KẾT QỦA NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Đặc điểm khu hệ thú KBTTN Hoàng Liên - Văn Bàn (dự kiến) 1 Đa dạng về tổ thành 2 Tính đa dạng của khu hệ thú về phân loại học we 3 Tính da dạng về giá trị Z #B
4.1.1 Đa dạng về tổ thành loài
Sự đa dạng tổ thành loài là yếu tố then chốt trong các hệ sinh thái, giúp các quân xã sinh vật phản ứng và thích nghi tốt hơn với những thay đổi của điều kiện môi trường Đa dạng tổ thành loài ảnh hưởng đến các quá trình sinh thái cơ bản như chu trình nước, chu trình Nitơ và chu trình Carbon Để thực hiện hiệu quả các chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học, việc đầu tiên là xác định tổ thành loài, trữ lượng và sự phân bố không gian của chúng Do đó, trong việc hoạch định chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học tại khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn, việc xác định tính đa dạng loài và mức độ đa dạng thành phần loài là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng.
Dựa trên kết quả điều tra nghiên cứu khu hệ thú tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, cùng với kết quả khảo sát thực địa và tài liệu tham khảo, chúng tôi đã xây dựng bảng danh mục thú (Mammalia) cho khu vực này (bảng 4-1 và phụ biểu 01).
Bộ thú Họ Loài sr Tên khoahọc | Tên phổ thông N % n %
1 Insectivora Bộ Ăn côn trùng 2 9,52 3 6,12
Kết quả từ bảng 4-1 cho thấy, tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn đã ghi nhận 49 loài và phân loài thú thuộc 21 họ và 8 bộ khác nhau, với tỷ lệ các loài trong các họ và bộ này có sự đa dạng đáng kể.
Trong số 21 họ động vật, Bộ Ăn thịt (Carnivora) chiếm tỷ lệ cao nhất với 5/21 họ (23,81%) và 18/49 loài (36,73%) được phát hiện ở Văn Bàn Ngược lại, Bộ Tê tê (Pholidora), Bộ Ăn sâu bọ (Insectivora) và Bộ Cánh da (Dermoptera) có tỷ lệ thấp nhất, chỉ với 1 họ (4,76%) và 1 loài (2,04%).
Danh sách 49 loài thú trong bảng danh lục hiện tại chưa phản ánh đầy đủ sự đa dạng của khu hệ thú tại Văn Bàn, vì còn nhiều loài nhỏ chưa được phát hiện Nguyên nhân chính là do số lượng cuộc điều tra nghiên cứu về động vật và thực vật ở khu vực này còn hạn chế, cùng với nguồn nhân lực và tài chính yếu kém, cũng như điều kiện và phương tiện nghiên cứu không đầy đủ Để hiểu rõ hơn về tính đa dạng của khu hệ thú Văn Bàn, chúng tôi đã thực hiện so sánh tổ thành loài thú tại đây với số loài thú trên toàn quốc và một số khu vực bảo vệ khác ở miền Bắc Việt Nam.
Kết quả từ bảng 4-2 cho thấy, diện tích quy hoạch xây dựng mới (30.000 ha) chỉ kém diện tích của VQG Hoàng Liên, với KBTTN Hoàng Liên - Văn Bàn có 8 bộ 21 họ, chỉ thua 1 họ so với KBTTN Mù Căng Chải (8 bộ, 22 họ), nhưng lại cao hơn 1 bộ so với VQG Hoàng Liên và KBTTN Nà Hầu (7 bộ) Số loài được điều tra tại đây là 49 loài, chỉ kém một chút so với KBTTN Mù Căng Chải, KBTTN Nà Hầu và VQG Hoàng Liên, cho thấy tính đa dạng sinh học về phân loại học của khu hệ thú ở KBTTN Hoàng Liên - Văn Bàn là rất cao.
Kết quả so-sánh khu:hệ thú KBTTN Hoàng Liên - Văn Bàn với khu hệ thú toàn quốc chỉ ta thấy:
KBTTN Hoàng Liên - Văn Bàn chiếm 66,7% số bộ thú so với toàn quốc, với 8/12 bộ, nhiều hơn 01 bộ so với ŸQG Hoàng Liên (Bộ Cánh da) Về số họ thú, KBTTN Hoàng Liên - Văn Bàn chiếm 56,75% so với toàn quốc, với 21/37 họ.
- Về số loài: KBTTN Hoàng Liên - Văn Bàn chiếm 17,8% so với toàn quốc.
Bảng 4-2 So sánh khu hệ thú Văn Bàn với toàn quốc va một số KBT, VQG miền Bắc Việt Nam
Liên - Văi Bàn (dự mg es Liên - Văn Bàn (dự 30000 | 8 |66/7(®)| 21 56,7 (%) 49 17,8 (%) kiến) kiến)
Kết quả từ bảng 4-1 và bảng 4-2 cho thấy lớp thú tại khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn có sự đa dạng cao về số bộ, họ và loài Việc bảo vệ hệ thống thú ở Văn Bàn sẽ giúp bảo tồn nhiều loài thú quý hiếm không chỉ trong nước mà còn trong khu vực dải núi Hoàng Liên Sơn.
4.1.2 Tính da dạng của khu hệ thú về phân loại học
Dựa trên danh mục các loài thú tại KBTTN Hoàng Liên - Văn Bàn, chúng tôi đã tiến hành đánh giá tính đa dạng của khu hệ thú ở Văn Bàn theo các phương diện phân loại học Các chỉ tiêu được xem xét bao gồm số loài trung bình cho mỗi giống, họ và bộ Khu hệ thú có tính đa dạng phân loại cao khi bộ có ít họ, họ có ít giống và giống có ít loài Đây là một tiêu chí quan trọng mà các nhà bảo tồn chú ý, vì sự tuyệt chủng của những loài này sẽ dẫn đến mất mát cho cả đơn vị phân loại giống, họ và bộ Sự đa dạng về phân loại học của KBTTN Hoàng Liên - Văn Bàn được trình bày trong bảng 4-3.
Bảng 4-3 Tính đa dạng của khu hệ thú Văn Bàn về phân loại học pee | Số bộ (8) Số họ (21) Số giống (41)
Toàn Tỷ lệ i quốc | VB/VN 60 | 100 | 100 | 50 | 64,7 | 83,3 | 66/7 | 27.43 |'55,5 | 19,0 | 18,2
Từ kết quả phân tích và so sánh ở bảng 4-3 về tính đa dạng của khu hệ thú Van Bàn trên các phương diện phân loại học cho ta thấy:
Số loài trung bình cho 1 giống là 1,19; trung bình cho 1 họ là 2,33 và trung bình cho 1 bộ là 6,12
Tại Văn Bàn, 37,5% tổng số bộ thú có ít họ (1 họ), tương đương với 3/8 bộ So với toàn quốc, 60% số bộ thú có 1 họ (3/5 bộ) hiện đang có mặt tại Văn Bàn.
Trong số họ thú đã được phát hiện ở Văn Bàn, số họ có ít giống (1 giống) chiếm tỷ lệ lớn nhất, với 11/21 họ, tương đương 52,4% So với toàn quốc, tỷ lệ này cũng cao, với 11/17 họ, chiếm 64,7%.
Số giống có ít loài (1 loài) là 35/41 giống (chiếm 85,4%) và bằng 55,5% số giống thú có 1 loài của toàn quốc
Khu hệ thú Văn Bàn có tính đa dạng phân loại cao, với nhiều bộ và họ ít giống, cho thấy sự phong phú về loài Kết quả tính toán đã chứng minh tính độc đáo của khu hệ này, đồng thời nhấn mạnh giá trị bảo tồn đa dạng sinh học của các nguồn gen động vật hoang dã quý hiếm.
4.1.3 Đa dạng về các giá trị
Tài nguyên động vật rừng, đặc biệt là thú rừng, đóng vai trò quan trọng trong đời sống, kinh tế, văn hóa và xã hội, đồng thời có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển bền vững của hệ sinh thái rừng Sự biến mất của một loài có thể dẫn đến mất mát nguồn gen quý giá mà con người chưa hiểu hết giá trị của nó Động vật rừng vừa mang lại lợi ích vừa có thể gây hại, vì không có loài thú nào hoàn toàn có lợi hoặc có hại cho con người và hệ sinh thái Việc đánh giá giá trị của thú rừng tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn là cần thiết để tìm ra giải pháp quản lý, phát huy lợi ích và hạn chế tác hại Tuy nhiên, các đánh giá hiện tại chủ yếu mang tính định tính, nhằm nâng cao nhận thức của con người về nguồn tài nguyên thú Để đánh giá toàn diện giá trị của tài nguyên thú rừng tại khu vực này, chúng tôi phân loại theo các nhóm: thú có giá trị thực phẩm, da lông, nguyên liệu, khoa học, bảo vệ rừng, thú cảnh và thú xuất khẩu.
Thú quý hiếm là những loài động vật được ghi trong Sách đỏ thế giới (IUCN) và Sách Đỏ Việt Nam (1992) Theo Nghị định 48/2002/NĐ-CP của chính phủ, chúng tôi đã thu thập dữ liệu từ thực địa, ý kiến chuyên gia và tình hình sử dụng thực tế để lập bảng giá trị các loài thú Bảng này được sắp xếp theo từng họ trong từng bộ thú, dựa trên danh lục thứ của KBTTN Hoàng Liên - Văn Bàn.
4.1.3.1: Đánh giá về giá trị sử dụng
Dựa trên số liệu phân tích từ bảng 4-4, chúng tôi nhận thấy rằng có nhiều loài thú có giá trị về thực phẩm, da lông và thương mại Nhóm thú này đóng góp đáng kể vào các mặt hàng thiết yếu và tiềm năng kinh tế.
SBPLUOALA or š I £ ề z € € ugyp OH oeprfuaisnyy
6 I L4 z z G Zz z z Ê tỏ neo OH 98pIS11 8 Ê 6 6 €L.| el 8 ÊJ | Êl | 91 | 9T 1ù) uy ễq
€ $ SMS |S Lo |] Ss 1t | s | b Sugn.y yur og
AI I I I Ị Ị I I top ugUD OH ứtprjgudds2ouÁ Ÿ I I 1 I I I I ep yuyy og esajdoutag
Inu21òn12 oY oepidyeL £ I nyo 10nYD OH
/OL|NA hệ WL a OT | Id | Id | dL |
30 E013 Wọ,J, WAd ; mm 1 BIN HÒ 9Ð iy BID oy ‘og ELS ueg ue, - tạ 2ug0H N.I.LHI @ n1 ro 209 e9 j1) ứ18 20p 6q ˆp-p 2ượt £€