26: Phân bố số loài cây gỗ theo các lớp H đối với những ưu hợp Dầu cát... Xác định đa dạng loài cây gỗ đối với những quần xã thực vật Đa dạng sinh vật là sự đa dạng và sự biến động bên
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Trần Đăng Thảo xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Học viên cam đoan
Trần Đăng Thảo
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành theo chương trình đào tạo Thạc sĩ lâm học, khóa 2016 - 2018 của Trường Đại lâm nghiệp
Trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp, tác giả đã nhận được
sự quan tâm, giúp đỡ và tạo những điều kiện thuận lợi của Ban Giám Hiệu, Phòng sau đại học và Thầy – Cô Khoa lâm học, khoa tài nguyên và môi trường Nhân dịp này, tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc trước sự quan tâm và giúp đỡ qúy báu đó
Luận văn này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Kiều Mạnh Hưởng, Khoa Tài nguyên và Môi trường – Phân hiệu Trường Đại học lâm nghiệp Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự chỉ dẫn chân tình của thầy hướng dẫn
Trong quá trình làm luận văn, tác giả còn nhận được sự giúp đỡ của đồng nghiệp và các bạn trong cùng khóa học Tác giả xin chân thành cảm ơn và ghi nhớ sự giúp đỡ quý báu đó
Đồng Nai, tháng 12 năm 2018
Trần Đăng Thảo
Trang 3TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm học của ưu hợp Dầu cát (Dipterocarpus
costatus) trong rừng kín thường xanh hơi ẩm nhiệt đới tại Khu bảo tồn thiên
nhiên Bình Châu – Phước Bửu thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” Thời gian nghiên cứu từ tháng 8/2018 – 10/2018 Mục tiêu của đề tài là xác định những đặc điểm lâm học của ưu hợp Dầu cát để làm cơ sở khoa học cho việc quản lý rừng và bảo tồn đa dạng loài cây gỗ Địa điểm nghiên cứu được đặt tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu Số liệu thu thập bao gồm 6 ô tiêu chuẩn điển hình với kích thước 0,20 ha và 60 ô dạng bản với kích thước 16 m2
Số liệu được xử lý theo phương pháp phân tích quần xã thực vật
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng tổng số loài cây gỗ bắt gặp trong những ưu hợp Dầu cát là 55 loài thuộc 42 chi của 30 họ Thành phần loài cây gỗ trong những ưu hợp Dầu cát có sự tương đồng rất cao (CS > 75%) Phân bố N/D đối với những ưu hợp Dầu cát đều có dạng phân bố giảm Phân bố N/H đối với những ưu hợp Dầu cát có dạng phân bố một đỉnh lệch trái; trong đó số cây tập trung nhiều nhất ở cấp H = 10 m Dầu cát phân bố ở mọi cấp D và cấp H Chỉ số hỗn giao của những loài cây gỗ trong những ưu hợp Dầu cát là tương tự như nhau Chỉ số phức tạp về cấu trúc quần thụ và chỉ số cạnh tranh tán gia tăng dần theo sự ưu thế của Dầu cát trong quần xã thực vật Những ưu hợp Dầu cát đều
có khả năng tái sinh tự nhiên khá tốt, nhưng phần lớn cây tái sinh chỉ tồn tại ở cấp H < 100 cm Thành phần cây tái sinh có sự tương đồng rất cao với thành phần cây mẹ Dầu cát cũng có khả năng tái sinh tự nhiên rất tốt, nhưng phần lớn cây tái sinh chỉ tồn tại ở cấp H < 100 cm
Trang 4ABSTRACT
The thesis “Study on the silvicultural characteristics of Dipterocarpus
costatus Dominations in tropical evergreen tropical moist forest at Binh Chau -
Phuoc Buu Nature Reserve in Ba Ria - Vung Tau province" Study time is from 8/2018 - 10/2018 The objective of this reserch is to identify the forest
characteristics of Dipterocarpus costatus Dominations to provide a scientific
basis for forest management and preservation of tree species diversity The site
is located in Binh Chau - Phuoc Buu Nature Reserve Data collected included 6 sampled plots with the size of 0.20 ha and 60 subplots with the size of 16 m2 The data were analyzed using the tree community analysis methods
The results show that the total number of tree species caught in the
Dipterocarpus costatus Dominations is 55 species belonging to 42 genera of 30
families The composition of the tree species in the Dipterocarpus costatus Dominations is very similar (CS> 75%) The N/D distribution for Dipterocarpus
costatus Dominations has a reduced distribution N/H distribution distributes a
left apex The highest number of trees at H class is 10 m Dipterocarpus
costatus is distributed in all classes D and H The mixed index of the tree
species in the Dipterocarpus costatus Dominations is similar Structure complex
indexes and rivalry index increase gradually according to the dominance of
Dipterocarpus costatus in stands Dipterocarpus costatus Dominations has good
natural regeneration ability, but the majority of regenerated trees only exist at class H < 100 cm.The composition of regenerated trees is very similar with the
composition of the mother tree Dipterocarpus costatus also has a good natural
regeneration ability, but most regenerate tree only exist at class H <100 cm
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT iv
MỤC LỤC v
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH SÁCH CÁC BẢNG ix
DANH SÁCH CÁC HÌNH xi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Ý nghĩa của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam 3
1.2 Những vấn đề nghiên cứu trong lâm học 5
1.3 Phương pháp phân tích quần xã thực vật rừng 5
1.3.1 Phân tích vai trò của các loài cây gỗ trong QXTV 5
1.3.2 Phương pháp mô tả cấu trúc rừng 5
1.3.3 Xác định đa dạng loài cây gỗ đối với những QXTV 7
1.4 Những nghiên cứu về rừng Sao Dầu 8
1.5 Phương pháp thu mẫu trong nghiên cứu lâm học 9
1.6 Thảo luận 9
Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 11
2.1 Vị trí địa lý 11
2.2 Khí hậu – thủy văn 11
2.3 Địa hình và thổ nhưỡng 11
2.4 Tài nguyên rừng 12
Trang 6VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 13
3.1.1 Mục tiêu tổng quát 13
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 13
3.2 Đối tượng nghiên cứu 13
3.3 Phạm vi nghiên cứu 13
3.4 Nội dung nghiên cứu 13
3.5 Phương pháp nghiên cứu 14
3.5.1 Phương pháp luận 14
3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu 14
3.5.3 Phương pháp phân tích số liệu 18
3.5.4 Công cụ xử lý số liệu 24
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 Kết cấu họ và kết cấu loài cây gỗ đối với những ưu hợp Dầu cát 25
4.1.1 Phân chia những nhóm ưu hợp Dầu cát 25
4.1.2 Kết cấu loài cây gỗ đối với nhóm UhDaucat<30% 27
4.1.3 Kết cấu loài cây gỗ đối với nhóm UhDaucat>30% 28
4.1.4 So sánh kết cấu loài cây gỗ đối với những UhDaucat 29
4.2 Cấu trúc quần thụ đối với những ưu hợp Dầu cát 31
4.2.1 Kết cấu mật độ, tiết diện ngang và trữ lượng gỗ theo nhóm D 31
4.2.2 Kết cấu mật độ, tiết diện ngang và trữ lượng theo lớp chiều cao 33
4.2.3 Phân bố số cây theo cấp đường kính 35
4.2.4 Phân bố số cây theo cấp chiều cao 45
4.2.5 Phân bố số loài cây gỗ theo lớp chiều cao 53
4.2.6 Tính phức tạp về cấu trúc đối với những ưu hợp Dầu cát 55
4.3 Chỉ số cạnh tranh giữa những cây gỗ trong ưu hợp Dầu cát 56
4.3.1 Xây dựng hàm ước lượng đường kính tán cây gỗ 56
4.3.2 Xây dựng những hàm ước lượng chỉ số diện tích tán theo cấp H 57
Trang 74.3.3 Chỉ số cạnh tranh tán theo các cấp chiều cao 58
4.3.4 Chỉ số cạnh tranh tán đối với những loài cây gỗ 61
4.4 Đặc điểm tái sinh tự nhiên đối với những ưu hợp Dầu cát 64
4.4.1 Đặc điểm tái sinh tự nhiên đối với nhóm UhDaucat<30% 64
4.4.2 Đặc điểm tái sinh tự nhiên đối với nhóm UhDaucat>30% 67
4.4.3 So sánh tái sinh tự nhiên đối với những ưu hợp Dầu cát 71
4.5 Đa dạng loài cây gỗ đối với những ưu hợp Dầu cát 73
4.6 Thảo luận 74
4.6.1 Kết cấu loài cây gỗ 74
4.6.2 Cấu trúc quần thụ 75
4.6.3 Tái sinh tự nhiên đối với những ưu hợp Dầu cát 76
4.6.4 Đa dạng loài cây gỗ 76
4.6.5 Đề xuất áp dụng kết quả nghiên cứu 76
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 78
1 Kết luận 78
2 Tồn tại 78
3 Kiến nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 8D (cm) Đường kính thân cây ngang ngực
DT (m) Đường kính tán cây
H (m) Chiều cao vút ngọn
g và G (m2) Tiết diện ngang thân cây và quần thụ
IVI% Chỉ số giá trị quan trọng của loài cây gỗ
LT (m) Chiều dài tán cây
MAE Sai số tuyệt đối trung bình (Mean Absolute Error)
MAPE (%) Sai số tuyệt đối trung bình theo phần trăm (Mean Absolute
Percent Error)
M (m3/ha) Trữ lượng gỗ thân cây/ha
N (cây/ha) Mật độ cây gỗ
Se Sai số chuẩn của số trung bình/ước lượng
ST (m2) Diện tích tán cây
SSR Tổng bình phương sai lệch (Sum of Square Residuals)
V (m3) Thể tích thân cây và lâm phần
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 4 1: Kết cấu họ cây gỗ đối với những UhDaucat 25
Bảng 4 2: Kết cấu loài cây gỗ đối với những UhDaucat 26
Bảng 4 3: Kết cấu loài cây gỗ đối với nhóm UhDaucat <30% 27
Bảng 4 4: Kết cấu loài cây gỗ đối với nhóm UhDaucat >30% 29
Bảng 4 5: Kết cấu loài cây gỗ đối với hai nhóm UhDaucat 30
Bảng 4 6: Kết cấu N, G và M theo nhóm D đối với nhóm UhDaucat <30% 31
Bảng 4 7: Kết cấu N, G và M theo nhóm D đối với nhóm UhDaucat >30% 32
Bảng 4 8: Kết cấu N, G và M theo lớp H đối với nhóm UhDaucat <30% 33
Bảng 4 9: Kết cấu N, G và M theo lớp H đối với nhóm UhDaucat >30% 34
Bảng 4 10: Đặc trưng thống kê đường kính đối với hai nhóm UhDaucat 36
Bảng 4 11: Phân bố N/D thực nghiệm đối với hai nhóm UhDaucat 37
Bảng 4 14: Những hàm phân bố N/D đối với những ưu hợp Dầu cát 40
Bảng 4 15: Phân bố số cây theo cấp đường kính đối với UhDaucat <30% 42
Bảng 4 16: Phân bố số cây theo cấp đường kính đối với UhDaucat >30% 42
Bảng 4 17: Phân bố số cây Dầu cát theo cấp đường kính trong nhóm UhDaucat <30% 43
Bảng 4 18: Phân bố số cây Dầu cát theo cấp đường kính trong nhóm UhDaucat >30% 44
Bảng 4 19: Đặc trưng thống kê phân bố chiều cao đối với hai nhóm UhDaucat 46
Bảng 4 20: Phân bố N/H thực nghiệm đối với hai nhóm UhDaucat 46
Bảng 4 21: Những hàm phân bố N/H đối với hai nhóm UhDaucat 48
Bảng 4 22: Ước lượng số cây theo cấp chiều cao đối với nhóm UhDaucat <30% 49
Bảng 4 23: Ước lượng số cây theo cấp chiều cao đối với nhóm UhDaucat >30% 50
Bảng 4 24: Phân bố số cây Dầu cát theo cấp chiều cao trong nhóm UhDaucat <30% 51
Bảng 4 25: Phân bố số cây Dầu cát theo cấp chiều cao trong nhóm UhDaucat >30% 52
Bảng 4 26: Phân bố số loài cây gỗ theo các lớp H đối với những ưu hợp Dầu cát Tổng hợp từ 3 ô tiêu chuẩn 0,20 ha 53
Bảng 4 27: Hệ số tương đồng về loài cây gỗ giữa các lớp H đối với nhóm UhDaucat <30% 54
Bảng 4 28: Hệ số tương đồng về loài cây gỗ giữa các lớp H đối với nhóm UhDaucat >30% 54
Bảng 4 29: Chỉ số hỗn giao đối với UhDaucat 55
Trang 10Bảng 4 30: Chỉ số phức tạp về cấu trúc đối với UhDaucat 56
Bảng 4 31: Những hàm ước lượng chỉ số diện tích tán theo cấp chiều cao dựa theo hai biến N và H đối với những ưu hợp Dầu cát 57
Bảng 4 32: Chỉ số cạnh tranh tán theo cấp chiều cao đối với nhóm UhDaucat <30% 58
Bảng 4 33: Chỉ số cạnh tranh tán theo cấp chiều cao đối với nhóm UhDaucat >30% 59
Bảng 4 34: Chỉ số cạnh tranh tán đối với những loài cây gỗ trong nhóm UhDaucat <30% 61
Bảng 4 35: Chỉ số cạnh tranh tán đối với những loài cây gỗ trong nhóm UhDaucat >30% 62
Bảng 4 36: Kết cấu loài cây tái sinh tự nhiên đối với nhóm UhDaucat <30% 64
Bảng 4 37: Phân bố cây tái sinh theo cấp H đối với nhóm UhDaucat <30% 65
Bảng 4 38: Nguồn gốc cây tái sinh dưới tán của nhóm UhDaucat <30% 66
Bảng 4 39: Chất lượng cây tái sinh đối với nhóm UhDaucat <30% 67
Bảng 4 40: Kết cấu loài cây tái sinh tự nhiên đối với nhóm UhDaucat >30% 68
Bảng 4 41: Phân bố cây tái sinh theo cấp H đối với nhóm UhDaucat >30% 69
Bảng 4 42: Nguồn gốc cây tái sinh dưới tán của nhóm UhDaucat >30% 69
Bảng 4 43: Chất lượng cây tái sinh đối với nhóm UhDaucat >30% 70
Bảng 4 44: Phân bố N/H đối với cây tái sinh dưới tán những UhDaucat 71
Bảng 4 45: Nguồn gốc cây tái sinh đối với những UhDaucat 71
Bảng 4 46: Chất lượng cây tái sinh đối với những ưu hợp Dầu cát 72
Bảng 4 47: Những chỉ số đa dạng loài cây gỗ đối với nhóm UhDaucat <30% 73
Bảng 4 48: Những chỉ số đa dạng loài cây gỗ đối với nhóm UhDaucat >30% 73
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 3 1: Sơ đồ mô tả các bước phân tích đặc trưng của ưu hợp Dầu cát 15
Hình 3 2: Sơ đồ bố trí dải vẽ trắc đồ rừng trong ô tiêu chuẩn 16
Hình 3 3: Sơ đồ bố trí ô dạng bản để xác định tái sinh tự nhiên của ưu hợp Dầu cát 17
Hình 4 1: Phân bố N/D thực nghiệm đối với nhóm UhDaucat <30% 37
Hình 4 2: Phân bố N/D thực nghiệm đối với nhóm UhDaucat >30% 38
Hình 4 3: Đồ thị biểu diễn phân bố N/D đối với nhóm UhDaucat <30% được làm phù hợp với phân bố mũ và phân bố Beta 39
Hình 4 4: Đồ thị biểu diễn phân bố N/D đối với nhóm UhDaucat >30% được làm phù hợp với phân bố mũ và phân bố Beta 39
Hình 4 5: Đồ thị biểu diễn phân bố N/D đối với đối với nhóm UhDaucat <30% được làm phù hợp với hàm phân bố mũ 40
Hình 4 6: Đồ thị biểu diễn phân bố N/D đối với nhóm UhDaucat >30% được làm phù hợp với hàm phân bố mũ 41
Hình 4 7: Biểu đồ biểu thị phân bố tỷ lệ số cây của Dầu cát theo cấp đường kính trong nhóm UhDaucat <30% 44
Hình 4 8: Biểu đồ biểu thị phân bố tỷ lệ số cây của Dầu cát theo cấp đường kính trong nhóm UhDaucat >30% 45
Hình 4 9: Đồ thị biểu diễn phân bố N/H đối với UhDaucat <30% 47
Hình 4 10: Đồ thị biểu diễn phân bố N/H đối với UhDaucat >30% 47
Hình 4 11: Đồ thị biểu diễn phân bố N/H đối với nhóm UhDaucat <30% 48
Hình 4 12: Đồ thị biểu diễn phân bố N/H đối với nhóm UhDaucat >30% 49
Hình 4 13: Biểu đồ biểu thị phân bố số cây Dầu cát theo cấp chiều cao trong nhóm UhDaucat <30% 51
Hình 4 14: Biểu đồ biểu thị phân bố số cây Dầu cát theo cấp chiều cao trong nhóm UhDaucat >30% 52
Hình 4 15: Đồ thị biểu diễn quan hệ giữa D T (m) với D (cm) và H (m) đối với những cây gỗ trong ưu hợp Dầu cát 56 Hình 4 16: Đồ thị biểu diễn chỉ số cạnh tranh tán theo cấp chiều cao đối với nhóm
Trang 12Hình 4 17: Đồ thị biểu diễn chỉ số cạnh tranh tán theo cấp chiều cao đối với nhóm UhDaucat >30% 59 Hình 4 18: Đồ thị biểu diễn sự tích lũy chỉ số cạnh tranh tán theo cấp chiều cao đối với hai nhóm ưu hợp Dầu cát 60 Hình 4 19: Đồ thị biểu diễn chỉ số cạnh tranh tán đối với những loài cây gỗ trong nhóm UhDaucat <30% 62 Hình 4 20: Đồ thị biểu diễn chỉ số cạnh tranh tán đối với những loài cây gỗ trong nhóm UhDaucat >30% 63
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Bình Châu - Phước Bửu có tổng diện tích tự nhiên là 10.880 ha (100%); trong đó rừng tự nhiên là 8.017 ha (86,1%) Mục đích thành lập khu bảo tồn này là bảo vệ hệ sinh thái rừng phân bố ven biển, bảo vệ và cải thiện môi trường, chống cát bay, phát triển du lịch sinh thái
và những giá trị đa dạng sinh học khác
Theo Phân Viện điều tra quy hoạch rừng Nam Bộ (2014)[17], phần lớn rừng tự nhiên tại KBTTN Bình Châu - Phước Bửu là rừng kín thường xanh hơi
ẩm nhiệt đới (Rkx) Kiểu Rkx đã thống kê được 750 loài của 123 họ; trong đó những loài cây gỗ thuộc họ Sao Dầu đóng vai trò ưu thế Ngoài ra, kiểu rừng
này còn bắt gặp những loài cây gỗ quý như Cẩm lai Bà Rịa (Dalbergia bariensis Pierre), Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa (Kurz) Craib), Gõ mật (Sindora siamensis Teysm), Giáng hương (Pterocarpus macrocarpus), Bình linh nghệ (Vitex
ajugaeflora Dop) và Dầu cát (Dipterocarpus costatus)
Để bảo vệ và nâng cao chức năng và vai trò của các hệ sinh sinh thái rừng, khoa học và thực tiễn cần phải có những hiểu biết tốt về các đặc tính của rừng Trước đây đã có một số công trình nghiên cứu về kiểu rừng kín thường xanh hơi
ẩm nhiệt đới tại KBTTN Bình Châu – Phước Bửu (Võ Văn Sung, 2000 [22]; Nguyễn Văn Quyết, 2010[18]; Phân Viện điều tra quy hoạch rừng Nam Bộ (2014)[17]) Tuy vậy, những nghiên cứu này vẫn chưa làm sáng tỏ vai trò của những loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế trong Rkx tại KBTTN Bình Châu – Phước Bửu Những ưu hợp cây họ Sao Dầu là những QXTV đóng vai trò ưu thế sinh thái trong Rkx ở miền Đông Nam Bộ (Thái Văn Trừng, 1999)[19] Phần lớn cây họ Sao Dầu là những cây gỗ lớn Gỗ của chúng có thể được sử dụng để làm nhà, đóng tàu thuyền và làm đồ gia dụng Vì thế, cây họ Sao Dầu là mối quan tâm to lớn của các nhà khoa học và quản lý rừng Tuy vậy, cho đến nay
Trang 14khoa học và thực tiễn vẫn còn thiếu những thông tin về đặc trưng lâm học của những QXTV với ưu thế cây họ Sao Dầu Điều đó đã dẫn đến những khó khăn cho quản lý rừng và khai thác những lợi ích từ rừng
Xuất phát từ những lý do nêu trên, đề tài này nghiên cứu kết cấu loài cây
gỗ, cấu trúc quần thụ, đa dạng loài cây gỗ và tình trạng tái sinh tự nhiên của ưu hợp Dầu cát thuộc Rkx tại KBTTN Bình Châu – Phước Bửu thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
2 Ý nghĩa của đề tài
Kết quả của nghiên cứu này mang lại những ý nghĩa khác nhau Về lý luận,
đề tài cung cấp những thông tin để xác định đặc tính sinh thái của ưu hợp Dầu cát thuộc Rkx ở khu vực ven biển Về thực tiễn, đề tài cung cấp những căn cứ khoa học để xây dựng những biện pháp quản lý rừng và bảo tồn đa dạng loài cây
gỗ đối với Rkx tại khu vực ven biển thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam
Theo Thái Văn Trừng (1999)[19], rừng nhiệt đới bao gồm hai loại hình quần thể là quần hệ và xã hợp Các quần hệ thực vật được phân loại dựa theo sự khác biệt về hình thái và cấu trúc Trái lại, các xã hợp thực vật được phân loại dựa theo thành phần loài cây; trong đó tiêu chuẩn phân chia xã hợp là những ưu hợp thực vật Những ưu hợp thực vật được phân chia dựa theo thành phần loài
và tỷ trọng của chúng Đơn vị phân loại cơ sở của thảm thực vật rừng Việt Nam
là kiểu thảm thực vật Mỗi kiểu thảm thực vật được hình thành dưới chế độ khí hậu nhất định Theo nguồn gốc phát sinh, thảm thực vật rừng Việt Nam có thể được phân chia thành kiểu thảm thực vật nguyên sinh và kiểu thảm thực vật thứ sinh
Một kiểu thảm thực vật có thể hình thành trên những môi trường khác nhau Vì thế, một kiểu thảm thực vật có thể được phân chia nhỏ thành những kiểu phụ Mặt khác, một kiểu phụ cũng có thể có các loài cây ưu thế khác nhau
Do đó, các kiểu phụ thảm thực vật cũng có thể được phân chia nhỏ thành những
xã hợp thực vật khác nhau Tùy theo kết cấu loài cây gỗ ưu thế, các xã hợp thực vật lại được phân chia thành các đơn vị nhỏ hơn như quần hợp thực vật, ưu hợp thực vật và phức hợp thực vật Quần hợp thực vật là quần xã thực vật có tỷ lệ cá thể (hoặc thể tích) của 1-2 loài cây gỗ ưu thế chiếm trên 90% số lượng cá thể (hoặc thể tích) của các loài cây trong thảm thực vật Ưu hợp thực vật là quần xã thực vật có tỷ lệ cá thể (hoặc thể tích) của khoảng dưới 10 loài cây ưu thế chiếm
40 - 50% tổng số lượng cá thể (hoặc thể tích) của các loài Phức hợp thực vật là quần xã thực vật có độ ưu thế của các loài cây phân hóa không rõ
Thái Văn Trừng (1999)[19] cũng cho rằng nhóm nhân tố địa lý - địa hình (độ kinh, độ vĩ, độ lục địa, địa hình, địa chất, độ cao, độ dốc, hướng phơi ) có ảnh hưởng lớn nhất đến sự phát sinh thảm thực vật rừng Việt Nam Trong nhóm
Trang 16này, độ vĩ và độ cao đóng vai trò lớn nhất Theo đó, các kiểu thảm thực vật có thể được liên kết thành nhóm theo các vành đai độ cao và độ vĩ Trong một điều kiện địa lý - địa hình nhất định, hình thái và cấu trúc của thảm thực vật lại phụ thuộc vào điều kiện khí hậu - thủy văn Ở Việt Nam chế độ nhiệt có vai trò lớn hơn chế độ ẩm Vì thế, các kiểu thảm thực vật có thể được phân chia thành những đơn vị nhỏ hơn tùy theo chế độ khô ẩm khác nhau Nhóm nhân tố khu hệ thực vật có ảnh hưởng đến các kiểu phụ miền thực vật Theo đó, các kiểu phụ thực vật cũng có thể được phân chia dựa theo nguồn gốc của những khu hệ thực vật Sự khác biệt về đá mẹ - thổ nhưỡng có ảnh hưởng lớn đến thảm thực vật
Do đó, các kiểu phụ miền thực vật có thể được phân chia thành những loại hình thực vật thổ nhưỡng khác nhau Nhóm nhân tố sinh vật - con người có ảnh hưởng đến qúa trình phát sinh những kiểu phụ thực vật nhân tác Những kiểu phụ nhân tác bao gồm hai nhóm; trong đó một nhóm hình thành trên đất rừng nguyên trạng, còn một nhóm hình thành trên đất rừng đã bị thoái hóa
Theo Thái Văn Trừng (1999)[19], các kiểu thảm thực vật được phân chia theo 4 tiêu chuẩn cơ bản: dạng sống ưu thế của tầng lập quần, độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái sinh thái của lá và trạng mùa của tán lá Tên của kiểu thảm thực vật bao gồm hai phần lớn Phần thứ nhất chỉ rõ đặc trưng hình thái và cấu trúc của thảm thực vật Phần thứ hai biểu thị chế độ khô ẩm tương ứng với các kiểu thảm thực vật Những kiểu phụ miền thực vật, kiểu phụ thổ nhưỡng và kiểu phụ nhân tác được đặt tên dựa theo thành phần loài cây và độ ưu thế của chúng Ngoài ra, tên gọi của các kiểu phụ còn có thêm một số từ như
“thân thuộc” để chỉ sự gần gũi với một hệ thực vật nào đó, hoặc “trên” để chỉ rừng phát sinh trên loại đất nào đó, hoặc “sau” để chỉ sau tác động của con người
Trang 171.2 Những vấn đề nghiên cứu trong lâm học
Richards (1965)[15] và Thái Văn Trừng (1999)[19] đã chỉ ra rằng, những đặc trưng lâm học cần được làm rõ là điều kiện hình thành rừng, tổ thành loài cây, cấu trúc tầng thứ, cấu trúc tuổi, quá trình tái sinh và hình thành rừng, diễn thế rừng
1.3 Phương pháp phân tích quần xã thực vật rừng
1.3.1 Phân tích vai trò của các loài cây gỗ trong quần xã thực vật
Vai trò của những loài cây gỗ trong QXTV là mức độ ảnh hưởng của chúng đến QXTV và môi trường (Kimmins, 1998 [28]) Trong sinh thái học và lâm học, vai trò sinh thái của các loài cây gỗ trong QXTV rừng có thể được xác định theo nhiều phương pháp khác nhau Curtis và McIntosh (1951; dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2002, 2010 [12, 13]) đã sử dụng chỉ số giá trị quan trọng của loài (IVI%) để biểu thị cho vai trò của loài trong QXTV Chỉ số IVI% được tính bằng tổng hoặc giá trị trung bình của ba tham số: độ thường gặp tương đối (F%), mật độ tương đối (N%) và tiết diện ngang thân cây tương đối (G%) Chỉ
số IVI được xác định theo hai phương pháp của Curtis và McIntosh có nhược điểm là nó thay đổi tùy theo kích thước và số lượng ô mẫu Ngoài ra, khi số lượng ô mẫu rất lớn, thì việc tính chỉ tiêu F sẽ gặp khó khăn Để khắc phục nhược điểm này, Thái Văn Trừng (1999)[19] đã xác định chỉ số IVI% của các loài cây gỗ bằng giá trị trung bình của ba tham số: N%, G% và V% (thể tích thân cây tương đối)
1.3.2 Phương pháp mô tả cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng biểu thị những thành phần (loài cây gỗ, đường kính, chiều cao…) và sự tổ chức và sắp xếp của chúng theo không gian (chiều ngang và chiều đứng) và thời gian (Nguyễn Văn Thêm, 2002 [12])
Nghiên cứu phương pháp mô tả và phân tích cấu trúc rừng là mối quan tâm của các nhà sinh thái học và lâm học Davis và Richards (1934, 1936; dẫn theo Thái Văn Trừng, 1999 [19]) đã mô tả sự phân tầng và vị trí của những loài cây
Trang 18gỗ trong tán rừng bằng những biểu đồ phẫu diện đứng và ngang Phương pháp này cũng đã được Thái Văn Trừng (1999)[19] áp dụng để mô tả cấu trúc của các kiểu rừng hỗn loài tự nhiên ở Việt Nam Bằng phương pháp này, Thái Văn Trừng (1999)[19] đã phân chia cấu trúc đứng của rừng hỗn loài tự nhiên nhiệt đới ở Việt Nam ở giai đoạn ổn định thành 5 tầng khác nhau: (1) tầng vượt tán (A1), (2) tầng ưu thế sinh thái (A2), (3) tầng dưới tán (A3), (4) tầng cây bụi (B), (5) tầng cỏ quyết (C) Phương pháp biểu đồ phẫu diện rừng có thể được sử dụng trong phân loại rừng và xác định động thái biến đổi của rừng theo thời gian và theo các phương thức lâm sinh (Thái Văn Trừng, 1999)[19] Tuy vậy, phương pháp biểu đồ phẫu diện có nhược điểm là không thể định lượng chính xác cấu trúc rừng Để khắc phục những thiếu sót này, nhiều nhà lâm học đã mô tả và phân tích cấu trúc rừng bằng những mô hình toán Theo Nguyễn Hải Tuất (1982, 1990)[8, 9], phân bố N/D và phân bố N/H đối với rừng thuần loài đồng tuổi có thể được mô phỏng bằng các hàm khác nhau như hàm phân bố chuẩn, hàm phân bố khoảng cách, hàm phân bố Weibull, hàm phân bố Gamma và hàm phân bố Lognormal Nguyễn Hải Tuất (1982)[8] và Nguyễn Văn Trương (1984)[10] cũng đã áp dụng hàm phân bố Meyer để mô tả và phân tích phân bố N/D đối với rừng hỗn loài tự nhiên ở giai đoạn ổn định Sau này nhiều nhà lâm học khác cũng áp dụng những mô hình toán để phân tích cấu trúc của các kiểu rừng khác nhau (Lê Minh Trung, 1991[6]; Lê Sáu, 1996[7]; Vũ Tiến Hinh, 2012 [12]; Vũ Mạnh, 2016 [24, 25])
Rừng mưa nhiệt đới có cấu trúc rất phức tạp (Whitmore, 1998)[31] Đặc tính này có thể được mô tả bằng nhiều phương pháp khác nhau Holdridge và ctv (1967) (Dẫn theo Cintrón và ctv, 1984 [27]) đã xác định tính phức tạp về cấu trúc rừng bằng chỉ số phức tạp về cấu trúc quần thụ (SCI = Structure Complixity Index) Chỉ số SCI là một số bằng tích số của 4 đặc tính quần thụ: mật độ quần thụ (N, cây), số loài cây gỗ (S, loài), tiết diện ngang thân cây (G, m2) và chiều cao trung bình của quần thụ (H, m)
Trang 19Tính phức tạp về thành phần loài cây gỗ trong các QXTV là mối quan tâm lớn của lâm học Đặc tính này có thể được đánh giá bằng chỉ số hỗn giao Nguyễn Văn Trương (1984)[10] đã biểu thị chỉ số hỗn giao bằng tỷ lệ giữa số loài cây gỗ (S) và mật độ (N) quần thụ trong những ô mẫu
1.3.3 Xác định đa dạng loài cây gỗ đối với những quần xã thực vật
Đa dạng sinh vật là sự đa dạng và sự biến động bên trong các cơ thể sống
và các hệ sinh thái Các nhà sinh học định nghĩa đa dạng sinh học là tổng số nguồn gien, tổng số loài và tổng số hệ sinh thái của một khu vực nhất định (Magurran, 2004)[29] Bởi vì sự sống trên trái đất tồn tại chủ yếu ở dạng loài, nên thuật ngữ “Đa dạng sinh vật” thường được sử dụng với nghĩa là “Đa dạng loài” (Magurran, 2004)[29]
Theo Whittaker (1972)[30], đa dạng sinh vật trong một cảnh quan hay một khu vực địa lý nhất định là đa dạng gamma (γ - diversity) Đa dạng gamma cho biết sự giàu có về loài của những quần xã khác nhau trong một cảnh quan hay một khu vực địa lý nào đó Đa dạng gamma bao gồm đa dạng alpha (α-diversity)
và đa dạng beta (β-diversity) Đa dạng alpha là đa dạng sinh vật trong một vi
môi trường sống nhất định hoặc một ô mẫu nhất định Đa dạng alpha được xác định bằng những chỉ số đa dạng loài bình quân trong một quần xã sinh vật nhất
định Đa dạng beta là đa dạng loài của nhiều quần xã sinh vật trong những môi
trường khác nhau Đa dạng beta được xác định bằng cách gộp chung nhiều quần
xã trong những môi trường khác nhau Nói chung, giá trị của các chỉ số đa dạng alpha, beta và gamma thay đổi tùy theo phạm vi đối tượng thu mẫu
Đa dạng sinh vật của một khu vực nào đó được đo bằng ba số đo: sự giàu
có về loài, đa dạng loài và tính đồng đều về độ phong phú hay độ ưu thế của loài (Kimmins, 1998[28]; Magurran, 2004 [29]) Sự giàu có về loài của QXTV thường được xác định theo chỉ số Margalef và chỉ số Menhinick Đa dạng loài
có thể xác định theo những chỉ số đa dạng khác nhau; trong đó thông dụng là chỉ
số đa dạng Simpson (1949) và chỉ số đa dạng Shannon-Weiner (1948, 1949)
Trang 20(Magurran, 2004)[29] Chỉ số ưu thế Simpson hoặc chỉ số đa dạng Simpson được sử dụng để xác định đa dạng sinh vật của những quần xã sinh vật
Gini-ở một môi trường nhất định (đa dạng alpha) Chỉ số đa dạng Shannon - Weiner được sử dụng để so sánh đa dạng sinh vật giữa những môi trường sống khác nhau Chỉ số đồng đều của các loài trong QXTV cũng được đo đạc bằng những chỉ số khác nhau; trong đó thông dụng là chỉ số Pielou (1969) (Magurran, 2004)
Đa dạng sinh vật cũng là vấn đề được nhiều nhà khoa học Việt Nam quan tâm Nhiều nhà lâm học và sinh thái học (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1999[14]; Lê Quốc Huy, 2005[5]; Viên Ngọc Nam, 2005[21]; Bộ khoa học công nghệ và môi trường, 2007[2]) đã biên soạn những tài liệu và sách hướng dẫn về phương pháp nghiên cứu đa dạng sinh học Cao Thị Lý (2008)[4] đã nghiên cứu đa dạng thực
vật của một số khu bảo tồn thiên nhiên vùng Tây Nguyên Nguyễn Văn Quyết
(2010)[18] đã nghiên cứu đa dạng thực vật thân gỗ tại KBTTN Bình Châu – Phước Bửu; trong đó chủ yếu định danh và mô tả thành phần loài theo chi và họ Nói chung, đa dạng loài cây gỗ là thông tin quan trọng để xây dựng chiến lược bảo tồn và sử dụng những loài cây gỗ, quy hoạch rừng và bảo tồn đa dạng sinh vật
1.4 Những nghiên cứu về rừng Sao Dầu
Họ Sao Dầu là một trong những họ thực vật ưu thế của rừng mưa nhiệt đới
ở khu vực Đông Nam Á (Ashton và Hall, 1992[26]; Whitmore, 1998[31]) Rừng Sao Dầu là hệ sinh thái rừng có hệ thực vật rất phong phú Rừng Sao Dầu ở Indonesia và Peninsular (Malaysia) có khoảng 200 loài/ha với D > 10 cm (Whitmore, 1998)[31]
Ở Việt Nam, họ Sao Dầu bao gồm 6 chi (Anisoptera, Dipterocarpus,
Hopea, Parashorea, Shorea, Vatica ); trong đó chi Dipterocarpus là chi điển
hình (14 loài) Chúng là những loài ưu thế sinh thái trong rừng kín thường xanh
ẩm nhiệt đới và rừng thưa nửa rụng lá hơi khô nhiệt đới Những loài cây gỗ của
họ Sao Dầu tái sinh rất tốt dưới tán rừng, đặc biệt là những lỗ trống (Nguyễn
Trang 21Văn Thêm, 1992)[11] Vũ Mạnh (2016)[24, 25] đã phân tích chi tiết kết cấu loài cây gỗ, cấu trúc quần thụ, đa dạng loài cây gỗ và đa dạng cấu trúc đối với những
ưu hợp họ Sao Dầu trong Rkx ở khu vực Nam Cát Tiên
1.5 Phương pháp thu mẫu trong nghiên cứu lâm học
Trong lâm học, các mẫu có thể được rút ngẫu nhiên, điển hình và hệ thống; trong đó phổ biến là phương pháp rút mẫu điển hình và rút mẫu hệ thống Ở Việt Nam, nhiều tác giả (Nguyễn Văn Trương, 1984[10]; Thái Văn Trừng, 1999[19]; Nguyễn Văn Thêm, 1992[11]; Vũ Tiến Hinh, 2012[23]) đã sử dụng kích thước ô mẫu thay đổi từ 0,1 – 1,0 ha để phân tích kết cấu loài cây gỗ và cấu trúc rừng Ô mẫu thường có dạng hình chữ nhật Tình trạng tái sinh rừng có thể được thống kê trong những ô dạng bản có kích thước từ 1 – 100 m2 Kích thước
ô mẫu từ 1 – 25 m2 được sử dụng để thống kê những cây tái sinh thuộc cấp H <
100 cm Những ô dạng bản từ 50 – 100 m2 được sử dụng để thống kê những cây tái sinh thuộc cấp H > 100 cm (Nguyễn Văn Thêm, 1992, 2010[11, 12])
Nói chung, độ chính xác của kết quả nghiên cứu phụ thuộc vào kích thước
ô mẫu, số lượng ô mẫu và cách bố trí ô mẫu Kết quả báo cáo về những đặc tính của rừng có thể thay đổi tùy theo phương pháp thu mẫu và phương pháp xử lý
số liệu Vì thế, xác định phương pháp thu mẫu và phương pháp xử lý số liệu là một vấn đề rất quan trọng trong bất kỳ nghiên cứu nào (Kimmins, 1998[28])
1.6 Thảo luận
(1) Rừng bao gồm rất nhiều đặc tính khác nhau Tuy vậy, tùy theo yêu cầu của khoa học và thực tế, người ta quan tâm đến những đặc tính khác nhau Trong nghiên cứu này, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu kết cấu loài cây gỗ, cấu trúc quần thụ, đa dạng loài cây gỗ và tái sinh tự nhiên của ưu hợp Dầu cát Đây
là cơ sở để xây dựng những biện pháp quản lý rừng, những phương thức lâm sinh, bảo tồn và phát triển những loài cây gỗ theo những mục đích khác nhau (2) Theo Thái Văn Trừng (1999), các ưu hợp thực vật chỉ được nhận biết
rõ rệt ở giai đoạn rừng đã ổn định Theo quan điểm này, đối tượng thu thập số
Trang 22liệu của đề tài này là những ưu hợp Dầu cát đã phát triển đến giai đoạn ổn định Tính ổn định biểu hiện ở chỗ, hình thái của tán rừng và thành phần loài cây không có những biến đổi lớn theo thời gian ít nhất là bằng đời sống của những cây gỗ sống lâu nhất Tuy vậy, việc nhận biết tính ổn định của rừng trong thực tế
là một công việc rất khó khăn Trong đề tài này, rừng ổn định được xem là những trạng thái rừng từ trung bình đến rất giàu theo phân chia các trạng thái rừng của Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2009)[3] Hai trạng thái rừng này có trữ lượng gỗ (M, m3/ha) tương ứng là 200 – 300 m3/ha và trên 300 m3/ha,)
(3) Trong lâm học, kết cấu loài cây gỗ (IVI%) có thể được xác định theo giá trị trung bình của các đặc tính như N%, G%, F%, V% Trong nghiên cứu này, chỉ số IVI% đối với mỗi loài cây gỗ được xác định theo phương pháp của Thái Văn Trừng (1999) Tính phức tạp về cấu trúc quần thụ được đánh giá theo
hệ số hỗn giao của Nguyễn Văn Trương (1984) và chỉ số SCI của Holdridge và ctv (1967) Đa dạng loài cây gỗ được xác định thông qua ba thành phần: sự giàu
có về loài cây gỗ, chỉ số đồng đều (E) và chỉ số đa dạng loài cây gỗ Sự giàu có
về loài cây gỗ được xác định theo theo số loài (S) và chỉ số đa dạng loài của Margalef (d – Margalef) Đa dạng loài cây gỗ được đo bằng chỉ số ưu thế Gini-Simpson (1 – λ) và chỉ số đa dạng Shannon - Weiner (H’) Chỉ số đồng đều được đo bằng chỉ số Pielou (J’) Sự tương đồng về thành phần loài cây gỗ giữa hai ưu hợp Dầu cát được xác định theo chỉ số tương đồng của Sorensen (CS)
Trang 23Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Vị trí địa lý
Khu BTTN Bình Châu - Phước Bửu nằm trong địa giới hành chính của các
xã Bình Châu, Bưng Riềng, Bông Trang, Phước Thuận và thị trấn Phước Bửu thuộc huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Tọa độ địa lý: 10028’65” đến 10038’04” vĩ độ Bắc; 107024’77” đến
107033’52” kinh độ Đông Ranh giới: phía Đông Bắc giáp Suối Bang; phía Tây giáp Sông Hoả; phía Bắc giáp Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bà Rịa – Vũng Tàu; phía Nam giáp biển Đông giới hạn bởi bờ biển từ ấp Hồ Tràm,
xã Phước Thuận đến xã Bình Châu với khoảng 12 km đường ven biển
2.2 Khí hậu – thủy văn
Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo Lượng mưa bình quân hàng năm là 1.396 mm Lượng mưa phân bố không đều trong năm Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào cuối tháng 10; trong đó phần lớn mưa tập trung vào tháng 7 - 9 Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 11 kéo dài đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ không khí bình quân năm là 25,30C Độ ẩm không khí trung bình năm là 85.2%; độ ẩm thấp nhất vào tháng 1 đến tháng 3 Khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió thịnh hành là gió Tây Nam thổi vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11
và gió Đông Bắc thổi vào mùa khô từ giữa tháng 11 đến tháng năm sau
Khu vực nghiên cứu có khoảng 43 km Sông, Suối như Suối Cát, Suối Nhỏ, suối Bang Ngoài ra còn có một số bàu và hồ có nước về mùa mưa như Bàu Nhám,
Hồ Cốc, Hồ Linh, Bàu Tròn, Hồ Tràm…
2.3 Địa hình và thổ nhưỡng
Khu vực nghiên cứu có địa hình tương đối bằng phẳng, hơi thoải từ phía Bắc đến phía Nam, tạo thành 4 vùng địa hình khác nhau Vùng bằng phẳng chiếm diện tích lớn nhất khoảng 9.000 ha, trải rộng từ phía Bắc đến phía Nam
Trang 24Vùng đồi có diện tích khoảng 600ha, bao gồm một số ngọn đồi có độ cao từ 50
m đến 150 m Vùng cồn cát ven biển có diện tích khoảng 500 ha Vùng hồ có diện tích khoảng 200 ha; trong đó bao gồm các hồ trũng như Hồ Linh, Hồ Tràm,
Hồ Cốc, Bàu Nhám, Bàu tròn…
Khu vực nghiên cứu có 4 loại đất chính Đất Feralit vàng nhạt phát triển trên đá Mác ma Nhóm đất này có màu xám trắng đến vàng nhạt; thành phần cơ giới nhẹ (cát chiếm từ 40 - 60%); tầng đất sâu, tầng mùn mỏng, hàm lượng NPK thấp do bị rửa trôi mạnh Đất Feralit màu đỏ phát triển trên đá Bazan Nhóm đất này có màu nâu vàng đến nâu đỏ, tầng đất dày, thành phần cơ giới thịt nặng (sét tới 60%), hàm lượng NPK cao Đất chua phèn hình thành trên các bưng ngập nước vào mùa mưa Đất có màu xám trắng đến xám đen, độ pH từ 4 - 4,5 Thành phần cơ giới nhẹ (cát từ 50 - 60%), hàm lượng NPK thấp chỉ thích hợp cho cây Tràm Đất cát ven biển phân bố dọc theo bờ biển Loại đất này hình thành 2 dạng đất khác nhau: cồn cát di động không ngập nước biển và đất cát bị ngập nước do thủy triều dâng Cả 2 loại đất này đều có tỷ lệ cát từ 60 - 70%, tầng mùn hầu như không có, hàm lượng NPK rất thấp, hút và thoát nước mạnh,
độ che phủ thực vật rất thấp dưới 10% Đất cát trắng và cát vàng trong nội địa
có tỷ lệ khá cao trên 70%, hàm lượng NPK rất thấp
Trang 25Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
3.1.1 Mục tiêu tổng quát
Xác định những đặc điểm lâm học của ưu hợp Dầu cát để làm cơ sở khoa học cho việc quản lý rừng và bảo tồn đa dạng loài cây gỗ
3.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Phân tích kết cấu loài cây gỗ và cấu trúc quần thụ của ưu hợp Dầu cát
- Xác định đa dạng loài cây gỗ và đa dạng cấu trúc đối với ưu hợp Dầu cát
- Xác định hiện trạng tái sinh tự nhiên của ưu hợp Dầu cát
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là ưu hợp Dầu cát thuộc kiểu Rkx tại KBTTN Bình Châu - Phước Bửu thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là kết cấu loài cây gỗ, cấu trúc quần thụ, tái sinh tự nhiên và đa dạng loài cây gỗ đối với ưu hợp Dầu cát Địa điểm nghiên cứu được đặt tại KBTTN Bình Châu – Phước Bửu thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Thời gian nghiên cứu từ tháng 7 – 10/2018
3.4 Nội dung nghiên cứu
(1) Kết cấu họ và loài cây gỗ đối với ưu hợp Dầu cát
(2) Cấu trúc quần thụ đối với ưu hợp Dầu cát
a Kết cấu mật độ, tiết diện ngang và trữ lượng gỗ theo nhóm D
b Kết cấu mật độ, tiết diện ngang và trữ lượng gỗ theo lớp H
c Phân bố đường kính thân cây
d Phân bố chiều cao thân cây
e Phân bố số loài cây gỗ theo lớp H
(3) Chỉ số cạnh tranh giữa những cây gỗ trong ưu hợp Dầu cát
Trang 26(4) Đặc điểm tái sinh tự nhiên đối với ưu hợp Dầu cát
(a) Kết cấu loài cây tái sinh
(b) Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao
(c) Phân bố cây tái sinh theo nguồn gốc hạt và chồi
(d) Phân bố cây tái sinh theo cấp chất lượng
(5) Đa dạng loài cây gỗ đối với ưu hợp Dầu cát
3.5 Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Phương pháp luận
Phương pháp luận của đề tài này dựa trên quan điểm cho rằng những đặc tính của rừng được ấn định bởi điều kiện môi trường sống Kết cấu loài cây gỗ, cấu trúc quần thụ và tình trạng tái sinh thay đổi tùy theo quần xã thực vật rừng
Từ quan điểm trên đây, hướng tiếp cận của đề tài là kết hợp giữa phương pháp quan sát và mô tả với phương pháp mô hình hóa để phân tích những đặc tính của những ưu hợp Dầu cát Phương pháp quan sát và mô tả được sử dụng để mô tả kết cấu loài cây gỗ và tình trạng tái sinh dưới tán rừng Phương pháp mô hình hóa được sử dụng để phân tích cấu trúc quần thụ, chỉ số cạnh tranh và chỉ số cấu trúc quần thụ đối với ưu hợp Dầu cát Sơ đồ các bước phân tích những đặc trưng của những ưu hợp Dầu cát được dẫn ra ở Hình 3.1
3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
3.5.2.1 Những chỉ tiêu nghiên cứu đối với ưu hợp Dầu cát
Đặc trưng của ưu hợp Dầu cát được phân tích thông qua 12 chỉ tiêu: (1) thành phần loài cây; (2) mật độ quần thụ (N, cây/ha); (3) đường kính thân cây ngang ngực (D, cm); (4) chiều cao toàn thân (H, m); (5) chiều cao dưới cành (HDC, m); (6) đường kính tán cây (DT, m); (7) chiều dài tán cây (LT, m); (8) diện tích tán cây (ST, m2); (9) độ tàn che tán rừng; (10) tiết diện ngang của quần thụ (G, m2/ha); (11) trữ lượng gỗ của quần thụ (M, m3/ha); (12) tái sinh tự nhiên dưới tán rừng
Trang 27Hình 3 1: Sơ đồ mô tả các bước phân tích đặc trưng của ưu hợp Dầu cát
3.5.2.2 Số lượng, kích thước và phương pháp bố trí ô tiêu chuẩn
Nghiên cứu sơ bộ 3 ô tiêu chuẩn với kích thước 2000 m2 cho thấy độ ưu thế (tính theo N, G và M) của Dầu cát dao động từ dưới 30% đến trên 40% Vì thế, những QXTV với ưu thế Dầu cát đã được phân chia thành 2 nhóm: (a) QXTV với chỉ số IVI của Dầu cát nhỏ hơn 30% (Đặt tên ngắn gọn là UhDaucat<30%); (b) QXTV với chỉ số IVI của Dầu cát lớn hơn 30% (Đặt tên ngắn gọn là UhDaucat>30%) Việc ghép nhóm những ưu hợp Dầu cát như trên nhằm đơn giản cho việc thu thập, xử lý và phân tích số liệu Mỗi nhóm UhDaucat được đo lặp lại 3 ô tiêu chuẩn Tổng số hai nhóm là 6 ô tiêu chuẩn Các ô tiêu chuẩn có dạng hình chữ nhật với kích thước 2.000 m2 (50*40 m) Những ô tiêu chuẩn này được bố trí trong trạng thái rừng trung bình đến giàu hay những QXTV ở giai đoạn tương đối ổn định (M > 150 m3/ha)
3.5.2.3 Thu thập những đặc trưng của quần thụ
Trong mỗi ô tiêu chuẩn, những cây gỗ trưởng thành (D ≥ 6,0 cm) được thống kê theo loài và sắp xếp theo chi và họ Thành phần loài cây gỗ được nhận biết theo Phạm Hoàng Hộ (1999)[16], Trần hợp và Nguyễn Bội Quỳnh (2003)[20] Chỉ tiêu D của từng cây trưởng thành được xác định gián tiếp từ đo
Trang 28chu vi thân cây bằng thước dây với độ chính xác 0,1 cm Chỉ tiêu H của từng cây trưởng thành được đo bằng thước đo cao Blume - Leise với độ chính xác 0,5 m
Độ tàn che tán rừng được xác định bằng biểu đồ trắc diện; trong đó chiều dài 30
m và chiều rộng 10 m (Hình 3.2) Số liệu thu thập trong dải vẽ trắc đồ rừng là thành phần loài cây gỗ, D (cm), H (m), HDC (m), DT (m) và LT (m) của loài cây
gỗ
Hình 3 2: Sơ đồ bố trí dải vẽ trắc đồ rừng trong ô tiêu chuẩn
Để đánh giá mức độ cạnh tranh tán giữa các cây gỗ trong quần thụ, chọn điển hình 30 cây gỗ có 6 < D < 60 cm để xác định đường kính tán (DT, m) Từ
đó xây dựng hàm ước lượng DT = f(D, H) và hàm chỉ số diện tích tán (CCI) của những cây gỗ trưởng thành trong những ưu hợp Dầu cát Sau đó sử dụng những hàm này để ước lượng DT (m) và ST (m2) đối với những cây gỗ khác trong các ô
tiêu chuẩn
3.5.2.4 Thu thập đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán ưu hợp Dầu cát
Tái sinh tự nhiên dưới tán những ưu hợp Dầu cát được nghiên cứu từ 60 ô dạng bản với kích thước 16 m2 (4*4 m); trong đó mỗi ô tiêu chuẩn 10 ô dạng bản Những ô dạng bản này được bố trí đều ở 2 cạnh ô tiêu chuẩn (Hình 3.3)
40m
0
Trang 29Hình 3 3: Sơ đồ bố trí ô dạng bản để xác định tái sinh tự nhiên của ưu hợp
3.5.2.5 Thu thập điều kiện tự nhiên ở khu vực nghiên cứu
Những số liệu được thu thập là điều kiện khí hậu, địa hình và đất Chỉ tiêu khí hậu được thu thập là nhiệt độ không khí trung bình tháng trong năm (T,0C), lượng mưa trung bình tháng trong năm (M, mm) và độ ẩm không khí trung bình tháng trong năm (Hm,%) Những chỉ tiêu khí hậu này được thu thập tại Đài khí tượng thủy văn Bà Rịa - Vũng Tàu Địa hình được xác định bằng máy GPS kết
40m
0
Trang 30hợp với bản đồ địa hình 1/50.000 Loại đất được xác định từ bản đồ đất với tỷ lệ 1/100.000
3.5.3 Phương pháp phân tích số liệu
3.5.3.1 Phân tích kết cấu loài cây gỗ đối với ưu hợp Dầu cát
Kết cấu loài cây gỗ đối với mỗi ưu hợp Dầu cát trên ô tiêu chuẩn được xác
định theo phương pháp của Thái Văn Trừng (1999) (Công thức 3.1); trong đó IVI% là tỷ lệ trung bình theo N%, G% và V% Giá trị V = G*H*F, với F = 0,45
Sự tương đồng về thành phần loài cây gỗ giữa các ưu hợp Dầu cát trên những ô tiêu chuẩn được xác định theo hệ số tương đồng của Sorensen (CS) (Công thức 3.2); trong đó a là số loài cây gỗ bắt gặp ở ô tiêu chuẩn i; b là số loài cây gỗ bắt gặp ở ô tiêu chuẩn j
Sau đó tập hợp kết cấu loài cây gỗ thành bảng và phân tích so sánh: (a) tổng
số loài cây gỗ bắt gặp (S, loài); (b) loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế; (c) những loài cây gỗ khác; (d) hệ số tương đồng giữa các ưu hợp Dầu cát
3.5.3.2 Phân tích cấu trúc quần thụ đối với ưu hợp họ Dầu cát
Phần này phân tích kết cấu N, G và M theo nhóm D và lớp H; phân bố N/D
và phân bố N/H; tính phức tạp về cấu trúc quần thụ trong những ưu hợp họ Dầu cát
(a) Phân tích kết cấu N, G và M của ưu hợp Dầu cát Trong mỗi nhóm
UhDaucat, thống kê N, G và M của những loài cây gỗ trên 3 ô tiêu chuẩn theo 3 nhóm D (< 20, 20 – 40 và > 40 cm) và 3 lớp H (< 15, 15 - 20 và > 20 m) Sau đó phân tích tỷ lệ N, G và M theo các nhóm D và lớp H
(b) Phân tích phân bố N/D và phân bố N/H Đặc trưng thống kê mô tả đối
với phân bố N/D và phân bố N/H của những ưu hợp Dầu cát được tính toán bao gồm giá trị trung bình (X), mốt (M0), trung vị (Me), giá trị lớn nhất (Max), giá trị nhỏ nhất (Min), sai tiêu chuẩn (S), hệ số biến động (CV%), độ lệch (Sk) và độ
Trang 31nhọn (Ku) Những thông tin này mô tả không chỉ biến động D và H, mà còn cả hình dạng đường cong phân bố N/D và phân bố N/H Để xác định tốc độ suy giảm số cây sau mỗi cấp D và tỷ lệ số cây trong mỗi cấp D, phân bố N/D và phân bố N/H đã được làm phù hợp với phân bố lý thuyết Từ số liệu đođếm cho thấy phạm vi biến động D từ 6 – 60 cm, còn phạm vi biến động chiều cao từ 4 đến 28 m Vì thế, D và H thân cây được phân chia thành các cấp tương ứng là 6
cm và 4 m Số cấp D và cấp H nằm trong khoảng từ 6 đến 12 cấp
Về cơ bản, phân bố N/D của rừng hỗn loài tự nhiên nhiệt đới thường có dạng phân bố giảm từ cấp DMin đến cấp DMax Vì thế, mô hình phân bố N/D thích hợp được kiểm định theo hàm phân bố mũ (3.3) và hàm phân bố Beta (3.4)
S*2 được ước lượng tương ứng theo công thức 3.7 và 3.8
Trang 32P(x) = (1 - a)(1 - b)*b^x-1 với x ≥ 1 (3.9)
Sai lệch của 2 hàm 3.3 và 3.4 đối với phân bố thực nghiệm được kiểm định bằng hệ số xác định (r2) (Công thức 3.10); sai lệch chuẩn của ước lượng (S) (Công thức 3.11); sai số tuyệt đối trung bình (MAE) (Công thức 3.12); sai số tuyệt đối trung bình theo phần trăm (MAPE) (Công thức 3.13) và tổng sai lệch bình phương (SSR) (Công thức 3.14) Trong nghiên cứu này, mô hình phân bố N/D và phân bố N/H thích hợp được xác định theo tiêu chuẩn SSRmin
(c) Phân tích phân bố số loài cây gỗ theo các lớp H Trước hết thống kê số loài cây gỗ trong mỗi nhóm UhDaucat trên 3 ô tiêu chuẩn theo 3 lớp H (< 10, 10 – 20 và > 20 m) Sau đó phân tích so sánh thành phần loài và sự tương đồng về loài cây gỗ giữa các lớp H
(d) Phân tích tính phức tạp về thành phần loài cây gỗ và cấu trúc của
những ưu hợp Dầu cát Tính phức tạp về thành phần loài cây gỗ được đánh giá
bằng chỉ số hỗn giao (HG) của Nguyễn Văn Trương (1984) Chỉ số HG được tính theo công thức 3.15; trong đó S = số loài cây gỗ, N = mật độ của quần thụ
Tính phức tạp về cấu trúc quần thụ được xác định bằng chỉ số phức tạp về cấu trúc quần thụ (SCI = Stand Complixity Index) Trong nghiên cứu này, chỉ số SCI đối với những ưu hợp Dầu cát được xác định theo chỉ số SCI của Holdridge
Trang 33(1967; Dẫn theo Cintrón và Schaeffer-Novelli, 1984[27]) (Công thức 3.16) Sau
đó phân tích so sánh sự khác biệt về chỉ số SCI giữa các ưu hợp họ Sao Dầu
3.5.3.3 Phân tích sự cạnh tranh giữa những cây gỗ trong ưu hợp Dầu cát
Sự cạnh tranh giữa những cây gỗ xảy ra khi nguồn sống (ánh sáng, nước, chất khoáng) không đáp ứng đủ cho các loài cây gỗ Sự cạnh tranh dẫn đến sự suy giảm sinh trưởng và phát triển của các loài cây gỗ Vì thế, các phương thức lâm sinh thường hướng đến làm giảm sự cạnh tranh giữa các cây gỗ trong quần thụ Vì thế, đánh giá sự cạnh tranh giữa các cây gỗ là cơ sở cho những phương thức lâm sinh Trong nghiên cứu này, mức độ cạnh tranh giữa những cây gỗ trong những UhDaucat được xác định theo chỉ số cạnh tranh tán (CCI = Crown Competiton Index) Sở dĩ sử dụng chỉ tiêu này là vì nó dễ quan sát và đo đạc Diện tích tán của một cây gỗ trưởng thành (D > 6 cm) được ước lượng gần đúng theo diện tích hình tròn với đường kính DT (Công thức 3.17) Chỉ tiêu DTi được ước lượng bằng hàm (3.18) Tổng diện tích tán của tất cả cây gỗ trong quần thụ (STQT, m2/ha) được xác định theo công thức (3.19); trong đó DTi là
DT của cây thứ i, còn N là mật độ quần thụ
STQT = ∑i=1, N(0,785*DTi2) (3.19)
Chỉ số CCI của cây thứ i (CCIi) được xác định theo công thức 3.20; trong
đó zi (m2/ha) là diện tích tán của cây i, Z = 2.500 m2, DT là DT của cây thứ i
Chỉ số diện tích tán ở những cấp H khác nhau phụ thuộc chặt chẽ vào hai tham số N và H Vì thế, hàm ước lượng chỉ số CCI theo cấp H được ước lượng theo hàm (3.21); trong đó N là số cây ở mỗi cấp H Ba tham số a, b và c được ước lượng bằng phương pháp hồi quy và tương quan phi tuyến tính của Marquartz
Trang 34CCI = a + b*N + c*NH + d*NH2 (3.21)
Sau đó khảo sát hàm (3.21) để xác định tổng chỉ số CCI theo các cấp H
Từ đó phân tích sự khác biệt về chỉ số CCI giữa các cấp H và giữa hai nhóm UhDaucat Ngoài ra, phân tích tổng ST và chỉ số CCI theo nhóm những loài cây
gỗ Đây là căn cứ để xác định những cấp H và những loài cây gỗ có mức cạnh tranh mạnh nhất
3.5.3.4 Phân tích tái sinh tự nhiên của những ưu hợp Dầu cát
Tình trạng tái sinh tự nhiên của những ưu hợp Dầu cát được phân tích và đánh giá theo thành phần loài và kết cấu loài cây tái sinh, mật độ, nguồn gốc, phân bố N/H và cấp sức sống Mật độ cây tái sinh (N, cây/ha) được xác định theo công thức 3.22; trong đó S = 10.000 m2, s = diện tích ô dạng bản (16 m2), ni
= số cây tái sinh trong một ô dạng bản
N (cây/ha) = (S/s)*ni (3.22)
Kết cấu loài cây tái sinh được xác định theo công thức 3.23; trong đó ni(cây/ha) = số cây tái sinh của loài i, N (cây/ha) = mật độ cây tái sinh của tất cả các loài cây gỗ
Phân bố N/H đối với cây tái sinh được phân chia thành 6 cấp: H ≤ 50, H =
50 – 100, H = 100 – 150, H = 150 – 200, 200 - 250 và H ≥ 250 cm Chất lượng cây tái sinh (tốt, trung bình và xấu) cũng được phân chia theo 6 cấp H
Sau đó tổng hợp tình trạng tái sinh dưới tán rừng bằng các bảng và biểu đồ
Từ đó phân tích: (a) tổng số loài cây tái sinh bắt gặp dưới tán rừng; (b) loài cây
Trang 35tái sinh ưu thế và đồng ưu thế; (c) sự tương đồng giữa thành phần cây tái sinh với thành phần cây mẹ; (d) tính định kỳ trong tái sinh rừng; (e) triển vọng tái sinh dưới tán rừng
Khi thành phần cây tái sinh và thành phần cây mẹ có sự tương đồng với nhau (CS > 50%), thì kết cấu loài cây gỗ của ưu hợp Dầu cát là ổn định theo giai đoạn phát triển Trái lại, nếu hệ số CS < 50%, thì kết cấu loài cây gỗ của ưu hợp Dầu cát là chưa ổn định Nếu phân bố N/H là liên tục từ cấp H ≤ 50 cm đến cấp
H ≥ 250 cm, thì tái sinh diễn ra liên tục dưới tán rừng Về cơ bản, những cây tái sinh đã đạt đến cấp H > 200 cm, thì chúng có khả năng cạnh tranh tốt với cây bụi và thảm tươi Vì thế, triển vọng tái sinh của ưu hợp Dầu cát được xác định theo mật độ cây tái sinh đã đạt đến cấp H > 200 cm và khỏe mạnh
3.5.3.5 Phân tích đa dạng loài cây gỗ đối với những ưu hợp Dầu cát
Trước hết xác định ba thành phần đa dạng loài cây gỗ trong mỗi ô tiêu chuẩn: (a) số loài cây gỗ bắt gặp và chỉ số giàu có về loài; (b) chỉ số đồng đều; (c) chỉ số đa dạng loài Mức độ giàu có về loài được xác định theo số loài (S) và chỉ số giàu có về loài của Margalef (dMargalef) (Công thức 3.25) Chỉ số đồng đều được xác định theo chỉ số Pielou (J’) (Công thức 3.26) Đa dạng loài cây gỗ được xác định theo chỉ số đa dạng Shannon-Weiner (H’) (Công thức 3.27); trong đó H’Max được xác định theo công thức 3.28 Chỉ số ưu thế của loài được xác định theo chỉ số Gini-Simpson (1 – λ’) (Công thức 3.29) Trong các công thức (3.22) – (3.26), S = số loài cây gỗ bắt gặp trong ô tiêu chuẩn, Pi = ni/N (N = tổng số cây trong ô tiêu chuẩn và ni = số cây của loài thứ i), Ln() = logarit cơ số Neper
Trang 361 – λ’ = 1 - ∑Pi2 (3.29)
Sau đó xác định đa dạng α bằng cách tính trung bình đối với ba thành phần đa dạng loài cây gỗ (S, N, d, J’ và H’) từ 3 ô tiêu chuẩn Chỉ số đa dạng β được xác định theo phương pháp của Whittaker (1972)[30] (Công thức 3.30); trong đó S = tổng số loài bắt gặp trong những ưu hợp Dầu cát; s = số loài cây gỗ bình quân bắt gặp trong ô tiêu chuẩn của mỗi ưu hợp Dầu cát
3.5.4 Công cụ xử lý số liệu
Công cụ xử lý số liệu là bảng tính Excel, phần mềm thống kê Statgraphictv Plus Version 4.0, SPSS 10.0 và Primer 5.0 Phần mềm Excel được sử dụng để tập hợp số liệu, vẽ đồ thị và biểu đồ Hai phần mềm Statgraphictv Plus Version 4.0 và SPSS 10.0 được sử dụng để tính toán những đặc trưng thống kê quần thụ, xây dựng các hàm phân bố N/D và N/H Phần mềm Primer 5.0 được sử dụng để tính toán đa dạng loài cây gỗ
Trang 37Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Kết cấu họ và kết cấu loài cây gỗ đối với những ưu hợp Dầu cát
4.1.1 Phân chia những nhóm ưu hợp Dầu cát
Phân tích kết cấu họ cây gỗ trên 6 ô tiêu chuẩn với kích thước 2.000 m2cho thấy số họ cây gỗ bắt gặp là 30 (Bảng 4.1; Phụ lục 2 và 3) Trong những ưu hợp Dầu cát, số họ cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế bắt gặp là 4 họ; trong đó họ Sao Dầu chiếm ưu thế (IVI = 48,5%), kế đến là họ Bồ hòn (IVI = 10,4%), họ Sim (IVI = 7,4%) và họ Máu chó (IVI = 5,2%) Những họ khác (26 họ) chỉ đóng
V (m3)
Trang 38Bảng 4 2: Kết cấu loài cây gỗ đối với những UhDaucat
Đơn vị tính: 1,0 ha
TT Loài cây gỗ N
(cây)
G (m2)
V (m3)
và đồng ưu thế chiếm 67,5% (19,1 m2/ha), còn lại 49 loài cây gỗ khác là 32,5% (9,2 m2/ha) Tổng trữ lượng gỗ trung bình là 231,4 m3/ha (100%), dao động từ 192,1 m3/ha ở ô tiêu chuẩn 4 (Phụ lục 6.2) đến 283,9 m3/ha ở ô tiêu chuẩn 6 (Phụ lục 6.4); trong đó 6 loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế chiếm 70,8% (163,9
m3/ha), còn lại 49 loài cây gỗ khác đóng góp 29,2% (67,6 m3/ha) Trong những
ưu hợp Dầu cát, những loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế đóng góp trung bình
Trang 3965,4% về N, G và M, cao nhất là Dầu cát (IVI = 31,7%), thấp nhất là Sến cát (IVI = 4,3%) Những loài cây gỗ khác (49 loài) chỉ đóng góp 34,6% về về N, G
và M; trung bình 0,7%/loài
Biên độ biến đổi của chỉ số IVI đối với Dầu cát trên 6 tiêu chuẩn dao động
từ 25,6% ở ô tiêu chuẩn 1 (Phụ lục 4.2) đến 41,3% ở ô tiêu chuẩn 6 (Phụ lục 6.4) Để đơn giản trong phân tích những đặc tính của quần thụ (kết cấu loài cây
gỗ, đa dạng loài cây gỗ, cấu trúc quần thụ, tái sinh tự nhiên), những UhDaucat
đã được phân chia thành 2 nhóm dựa theo chỉ số IVI của Dầu cát: < 30% và > 30% Hai nhóm ưu hợp này được đặt tên tương ứng là ưu hợp thực vật với độ ưu thế của Dầu cát dưới 30% (Viết tắt là UhDaucat<30%) và ưu hợp thực vật với độ
ưu thế của Dầu cát lớn hơn 30% (Viết tắt là UhDaucat>30%)
4.1.2 Kết cấu loài cây gỗ đối với nhóm UhDaucat<30%
Tổng số loài cây gỗ bắt gặp là 43 loài thuộc 36 chi của 27 họ (Bảng 4.3;
V (m3)
Trang 40Số loài cây gỗ bắt gặp trong mỗi ô tiêu chuẩn dao động từ 22 đến 32 loài/2.000 m2; trung bình 27 loài/2.000 m2 Mật độ trung bình là 675 cây/ha (100%), dao động từ 635 cây/ha ở ô tiêu chuẩn 3 (Phụ lục 4.4) đến 720 cây/ha ở
ô tiêu chuẩn 1 (Phụ lục 4.2); trong đó 6 loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế chiếm 59,0% (398 cây/ha), còn lại 37 loài cây gỗ khác chỉ đóng góp 41,0% (277 cây/ha) Tiết diện ngang trung bình là 26,4 m2/ha (100%), dao động từ 25,0
m2/ha ở ô tiêu chuẩn 1 (Phụ lục 4.2) đến 28,4 m2/ha ở ô tiêu chuẩn 3 (Phụ lục 4.4); trong đó 6 loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế chiếm 71,6% (18,9 m2/ha), còn lại 37 loài cây gỗ khác chỉ đóng góp 28,4% (7,5 m2/ha) Trữ lượng gỗ trung bình là 222,3 m3/ha (100%), dao động từ 198,6 m3/ha ở ô tiêu chuẩn 1 (Phụ lục 4.2) đến 239,7 m3/ha ở ô tiêu chuẩn 3 (Phụ lục 4.4); trong đó 6 loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế chiếm 75,1% (167,0 m3/ha), còn lại 37 loài cây gỗ khác chỉ đóng góp 24,9% (55,3 m3/ha) Trong nhóm ưu hợp này, 6 loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế đóng góp 68,6% về N, G và M, cao nhất là Dầu cát (IVI = 27,4%), tiếp đến là Làu táu (IVI = 13,2%), thấp nhất là Sến cát (IVI = 4,6%) Những loài cây gỗ khác (37 loài) chỉ đóng góp 31,4%; trung bình 0,8%/loài Rừng có độ tàn
che trung bình là 0,8 (Phụ lục 5)
4.1.3 Kết cấu loài cây gỗ đối với nhóm UhDaucat>30%
Tổng số loài cây gỗ bắt gặp là 45 loài thuộc 34 chi của 25 họ Số loài cây
gỗ bắt gặp trong mỗi ô tiêu chuẩn dao động từ 24 đến 32 loài/2.000 m2; trung bình 27 loài/2.000 m2 (Bảng 4.4; Phụ lục 6.1 – 6.4) Mật độ trung bình là 710 cây/ha (100%), dao động từ 640 cây/ha ở ô tiêu chuẩn 6 đến 750 cây/ha ở ô tiêu chuẩn 5 (Phụ lục 6.2 – 6.4); trong đó 6 loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế chiếm 54,9% (390 cây/ha), còn lại 39 loài cây gỗ khác chỉ đóng góp 45,1% (320 cây/ha)