“Pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương” là một công trình nghiên cứu độc lập, chuyên sâu, có tính hệ thống trên cơ sở kế thừa những
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG
NGUYỄN VĂN CHIẾN
NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ:
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐOÀN TRUNG KIÊN
HÀ NỘI – 2021
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM 13
1.1.Một số vấn đề lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài 13
1.1.1 Khái niệm đầu tư nước ngoài và đầu tư trực tiếp nước ngoài 14
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài 16
1.1.3 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài 18
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài 21
1.2 Một số vấn đề lý luận về pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam 24
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài 24
1.2.2 Nội dung pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài 26
1.2.3 Vai trò của pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài 26
1.2.4 Những yêu cầu đối với pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI
TỈNH BÌNH DƯƠNG 31
2.1 Thực trạng pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam 31
2.1.1 Quy định về chủ thể đầu tư trực tiếp nước ngoài 31
2.1.2 Quy định về hình thức đầu tư 32
2.1.3 Quy định về ngành nghề và địa bàn đầu tư 35
Trang 42.1.4 Quy định về các biện pháp ưu đãi đầu tư 36
2.1.5 Thủ tục đầu tư trực tiếp nước ngoài 37
2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bình Dương 39
2.2.1 Đặc điểm tình hình tỉnh Bình Dương ảnh hưởng đến thu hút đầu tư nước ngoài 39
2.2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật đầu tư nước ngoài ở tỉnh Bình Dương 40
2.2.2.1 Cấp phép đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Bình Dương 40
2.2.2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật trong quản lý việc đăng ký vốn và triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh các dự án đầu tư nước ngoài ở Bình Dương 47
2.2.2.3 Thu hồi giấy chứng nhận đầu tư (giấy phép đầu tư), giải thể trước thời hạn 48
2.2.2.4 Thực tiễn áp dụng pháp luật về thuế trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài ở Bình Dương 49
2.2.2.5 Thực tiễn áp dụng pháp luật lao động đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Bình Dương 50
2.2.3 Một số nhận xét, đánh giá 54
2.2.3.1 Mặt tích cực 54
2.2.3.2 Một số hạn chế 58
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59
Chương 3 60
PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO 60
Trang 5HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG 60
3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp
nước ngoài 60
3.1.1 Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng về nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác quốc tế và đầu tư nước ngoài 60
3.1.2 Hoàn thiện thể chế, chính sách chung về đầu tư nước ngoài và chính sách thu hút đầu tư 61
3.1.3 Hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm bảo hộ và đề cao trách nhiệm của nhà đầu tư 64
3.1.4 Hoàn thiện thể chế chính sách quản lý, giám sát đầu tư 64
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp
nước ngoài 66
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về chủ thể 66
3.2.2 Quy định cụ thể các lĩnh vực đầu tư có điều kiện, các lĩnh vực cấm đầu tư 67
3.2.3 Quy định về ưu đãi đầu tư 67
3.2.4 Quy định về thủ tục đầu tư 68
3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bình Dương 69
3.3.1 Giải pháp chung 69
3.3.2 Giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bình Dương 73
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 59
KẾT LUẬN 77
Trang 6DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bối cảnh quan hệ quốc tế hiện nay cho thấy, không một quốc gia nào
có thể “đóng cửa” để “tự phát triển” một mình, không cần hợp tác quốc tế Trong thời kỳ phát triển của cuộc cách mạng công nghệ 4.0, đi cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, hợp tác quốc tế cũng trở thành xu hướng tất yếu Ngay từ đại hội IX Đảng ta đã xác định rằng Toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu Nó vừa có ảnh hưởng tích cực vừa có ảnh hưởng tiêu cực, là quá trình bao gồm cả sự hợp tác và đấu tranh Nhiều vấn đề toàn cầu đang được đặt ra, đòi hỏi cả thế giới chung tay giải quyết Để có thể hội nhập với nền kinh tế thế giới, mỗi quốc gia cần có những yếu tố, điều kiện nhất định để tồn tại và phát triển Một trong những điều kiện ấy chính là phải tự đổi mới mình cả về
tư duy và thể chế, trong đó, đổi mới hệ thống pháp luật cho phù hợp với sân chơi quốc tế vừa là điều kiện, vừa là yêu cầu cấp bách với những quốc gia đang phát triển như Việt Nam
Trong bối cảnh chuyển đổi nền kinh tế như hiện nay, Việt Nam cần thu hút tối đa mọi nguồn lực từ bên trong và bên ngoài Nguồn lực bên trong mang ý nghĩa trọng yếu nhất, có tính chất quyết định, đồng thời nguồn lực bên ngoài cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã đề ra quan điểm đổi mới và từ đó, nền kinh tế Việt Nam cũng có bước chuyển mình, sự nhảy vọt đáng kể Chúng ta hội nhập chắc chắn, mạnh
mẽ và ngày càng sâu rộng về tất cả các lĩnh vực nói chung và lĩnh vực kinh tế nói riêng của khu vực cũng như thế giới Một trong những hành động mang ý nghĩa quyết định là việc Việt Nam tham gia tổ chức ASEAN năm 1995, từ đó, Việt Nam đã và đang thu được những thành tựu nhất định về kinh tế Sau khi tham gia Diễn đàn hợp tác Châu Á Thái Bình Dương APEC và Tổ chức thương mại thế giới WTO, Việt Nam đã đón nhận những cơ hội lớn để thay đổi nền kinh tế theo hướng tích cực, tuy nhiên điều đó cũng mang đến rất
Trang 8nhiều thách thức Để có thể phát triển và hội nhập sâu rộng đối với nền kinh
tế các nước trong khu vực và trên thế giới, rút ngắn khoảng cách về kinh tế giữa Việt Nam và quốc tế, Việt Nam cần tận dụng hết tất cả cơ hội, phát triển tiềm năng vốn có để vượt qua thách thức
Để thu hút nguồn lực bên ngoài, cần có hệ thống chính sách, pháp luật phù hợp, vừa bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, vừa đảm bảo tính thông thoáng, cởi mở, thu hút mạnh mẽ các nguồn lực bên ngoài Nói cách khác, việc đầu tiên Việt Nam cần làm là xây dựng được một môi trường đầu tư lành mạnh, hấp dẫn nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, cụ thể là tạo lập môi trường pháp lý Nhờ sự đầu tư nước ngoài, kinh nghiệm quản lý, ứng dụng công nghệ tiên tiến, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của nước ta sẽ được nâng cao, phát triển Để từ đó, tích lũy kinh nghiệm, phát triển quốc gia trong quá trình hội nhập Việt Nam luôn thực hiện tốt các cam kết quốc tế đã tham gia, đặc biệt tuân thủ nguyên tắc đối xử quốc gia và quy chế tối huệ quốc Điều đó tác động đáng kể đến cơ chế, chính sách kinh tế nói chung và thu hút vốn đầu tư nước ngoài nói riêng
Từ năm 1977, Việt Nam đã ban hành “Điều lệ đầu tư trực tiếp nước ngoài”, nhằm thực hiện hóa các chính sách thu hút nước ngoài đầu tư Tiếp
đó là những lần ban hành, sửa đổi luật Đầu tư cho đến luật Đầu tư 2020 đã cho thấy quá trình hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Toàn bộ quá trình ấy, luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn được các địa phương thực hiện nghiêm túc, thống nhất
Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có những lợi thế so sánh rất lớn so với những vùng khác và so với một số địa phương trong vùng Với lợi thế so sánh và những điều kiện thuận lợi có tính “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, trong những năm qua, Bình Dương là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về tốc
độ tăng trưởng, đóng góp lớn vào ngân sách quốc gia nói riêng và sự phát
Trang 9triển của đất nước nói chung Một trong lý do quan trọng góp phần thay đổi nền kinh tế của Bình Dương là đầu tư trực tiếp nước ngoài Điều đó cho thấy, việc áp dụng pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bình Dương đã làm tốt, cần tổng kết đúc rút kinh nghiệm để có thể nhân rộng cho các địa phương trong vùng và trong cả nước
Với cách tiếp cận như trên, tác giả mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Pháp
luật đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương” làm Luận văn Thạc sỹ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Việc nghiên cứu, đánh giá thực tiễn và đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam và thực tiễn áp dụng đã được nhiều nhà khoa học và học viên nghiên cứu, trong
đó có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:
- “Sự hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam”, Luận án Tiến sỹ Luật học của Đỗ Nhất Hoàng,
Hà Nội 2001 Tác giả đã nêu ra khái niệm và quá trình hình thành phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, tầm quan trọng của luật đầu tư trong hệ thống pháp luật Việt Nam Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, tác giả đã đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hệ thống đầu tư nước ngoài trong tình hình Việt Nam hiện nay
- “Hoàn thiện pháp luật về đầu tư nước ngoài theo hướng nhất thể hóa pháp luật về đầu tư tại Việt Nam”, Luận án Tiến sỹ Luật học của Nguyễn Khắc Định, Hà Nội 2001 Từ những hạn chế, bất hợp lý trong cơ chế chính sách xúc tiến giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước, tác giả đề xuất giải pháp đồng bộ luật đầu tư nước ngoài và trong nước
- Hoàng Trọng Quang Minh (2007), Lĩnh vực ĐTNN của Đài Loan tại Bình Dương - Một số vấn đề đặt ra đối với công tác an ninh, Luận văn Thạc
sĩ, Học viện An ninh Nhân dân Luận văn đã làm rõ nhận thức về ĐTNN, tình hình đầu tư của Đài Loan tại Bình Dương đến năm 2007 Đánh giá thực trạng
Trang 10và đề xuất giải pháp về công tác an ninh đối với hoạt động đầu tư của Đài Loan trên địa bàn tỉnh Bình Dương
- Đặng Thanh Quang, Luận văn thạc sĩ Luật học, Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý người nước ngoài tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương Tác giả tập trung nghiên cứu về
thực trạng lao động từ nước ngoài đang làm việc tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương và đưa ra các giải pháp khắc phục những hạn chế của công tác quản lý người nước ngoài
- Nguyễn Anh Tuấn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Quan hệ phối hợp giữa lực lượng An ninh và Cảnh sát trong công tác quản lý người nước ngoài cư trú trên địa bàn tỉnh Bình Dương - thực trạng và giải pháp Đề tài tập trung
nghiên cứu về thực trạng mối quan hệ phối hợp giữa lực lượng An ninh và Cảnh sát trong quản lý người nước ngoài cư trú trên địa bàn tỉnh Bình Dương
và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả mối quan hệ này
- Nguyễn Văn Phương (2016), đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh, Vai trò quản lý của nhà nước tác động tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bình Dương
- Phan Quang Thịnh (2019), đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh, Quản
lý Nhà nước về an ninh, trật tự đối với các khu công nghiệp tại tỉnh Bình Dương
Có thể nhận thấy các công trình khoa học nêu trên đã đề cập đến bản chất, thực trạng, chính sách pháp luật của việc đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu dựa trên quy định của Luật đầu tư năm 2005 và 2014, do vậy các nội dung pháp luật chưa được cập nhật chi tiết và đầy đủ theo quy định pháp luật hiện hành Bên cạnh
đó, trong các công trình nghiên cứu nêu trên mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu quy định pháp luật về việc đầu tư nước ngoài vào Việt Nam theo hướng riêng lẻ, chưa tập trung nghiên cứu một cách tổng quan về Pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam và thực tiễn áp dụng Do vậy, luận văn
Trang 11“Pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương” là một công trình nghiên cứu độc lập, chuyên sâu, có tính
hệ thống trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu khoa học về lý luận về vấn đề đầu tư vào nước ngoài, tầm quan trọng của việc hoàn thiện pháp luật đầu tư vào nước ngoài cũng như mối quan hệ trong việc quản lý việc đầu tư hiệu quả vào Việt nam theo quy định của Luật đầu tư năm 2020, phù hợp với lý luận và thực tiễn như yêu cầu của luận văn đề ra
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu làm rõ quy định của pháp luật về đầu tư trực tiếp nước
ngoài và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương, trên cơ sở đó, đề xuất giải
pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, Luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về đầu tư trực tiếp nước
ngoài, pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Nghiên cứu làm rõ đặc điểm tình hình và thực tiễn áp dụng pháp luật
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bình Dương những năm qua
- Đưa ra và luận giải một số kiến nghị, đề xuất góp phần hoàn thiện
pháp luật đầu tư và nâng cao hiệu quả áp dụng tại tỉnh Bình Dương
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài và thực
tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài có phạm vi nội dung rất rộng lớn,
với cấp độ một Luận văn Thạc sỹ, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về luật Đầu
tư và thực tiễn áp dụng luật Đầu tư tại tỉnh Bình Dương theo thẩm quyền của các cơ quan chức năng tỉnh Bình Dương trong giai đoạn 2014 – 2020
Trang 125 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh;
quan điểm, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam; pháp luật của Nhà nước
có liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, Luận văn được thực hiện bởi các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Tác giả tiến hành tập hợp, tra cứu, hệ thống hóa và nghiên cứu tài liệu
có liên quan đến lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài, pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương
+ Phương pháp thống kê - tổng hợp:
Tiến hành thống kê, tổng hợp số liệu, tư liệu, tình hình có liên quan nhằm làm rõ thực tiễn áp dụng pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bình Dương
+ Phương pháp phân tích - so sánh:
Phân tích, so sánh, đánh giá thực trạng, đối chiếu với yêu cầu, đòi hỏi của việc áp dụng pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bình Dương để đưa ra dự báo và đề xuất các giải pháp
+ Phương pháp chuyên gia: tác giả Luận văn sử dụng phương pháp chuyên gia với các hoạt động cụ thể như gặp gỡ trao đổi tranh thủ ý kiến đội ngũ cán bộ lãnh đạo cơ quan quản lý Nhà nước về đầu tư để tham khảo, chắt lọc những ý kiến góp phần giải quyết mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
+ Phương pháp dự báo khoa học: trên sơ sở phân tích đánh giá tình hình thực tế, tác giả Luận văn đưa ra những dự báo về tình hình thu hút đầu tư nước ngoài, những khó khăn, thuận lợi trong thu hút và quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bình Dương làm cơ sở cho việc đưa ra và luận giải những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài thời gian tới
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Ý nghĩa về mặt lý luận: luận văn là công trình chuyên khảo góp phần
Trang 13xây dựng có hệ thống những vấn đề lý luận như: khái niệm, đặc điểm cơ bản
về đầu tư trực tiếp nước ngoài và pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài Đề
tài chỉ ra những định hướng để góp phần hoàn thiện hơn nữa hành lang pháp
lý về đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Ý nghĩa về mặt thực tiễn: kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp một
phần để hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua việc
đưa ra những định hướng và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện hệ thống
pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam hiện nay và nâng cao
hiệu quả áp dụng Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm
tài liệu tham khảo để nghiên cứu pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
Việt Nam và là những chỉ dẫn nghiệp vụ cho các cơ quan quản lý Nhà nước
về đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bình Dương trong thu hút đầu tư và áp dụng
pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được cấu trúc thành 3 chương, gồm:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài và pháp
luật đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Chương 2 Thực trạng pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Bình Dương
Chương 3 Phương hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
áp dụng pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bình Dương
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO
VIỆT NAM 1.1 Một số vấn đề lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 141.1.1 Khái niệm đầu tư nước ngoài và đầu tư trực tiếp nước ngoài
Từ góc độ kinh tế học, hiểu theo nghĩa rộng, “đầu tư” là thuật ngữ chỉ
“sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt kết quả đó” [105, tr.16] Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ
bao gồm “những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó” [105, tr.17]
Theo Từ điển kinh tế học hiện đại: “Đầu tư là thuật ngữ được dùng phổ biến nhất để mô tả các khoản chi tiêu (trong một thời kỳ nhất định) để làm tăng hay duy trì tài sản thực” Tóm lại, có thể định nghĩa đầu tư chính
xác và bao hàm được tất cả yếu tố trên như sau: Đầu tư là những khoản chi tiêu dành cho các dự án sản xuất hàng hóa, những khoản chi tiêu này không
dự định dùng cho tiêu dùng trung gian Các dự án đầu tư có thể có dạng bổ sung vào tài sản vật chất và vốn nhân lực (tài sản con người) cũng như hàng
Theo quan điểm của PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt thì “Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện được các mục tiêu nhất định trong tương lai”.2
Những khái niệm trên đây là những cách tiếp cận chung nhất theo góc
độ lý thuyết về đầu tư, đã chỉ ra được bản chất, mục đích của hoạt động đầu
tư Đó là, nhà đầu tư phải bỏ ra những nguồn lực đang có để tiến hành các hoạt động đầu tư Những hoạt động này sẽ đem lại kết quả lớn hơn trong tương lai không chỉ cho nhà đầu tư mà còn cho cả xã hội Hay nói khác đi, khi tiến hành các hoạt động “đầu tư”, nhà đầu tư luôn luôn mong muốn đem lại lợi nhuận, trước hết là cho bản thân mình
Trang 15
Xét theo phạm vi quốc gia, hoạt động đầu tư có thể diễn ra trong phạm
vi một quốc gia (đầu tư trong nước) và có thể diễn ra trên phạm vi quốc tế (đầu tư nước ngoài)
Trong đời sống kinh tế thế giới, đầu tư nước ngoài là một hiện tượng bình thường Các lý thuyết về đầu tư nước ngoài đã chứng minh cơ sở khoa học của việc xuất hiện hiện tượng đầu tư nước ngoài phần lớn là do yếu tố tỷ
lệ lợi nhuận khác nhau giữa quốc gia đi đầu tư và quốc gia nhận đầu tư
Quá trình đầu tư ra nước ngoài được thực hiện bởi 2 hình thức là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp
Trên cơ sở lý thuyết này, Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển – OECD – đã đưa ra giải thích khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong tài liệu “Định nghĩa chuẩn của OECD về FDI” Theo quan niệm của tổ
chức này thì “FDI phản ánh mục đích thu được lợi nhuận lâu dài của một thực thể thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) tại một thực thể thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp)”
Trong báo cáo về cán cân thanh toán hàng năm, Quỹ tiền tệ quốc tế (IFM) đã
đưa ra khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: “Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư- hosting country), không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư - source country) với mục đích quản lý một cách có hiệu quả doanh nghiệp”3
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được đề cập trong một số văn bản pháp luật của Việt Nam, cụ thể theo khái niệm của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính Phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp Liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo
3
Nguyễn Văn Tuấn (2005), Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế ở Việt Nam, Nxb.Tư pháp, tr.28
Trang 16quy định của Luật này”
Như vậy, thời điểm này khái niệm đầu tư nước ngoài vào Việt Nam còn khá hạn hẹp và dè dặt Tiếp đó, luật đầu tư 2014 đã điều chỉnh thống nhất đầu tư trong nước với đầu tư nhà nước trong Luật đầu tư 2005, theo đó pháp luật không còn quy định như thế nào là Đầu tư trực tiếp nước ngoài Luật đầu tư 2014 tại Khoản 5 Điều 3
quy định chung về đầu tư kinh doanh, cụ thể: “Đầu tư kinh danh là việc nhà đầu tư
bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần góp vốn của các tổ chức kinh tế, đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện đầu tư”
Luật đầu tư năm 2020 kế thừa quy định của luật đầu tư 2014 tiếp tục không có khái niệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mà chỉ có khái niệm về Nhà đầu tư nước ngoài, cụ thể Khoản 19 Điều 3 quy định: “Nhà đầu tư nước ngoài là các cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”
Từ những phân tích trên về Đầu tư trực tiếp nước ngoài, có thể hiểu khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự bỏ vốn dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại nhằm mục tiêu lợi nhuận và cá nhân hay công ty nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư được quyền quản lý hoạt động kinh doanh của mình tại nước mà họ thực hiện hoạt động đầu tư”
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Từ khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài, có thể nhận diện hoạt động đầu tư nước ngoài có những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, về chủ thể thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài là cá nhân,
tổ chức nước ngoài Đặc điểm về chủ thể có tính đặc trưng để phân biệt đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư trong nước Cá nhân nước ngoài là cá nhân không có quốc tịch Việt Nam Tổ chức nước ngoài là chủ thể được thành lập theo quy định của pháp luật nước nơi tổ chức được thành lập không phải là
Trang 17Việt Nam
Thứ hai, về thời hạn đầu tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư dài
hạn Vốn đầu tư vào nước nhận đầu tư là nguồn vốn dài hạn, có tính ổn định Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài có tính dài hạn xuất phát từ việc thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại quốc gia tiếp nhận nguồn vốn đầu tư Hoạt động đầu tư là hoạt động có chu trình kinh doanh từ đầu tư sản xuất, đầu tư kinh doanh đến thu lợi nhuận, mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận lâu dài nên hoạt động đầu tư có tính dài hạn, đặc biệt là dòng vốn từ nước ngoài nên quá trình đầu tư cũng được thực hiện trong thời gian lâu dài Vì vậy, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là vốn có tính dài hạn
Thứ ba, mục đích đầu tư trực tiếp nước ngoài là nhằm tìm kiếm lợi nhuận
Đầu tư nước ngoài là một hình thức kinh doanh của tư nhân, họ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về quyết định và hoạt động của của mình Vì vậy, trong đầu tư trực tiếp nước ngoài, tìm kiếm lợi nhuận là ưu tiên hàng đầu của các nhà đầu tư, do đó, việc tối đa hoá lợi nhuận có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực tới quốc gia tiếp nhận nguồn vốn đầu tư
Thứ tư, trong đầu tư trực tiếp nước ngoài, chủ đầu tư có quyền kiểm soát doanh nghiệp trực tiếp nhận vốn đầu tư của mình Quyền kiểm soát doanh nghiệp
là quyền chi phối các chính sách, hoạt động liên quan đến sự bắt đầu và kết thúc của doanh nghiệp, đồng thời phát triển của công ty thông qua các chiến lược hoạt động, kế hoạch, quyết định phân chia lợi nhuận, quyết định phần vốn góp Quyền kiểm soát doanh nghiệp bắt nguồn từ quyền sở hữu đối với vốn mà nhà đầu tư bỏ ra và từ mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận
Thứ năm, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài phải được sự chấp thuận của nước nhận đầu tư Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài không gây ra những
rủi ro về tài chính cho nước nhận đầu tư nên cũng không ảnh hưởng đến hoạt động chính trị của nước đó Tuy nhiên, mọi hoạt động kinh tế đều nằm dưới
sự giám sát và điều tiết của Nhà nước Quốc gia nhận vốn đầu tư từ nước ngoài cần đưa ra các cơ chế giám sát, xem xét việc cấp phép đầu tư vào các
Trang 18ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh nhất định nhằm cân bằng nền kinh tế, cân đối cơ cấu kinh tế theo phương hướng đã đề ra, tránh đặt mục tiêu lợi nhuận lên cao nhất mà quên mất những phương diện khác của nền kinh tế
1.1.3 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hầu hết các nước đang phát triển đều phải đối mặt với sự khan hiếm yếu tố quan trọng, đóng góp sự phát triển của nền kinh tế như vốn công nghệ, nguồn tri thức kinh doanh Như vậy, các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng phải tích cực tìm kiếm các nguồn mà quốc gia đang thiếu hụt, đó là từ các quốc gia đang phát triển thông qua hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài Sau khi phân tích các quan điểm của các nhà khoa học về ý nghĩa của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, có thể nhận định được thế mạnh của nguồn vốn trực tiếp nước ngoài Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không có nhiều sự lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa các quốc gia Bên cạnh đó, nước ngoài trực tiếp tham gia vào các quá trình hoạt động của doanh nghiệp mình đầu tư bao gồm quản lý sản xuất, kinh doanh nên dự án nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có mức độ khả thi cao, dễ dàng tiếp cận thị trường các quốc gia trong khu vực và thế giới, phát triển xuất nhập khẩu Do lợi nhuận thường đi cùng với từng dự án nên hiệu quả kinh doanh, hiệu quả hoạt động luôn được các nhà đầu tư được đặt lên hàng đầu, họ sử dụng các công nghệ tiên tiến, nâng cao trình độ quản lý và kĩ năng của công nhân Vì vậy, nguồn vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế phát triển tại các quốc gia đầu tư và các quốc gia nhận đầu tư,
cụ thể như sau
- Đối với các nước đầu tư: đầu tư ra nước ngoài giúp tận dụng tối đa
những lợi thế về sản xuất ở quốc gia nhận đầu tư, để từ đó hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lợi nhuận, tạo lập thị trường cung cấp nguyên liệu
ổn định Hơn hữa, đầu tư ra nước ngoài mở rộng mức ảnh hưởng của nền kinh
tế và nâng cao uy tín chính trị của nước đầu tư Thông qua đó, các quốc gia
Trang 19đầu tư phát triển được thị trường tiềm năng tiêu thụ sản phẩm, tránh được
hàng rào bảo hộ mậu dịch của quốc gia nhận đầu tư
- Đối với các nước nhận đầu tư: hiện nay có hai cách thức đầu tư của
vốn đầu tư, thứ nhất là vốn đầu tư vào các nước phát triển, thứ hai là vốn đầu
tư vào các nước đang phát triển
Đối với các nước phát triển, thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nhằm giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong nền kinh tế xã hội như tỷ lệ thất nghiệp cao và lạm phát cao, không ổn định Các tổ chức kinh tế nước ngoài mua lại những công ty, doanh nghiệp đang có nguy cơ bị phá sản thông qua nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, từ đó ngăn chặn sự phá
sản doanh nghiệp, đồng thời hạn chế việc người lao động không có việc làm
Ngoài ra, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài còn đóng góp nguồn thu ngân sách nhà nước dưới hình thức thu thuế, tạo dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và thương mại dịch vụ, góp phần người lao động và người quản lý học hỏi kinh nghiệm, nâng cao kiến
thức và kĩ năng
Đối với các quốc gia đang phát triển, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp
xây dựng những doanh nghiệp mới, giải quyết vấn đề việc làm cho một số bộ phận dân cư, từ đó đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế Theo thống kế của Liên hợp quốc số người thất nghiệp và bán thất nghiệp của các nước đang
phát triển chiếm khoảng 35% đến 38% tổng số lao động
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp các nước đang phát triển
khắc phục tình trạng thiếu vốn kéo dài, tiếp cận với khoa học - kỹ thuật tiên
tiến và học hỏi cách thức quản lý mới, người lao động làm quen với môi trường làm việc công nghiệp, hiện đại
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài giúp các nước phát triển mở rộng thị trường hàng hóa nước ngoài và tăng sự nhận diện đối với các thị trường đó Nhờ sự đầu tư nước ngoài, các công ty tư bản độc quyền của quốc
Trang 20gia có thể đầu tư vào các thị trường mới mẻ, thị trường mà trước đây họ chưa từng nghĩ tới
Đánh thuế các công ty đầu tư cũng là một cách hữu hiệu để tăng thu
năng huy động nguồn vốn phục vụ cho các dự án phát triển
Ngoài những ưu điểm như trên thì đầu tư nước ngoài cũng có nhược
điểm như việc dễ xói mòn vốn nếu đầu tư vào môi trường không có sự ổn định về kinh tế, an ninh, chính trị và xã hội Nếu nước được đầu tư không xây dựng được một kế hoạch đầu tư rõ ràng, cụ thể và hợp lý thì sẽ dẫn đến sự đầu
tư dàn trải, hiệu quả thấp, phung phí tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Để có những bước nhảy vọt trong phát triển kinh tế, các nước phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng phải xây dựng phương hướng và giải pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nhất là FDI
Đối với Việt Nam: Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến nguồn vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài, bởi vì vốn đầu tư nước ngoài có tác động tích cực trong quá trình xây dựng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, cụ thể như sau:
Giúp thúc đẩy tốc độ phát triển, tăng trưởng của nền kinh tế của đất
nước Để đạt được các chỉ tiêu đề ra về phát triển kinh tế xã hội thì tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm phải đạt thấp nhất là 7% và vốn đầu tư phải đạt ít nhất là 22% thu nhập quốc dân mỗi năm Một trong nguồn vốn bổ sung
cơ bản đối với nền kinh tế nước ta là FDI
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đem đến sự phát triển trong quy
mô sản xuất, tạo dựng cơ sở sản xuất, dịch vụ, doanh nghiệp mới, giúp tổng sản phẩm xã hội tăng lên, đồng thời giải quyết phần nào tình trạng thất nghiệp của người dân
Từ việc nhận được nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nước ta còn được hưởng những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến từ các nước phát triển giúp rút ngắn khoảng cách về mặt kinh tế, công nghệ giữa nước ta và thế giới
Trang 21Nguồn vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác hiệu quả những lợi thế tiềm năng của quốc gia mà trước đây không thể thực hiện được do sự non kém về kĩ thuật và vốn đầu tư như khai thác các loại khoáng sản, …
Hơn nữa, chúng ta còn học hỏi được kinh nghiệm về quản lý và phương pháp kinh doanh, thương mại hiệu quả từ các nền kinh tế phát triển trên thế
giới
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thứ nhất, các nhân tố liên quan đến chủ đầu tư
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động mang tính chất tư nhân, nhằm mục đích lợi nhuận và xuất phát từ nhu cầu tự thân của chính các nhà đầu tư Nếu chủ đầu tư có các lợi thế độc quyền riêng thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự lựa chọn đúng đắn bởi họ có thể khai thác triệt để những lợi thế nội bộ hóa các tài sản riêng này Khi nhà đầu tư sở hữu một hoặc một số lợi thế cạnh tranh độc nhất, họ sẽ hạn chế được những rủi ro trong khi cạnh tranh với các doanh nghiệp của quốc gia nhận đầu tư, cụ thể đến từ việc giảm chi phí hoạt động ở nước ngoài Khi mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng các nhà máy ở nước ngoài, nhà đầu tư phải trả nhiều chi phí hơn so với đối thủ cạnh tranh của quốc gia đó do:
Sự khác biệt về văn hóa, luật pháp, thể chế và ngôn ngữ
Thiếu hiểu biết về các điều kiện thị trường nội địa
Chi phí thông tin liên lạc và hoạt động do sự khác biệt về địa lý
Chủ đầu tư cần phải tăng lợi nhuận cao hơn, làm sao bù đắp cho các chi phí đầu tư ở nước ngoài để có thể tồn tại và phát triển lâu dài tại nước được đầu tư Vì vậy, nhà đầu tư cần phải có một hoặc một số các lợi thế độc quyền, không bị chia sẻ, khác biệt so với các đối thủ trên thị trường Các lợi thế này phải là lợi thế riêng biệt của doanh nghiệp, các đối thủ cạnh tranh trên thị trường không có, ví dụ như lợi thế về công nghệ, khoa học kĩ thuật, quy mô
lớn, …
Trang 22Thứ hai, các nhân tố liên quan đến nước chủ đầu tư
Các quốc gia cần xây dựng những phương hướng, giải pháp xúc tiến, thúc đẩy, hỗ trợ các nhà đầu tư trong nước thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, bên cạnh đó, trong một số trường hợp cụ thể, cũng có thể áp dụng biện pháp hạn chế hoặc ngăn chặn đầu tư ra nước khác Các biện pháp khuyến khích đầu tư trực tiếp ra nước ngoài bao gồm tham gia vào các tổ chức quốc
tế, kí kết các hiệp định đa phương hoặc song phương về đầu tư, có liên quan đến đầu tư; Chính phủ đứng ra bảo đảm cho các hoạt động đầu tư ở nước ngoài Do đầu tư ra nước ngoài có thể gặp nhiều bất lợi và rủi ro nên nếu được Chính phủ đứng ra bảo đảm cho các vấn đề liên quan đến rủi ro thì chủ đầu tư sẽ cảm thấy yên tâm và chủ động hơn trong hoạt động đầu tư của mình
Thứ ba, các nhân tố liên quan đến nước nhận đầu tư
Một là, yếu tố môi trường kinh tế của nước nhận đầu tư: Môi trường
kinh tế của nước nhận đầu tư là yếu tố mang ý nghĩa quyết định và được đặt lên hàng đầu Các chủ đầu tư cần tìm kiếm thông tin, xác định một cách cẩn thận những về môi trường kinh tế trước khi thực hiện đầu tư Tùy vào mục đích đầu tư và môi trường kinh tế, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng
sẽ thay đổi, biến chuyển cụ thể Những chủ đầu tư có mục tiêu tìm kiếm thị trường sẽ thường chú ý đến các yếu tố như mức chi của thị trường, thu nhập bình quân đầu người, tốc độ tăng trưởng của thị trường, khả năng mở rộng quy mô bán hàng từ thị trường này đối với thị trường trong khu vực và thế giới, cơ cấu thị trường và xu hướng yêu thích của người tiêu dùng tại thị trường đó Những chủ đầu tư có mục tiêu tìm kiếm nguồn nguyên liệu và tài sản thì sẽ chú trọng đến các vấn đề như tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản, nguồn lao động, công nghệ kĩ thuật, khoa học, phát minh, sáng chế; các cơ sở
hạ tầng giao thông, hệ thống cung cấp năng lượng và mạng lưới thông tin liên lạc,… Những chủ đầu tư có mục tiêu nhằm tăng sự hiệu quả trong kinh doanh
sẽ quan tâm đến chi phí đầu vào như chi phí mua nguyên vật liệu, chi phí
Trang 23nhân công, chi phí vận chuyển, giá vốn hàng bán,… để từ đó cân đối với năng suất lao động và doanh thu nhận được
Hai là, yếu tố về chính sách pháp luật điều chỉnh đầu tư trực tiếp nước
ngoài của nước nhận đầu tư Yếu tố này là cơ sở để xây dựng các quy định pháp luật chặt chẽ hay nới lỏng đối với việc đầu tư và các nhà đầu tư Nó đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến việc nó đang góp phần thúc đẩy hay hạn chế sự đầu tư vào nước này Do đó, các chủ đầu tư đều có mong muốn nước mình thực hiện đầu tư có hành lang pháp lý, quy định pháp luật rõ ràng
và minh bạch, đảm bảo các chủ đầu tư thực hiện được các quyền và nghĩa vụ của mình Hệ thống pháp luật về đầu tư cần bao gồm những quy định về thuế, mức thuế suất, sự phân chia lợi nhuận, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh Phương hướng, cơ chế, chính sách về vấn đề sinh lợi của vốn đầu tư, bởi nó đảm bảo cho sự phát triển của vốn đầu tư ban đầu Vì vậy nó có ảnh hướng rất lớn đến việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Ba là, yếu tố tạo thuận lợi trong kinh doanh Các yếu tố này bao gồm
chính sách đầu tư Yếu tố này bao gồm cơ chế, chính sách về đầu tư, quy định
về ưu đãi thuế, thúc đẩy đầu tư, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực như nạn tham nhũng và thay đổi thủ tục hành chính nhanh, gọn để hoạt động của bộ máy nhà nước hoạt động trơn tru, tạo điều kiện hết sức cho các nhà đầu tư Bên cạnh đó, các dịch vụ hậu đầu tư cũng cần chú trọng và lưu ý nhằm mục đích đảm bảo chất lượng cuộc sống cho các nhà đầu tư nước ngoài
Thứ tư, các nhân tố liên quan đến môi trường hợp tác kinh doanh quốc tế
Yếu tố này thuộc môi trường kinh tế, chính trị, liên quan đến việc xã hội toàn cầu có đang ổn định hay không, môi trường chính trị như thế nào, có đang thuận lợi cho quốc gia chủ đầu tư mang quốc tịch và quốc gia nhận đầu
tư không Nền kinh tế, chính trị, xã hội ổn định thì các chủ đầu tư sẽ yên tâm hơn, không sợ rủi ro liên quan đến mất vốn, hoặc hạn chế kinh doanh Hợp tác quốc tế chính là xu thế toàn cầu, kéo các nước có nền kinh tế khác biệt gần nhau hơn, đảm bảo sự dịch chuyển nguồn lực giữa các nước một các hiệu quả,
Trang 24đặc biệt là nguồn vốn Với sự thay đổi hiện nay của từng quốc gia và cả thế giới về nền chính trị, cách nhìn nhận vấn đề về toàn cầu hóa đã ảnh hưởng đáng kể đến đầu tư trực tiếp nước ngoài Các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới cần sử dụng các nguồn lực một cách hợp lý, khai thác các lợi thế của
quốc gia mình cũng như quốc gia cùng hợp tác
1.2 Một số vấn đề lý luận về pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào Việt Nam
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài
Nhà nước thông qua pháp luật ghi nhận các quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài khi hoạt động đầu tư vào một quốc gia từ đó quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Từ sự phân tích về đầu tư, đầu tư nước ngoài và đầu tư trực tiếp nước ngoài nêu trên cũng như cách hiểu khái niệm mang tính phổ quát về pháp luật nói chung, có thể nêu định nghĩa về pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau:
Pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận để điều chỉnh những quan
hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam là hoạt động được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật Ngoài ra, pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng bao gồm các điều ước quốc tế song phương và đa phương được Việt Nam tham gia như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); Hiệp định thương mại tự do Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA) Những điều ước quốc tế này hàm chứa nhiều quy định liên quan đến việc điều chỉnh các quan hệ đầu tư trực tiếp được pháp luật Việt Nam thừa nhận và được coi là nguồn của Pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đặc điểm của pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 25Pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài là hệ thống các quy tắc xử sự chung, do đó mang đầy đủ những đặc điểm của một hệ thống pháp luật nói chung, ngoài ra sẽ mang những đặc điểm riêng biệt để thể hiện đầy đủ tính chất của đầu tư nước ngoài Do đó, pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm như sau:
Một là, pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài là cơ sở pháp lý để nhà
đầu tư nước ngoài thực hiện các hoạt động đầu tư trực tiếp tại Việt Nam, là hệ thống quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc nhằm điều chỉnh hành vi của các nhà đầu tư nước ngoài để thực hiện đầu tư một cách hiệu quả, với mục đích cuối cùng là thu hút nguồn lực bên ngoài phục vụ cho sự phát triển của đất nước; ngăn chặn những hành vi lợi dụng đầu tư nước ngoài để xâm phạm lợi ích hợp pháp của Việt Nam
Hai là, pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài được xây dựng dựa trên
cơ sở nền tảng khoa học kinh tế đầu tư, khoa học quản lý và những khoa học liên ngành có liên quan tới hoạt động đầu tư nước ngoài
Ba là, pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài quy định trách nhiệm của
cơ quan nhà nước nhà để đảm bảo quản lý Nhà nước đối với đầu tư nước ngoài được hiệu quả Bằng trách nhiệm của mình, cơ quan quản lý Nhà nước
tổ chức, thực hiện các công việc như: điều tra cơ bản nhu cầu, điều kiện thu hút đầu tư nước ngoài; hoạch định chiến lược thu hút đầu tư; xây dựng hệ thống danh mục ưu đãi, hạn chế, cấm thu hút đầu tư ngoài; thanh tra thực hiện pháp luật về đầu tư nước ngoài và xử lý vi phạm trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài
Bốn là, Pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài quy định quyền, nghĩa vụ
của nhà đầu tư nước ngoài, buộc các chủ thể này điều chỉnh hành vi, tuân thủ, thực hiện nghiêm chỉnh những quy định của pháp luật về đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định các chế tài sẽ áp dụng trong trường hợp các nhà đầu tư nước ngoài không tuân thủ, thực hiện nghiêm túc các quy định về đầu tư nước ngoài
Trang 261.2.2 Nội dung pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài
Nội dung pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam gồm những vấn đề chính như sau:
Thứ nhất, các quy định về chủ thể của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
Việt Nam là các tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động đầu tư thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Quy định về chủ thể là một quy định quan trọng, nó quyết định phạm vi quản
lý của Nhà nước đối với lĩnh vực này
Thứ hai, các quy định về hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Pháp
luật Việt Nam quy định về hình thức đầu tư và nội dung của hình thức đó một cách rõ ràng, minh bạch Các nhà đầu tư có thể lựa chọn theo các hình thức như doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, liên doanh, hợp doanh hay hợp đồng đầu tư
Thứ ba, các quy định về ngành nghề, địa bàn, ưu đãi, bảo đảm đầu tư trực tiếp nước ngoài Ngoài ra, pháp luật còn có quy định về xúc tiến và hạn
chế đầu tư từ vốn đầu tư nước ngoài Những quy định này nhằm mục đích đảm bảo sự ổn định chính trị, xã hội, cân bằng cơ cấu kinh tế, đạt được các mục tiêu quốc gia đề ra
Thứ tư, các quy định về thủ tục đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.3 Vai trò của pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thứ nhất, pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài thừa nhận, có các biện
pháp khuyến khích các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài chính là sự bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam
Xu hướng toàn cầu hóa, sự phân công lao động xã hội đã khiến tất cả các nước hòa nhập vào nền kinh tế trên thế giới Trong bối cảnh đó, việc tách biệt, đóng cửa với thế giới của một quốc gia sẽ đẩy quốc gia đó cách xa khỏi sự tiến bộ về văn hóa, khoa học kỹ thuật của xã hội Việc thu hút nguồn vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài là một phương pháp thu hút vốn kinh doanh hiệu quả,
nó đã và đang trở nên rất phổ biến tại rất nhiều quốc gia trên thế giới Pháp
Trang 27luật quy định về đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đã mang lại lợi ích quốc gia khi biến nó trở thành công cụ để khuyến khích, hỗ trợ, bảo đảm quyền và lợi ích để các doanh nghiệp nước ngoài mạnh dạn đầu tư vốn, thu được lợi nhuận kinh doanh đáng kể cho đất nước Nhờ sự công nhận từ pháp luật mà các quan hệ đầu tư liên quan đến nước ngoài ở Việt Nam phát sinh, từ
đó định hướng được sự phát triển của các quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Thứ hai, pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài là công cụ quản lý của
Nhà nước về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Quan hệ về đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam có tính chất cơ bản của nền kinh tế thị trường nên sẽ có những hạn chế nhất định như tính tự phát, chạy theo tối
đa hóa lợi nhuận, không quan tâm đến lợi ích xã hội Do đó, các quy định pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài thực sự trở thành là một công cụ quản lý hiệu quả của Nhà nước để khai thác mặt tích cực và hạn chế tối đa mặt tiêu cực của hoạt động này
Thứ ba, pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần thúc đẩy sự
hoàn thiện của hệ thống pháp luật của Việt Nam về đầu tư Pháp luật về đầu
tư trực tiếp nước ngoài là một bộ phận pháp luật quan trọng làm phát sinh nhu cầu nội sinh của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Các quy định trong pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng cải thiện, tiến bộ hơn, rõ ràng, minh bạch và thống nhất, giúp khung pháp lý đầu tư trực tiếp nước ngoài phù hợp với thông lệ quốc tế về đầu tư, từ đó xúc tiến quá trình hội nhập kinh tế
của Việt Nam với thế giới
Thứ tư, pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những yếu tố
tạo nên lợi thế cạnh tranh quốc tế trong phát triển kinh tế Pháp luật về đầu tư nước ngoài tiến bộ, thông thoáng sẽ là một lợi thế cạnh tranh, hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Môi trường đầu tư cần luôn được chú trọng và hoàn thiện hơn trong bối cảnh cạnh tranh không chỉ trong nước mà cả nước ngoài như hiện nay Cách biệt tương đối lớn về nhu cầu và khả năng cung cấp vốn đầu
Trang 28tư trực tiếp khiến sự cạnh tranh thu hút nguồn vốn nước ngoài giữa các nước tăng lên mạnh mẽ Phần lớn các nước, bao gồm cả các quốc gia trong ASEAN đều đang thực hiện chỉnh sửa, bổ sung và cải thiện các quy định pháp luật để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài hơn Chính vì vậy, pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn luôn phải hoàn thiện khiến môi trường đầu tư thêm hấp
dẫn, tối đa hóa lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia
1.2.4 Những yêu cầu đối với pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài
Có thể thấy việc xây dựng hệ thống pháp luật đầu tư trực tiếp nước
ngoài là rất cần thiết và phải dựa trên những cơ sở sau:
Thứ nhất, xây dựng hệ thống pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài phải
xuất phát từ thực tiễn Có thể thấy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa đưa nền kinh tế của đất nước đòi hỏi nguồn lực vô cùng lớn để có thể tăng trưởng mạnh mẽ, nâng cao đời sống của các cá nhân trong xã hội Tuy nhiên, khi làn sóng đầu tư nước ngoài tràn vào Việt Nam cũng sẽ kéo theo nhiều hệ lụy về môi trường sinh thái, về xã hội Các tổ chức, cá nhân vì mục tiêu lợi nhuận mà đã lờ đi nhiệm vụ bảo vệ môi trường như việc không xây dựng hệ thống xả thải theo quy định, không áp dụng công nghệ xử lý nước thải mà thay vào đó là việc xả thải trực tiếp ra môi trường nước; đầu tư bằng dây chuyền công nghệ, thiết bị lạc hậu… Chính vì vậy, hệ thống pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài phải được xây dựng dựa trên cơ sở thực tế các mối quan hệ trong xã hội, các hành vi của chủ thể trong xã hội, theo đó hệ thống pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài cần đặt trong mối quan hệ tương thích với các lĩnh vực khác, phải tiên lượng và kịp thời thay đổi để điều chỉnh các hành vi gây thiệt hại cho phía Việt Nam
Thứ hai, xây dựng hệ thống pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài phải dựa
trên cơ sở khoa học kinh tế đầu tư, khoa học quản lý mới mẻ, hiện đại, thông thoáng Có như vậy mới có thể thu hút tốt nhất những nguồn lực từ bên ngoài
Thứ ba, cần tạo ra và hoàn thiện những điều kiện cần thiết cho việc
thực thi pháp luật về đầu tư nước ngoài
Trang 29Có thể thấy, việc xây dựng hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễm
môi trường hoàn chỉnh và đầy đủ là điều kiện cần, tuy nhiên, để các quy định pháp luật về đầu tư nước ngoài phát huy được tính khả thi, đạt hiệu quả cao trong việc thu hút, quản lý tư nước ngoài thì rất cần điều kiện đủ - đó là những điều kiện để đảm bảo cho việc thực hiện pháp luật về đầu tư nước ngoài Cụ thể để đảm bảo cho việc thực hiện pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài hiệu quả cần những điều kiện nhất định như sau:
Hệ thống các quy định pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài phải thống nhất, rõ ràng, hoàn chỉnh, toàn diện và khả thi để có thể đạt hiệu quả trong việc đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó, những chế tài quy định tại hệ thống pháp luật này cần có đủ sức răn đe đối với các chủ thể trong xã hội liên quan lĩnh vực đầu tư nước ngoài
Cần có hệ thống cơ quan nhà nước để thi hành các quy định của pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài, các cơ quan nhà nước này được phân chia trách nhiệm, thẩm quyền một cách hợp lý không bị chồng chèo, ngoài ra cần xây dựng bộ máy quản lý đầu tư nước ngoài theo hướng tinh gọn, nhanh nhạy, chính xác Bên cạnh đó, phải thực hiện công tác bồi dưỡng nghiệp vụ đối với cán bộ chuyên trách trong các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Cần làm tốt việc phổ biến, giáo dục pháp luật đến các cá nhân, cơ quan,
tổ chức có liên quan lĩnh vực đầu tư nước ngoài để các chủ thể này hiểu, nắm được ý nghĩa và tầm quan trọng to lớn của thu hút đầu tư nước ngoài để các chủ thể có thể vận dụng và tuân thủ pháp luật một cách tốt nhất
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tóm lại, Chương 1 đề cập đến những nội dung chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài xuất hiện cùng với quá trình toàn
cầu hóa kinh tế, việc thu hút nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp nước ngoài đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với việc thúc đẩy kinh tế đất nước Tìm hiểu bản chất và các yếu tố ảnh hướng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ giúp các nhà quản lý kinh tế điều tiết được nền kinh tế vĩ mô của đất nước
Trang 30Thứ hai, nhận thức rõ vai trò quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài,
Nhà nước ta đã ban hành nhiều các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau quy định cụ thể hoạt động này Việc nghiên cứu pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, giúp ta có được cái nhìn tổng quan về cách thức thu hút, chính sách thu hút của Nhà nước ta cũng như những hạn chế trong
các quy định pháp luật để có phương hướng hoàn thiện hơn
Thứ ba, nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật đầu tư trực tiếp
nước ngoài như: khái niệm, đặc điểm, bản chất, mục đích, vai trò, của pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, là cơ sở lý luận cho việc
nghiên cứu và tìm hiểu các quy định của pháp luật thực định
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀO VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI
TỈNH BÌNH DƯƠNG 2.1 Thực trạng pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt
Nam
2.1.1 Quy định về chủ thể đầu tư trực tiếp nước ngoài
Cơ sở đầu tiên để xây dựng được bộ quy định về điều kiện và thủ tục
đầu tư đối với chủ đầu tư nước ngoài sao cho phù hợp với thông lệ quốc tế và
các ngành luật khác chính là xác định được khái niệm nhà đầu tư nước ngoài
Khoản 3 Điều 5 Luật đầu tư 2005 quy định về khái niệm nhà đầu tư nước
ngoài như sau: “Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ
vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam” Tuy nhiên, quy định trên lại
không đưa ra những căn cứ cụ thể để xác định yếu tố nước ngoài mà để xác
định cần dẫn chiếu đến Bộ luật dân sự 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài để giải thích Việc chưa quy định một cách rõ ràng, minh bạch trong
luật đầu tư hiện hành gây ra nhiều lúng túng trong việc áp dụng Chính bất
cập này là nguyên nhân chính gây ra những khó khăn trong việc áp dụng các
quy định về điều kiện và thủ tục đầu tư đối với chủ đầu tư nước ngoài
Để tạo cơ sở pháp lý áp dụng thống nhất quy định về vấn đề này, Luật
Đầu tư năm 2020 đã định nghĩa cụ thể hơn về nhà đầu tư nước ngoài dựa trên
căn cứ vào quốc tịch, nơi đăng ký thành lập của cá nhân, tổ chức nước ngoài,
theo đó tại khoản 19 Điều 3 Luật Đầu tư (2020) quy định: “Nhà đầu tư nước
ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật
nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam” Quy định
này của Luật đầu tư năm 2020 đã xác định tiêu chí cơ bản và quan trọng nhất
khi xác định nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Đây là quy định cụ thể, dễ áp
dụng trên thực tế, qua đó dễ dàng xác định được
Trang 322.1.2 Quy định về hình thức đầu tư
Đối với hình thức đầu tư, việc nhân loại được quy định vào cách thức nhà đầu tư đưa tiền vào thị trường để thu lợi nhuận Ba hình thức đầu tư phổ biến được biết đến hiện nay là Đầu tư sở hữu; Đầu tư cho vay và Đầu tư tiền – tương đương tiền Luật đầu tư của hầu hết các nước chỉ quy định về hình thức đầu tư sở hữu Trong hình thức đầu tư sở hữu có hai hình thức cụ thể thường được pháp luật của các nước quy định là đầu tư thành lập pháp nhân mới và đầu tư thông qua việc mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đã tồn tại
Ví dụ, theo luật đầu trực tiếp của Thỗ Nhĩ Kỳ quy định hai hình thức đầu tư:
“Đầu tư thành lập mới một công ty hoặc chi nhánh của nhà Đầu tư nước ngoài, đầu tư mua cổ phần của một công ty hoặc chi nhánh công ty đã được thành lập ở Thổ Nhĩ Kỳ”; Khoản 3 Điều 5 Luật Đầu Tư số 25 năm 2007 của Indonesia cũng quy định: “Nhà đầu tư được đầu tư theo hình thức thành lập doanh nghiệp hoặc mua cổ phần, trong đó đối với trường hợp thành lập doanh nghiệp nhà đầu tư được yêu cầu phải mua cổ phần của công ty vào thời điểm công ty được thành lập” Những quy định nêu trên có điểm tương đồng đối với các hình thức đầu tư quy định tại Chương IV Hoạt động đầu tư tại Việt Nam – Luật đầu tư năm 2020, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện thông qua các hình thức sau: (i) Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế; (ii) Đầu tư góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp; (iii) Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC
Thứ nhất, về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế
Đầu tư thành tập tổ chức kinh tế là việc các nhà đầu tư bỏ vốn để thành lập mới các cơ sở kinh doanh hoặc góp vốn vào vốn điều lệ để nắm quyền quản lý của đơn vị kinh doanh đang hoạt động
Luật Đầu tư năm 2020 quy định nếu đáp ứng được điều kiện về ngành nghề và điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài thì nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập tổ chức kinh tế tại Việt Nam Nhà đầu
Trang 33tư nước ngoài có thể lựa chọn các mô hình doanh nghiệp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2020 như: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần Tại điểm c Khoản 1 Điều 22
Luật Đầu tư năm 2020 quy định: “Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, trừ trường hợp thành lập doanh nghiệp nhỏ
và vừa khởi nghiệp sáng tạo và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo theo quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.” Quy định này đã cụ thể,
rõ ràng hơn về quy trình, thủ tục, điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài khi thực hiện hoạt động kinh doanh tại Việt Nam
Luật Đầu tư năm 2020 cũng tiếp thu những tiến bộ của Luật Đầu tư năm 2014 khi quy định rõ hơn về hoạt động đầu tư của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Thứ hai, về đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn
góp vào tổ chức kinh tế
Luật đầu tư năm 2020 quy định các nhà đầu tư có quyền góp vốn, mua
cổ phần góp vốn vào các tổ chức kinh tế được thành lập và đang hoạt động Hình thức này cho phép nhà đầu tư trở thành thành viên, cổ đông của tổ chức kinh tế đó Trường hợp các nhà đầu tư tiếp cận vào thị trường Việt Nam nhưng không muốn thành lập tổ chức mới có thể thực hiện theo hình thúc góp vốn, mua cổ phần vốn góp vào tổ chức kinh tế đang hoạt động tại Việt Nam
Luật Đầu tư năm 2020 quy định tại khoản 2 Điều 24: “Việc nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế phải đáp ứng các quy định, điều kiện sau đây: Điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài; Bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định; Quy định của pháp luật về đất đai về điều kiện nhận quyền sử dụng đất, điều kiện sử dụng đất tại đảo, xã, phường, thị trấn biên giới, xã, phường, thị trấn ven biển.”
Trang 34Hình thức góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài được quy định tại Điều 25 Luật đầu tư 2020, theo đó bao gồm những loại sau: (i) Mua cổ phần phát hành lần đầu hoặc cổ phần phát hành thêm của công ty cổ phần; (ii) Góp vốn vào công ty TNHH, công ty Hợp danh; (iii) Góp vốn vào tổ chức kinh tế khác không thuộc quy định trên
Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần vốn góp thông qua các hình thức quy định tại Khoản 2 Điều 25 Luật đầu tư 2020: (i) Mua cổ phần của công ty cổ phần từ công ty hoặc cổ đông; (ii) Mua phần vốn góp của các thành viên góp vốn trong công ty Hợp danh để trở thành thành viên của công
ty trách nhiệm hữu hạn; (iii) Mua phần vốn góp của thành viên công ty hợp danh để trở thành thành viên góp vốn của công ty hợp danh; (iv) Mua phần vốn góp của thành viên tổ chức kinh tế khác không thuộc trường hợp quy định tại các điều trên
Có thể thấy, đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào tổ chức kinh tế đã trở thành một hình thức đầu tư phổ biến, được nhiều nhà đầu tư ưu chuộng So với thủ tục thành lập tổ chức kinh tế thì việc đầu tư theo hình thức góp vốn có thủ tục đơn giản hơn, tiết kiệm thời gian thực hiện, chi phí nhà xưởng và các chi phí kinh doanh khác mà tổ chức kinh
tế trong nước đã xây dựng Không chỉ vậy, nhà đầu tư nước ngoài thông qua hình thức này vô hình chung còn được hưởng những giá trị vô hình mà những doanh nghiệp trong nước đã tạo dựng được trước đó Điều mà những doanh nghiệp mới thành lập phải mất nhiều thời gian mới thực hiện được
Thứ ba, Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC
Luật đầu tư năm 2014 quy định đầu tư theo hình thức hợp đồng bao gồm hai loại là: Hợp đồng đối tác công tư “PPP” và Hợp đồng hợp tác kinh doanh “BCC” Tuy nhiên, Luật Đầu tư năm 2020 đã lược bỏ quy định đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP mà chỉ giữ lại quy định về hợp đồng BCC
Trang 35Hợp đồng BCC là hợp đồng hợp tác kinh doanh được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh để phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm
mà không thành lập tổ chức kinh tế Nếu PPP là hình thức hợp đồng công – tư thì BCC điều chỉnh quan hệ tư nhân, theo tinh thần luật dân sự Ghi nhận hình thức hợp đồng BCC, Luật đầu tư 2020 đã quy định cụ thể về hợp đồng BCC, hình thức, nội dung và các trường hợp được thực hiện hợp đồng BCC trong các điều 27, 28 Do tính chất hợp tác đầu tư trên cơ sở hợp đồng và không thành lập tổ chức kinh tế, nên Hợp đồng và các bộ phận không thể tách rời của nó được coi như căn cứ xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên
Luật Đầu tư năm 2020 quy định về hợp đồng BCC trong khoản 2 Điều
27 như sau: “Hợp đồng BCC được ký kết giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài hoặc giữa các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư” Hình thức đầu tư này là hình thức khá phổ
biến khi nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam
2.1.3 Quy định về ngành nghề và địa bàn đầu tư
Luật Đầu tư năm 2014, Luật Đầu tư năm 2020 quy định nhà đầu tư có quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề mà Luật này không cấm Đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thì nhà đầu tư phải đáp ứng các điều kiện đầu tư kinh doanh
Xuất phát từ mục đích bảo vệ an ninh quốc phòng, đảm bảo ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, pháp luật đầu tư đã có những quy định cụ thể về lĩnh vực cấm đầu tư Các lĩnh vực cấm đầu tư được quy định cụ thể tại Điều 6 Luật Đầu tư năm 2020 Tuy nhiên, để tạo cơ sở thực thi, áp dụng quy định tại Điều 33 Hiến pháp về việc mọi người có quyền tự do đầu tư, kinh doanh trong ngành nghề mà luật không cấm thì cần phải xây dựng danh sách các ngành nghề, lĩnh vực cấm đầu tư kinh doanh, hạn chế đầu tư kinh doanh, đầu
tư kinh doanh có điều kiện trong một văn bản pháp luật Từ đó tăng tính minh bạch của pháp luật về vấn đề hạn chế đầu tư, cấm đầu tư Trong Luật Đầu tư
Trang 362014 và Luật Đầu tư năm 2020, 51 lĩnh vực, ngành nghề, hàng hóa, dịch vụ bị cấm trước đây được thu hẹp xuống còn 8 ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh
và được quy định tại Điều 6 của Luật Tất cả 8 ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh quy định tại Điều này đều đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành nhưng được tổng hợp trong Luật Đầu tư năm 2020 để làm
rõ hơn quy định về quyền tự do kinh doanh của công dân Những ngành, nghề không quy định ở luật là những ngành, nghề không có hạn chế về đầu tư kinh doanh đối với người dân, doanh nghiệp
Như vậy, bước nhảy vọt mang tính quyết định của Luật đầu tư năm
2020 là việc xây dựng được hành lang pháp lý minh bạch, rõ ràng để bảo đảm thực hiện nguyên tắc công dân có quyền tự do đầu tư kinh doanh trong các ngành nghề mà luật không cấm thông qua các quy định về ngành nghề cấm đầu tư và đầu tư kinh doanh có điều kiện Tuy nhiên, Luật Đầu tư năm 2020 với việc ban hành kèm theo phụ lục liệt kê chi tiết các ngành nghề, lĩnh vực hạn chế kinh doanh, cấm kinh doanh thiết nghĩ là chưa thật sự phù hợp Bởi trên thực tế là các lĩnh vực này có thể thay đổi nhanh chóng tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, yêu cầu quản lý của Nhà nước cũng như kết quả đàm phán của Việt Nam về mở cửa thị trường theo các điều ước quốc
tế Do đó, việc ban hành danh mục các ngành nghề trong chính văn bản luật
sẽ khó trong việc sửa đổi, không tạo tính ổn định, lâu dài của một đạo luật
2.1.4 Quy định về các biện pháp ưu đãi đầu tư
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đưa ra những chính sách thúc đẩy và kìm chế đầu tư nước ngoài phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó trong một khoảng thời gian nhất định Chính sách này được thể hiện dưới hình thức các danh mục lĩnh vực khuyến khích, hạn chế hoạt động đầu tư nước ngoài Một số nước không đưa ra Danh mục các lĩnh vực khuyến khích đầu tư nước ngoài, mà chỉ đưa ra các Danh mục các lĩnh vực cấm hoặc hạn chế đầu tư, ngoài các lĩnh vực này, Nhà nước cho phép chủ
Trang 37đầu tư tiến hành đầu tư và đề nghị được hưởng một số ưu đãi nếu đáp ứng một số điều kiện mà pháp luật quy định Mỗi quốc gia có thể thực hiện nhiều biện pháp khác nhau để hạn chế nhà đầu tư nước ngoài như hạn chế về sở hữu vốn tối đa và tối thiểu của nhà đầu tư nước ngoài, hạn chế về địa bàn, thị trường tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, yêu cầu việc sử dụng khai thác nguyên liệu trong nước, yêu cầu chuyển giao công nghệ, mức độ sử dụng lao động Tuy nhiên, các hiệp định song phương và đa phương mà quốc gia đã kí kết đã xóa
bỏ hầu hết những hạn chế nói trên Trong giai đoạn gần đây, phương thức hạn chế đầu tư nước ngoài được áp dụng chủ yếu ở các quốc gia là quy định về giới hạn sở hữu vốn tối đa của nhà đầu tư nước ngoài và lĩnh vực kinh doanh Các nước thường xây dựng các danh mục cấm đầu tư, khuyến khích đầu tư, đầu tư có điều kiện Việt Nam cũng xây dựng các quy định pháp luật về hình thức và đối tượng ưu đãi đầu tư, cụ thể tại Điều 15 Luật đầu tư năm 2020 Ngoài ra, Luật đầu tư năm 2020 còn các quy định cụ thể ngành nghề, địa bàn
ưu đãi đầu tư tại Điều 16, thủ tục áp dụng ưu đãi đầu tư tại Điều 17 Với những quy định cụ thể, rõ ràng, minh bạch, pháp luật đầu tư tạo ra những chính sách thu hút đầu tư nước ngoài tốt trong những năm trở lại đây So với Luật đầu tư năm 2014, Luật Đầu tư năm 2020 có thêm một số hình thức ưu đãi đầu tư như:
Một là, Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
Hai là, Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu
Ba là, Miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất; Bốn là, Khấu hao nhanh, tăng mức chi phí được trừ khi tính thu nhập
chịu thuế
2.1.5 Thủ tục đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tiếp tục ghi nhận những điểm tiến bộ của Luật Đầu tư năm 2014 so với các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư trước năm 2014, Luật Đầu tư năm
Trang 382020 giữ nguyên các điểm phù hợp của Luật Đầu tư năm 2014 về thủ tục đầu
tư trực tiếp nước ngoài
Một là, Luật đã bỏ bớt một số thủ tục để tinh gọn thủ tục gia nhập thị
trường của các nhà đầu tư như thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư trong nước Đây không phải là hành vi không công bằng giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước, mà là giải pháp để đơn giản hóa thủ tục gia nhập thị trường của các nhà đầu tư
Hai là, Luật đấu thầu năm 2020 đã tinh gọn các trình tự, thủ tục và đặc
biệt là thời gian thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với
cả nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài từ 45 ngày trước đây (Điều 37 Luật đầu tư năm 2005) xuống còn 14 ngày Luật cũng đã chỉnh sửa,
bổ sung một số quy định nhằm mục tiêu thúc đẩy và tăng tính hiệu quả khi thực hiện dự án đầu tư, cụ thể bao gồm bổ sung quy định về bảo đảm nghĩa vụ thực hiện dự án của nhà đầu tư dưới hình thức ký quỹ; bổ sung về quy định giám định chất lượng máy móc, thiết bị, công nghệ nhập khẩu, chỉnh sửa các quy định về chuyển nhượng dự án đầu tư, giãn tiến độ đầu tư, tạm ngừng, chấm dứt hoạt động đầu tư và thu hồi giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo hướng xác định chính xác, rõ ràng được điều kiện, thủ tục thực hiện hoạt động đầu tư, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của nhà đầu tư và thẩm quyền giải quyết của cơ quan Nhà nước
Ba là, thay đổi, cải tiến quy trình thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư
nước ngoài theo hướng giảm các yêu cầu cấp giấy chứng nhận đầu tư, giấy chứng nhận kinh doanh, cần tách riêng các giấy tờ này đối với các hoạt động đầu tư theo dự án và hoạt động kinh doanh Địa vị pháp lý của doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài cũng đã được làm rõ, từ đó làm tiền đề để áp dụng thống nhất các điều kiện và thủ tục đầu tư theo hướng chỉ các doanh nghiệp
có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trên 50% vốn hoặc doanh nghiệp có các doanh nghiệp nêu trên nắm giữ trên 50% vốn mới phải áp dụng (theo Luật
Trang 39đầu tư năm 2014 thì phải nắm giữ trên 51% trở lên) Điểm thay đổi với Luật Đầu tư năm 2020 phù hợp với thông lệ quốc tế
2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bình Dương
2.2.1 Đặc điểm tình hình tỉnh Bình Dương ảnh hưởng đến thu hút đầu tư nước ngoài
Bình Dương là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, Việt Nam Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Bình Dương hiện nay là thành phố Thủ Dầu Một, cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh 30km theo đường Quốc lộ 13 Bên cạnh các địa danh mang đậm dấu ấn lịch sử như Phú Lợi, Bàu Bàng, Bến Súc, Lai Khê, Nhà Đỏ và đặc biệt là chiến khu Đ với trung tâm là huyện Tân Uyên (nay là huyện Bắc Tân Uyên và thị xã Tân Uyên), vùng Tam giác sắt, Bình Dương còn có khu du lịch Đại Nam – khu du lịch lớn nhất Đông Nam
Á, thu hút một lượng lớn khách du lịch trong nước và quốc tế
Bình Dương có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng, là trung tâm kinh tế văn hóa xã hội của cả nước có các trục giao thông huyết mạch của quốc gia chạy qua, thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội toàn diện Trong những năm gần đây, mức độ tăng trưởng kinh tế luôn đạt mức cao, GDP bình quân tăng khoảng 14,5%/ năm Cơ cấu kinh tế có sự thay đổi tích cực, công nghiệp, dịch
vụ tăng trưởng mạnh và luôn là lĩnh vực kinh tế chính của Bình Dương từ năm 2010 đến năm 2020 với tỷ trọng trung bình của công nghiệp – xây dựng
Bình Dương là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của phía Nam, có tốc độ phát triển kinh tế nhanh và mạnh, là địa điểm hấp dẫn các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư kinh doanh Tỉnh Bình Dương có
quốc tế đến tư duy, lối sống của người Bình Dương hiện nay
Trang 40Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Nam và Tây Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh Diện tích tự
Tỉnh Bình Dương có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 4 huyện, 3 thành phố và 2 thị xã; 91 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 42 xã, 45 phường và 04 thị trấn (gồm 03 thành phố là Thủ Dầu Một, Dĩ An, Thuận An,
2 thị xã là Bến Cát, Tân Uyên và 04 huyện: Dầu Tiếng, Phú Giáo, Bắc Tân Uyên, Bàu Bàng) Với vị trí địa lý thuận lợi, Bình Dương đã trở thành tâm điểm thu hút vốn đầu tư cả trong nước lẫn nước ngoài
Sau khi thực hiện đường lối đổi mới từ năm 1986 và ban hành Luật đầu
tư nước ngoài năm 1987 thì nền kinh tế Việt Nam đã có sự chuyển biến toàn diện và tích cực, nhất là thu hút đầu tư nước ngoài Vào những năm 1995 -
1998, tỉnh Bình Dương đã bắt đầu “làm công nghiệp” với sự xuất hiện của Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore (viết tắt là Vsip I với quy mô 500 ha), Khu công nghiệp Sóng Thần I (quy mô 178,1 ha), Khu công nghiệp Sóng Thần II (quy mô 279,2 ha), với tổng cộng 2.833 cơ sở sản xuất công nghiệp
2.2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật đầu tư nước ngoài ở tỉnh Bình Dương
2.2.2.1 Cấp phép đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Bình Dương
Trong những năm gần đây, Bình Dương đang là một trong 3 tỉnh đứng đầu về việc thu hút nguồn vốn nước ngoài
Tính từ tháng 01/2020 đến ngày 31/10/2020, Bình Dương đã thu hút được 967,5 triệu USD, giảm 52,7% so với cùng kỳ, (trong đó: có 113 dự án mới với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 665 triệu USD, giảm 46,7% so với cùng kỳ; 81 lượt dự án điều chỉnh vốn đầu tư với vốn tăng thêm 302,5 triệu
Minh