.2 Thực tiễn xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại từ công tác thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 46

2.2.1 Những kết quả đạt được 46

2.2.2 Những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân 50

2.2.2.1 Những hạn chế, vướng mắc 50

2.2.2.2 Nguyên nhân 57

Kết luận chương 2 61

Chương 3 62

3.1 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 62

3.2 Các giải pháp tổ chức thực hiện pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 65

Kết luận chương 3 68

KẾT LUẬN CHUNG 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 do Quốc

hội ban hành ngày 25 tháng 11 năm 2015

BLTTDS

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Với xu thế phát triển không ngừng của nền kinh tế thế giới, Việt Nam đã nỗ lực cải cách, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và chính sách pháp luật nói riêng để tạo đà phát triển kinh tế thị trường theo sự hội nhập quốc

tế

Sự phát triển của kinh tế thị trường cũng như việc tái cấu trúc hệ thống tổ chức tín dụng đã góp phần tạo ra cho các doanh nghiệp, cá nhân cơ hội tiếp cận nguồn vốn để phát triển kinh doanh, sản xuất Do đó, hoạt động cho vay vốn ngân hàng đã và đang diễn ra sôi động và ngày càng có vị trí quan trọng, được ví như “mạch máu” của nền kinh tế Theo lẽ tất nhiên, việc cho vay luôn cần có những điều kiện ràng buộc an toàn để ngân hàng thu hồi lại nguồn vốn vay của mình và do đó, mỗi khoản vay đều được đi kèm với các biện pháp bảo đảm Trong đó thế chấp tài sản được coi là một trong những công cụ pháp lý hữu dụng

để hạn chế những rủi do có thể nảy sinh từ các giao dịch vay vốn, tín dụng Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp là yếu tố cốt lõi của quá trình thế chấp, xuyên suốt hoạt động xác lập và thực hiện hợp đồng thế chấp, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên xác lập giao dịch

Tuy nhiên, trong thực tế công tác xử lý TSTC tại các ngân hàng thương mại hiện nay còn nhiều vướng mắc, bất cập Có nhiều nguyên nhân khách quan từ những cá nhân, tổ chức vay vốn hoặc từ tính thanh khoản yếu của tài sản bảo đảm là bất động sản trong giai đoạn thị trường đóng băng… nhưng cũng có nguyên nhân chủ quan từ chính các tổ chức tín dụng Bên cạnh đó, từ thực tế giải quyết cho thấy pháp luật về xử lý TSTC vẫn còn nhiều điểm bất cập, chưa hợp

lý Những quy định này gây khó khăn cho các chủ thể khi xác lập, thực hiện quan hệ thế chấp và cũng gây lúng túng cho các cơ quan chức năng khi áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp xảy ra

Việc nghiên cứu và áp dụng luật để giải quyết các vụ tranh chấp về hợp

Trang 10

đồng tín dụng nói chung và xử lý TSTC nói riêng sau khi đã phán quyết của tòa

án có hiệu lực là hết sức cần thiết, có ý nghĩa thiết thực để từ đó đề xuất cácgiải pháp hoàn thiện pháp luật

Từ thực tế nêu trên, tác giả luận văn đã quyết định lựa chọn đề tài: “Xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá” để làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu, đánh giá thực tiễn và đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về xử lý TSTC và cụ thể đối với vấn đề xử lý TSTC trong hoạt động cho vay của NHTM được nhiều nhà khoa học và học viên nghiên cứu, trong đó có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:

- Luận án tiến sĩ luật học Trường Đại học Luật Hà Nội (2013) của tác giả

Vũ Thị Hồng Yến với đề tài: “Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành”;

- Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội (2013) của tác giả

Hồ Thị Nga với đề tài: “Xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại các tổ

chức tín dụng - Thực trạng và hướng hoàn thiện”;

- Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội (2014) của tác giả Hoàng Văn Bích với đề tài: “Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng

có thế chấp tài sản qua thực tiễn xét xử tại Vĩnh Phúc”;

- Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội (2014) của tác giả Nguyễn Quỳnh Thoa với đề tài: “Xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo pháp luật Việt Nam”;

- Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội (2015)

của tác giả Nguyễn Trung Hiếu với đề tài: “Thế chấp và xử lý tài sản thế chấp

theo pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành của tác giả”;

- Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội (2014);

Trang 11

của tác giả Dương Thị Phương Liên với đề tài: “Cầm cố tài sản và thế chấp tài sản tại ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu khí Toàn cầu (GP.Bank)”;

- Luận văn thạc sĩ luật học, Viện Đại Học Mở Hà Nội (2016) của tác giả Hoàng Minh Phương với đề tài: “Pháp luật về xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại các tổ chức tín dụng - thực trạng và hướng hoàn thiện”;

- Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Mở Hà Nội (2019) của tác giả Phạm Anh Tuấn với đề tài: “Xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất trong thực tiễn thực hiện hợp đồng tín dụng tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Nam Định”;

- Vũ Thị Hồng Yến, “Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015”, sách chuyên khảo, NXB Chính trị Quốc gia

“Xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa” là một công trình nghiên cứu độc lập, chuyên sâu, có tính hệ thống trên cơ

sở các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, phù hợp với lý luận và thực tiễn

như yêu cầu của luận văn đã nêu ra

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý

Trang 12

luận về TSTC và xử lý TSTC cũng như pháp luật về xử lý TSTC; đưa ra các số liệu thực tiễn để đánh giá, nhận xét thực trạng xử lý TSTC tại các ngân hàng trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá Trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về xử lý TSTC trong hoạt động cho vay của NHTM theo pháp luật Việt Nam

Để thực hiện mục đích nêu trên, các nhiệm vụ cần phải giải quyết là:

- Làm rõ những vấn đề lý luận về TSTC, xử lý TSTC về khái niệm và đặc điểm của xử lý TSTC; đặc biệt là các phương thức xử lý TSTC trong hoạt động cho vay của NHTM

- Nghiên cứu khái niệm, cấu trúc và nội dung cơ bản của pháp luật về xử lý TSTC trong hoạt động cho vay của NHTM;

- Đánh giá thực trạng pháp luật về xử lý TSTC trong hoạt động cho vay của NHTM và thực tiễn thực hiện xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của NHTM trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa;

- Đề ra các định hướng và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý TSTC trong hoạt động cho vay của NHTM ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là các quan điểm, lý thuyết về xử

lý tài sản thế chấp; các quy định pháp luật xử lý TSTC trong hoạt động cho vay của NHTM; các số liệu, vụ việc thực tiễn xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của NHTM tại Cục thi hành án trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của NHTM theo phán quyết của tòa án từ thực tiễn thực hiện tại Cục thi hành án tỉnh Thanh Hoá trong thời gian từ năm 2016 cho đến năm 2021

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu có tính phổ quát trong khoa

Trang 13

học xã hội và nhân văn như:

- Phương pháp phân tích kết hợp với bình luận được sử dụng để làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về xử lý TSTC;

- Phương pháp tổng hợp nhằm khái quát thực trạng áp dụng pháp luật về xử

lý TSTC trong hoạt động cho vay của NHTM;

- Phương pháp so sánh được sử dụng để phát hiện ra những điểm tương đồng và điểm khác biệt giữa pháp luật của Việt Nam với pháp luật của một số nước trên thế giới, giữa nội dung của pháp luật thực định qua các thời kỳ khác nhau;

- Phương pháp tổng hợp, khái quát hóa được sử dụng để vận dụng kiến thức

lý luận và thực tiễn để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu về xử lý TSTC trong hoạt động cho vay của NHTM

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Ý nghĩa lý luận của đề tài là góp phần làm sáng tỏ phương diện lý luận trong khoa học pháp lý của vấn đề xử lý TSTC Cụ thể là những vấn đề lý luận

về xử lý TSTC trong hoạt động cho vay của NHTM, chỉ ra những tồn tại, hạn chế của pháp luật và đưa ra phương hướng hoàn thiện, giải pháp nhằm khắc phục, hoàn thiện các quy định của pháp luật về xử lý TSTC trong hoạt động cho vay của NHTM

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích không chỉ đối với giảng viên, sinh viên mà còn có giá trị tham khảo đối với các cán bộ đang làm công tác liên quan đến việc áp dụng pháp luật về thế chấp và xử lý TSTC

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại và pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong

Trang 14

hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại và thực tiễn áp dụng trong thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Trang 15

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Những vấn đề lý luận pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm và nguồn của pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Xử lý TSTC là việc thông qua quy trình biến đổi quyền sở hữu của bên TC đối với TSTC nhằm mục đích bù trừ nghĩa vụ hoặc các mục đích khác do các bên thoả thuận (không trái với quy định pháp luật), từ đó bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho bên Ngân hàng và chủ sở hữu TSTC Hậu quả pháp lý của việc xử lý TSTC không chỉ ảnh hưởng đến bên có TSTC mà còn ảnh hưởng đến nhiều chủ thể khác liên quan đến việc TC tài sản, do vậy việc xử lý TSTC phải được tiến hành theo các quy định chặt chẽ và nghiêm ngặt của pháp luật

Từ bản chất của việc xử lý TSTC có thể đưa ra khái niệm pháp luật về xử lý TSTC như sau:

Pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xử lý tài sản thế chấp để thu hồi

nợ vay cho ngân hàng thương mại

Để đảm bảo mục tiêu điều chỉnh đối với hoạt động xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của NHTM, nhà làm luật cần xác định rõ nội dung quy định bao gồm: Nguyên tắc xử lý TSTC, trình tự, thủ tục xử lý TSTC, phương thức xử lý TSTC, thẩm quyền xử lý TSTC Trong quan hệ TC tài sản, NHTM lại chủ thể đóng vau trò trọng tâm với tư cách là chủ nợ có đảm bảo, bên vay (có thể là cá nhân hoặc

tổ chức) là bên có TSTC để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ Mục đích của việc xây dựng pháp luật về xử lý TSTC là để bảo đảm quyền cũng như việc thực hiện nghĩa

vụ của các bên trong quá trình xử lý TSTC Những quy định này đã tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh, an toàn cho các chủ thể tham gia vào hoạt động tín dụng

Trang 16

ngân hàng, là cơ sở pháp lý quan trọng để các NHTM thực hiện việc xử lý TSTC khi có sự vi phạm nghĩa vụ của bên TC, đồng thời giúp NHTM nâng cao hiệu quả trong hoạt xử lý TSTC

Về lý thuyết, nội dung của pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của NHTM chủ yếu được thể hiện thông qua các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng như: Bộ luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); Luật Doanh nghiệp 2020; Luật Thương mại 2005 Các nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành về xử lý TSTC như: Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; Nghị định số 102/2017/NÐ-CP về đăng ký biện pháp bảo đảm… Các Thông tư, chỉ thị của các Bộ hướng dẫn thi hành luật, nghị định có liên

quan đến xử lý TSTC

Bên cạnh đó, có thể nhận thấy pháp luật về xử TSTC còn được thể hiện trong một số loại nguồn như: tập quán pháp; án lệ; điều ước quốc tế Ngoài ra, hợp đồng cũng được coi là một loại nguồn để xử lý TSTC do pháp luật tôn trọng thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ hợp đồng dân sự Khi đó, thoả thuận giữa các bên trong quan hệ hợp đồng là căn cứ pháp lý để xử lý TSTC

1.1.2 Cấu trúc pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Về lý thuyết, cấu trúc của pháp luật về xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của NHTM bao gồm các nhóm quy phạm pháp luật chủ yếu sau:

1.1.2.1 Các quy định về thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Để xác định thẩm quyền xử lý TSTC cần phải xác định người đang giữ tài sản bảo đảm có giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm để xử lý hay không Theo

đó đối với từng trường hợp xử lý TSTC sẽ dẫn chiếu đối với thẩm quyền xử lý TSTC trong hoạt động cho vay của NHTM

Như vậy, trong trường hợp người đang giữ TSTC giao TSTC cho bên nhận

TC để xử lý thì thẩm quyền xử lý TSTC được xác định thuộc bên nhận TC Bên cạnh đó, nếu các bên có thỏa thuận về xử lý TSTC mà việc xử lý TSTC này có liên quan đến Tổ chức đấu giá, Tổ chức thẩm định giá thì các chủ thể này cũng có thẩm

Trang 17

quyền tham gia vào việc xử lý TSTC Trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận TC có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, trong trường hợp này thẩm quyền xử lý TSTC được xác định thuộc Tòa án và Cơ quan thi hành án Trong trường hợp luật liên quan có quy định khác thì thẩm quyền xử lý TSTC được xác định theo quy định tại văn bản pháp luật đó

Thứ nhất, trường hợp người đang giữ TSTC giao TSTC cho bên nhận TC để xử lý

khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 299 của BLDS 2015

Bên cạnh đó, tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 52 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ quy định cũng quy định về việc xử lý TSTC khi các bên có sự thỏa thuận

Như vậy, trong trường hợp người đang giữ TSTC giao TSTC cho bên nhận TC

để xử lý thì thẩm quyền xử lý TSTC sẽ thuộc bên nhận TC Trong trường hợp các bên

có thỏa thuận về xử lý TSTC mà việc xử lý TSTC này có liên quan đến Tổ chức đấu giá, Tổ chức thẩm định giá thì các chủ thể này cũng có thẩm quyền tham gia vào việc

xử lý TSTC

Thứ hai, trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận

TC có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết

Căn cứ tại Điều 301 BLDS 2015 và quy định tại Khoản 5 Điều 52 Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, trong trường hợp bên TC hoặc người đang giữ TSTC không giao TSTC thì bên nhận TC hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết Lúc này, bên nhận TC sẽ khởi kiện ra tòa án nhân dân có thẩm quyền và cơ quan thi hành án dân sự sẽ tiến hành cưỡng chế thi hành án nếu trong trường hợp bên TC hoặc người đang giữ TSTC không tự nguyện thi hành án sau 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo thi hành án dân sự

Để xác định Tòa án có thẩm quyền ra quyết định xử lý TSTC sẽ được căn cứ vào việc xác định thẩm quyền tại Chương III Thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại BLTTDS năm 2015

Đối với cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành án thì sẽ là cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế thi hành, được xác định theo Điều 35 Văn bản hợp nhất 32/VBHN-VPQH năm 2020 hợp nhất Luật Thi hành án dân sự do Văn phòng Quốc

Trang 18

hội ban hành:

Như vậy, tùy vào trường hợp cụ thể sẽ xác định Tòa án và Cơ quan thi hành

án có thẩm quyền xử lý TSTC

Thứ ba, trong trường hợp luật liên quan có quy định khác thì thẩm quyền xử

lý TSTC được xác định theo quy định tại văn bản pháp luật đó

1.1.2.2 Các quy định về nguyên tắc xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Thứ nhất, TSTC được xử lý nếu như thuộc một trong số các trường hợp quy

định tại Điều 299 BLDS năm 2015, cụ thể:

- Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ

- Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật

- Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định

Thứ hai, tôn trọng sự thỏa thuận của các chủ thể tham gia quan hệ TC

Nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các chủ thể là nguyên tắc cơ bản, cốt lõi của pháp luật dân sự nói chung và quá trình xử lý TSTC nói riêng Các bên có thể

tự do tự nguyện thỏa thuận về các nội dung xử lý TSTC như chủ thể thực hiện việc

xử lý tài sản, phương thức xử lý tài sản và thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm đối với tài sản Nguyên tắc này được thể hiện tại Khoản 2, 3, 4 Điều 4 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

Thứ ba, xử lý TSTC phải được thực hiện công khai và minh bạch, tuân thủ quy định về trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật Xử lý TSTC có đối tượng tác động trực tiếp là TSTC, do đó gián tiếp tác động đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan đến tài sản Bên cạnh đó, nguyên tắc này cũng được thể hiện tại quy định Điều 306, Điều 308, Điều 322 BLDS năm 2015 Như vậy, nguyên tắc này nhằm tránh việc bên có quyền xử lý TSTC lạm dụng quyền của mình gây phương hại đến lợi ích của chủ thể khác cũng như bảo đảm việc tuân thủ triệt để các quy định của pháp luật trong quá trình xử lý TSTC

Thứ tư, xử lý TSTC phải đảm bảo hiệu quả để bù đắp lợi ích bị tổn thất do có

Trang 19

sự vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm Tính hiệu quả của quá trình xử lý TSTC được thể hiện ở hai yếu tố chi phí và thời gian Các chi phí phát sinh trong quá trình xử

lý TSTC có thể kể đến như: chi phí thu giữ tài sản, chi phí trông giữ quản lý tài sản, chi phí thẩm định giám định tài sản, chi phí bán đấu giá tài sản Việc kê biên xử lý tài sản, lựa chọn phương thức xử lý nào sẽ dẫn đến hệ lụy phát sinh các chi phí kéo theo Quy định về việc thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý TSTC được quy định tại Khoản 1 Điều 307 BLDS 2015 Thời gian cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định chi phí và tính hiệu quả của xử lý TSTC Thời gian xử

lý TSTC kéo dài đồng nghĩa với việc các khoản lãi, các khoản thiệt hại, chi phí xử

lý tài sản như chi phí trông giữ, quản lý tài sản càng ngày càng tăng lên, trong khi

đó TSTC càng ngày càng hao mòn, giảm sút giá trị, mất đi tính thanh khoản trên thị trường Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của tất cả các bên có liên quan đến TSTC Do đó các bên buộc phải dùng mọi biện pháp hợp pháp có thể nhằm nhanh chóng xử lý TSTC, thu hồi về số tiền để đối trừ với nghĩa vụ được bảo đảm bị vi phạm

Thứ năm, xử lý TSTC không mang tính kinh doanh, vì thế không thể có lợi

nhuận Đặc điểm của TC là để bù đắp lại những lợi ích vật chất bị xâm hại khi nghĩa vụ được bảo đảm bị vi phạm Điều này được thể hiện ở Khoản 2 và Khoản 3 Điều 307 BLDS 2015 quy định về thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, TC Như vậy, bên nhận TC chỉ có quyền thu hồi lại những lợi ích vật chất

bị tổn hại trong phạm vi bảo đảm của TSTC, phần tài sản còn thừa sau khi xử lý TSTC (nếu có) phải được hoàn trả cho bên TC

1.1.2.3 Các quy định về phương thức và trình tự, thủ tục xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Trước hết, về các phương thức xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay

của ngân hàng thương mại

Thế chấp tài sản là một trong các biện pháp bảo đảm theo quy định của BLDS

2015 Theo đó, các quy định của Pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm cũng được áp dụng cho việc xử lý TSTC

Trang 20

Điều 303 BLDS 2015 quy định về phương thức xử lý tài sản cầm cố Đây là quy định mở bởi đều luật này cũng như quy định khả năng các bên có thể thoả thuận về phương thức xử lý TSTC, ngoài ba phương thức đã được liệt kê bao gồm:

(i) Bán đấu giá tài sản – quy định tại Khoản 1, Điều 304 BLDS 2015, theo đó

“việc bán đấu giá tài sản thế chấp được thực hiện theo quy định pháp luật về đấu giá tài sản”

(ii) Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản, phương pháp này được quy định tại Khoản

2 Điều 304 BLDS 2015

(iii) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ của bên

bảo đảm, quy định tại điều 305 BLDS 2015

Khi thực hiện phương thức này, bên nhận thế chấp căn cứ vào giá trị của TSTC

để đối trừ nghĩa vụ được bảo đảm theo thứ tự ưu tiên thanh toán trong từng trường hợp bán TSTC

(iv) Ngoài ba phương thức xử lý TSTC nêu trên, pháp luật dự liệu và cho phép

các bên tự thỏa thuận các phương thức xử lý TSTC khác Ví dụ, các bên có thể thỏa thuận về việc đưa TSTC vào khai thác hay cho thuê và số tiền thuê được được sử dụng vào việc thanh toán nghĩa vụ bảo đảm Trường hợp không có thoả thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm thì tài TSTC sẽ được bán đấu giá (Khoản 2 Điều 303 BLDS 2015)

Thứ hai, về trình tự, thủ tục xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của

NHTM

Trình tự, thủ tục xử lý TSTC trong hoạt động của NHTM được thực hiện theo một số thủ tục chung, đảm bảo thực hiện các nguyên tắc, thời hạn nhất định, cụ thể các quy định chung được áp dụng trong quá trình xử lý TSTC như sau:

Một là, về thông báo xử lý TSTC

Việc thông báo về xử lý TSTC phải được thực hiện theo quy định tại Điều 300 BLDS 2015, được hướng dẫn bởi Điều 51 Nghị định 21/2021 NĐ-CP về cách thức thông báo, thời hạn thông báo, đối tượng thông báo

Hai là, về thu giữ tài sản bảo đảm

Việc thu giữ tài sản bảo đảm là một nội dung quan trong trong quá trình xử lý

Trang 21

TSTC Do quá trình thu giữ tài TSTC có liên quan trực tiếp đến quyền khai thác, chiếm hữu của người TC tài sản nên trên thực tế nhiều trường hợp không thực sự hợp tác Do đó, pháp luật quy định cụ thể tại điều 301 BLDS 2015 và được hướng dẫn chi tiết tại Điều 52 Nghị định 21/2021/NĐ-CP Theo đó “Người đang giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm để xử lý khi thuộc một trong số trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật này”; Các bên cũng có quyền thỏa thuận về việc giao, xử lý một phần hoặc toàn bộ TSTC

Khi thực hiện việc thu giữ TSTC, người xử lý tài sản có trách nhiệm: (i) Thông báo trước cho người giữ tài sản về việc áp dụng biên pháp thu giữ TSTC trong thời hạn hợp lý theo quy định của pháp luật (ii) Không được thực hiện các hành vi vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

Ba là, về thứ tự ưu tiên thanh toán từ việc xử lý một số TSTC bảo đảm nhiều

nghĩa vụ

Thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSTC được áp dụng như thứ tự thanh toán đối với tài sản bảo đảm (Điều 308 Bộ luật dân sự 2015) Thứ tự ưu tiên thanh toán có thể thay đổi, nếu các bên cùng nhận bảo đảm có thỏa thuận với nhau về việc thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán Bên thế quyền ưu tiên thanh toán chỉ được ưu tiên thanh toán trong phạm vi bảo đảm của bên mà mình thế quyền

1.1.2.4 Các quy định về giải quyết tranh chấp khi xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Theo pháp luật hiện hành, nhà làm luật quy định NHTM được xử lý tài sản thế chấp trong những trường hợp sau:

Thứ nhất, đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng TC đã thoả thuận mà

bên bảo đảm không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa

vụ trả nợ đối với bên nhận bảo đảm1

Thứ hai, bên được bảo đảm vi phạm nghĩa vụ hợp đồng tín dụng hoặc theo

thoả thuận và bị NHTM yêu cầu thu hồi vốn trước nợ nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ trước thời hạn vay thì sẽ bị xử lý TSTC để thu hồi nợ2

Thứ ba, pháp luật cũng quy định về TSTC phải được xử lý để bên bảo đảm

1 Xem: Khoản 1 Điều 299 BLDS 2015

2 Xem: Khoản 2 Điều 299 BLDS 2015

Trang 22

thực nghĩa nghĩa vụ khác khi đã đến hạn Trường hợp phải xử lý tài sản để thực hiện một nghĩa vụ đến hạn thì các nghĩa vụ khác tuy chưa đến hạn đều được coi là đến hạn và tất cả các bên cùng nhận bảo đảm đều được tham gia xử lý tài sản Bên nhận bảo đảm đã thông báo về việc xử lý tài sản có trách nhiệm xử lý tài sản, nếu các bên cùng nhận bảo đảm không có thỏa thuận khác3

Ngoài ra, pháp luật cũng quy định về giải quyết tranh chấp khi xử lý TSTC, với mục đích nhằm đảm bảo cho NHTM thu hồi vốn vay để tiếp tục thực hiện hoạt động kinh doanh của mình Các quy định về xử lý TSTC đáp ứng yêu cầu cấp bách

là thu hồi được nợ cho ngân hàng và đảm bảo an toàn về quyền lợi cho người TC tài sản tại ngân hàng Hiện nay, căn cứ pháp lý để giải quyết tranh chấp khi xử lý TSTC không chỉ bao gồm các quy định được thể hiện trong BLDS 2015, Luật các

tổ chức tín dụng 2010, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành Bộ luật dân

sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, việc xử lý TSTC còn được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật chuyên ngành có liên quan đến chính TSTC như: Luật nhà ở, Luật đất đai, Luật chứng khoán, Luật doanh nghiệp…

Trang 23

Kết luận chương 1

Xử lý TSTC trong hoạt động cho vay của NHTM là việc các bên có liên quan đến giao dịch TC thực hiện các hoạt động pháp luật cho phép, nhằm thanh toán, bù trừ các nghĩa vụ tài sản của bên có nghĩa vụ cho các NHTM Dưới góc độ kinh tế,

xã hội việc nhận TC và xử lý TSTC không chỉ tạo ra sự an toàn cho các NHTM giúp các Ngân hàng tăng cường và mở rộng hoạt động cho vay, tăng quy mô và giá trị khoản vay mà còn đảm bảo các biện pháp dự phòng và hạn chế rủi ro mất vốn; thúc đẩy khách hàng vay trả nợ đúng hạn theo nội dung đã cam kết tại hợp đồng

TC Do hoạt động cho vay của NHTM thường có rủi ro cao và có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế vì vậy để có thể thực hiện việc xử lý TSTC kịp thời, hiệu quả, hạn chế các khiếu nại tranh chấp phát sinh thì việc tìm hiểu, phân tích, nghiên cứu hệ thống pháp luật liên quan đến việc xử lý TSTC là rất cần thiết Việc xem xét những vấn đề lý luận về xử lý TSTC và pháp luật về xử lý TSTC trong hoạt động cho vay của NHTM là nền tảng để để đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu, tổng hợp những vướng mắc, bất cập của những quy định hiện hành cũng như việc thực hiện việc xử

lý TSTC trong những chương tiếp theo

Trang 24

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH THANH HOÁ 2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại

2.1.1 Thực trạng quy định về thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại

Để xác định thẩm quyền xử lý TSTC cần phải xác định người đang giữ tài sản bảo đảm có giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm để xử lý hay không Theo

đó đối với từng trường hợp xử lý TSTC sẽ dẫn chiếu đối với thẩm quyền xử lý TSTC trong hoạt động cho vay của NHTM

Điều 301 BLDS 2015 quy định về giao tài sản bảo đảm để xử lý Theo đó, phải giao tài sản trong các trường hợp quy định tại Điều 29 BLDS 2015 Trường hợp không giao tài sản thì bên nhận TC có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết

Như vậy, trong trường hợp người đang giữ TSTC giao TSTC cho bên nhận TC

để xử lý thì thẩm quyền xử lý TSTC được xác định thuộc bên nhận TC Bên cạnh đó, nếu các bên có thỏa thuận về xử lý TSTC mà việc xử lý TSTC này có liên quan đến Tổ chức đấu giá, Tổ chức thẩm định giá thì các chủ thể này cũng có thẩm quyền tham gia vào việc xử lý TSTC; Trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận TC có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, trong trường hợp này thẩm quyền xử lý TSTC được xác định thuộc Tòa án và Cơ quan thi hành án; Trong trường hợp luật liên quan có quy định khác thì thẩm quyền xử lý TSTC được xác định theo quy định tại văn bản pháp luật đó;

Thứ nhất, trường hợp người đang giữ TSTC giao TSTC cho bên nhận TC để

xử lý khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 299 của BLDS 2015 Căn cứ Điều 299 BLDS năm 2015 quy định các trường hợp mà bên nhận bảo đảm

có quyền xử lý tài sản bảo đảm, các trường hợp này bao gồm:

(i) Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ

Trang 25

(ii) Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do

vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật

(iii) Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định

Trường hợp xử lý tài sản bảo đảm đầu tiên là trường hợp thông thường có vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm

Trường hợp thứ hai có thể nhận thấy thường gặp khi ngân hàng thu hồi nợ trước hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, khi một tài sản được sử dụng để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ hay trước khi tuyên bố bên có nghĩa vụ phá sản

Bên cạnh đó, tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 52 Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ quy định về giao tài sản bảo đảm, xử lý tài sản cầm cố, thế chấp

Như vậy, trong trường hợp người đang giữ TSTC giao TSTC cho bên nhận TC

để xử lý thì thẩm quyền xử lý TSTC sẽ thuộc bên nhận TC Trong trường hợp các bên

có thỏa thuận về xử lý TSTC mà việc xử lý TSTC này có liên quan đến Tổ chức đấu giá, Tổ chức thẩm định giá thì các chủ thể này cũng có thẩm quyền tham gia vào việc

xử lý TSTC

Thứ hai, trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận

TC có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết

Căn cứ tại Điều 301 BLDS 2015 và quy định tại Khoản 5 Điều 52 Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Như vậy, trong trường hợp bên TC hoặc người đang giữ TSTC không giao TSTC thì bên nhận TC hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết Lúc này, bên nhận TC sẽ khởi kiện ra tòa án nhân dân có thẩm quyền và cơ quan thi hành án dân

sự sẽ tiến hành cưỡng chế thi hành án nếu trong trường hợp bên TC hoặc người đang giữ TSTC không tự nguyện thi hành án sau 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo thi hành án dân sự

Để xác định Tòa án có thẩm quyền ra quyết định xử lý TSTC sẽ được căn cứ vào việc xác định thẩm quyền tại Chương III Thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại BLTTDS năm 2015

Đối với cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành án thì sẽ là cơ quan có

Trang 26

thẩm quyền cưỡng chế thi hành, được xác định theo Điều 35 Văn bản hợp nhất 32/VBHN-VPQH năm 2020 hợp nhất Luật Thi hành án dân sự do Văn phòng Quốc

hội ban hành

Như vậy, tùy vào trường hợp cụ thể sẽ xác định Tòa án và Cơ quan thi hành

án có thẩm quyền xử lý TSTC

Thứ ba, trong trường hợp luật liên quan có quy định khác thì thẩm quyền xử

lý TSTC được xác định theo quy định tại văn bản pháp luật đó

Ví dụ, theo quy định tại Điều 90 Luật thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 ngày

14 tháng 11 năm 2008, được bổ sung, sửa đổi năm 2014 quy định về kê biên, xử lý tài sản đang cầm cố, thế chấp thì nếu người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án thì chấp hành viên có quyền kê biên, xử

lý tài sản của người phải thi hành án đang thế chấp nếu giá trị tài sản đó lớn hơn nghĩa

vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án

Bên cạnh đó, các bên cũng có thể thỏa thuận về việc xử lý tài sản bảo đảm khác, như khi bên vay vi phạm một nghĩa vụ nào đó trong hợp đồng vay hay bên bảo đảm vi phạm một nghĩa vụ nào đó nêu trong hợp đồng bảo đảm Lúc này thẩm quyền xử lý TSTC sẽ thuộc về Cơ quan thi hành án

2.1.2 Thực trạng quy định về nguyên tắc xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Xử lý TSTC ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều chủ thể có liên quan, do đó quá trình này phải đảm bảo những nguyên tắc:

Thứ nhất, TSTC được xử lý nếu như thuộc một trong số các trường hợp quy

định tại Điều 299 BLDS năm 2015, cụ thể:

Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ Trường hợp này nghĩa vụ bảo đảm đa phần là nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay tiền Theo hợp đồng tín dụng, bên vay tiền có nghĩa vụ trả lãi theo kỳ hạn và trả nợ gốc Nếu bên vay vi phạm nghĩa vụ trả lãi (không trả hoặc trả không đầy đủ, không đúng hạn) thì tổ chức tín dụng có thể

xử lý TSTC mà không cần phải chờ đến hạn của hợp đồng tín dụng Thực tế việc

xử lý TSTC nêu trên vẫn được các Ngân hàng áp dụng thường xuyên và phương thức này cũng không bị pháp luật cấm, lại bảo đảm tốt hơn quyền lợi của tổ chức

Trang 27

tín dụng

Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật Giao dịch dân sự tôn trọng sự thỏa thuận của các bên và sự thỏa thuận nhằm đảm bảo việc thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ trong hợp đồng luôn được pháp luật cho phép Do đó, các bên hoàn toàn có thể thỏa thuận nếu bên có nghĩa vụ vi phạm hợp đồng thì bên có quyền sẽ xử lý TSTC

Trường hợp khác do các bên có thỏa thuận hoặc có quy định khác

Ngoài ra, tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có quy định trường hợp người có nghĩa vụ được bảo đảm bị tuyên bố phá sản áp dụng theo quy định của pháp luật về phá sản

Thứ hai, tôn trọng sự thỏa thuận của các chủ thể tham gia quan hệ TC Nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các chủ thể là nguyên tắc cơ bản, cốt lõi của pháp luật dân sự nói chung và quá trình xử lý TSTC nói riêng Các bên có thể tự do tự nguyện thỏa thuận về các nội dung xử lý TSTC như chủ thể thực hiện việc xử lý tài sản, phương thức xử lý tài sản và thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm đối với tài sản Pháp luật Dân sự cũng không giới hạn thời điểm thỏa thuận, các bên có thể thỏa thuận với nhau trước hoặc trong quá trình xử lý TSTC Theo quy định tại Khoản 2, 3, 4 Điều 4 Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành Bộ luật Dân sự

về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ về nguyên tắc này

Do đó xử lý TSTC có thể được ghi nhận ngay trong hợp đồng TC hoặc dưới bất

kỳ một hình thức thỏa thuận nào khác phù hợp với quy định của pháp luật Mặc dù vậy, các bên cần phải lưu ý những nội dung thỏa thuận về xử lý TSTC cũng là một dạng giao dịch dân sự, do đó không được vi phạm các quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không có hiệu lực việc xử lý TSTC được giải quyết theo quy định của pháp luật

Thứ ba, xử lý TSTC phải được thực hiện công khai và minh bạch, tuân thủ quy định về trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật Xử lý TSTC có đối tượng tác động trực tiếp là TSTC, do đó gián tiếp tác động đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan đến tài sản Bên cạnh đó, nguyên tắc này cũng được thể hiện tại quy định Điều 322 BLDS năm 2015:

Trang 28

“Điều 322 Nghĩa vụ của bên nhận thế chấp

12 Thực hiện thủ tục xử lý tài sản thế chấp theo đúng quy định của pháp luật.”

Tuân thủ nguyên tắc này nhằm đảm bảo quyền của các bên liên quan có thể kể đến như: các bên cùng nhận bảo đảm đối với tài sản, cơ quan thuế, cơ quan thi hành

án, người lao động chưa được trả lương, người có quyền nhân thân liên quan đến tài sản,… Các nội dung thông tin cần phải được công khai và minh bạch bao gồm: tài sản

bị xử lý, giá trị của tài sản, hình thức xử lý, thời gian, địa điểm xử lý tài sản và thứ tự

ưu tiên thanh toán để các bên liên quan nắm được quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong quá trình xử lý TSTC, đồng thời giám sát việc kê biên xử lý tài sản thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật

Theo đó, việc xác định giá trị của TSTC cũng được thực hiện công khai và minh

bạch, tuân thủ quy định về trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 306 BLDS

Theo đó, nhằm đảm bảo giá trị của TSTC được xác định khách quan, minh bạch pháp luật có quy định rõ ràng về việc định giá TSTC Các bên hoàn toàn có quyền thỏa thuận về giá TSTC, hoặc định giá thông qua tổ chức định giá tài sản khi xử lý TSTC Việc định giá phải đáp ứng được yêu cầu khách quan Bên cạnh đó, trong trường hợp

có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho bên TC trong quá trình định giá TSTC thì tổ chức định giá sẽ phải bồi thường cho bên TC Đây là một quy định giúp bảo vệ quyền lợi của bên TC và là quy định thể hiện nguyên tắc công khai và minh bạch

Bên cạnh đó, đối với thứ tự ưu tiên thanh toán cũng được pháp luật quy định một cách rõ ràng để các bên liên quan nắm được quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong quá

trình xử lý TSTC, được thể hiện trong quy định Điều 308 BLDS 2015:

Như vậy, nguyên tắc này nhằm tránh việc bên có quyền xử lý TSTC lạm dụng quyền của mình gây phương hại đến lợi ích của chủ thể khác cũng như bảo đảm việc tuân thủ triệt để các quy định của pháp luật trong quá trình xử lý TSTC

Thứ tư, xử lý TSTC phải đảm bảo hiệu quả để bù đắp lợi ích bị tổn thất do có sự

vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm Tính hiệu quả của quá trình xử lý TSTC được thể hiện ở hai yếu tố chi phí và thời gian Các chi phí phát sinh trong quá trình xử lý TSTC

có thể kể đến như: chi phí thu giữ tài sản, chi phí trông giữ quản lý tài sản, chi phí thẩm định giám định tài sản, chi phí bán đấu giá tài sản Việc kê biên xử lý tài sản, lựa

Trang 29

chọn phương thức xử lý nào sẽ dẫn đến hệ lụy phát sinh các chi phí kéo theo Quy định

về việc thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý TSTC được quy định tại Khoản 1 Điều 307 BLDS 2015 thì số tiền thu được từ việc xử lý tài sản sau khi thanh toán các chi phí theo quy định thì sẽ được thanh toán cho các chủ thể khác theo thứ tự ưu tiên thanh toán

Về nguyên tắc, các chi phí này phải được ưu tiên khấu trừ trước, sau đó mới đến các nghĩa vụ được bảo đảm Do đó các chi phí phát sinh trong quá trình xử lý TSTC phải là những chi phí cần thiết nhằm tránh trường hợp số tiền còn lại sau khi khấu trừ không đủ để thanh toán cho bên nhận TC Thời gian cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định chi phí và tính hiệu quả của xử lý TSTC Thực tế, những nghĩa

vụ được bảo đảm đa phần đều là những nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng vay vốn khi phải xử lý TSTC, bên nhận TC đã phải chấp nhận nguy cơ không thu hồi được số tiền gốc, tiền lãi hoặc các khoản bồi thường thiệt hại khác có liên quan đến khoản vay Thời gian xử lý TSTC kéo dài đồng nghĩa với việc các khoản lãi, các khoản thiệt hại, chi phí xử lý tài sản như chi phí trông giữ, quản lý tài sản càng ngày càng tăng lên, trong khi đó TSTC càng ngày càng hao mòn, giảm sút giá trị, mất đi tính thanh khoản trên thị trường Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của tất cả các bên có liên quan đến TSTC Do đó các bên buộc phải dùng mọi biện pháp hợp pháp có thể nhằm nhanh chóng xử lý TSTC, thu hồi về số tiền để đối trừ với nghĩa vụ được bảo đảm bị

vi phạm Như vậy rút ngắn thời gian và tiết kiệm chi phí trong việc xử lý TSTC chính

là những vấn đề trọng yếu nhằm nâng cao hiệu quả, kết quả của xử lý TSTC cần phải được các bên quan tâm và đặt lên hàng đầu

Thứ năm, xử lý TSTC không mang tính kinh doanh, vì thế không thể có lợi nhuận Đặc điểm của TC là để bù đắp lại những lợi ích vật chất bị xâm hại khi nghĩa

vụ được bảo đảm bị vi phạm Xử lý TSTC chính là phương thức để thực hiện việc bù đắp này Khi thực thi xử lý TSTC dù các bên có lựa chọn phương thức nào thì bên có quyền xử lý tài sản (thường là bên nhận TC) đều phải tuyệt đối tuân thủ các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục xử lý tài sản Do đó, xử lý TSTC không phải là hoạt động kinh doanh và số tiền thu hồi được từ việc xử lý tài sản cũng không phải là doanh thu của bên nhận TC Điều này được thể hiện ở Khoản 2 và Khoản 3 Điều 307 BLDS

2015

Trang 30

Như vậy, bên nhận TC chỉ có quyền thu hồi lại những lợi ích vật chất bị tổn hại trong phạm vi bảo đảm của TSTC, phần tài sản còn thừa sau khi xử lý TSTC (nếu có) phải được hoàn trả cho bên TC Mặc dù vậy, trong thực tế một số trường hợp xử lý TSTC đem lại cho bên nhận TC số tiền lớn hơn số tiền bên nhận TC có thể được được hưởng nếu bên có nghĩa vụ được bảo đảm thực hiện đúng nghĩa vụ Do đó, nếu khẳng định việc xử lý TSTC không thể đưa lại cho bên có quyền (bên nhận TC) lợi ích lớn hơn lợi ích mà việc bên có nghĩa vụ (bên TC) thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm một cách bình thường đưa lại là chưa bao quát hết các tình huống có thể xảy ra

2.1.3 Thực trạng quy định về phương thức và trình tự, thủ tục xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

2.1.3.1 Quy định về phương thức xử lý tài sản thế chấp

Theo Điều 303 BLDS 2015, nhà làm luật quy định về phương thức xử lý TSTC, Cụ thể sẽ gồm:

- Bán đấu giá tài sản;

- Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản;

- Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm;

Hoặc xử lý theo phương thức khác

Điều luật này cũng quy định khả năng các bên có thể thỏa thuận về các phương thức xử lý TSTC khác, ngoài 03 phương thức đã được liệt kê (trừ trường hợp phải tuân thủ theo phương thức pháp luật ấn định hoặc các luật chuyên ngành khác) Trường hợp không có thỏa thuận thì sẽ được bán đấu giá tài sản thế chấp

Thứ nhất, bán đấu giá tài sản thế chấp

Bán đấu giá một loại tài sản là phương thức ưu tiên hàng đầu vì nó bảo đảm tính khách quan, khẳng định quyền nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ mua bán này rõ ràng nhất Quyền đối với tài sản của bên mua đấu giá được bảo đảm triệt để hơn so với quy định về việc mua bán thông thường Trình tự thủ tục bán đấu giá tài sản được chính phủ quy định rất chi tiết cho nên bán đấu giá TSTC cũng phải tuân thủ theo thủ tục này Việc bán đấu giá TSTC được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật bán đấu giá tài sản

2016 và các Nghị định hướng dẫn thi hành

Trang 31

Các bên có thể thỏa thuận việc bán đấu giá là phương thức xử lý TSTC hoặc trường hợp không có thoả thuận về phương thức xử lý TSTC, khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên Ngân hàng sẽ ký Hợp đồng bán đấu giá với tổ chức bán đấu giá Việc bán đấu giá tài sản đã kê biên được quy định tại Điều 101 Luật thi hành án năm 2008 với ba trường hợp chính như sau: (i) Các bên thỏa thuận về việc chọn bán đấu giá là phương pháp xử lý TSTC (ii) TSTC là động sản bán đấu giá phải có giá trị từ 2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng

(iii) Trong trường hợp các bên không thoả thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm (Khoản 2 Điều 303 BLDS 2015)

Thứ hai, bên nhận thế chấp tự bán tài sản

Điểm b khoản 1 Điều 303 BLDS 2015 quy định: “Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản” đã mở ra một ngoại lệ cho bên nhận thế chấp là người không phải chủ sở hữu của tài sản thế chấp - được tự bán tài sản thế chấp So với quy định tại Điều

195 BLDS 2015 thì “Người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo ý của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật” Như vậy, chỉ cần có các bên thoả thuận về phương thức xử lý TSTC này mà không cần ủy quyền của bên TC ngân hàng vẫn có thể tự mình bán TSTC Đây là một quy định mới được hy vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho ngân hàng trong việc xử lý TSTC Khoản 2 Điều 304 BLDS 2015 quy định: “Việc tự bán tài sản cầm cố, TC của bên nhận bảo đảm được thực hiện theo quy định về việc bán tài sản” Việc bán TSTC của NHTM được thực hiện theo hợp đồng mua bán tài sản Đối với động sản không đăng ký quyền sở hữu quyền sử dụng thì hình thức hợp đồng do các bên thỏa thuận trường hợp đối tượng là tài sản phải đăng ký thì hợp đồng mua bán phải công chứng hoặc chứng thực và các bên phải thực hiện các thủ tục hành chính để xác lập quyền sở hữu quyền sử dụng

Việc thanh toán số tiền có được sau khi bên nhận bảo đảm tự bán tài sản thực hiện theo quy định tại Điều 307 BLDS 2015

Thứ ba, bên nhận thế chấp nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện

nghĩa vụ của bên bảo đảm

Điều 303 BLDS 2015 cho phép bên nhận TC nhận chính TSTC để thay thế

Trang 32

cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm Để thực hiện được phương thức này các bên cần các điều kiện sau: Khi có thỏa thuận của các bên, bên NHTM được quyền nhận chính TSTC đó để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm Tuy nhiên Pháp luật cũng quy định rõ rằng việc nhận chính tài sản bảo đảm chỉ được áp dụng khi các bên phải có “thỏa thuận” khi xác lập giao dịch bảo đảm

Do đó trong trường hợp nếu các bên không thỏa thuận thì bên nhận bảo đảm chỉ có thể yêu cầu bán đấu giá tài sản đó

Trường hợp không có sự thỏa thuận thì việc bên nhận TSTC nhận chính tài sản đó phải có sự đồng ý bằng văn bản của bên bảo đảm Bởi khi xử lý tài sản bảo đảm các bên phải thỏa thuận với giá trị của tài sản bảo đảm, do đó khi người nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm phải có sự đồng ý của người bảo đảm

Tài sản được sử dụng để làm TSTC thông thường sẽ có giá trị bằng hoặc lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm Trong trường hợp giá trị tài sản bảo đảm lớn hơn nghĩa vụ thì bên nhận bảo đảm phải thanh toán lại cho bên bảo đạt và ngược lại

Thứ tư, các phương thức khác (trường hợp pháp luật thừa nhận và cho phép

các bên thỏa thuận về cách thức xử lý TSTC)

Trường hợp các bên không có thoả thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo quy định nêu trên thì tài sản được xử lý bằng phương thức bán đấu giá theo quy định của pháp luật để bán đấu giá 4

Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm và thủ tục chuyển quyền sở hữu quyền sử dụng tài sản sau khi xử lý tài sản bảo đảm, cụ thể Thông tư quy định một số trường hợp sau:

- Xử lý đối với TSTC là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh

Bên nhận TC có thể lựa chọn thực hiện hoặc không thực hiện quyền thu hồi tài sản Trường hợp bên nhận TC thực hiện quyền thu hồi tài sản bên nhận TC gửi thông báo (trực tiếp hoặc qua bưu điện) cho bên nhận chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản về việc thu hồi tài sản, kèm theo một (01) Bản chính hợp đồng đảm bảo đã

4 Luận văn: Xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất ở để đảm bảo tiền vay tại Ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Ngân hàng thương mại Cổ phần quốc tế Việt Nam, Lê Xuân Hoàng Dương

Trang 33

được công chứng hoặc chứng thực hoặc (01) Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm Trường hợp bên nhận TC không thực hiện quyền thu hồi tài sản bên nhận TC có quyền (i) Yêu cầu bên TC chuyển số tiền thu được hoặc tài sản hình thành

từ số tiền thu được từ việc bán TSTC để thanh toán cho giá trị nghĩa vụ được thỏa thuận trong hợp đồng TC (ii) Thu giữ tài sản, xử lý TSTC thay thế và số tiền thanh toán giá trị chênh lệch tài sản bị thay thế (Điều 4 Thông tư số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN)

- Xử lý TSTC là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trong trường hợp hợp đồng TC đã được đăng ký trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi theo quy định của pháp luật

Nếu có thỏa thuận về việc bên nhận TSTC có quyền nhận tiền bồi thường thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường thực hiện việc chi trả tiền bồi thường cho bên nhận TC theo quy định của Luật đất đai và các giao dịch bảo đảm Sau khi có văn bản đề nghị của bên nhận TC và thông báo đã được gửi cho bên TC về việc chi trả tiền bồi thường cho bên nhận TC Trường hợp các bên không có thỏa thuận về việc bên nhận TC được nhận số tiền bồi thường, các lợi ích phát sinh liên quan đến TSTC trong thời gian hợp đồng TC có hiệu lực thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường chỉ thực hiện việc chi trả tiền bồi thường cho bên nhận TC sau khi có văn bản đồng ý của bên nhận TC Nếu bên

TC không đồng ý, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường chuyển số tiền bồi thường vào tài khoản do Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường lập tại ngân hàng và thực hiện việc chi trả sau khi có bản án, quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Điều 6 Thông tư 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN)

- Xử lý TSTC là quyền đòi nợ

Quyền đòi nợ chính là một tài sản BLDS 2015 quy định: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ quyền sử dụng đất và các quyền khác” Với tính chất vô hình, có liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ của người thứ ba (Bên mắc nợ trong quan hệ với bên thế chấp) Về phương diện pháp lý, khi cần xử lý TSTC là quyền đòi nợ thì bên nhận thế chấp sẽ yêu cầu bên thế chấp chuyển giao cho mình quyền được yêu cầu trả nợ trực tiếp với bên thứ ba – nguời có nghĩa vụ trả nợ theo quyền đòi nợ được thế chấp Khi được bên thế chấp đồng ý, người thứ ba có trách nhiệm trả nợ trực tiếp

Ngày đăng: 13/07/2023, 20:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w