BÀI GIẢNG LUẬT HÌNH SỰ 1 Thời lượng 45 tiết Tài liệu + Giáo trình Luật Hình sự, tập 1 Chương 1 Khái niệm, nhiệm vụ và các nguyên tắc I Khái niệm luật hình sự 1 Định nghĩa – là ngành luật độc lập gồm h[.]
Trang 1BÀI GIẢNG LUẬT HÌNH SỰ 1
Thời lượng: 45 tiết
Tài liệu:
+ Giáo trình Luật Hình sự, tập 1
Chương 1: Khái niệm, nhiệm vụ và các nguyên tắc
I Khái niệm luật hình sự
1 Định nghĩa
– là ngành luật độc lập gồm hệ thống các quy phạm PL do NN ban hành, quy định hành vi nguy hiểm cho XH là tội phạm và hìnhphạt đối với tội phạm đó
2 Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự
– là quan hệ XH phát sinh giữa NN và người phạm tội khi người này thực hiện tội phạm
3 Phương pháp điều chỉnh
– là phương pháp mệnh lệnh – phục tùng, nghĩa là NN buộc
người phạm tội phải chấp nhận hình phạt, và người phạm tội phảichấp hành NN dùng quyền lực để bắt buộc người phạm tội phải chấp hành
– Đối với những công dân khác, luật hình sự điều chỉnh hành vi bằng cách cấm đoán: cấm thực hiện hành vi nguy hiểm cho XH
mà luật hình sự cho là tội phạm
– Ngoài ra, luật hình sự còn cho phép hành vi phòng vệ chính đáng, để bảo vệ lợi ích của XH và chính họ
Trang 2
II Nhiệm vụ của luật hình sự
Theo Điều 1 Bộ luật Hình sự:
– Luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ XH, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, lợi ích của NN, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức, …
– Có nhiệm vụ giáo dục mọi người ý thức tuân thủ PL, ý thức đấutranh phòng ngừa và chống tội phạm
– Có nhiệm vụ chống hành vi phạm tội
III Các nguyên tắc của luật Hình sự
Là các tư tưởng chỉ đạo của ngành luật về xây dựng và áp dụng luật hình sự trong đó đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.Các nguyên tắc:
Trang 31 Nguyên tắc pháp chế
– Những hành vi bị coi là phạm tội phải được quy định thành tội danh cụ thể trong luật Hình sự ==> để đảo bảo nhân dân không
bị xử lý hình sự một cách tùy tiện (Điều 2, Điều 8)
– Các hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội phải được quy định trong luaath hình sự tương ứng với mỗi tội danh, phù hợp với tính nguy hiểm của hành vi phạm tội (Điều 26)
– Các căn cứ quy định hình phạt đối với người phạm tội phải được quy định thống nhất trong luật Hình sự (Điều 45)
– Việc truy cứu TNHS phải tuân theo các quy định của luật Hình sự
Nguồn của luật hình sự VN hiện nay chỉ có duy nhất Bộ luật Hình
sự do Quốc hội ban hành
II Hiệu lực của luật hình sự – Những nguyên tắc chung
1 Hiệu lực về thời gian (Điều 7)
– Văn bản luật hình sự có hiệu lực để truy cứu TNHS đối với hành vi phạm tội thực hiện sau khi văn bản PL đó được ban hành
và có hiệu lực thi hành Theo nguyên tắc này, văn bản luật hình
Trang 4sự không có hiệu lực trở về trước (tức là không có hiệu lực hồi tố)
– Văn bản luật hình sự không có hiệu lực trở về trước trong các trường hợp:
+ quy định tội mới
+ quy định nội dung không có lợi cho người bị áp dụng
– Ngược lại, nếu việc áp dụng luật mới mà có lợi cho người bị áp dụng thì luật hình sự có hiệu lực trở về trước
2 Hiệu lực về không gian
Có 4 nguyên tắc:
– Theo nguyên tắc lãnh thổ: văn bản luật hình sự có hiệu lực đối với mọi hành vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ quốc gia, dù người phạm tội là bất kỳ ai: công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch
Tội phạm được coi là trên lãnh thổ quốc gia khi: tội phạm bắt đầu,đang diễn ra, hoặc kết thúc trên lãnh thổ quốc gia đó
– Theo nguyên tắc quốc tịch: văn bản luật hình sự có hiệu lực đốivới người phạm tội là công dân quốc gia đó, dù người đó ở trong hay ở ngoài lãnh thổ quốc gia
– Theo nguyên tắc phổ cập: văn bản PL luật hình sự có hiệu lực đối với công dân quốc gia khác phạm tội ngoài lãnh thổ quốc gia ban hành luật hình sự đó trong trường hợp được quy định trong các điều ước quốc tế mà VN ký kết, hoặc tham gia
Trang 5– Theo nguyên tắc đảm bảo an ninh quốc gia: văn bản luật hình
sự có hiệu lực đối với công dân quốc gia khác phạm tội ngoài lãnh thổ quốc gia ban hành luật hình sự nếu tội phạm đó đe dọa nghiêm trọng an ninh quốc gia
III Bộ luật hình sự Việt Nam: hiệu lực và cấu tạo
độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm
những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
2 Các dấu hiệu của tội phạm
– Tội phạm theo luật hình sự VN chỉ có thể là hành vi của con người Vì chỉ bằng hành vi con người tác động vào thế giới kháchquan và cũng chỉ có hành vi mới có thể gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho XH
Trang 6==> Theo nguyên tắc hành vi thì tư tưởng của con người không phải là tội phạm
– Hành vi tội phạm phân biệt với hành vi không phải là tội phạm qua dấu hiệu sau:
+ tính nguy hiểm cho XH
+ tính trái PL hình sự là dấu hiệu hình thức của tội phạm
+ tính phải chịu hình phạt dấu hiệu về hậu quả pháp lý của tội phạm
a Tính nguy hiểm cho XH
– Tính nguy hiểm cho XH là dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất, vì
nó quyết định các dấu hiệu khác của tội phạm
– Nguy hiểm cho XH có nghĩa là tội phạm gây ra thiệt hại hoặc đedọa gây ra thiệt hại cho những quan hệ XH được luật hình sự bảo vệ
Trang 7Những quan hệ XH được luật hình sự bảo vệ gồm (quy định tại Khoản 1 Điều 1):
+ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,
+ quyền làm chủ của nhân dân,
+ bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc,
+ bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
+ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức,
+ bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội;
– Những tình tiết làm căn cứ nhận thức, đánh giá tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, gồm:
+ tính chất của quan hệ XH bị xâm hại
+ mức độ thiệt hại gây ra hoặc đe dọa gây ra cho các quan hệ XH+ nhân thân người có hành vi phạm tội
+ hoàn cảnh chính trị – XH tại nơi và khi xảy ra tội phạm
+ động cơ, mục đích của người phạm tội
+ tính chất và mức độ lỗi
+ tính chất của hành vi khách quan: phương pháp, thủ đoạn, công cụ
Trang 8b Tính có lỗi:
– Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho XH mà họ thực hiện và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra thể hiện dưới dạng cố ý hay vô ý
– Bản chất của lỗi thể hiện ở chỗ chủ thể đã tự mình lựa chọn và quyết định lựa chọn xử sự nguy hại cho XH trong khi có đủ điều kiện để lựa chọn một xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của XH.– Căn cứ vào tính có lỗi cho thấy:
+ luật hình sự VN không chấp nhận việc quy tội khách quan
+ mục đích của việc áp dụng hình phạt là để cải tạo, giáo dục người phạm tội (chứ không phải để trả thù)
c Tính trái PL hình sự
– Hành vi nguy hiểm cho XH bị coi là tội phạm nếu hành vi đó được quy định trong bộ luật hình sự (Điều 8), còn gọi là tính trái
PL hình sự
VD với luật hình sự hiện nay (từ 1999) thì hành vi mua bán,
chiếm đoạt mô, tạng người không bị xử lý hình sự (mà chỉ bị xử phạt hành chính)
– Việc khẳng định tính trái PL hình sự là dấu hiệu của tội phạm, là
sự thể hiện cụ thể của nguyên tắc pháp chế XHCN
– Là cơ sở đảm bảo cho đường lối đấu tranh phòng chống tội phạm được thống nhất
– Là động lực thúc đẩy cơ quan lập pháp kịp thời bổ sung, sửa đổi luật hình sự cho phù hợp với tình hình kinh tế XH từng thời kỳ
Trang 9– Là cơ sở pháp lý đảm bảo cho quyền dân chủ của công dân không bị xâm phạm bởi sự xử lý tùy tiện của cơ quan tố tụng, củanhà chức trách
– Mối quan hệ giữa dấu hiệu (3) với dấu hiệu (1) là mối quan hệ giữa hình thức và nội dung:
+ dấu hiệu “tính nguy hiểm cho XH” là nội dung
+ dấu hiệu “tính trái PL hình sự” là hình thức thể hiện của nội dung đó
3 Phân loại tội phạm
– Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho XH của hành vi được quy định trong luật hình sự, tội phạm được phân thành:+ tội phạm ít nghiêm trọng
+ tội phạm nghiêm trọng
+ tội phạm rất nghiêm trọng
Trang 10+ tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
d Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
– Gây nguy hại đặc biệt lớn cho XH
– Mức cao nhất là chung thân, tử hình
Chú ý:
+ không được căn cứ vào hình phạt do tòa án đã tuyên để phân loại tội phạm (để xác định loại tội) mà phải căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt do bộ luật hình sự quy định đối với loại tội đó
+ 1 tội danh có thể chỉ có 1 khung hình phạt nhưng cũng có thể
có nhiều khung hình phạt Do vậy khi xác định tội phạm phải căn
cứ vào mức cao nhất của từng khung hình phạt do luật hình sự quy định cho tội danh đó
Trang 11Câu hỏi: A phạm tội trộm cắp tài sản (Điều 138) và bị tòa tuyên
30 tháng tù Hỏi A phạm tội nhóm nào
Trả lời: Không được căn cứ vào bản án tòa tuyên, vì tội của A có
thể thuộc nhóm 1 là ít nghiêm trọng (tối đa 3 năm, theo khoản 1 điều 138) hoặc nhóm 2 là nghiêm trọng (từ 2 đến 7 năm tù, theo khoản 2 điều 138)
– Được quy địch trong luật Hình sự
– Nguy hiểm không đáng kể
– Được quy định trong văn bản các ngành luật khác (như luật Hành chính, dân
sự, …)
Hậu quả
pháp lý Xử lý bằng hình phạt
Xử lý bằng biện pháp cưỡng chế NN, khôngbằng hình phạt
– Tiêu chuẩn phân biệt tội phạm và các vi phạm khác:
+ đối với các nhà làm luật: tính nguy hiểm đáng kể cho XH của hành vi (để ghi vào luật Hình sự)
+ đối với nhà giải thích PL hình sự: tính nguy hiểm đáng kể cho
XH của hành vi
Trang 12+ đối với nhà áp dụng luật: là dấu hiệu được quy định trong luật hình sự hay không
– Chú ý:
+ có những hành vi nguy hiểm cho XH luôn là tội phạm mà khôngthể là vi phạm, như giết người, hiếp dâm, chống nhân loại, …+ để phân biệt tội phạm và vi phạm phải căn cứ vào :
Nhân thân người phạm tội
+ có những hành vi nguy hiểm giống tội phạm về mặt hình thức nhưng không là tội phạm
———————
Chương 4: Cấu thành tội phạm
I Các yếu tố của cấu thành tội phạm
Cấu trúc của tội phạm gồm:
+ khách thể của tội phạm
+ mặt khách quan của tội phạm
+ chủ thể của tội phạm
Trang 13+ mặt chủ quan của tội phạm
Đây là 4 yếu tố cấu thành tội phạm, chỉ cần 1 yếu tố không thỏa mãn thì không cấu thành tội phạm
1 Khách thể của tội phạm
– là quan hệ XH được luật hình sự bảo vệ và bị hành vi phạm tội xâm hại
– Không có sự xâm hại đến khách thể thì không có tội phạm
2 Mặt khách quan của tội phạm
– là những biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quuan của tội phạm, bao gồm:
+ hành vi nguy hiểm cho XH
+ hậu quả nguy hiểm cho XH
– Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
– Đây là yếu tố quan trọng nhất của cấu thành tội phạm
3 Mặt chủ quan của tội phạm
– là những diễn biến tâm lý bên trong của tội phạm, bao gồm:+ lỗi của người phạm tội
+ động cơ phạm tội
+ mục đích phạm tội
4 Chủ thể của tội phạm
Trang 14– là người thực hiện hành vi phạm tội Điều kiện để trở thành chủ thể của tội phạm:
+ đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
+ có năng lực trách nhiệm hình sự
II Cấu thành tội phạm
VD: với tội giết người, mỗi vụ việc giết người đều có các đặc điểm riêng, như:
+ chủ thể: bất kỳ ai
+ thủ đoạn: đâm, chém, bắt, đầu độc, dìm chết, …
+ công cụ: dao, súng, dây, …
+ thời gian:
+ hậu quả: chết, thương tích, tâm thần, cố tật, …
Tuy nhiên vẫn có những đặc điểm chung:
Trang 15– là tổng hợp những dấu hiệu chung đặc trưng cho 1 tội phạm cụ thể quy định trong luật hình sự
– Quan hệ giữa tội phạm và cấu thành tội phạm :
+ tội phạm là hành vi, cấu thành tội phạm là …
+ tội phạm là hiện tượng XH, có biểu hiện rất đa dạng ; cấu thànhtội phạm là khái niệm pháp lý phản ánh tội phạm
+ cần phân biệt tội phạm và CTTP
2 Đặc điểm của cấu thành tội phạm
a Các dấu hiệu trong CTTP đều do luật định
– Tội phạm được quy định trong luật hình sự bằng cách mô tả những dấu hiệu của CTTP
– Không được thêm, bớt dấu hiệu của CTTP
b Các dấu hiệu trong CTTP có tính đặc trưng
– CTTP vừa có tính khái quát, vừa phản ánh, do vậy phải sử dụng những dấu hiệu đặc trưng để mô tả
c Các dấu hiệu trong CTTP có tính bắt buộc
Trang 16– Vì nó là điều kiện cần để khẳng định hành vi nào là hành vi phạm tội
– Nếu ở CTTP thiếu 1 dấu hiệu nào đó thì không phạm tội đó
Chú ý : không thể có 2 CTTP giống hệt nhau
VD : cùng là hành vi dùng vũ lực :
+ dùng vũ lực + chiếm đoạt tài sản = tội cướp tài sản
+ dùng vũ lực + giao cấu trái ý muốn = tội hiếp dâm
Lưu ý :
3 Phân loại cấu thành tội phạm
a Theo mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội được CTTP phản ánh :
– Cấu thành tội phạm cơ bản :
+ là CTTP chỉ bao gồm các dấu hiệu định tội
+ được quy định ngay trong điều luật cơ bản của tội đó
– Cấu thành tội phạm tăng nặng :
+ là CTTP ngoài những dấu hiệu định tội còn có những dấu hiệu khác làm tăng đáng kể hành vi nguy hiểm cho XH (thường được quy định tại các khoản 2, 3, 4 của điều luật)
+ CTTP tăng nặng = CTTP cơ bản + tình tiết tăng nặng định khung
– Cấu thành tội phạm giảm nhẹ :
Trang 17+ là CTTP ngoài những dấu hiệu định tội còn có những dấu hiệu khác làm giảm nhẹ đáng kể hành vi nguy hiểm cho XH
+ CTTP giảm nhẹ = CTTP cơ bản + tình tiết giảm nhẹ định khung
Chú ý : mỗi tội phạm phải có 1 CTTP cơ bản, ngoài ra có thể có 1hoặc nhiều CTTP tăng nặng hoặc giảm nhẹ
b Theo đặc điểm cấu trúc :
– CTTP vật chất :
+ là CTTP có các dấu hiệu của mặt khách quan, là hành vi nguy hiểm cho XH, hậu quả nguy hiểm cho XH, và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả được quy định là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP cơ bản
VD : khoản 1 điều 104 đến 109
– CTTP hình thức :
+ là CTTP chỉ có 1 dấu hiệu của mặt khách quan, là hành vi nguy hiểm cho XH, được quy định là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP cơ bản
Trang 18+ những quan hệ XH liên quan đến con người, tập thể : quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân
+ những quan hệ XH liên quan đến những vấn đề khác
Trang 192 Ý nghĩa của khách thể
– Khách thể của tôi phạm là 1 trong 4 yếu tố CTTP, nếu không có
sự xâm hại khách thể thì không có tội phạm
==> tội phạm là hành vi chống đối XH, đi ngược lại lợi ích của XH– Là căn cứ để nhận thức nhiệm vụ của luật hình sự
– Là cơ sở để hệ thống hóa các tội phạm trong bộ luật hình sự– Để đánh giá tính chất nguy hiểm cho XH của hành vi
Chú ý : …
3 Các loại khách thể của tội phạm
– Khách thể chung : là tổng hợp các quan hệ XH được luật hình
+ được xác định tại điều 1 và điều 8 luật Hình sự
– Khách thể loại của tội phạm : là 1 nhóm quan hệ XH cùng tính chất được 1 nhóm quy phạm PL hình sự bảo vệ
+ cho thấy tính chất nguy hiểm của tôi phạm được quy định trong
1 chương của Bộ luật Hình sự
+ là cơ sở để hệ thống hóa các quy phạm …
Trang 20+ bất cứ tội phạm cụ thể nào cũng đều xâm hại đến khách thể loại, xâm hại đến nhiều quan hệ XH trong các loại quan hệ XH nhất định
– Khách thể trực tiếp của tội phạm : là quan hệ XH cụ thể bị loại tội phạm cụ thể xâm hại
+ có thể đồng nhất khách thể loại và khách thể trực tiếp như
trong các tội về xâm hại trí tuệ, …
+ thông qua việc xâm hại đến khách thể trực tiếp mà qua đó, hành vi …
+ 1 hành vi nguy hiểm cho XH có thể xâm hại nhiều quan hệ XH, nhưng không có nghĩa tất cả các quan hệ XH ấy là khách thể trựctiếp
+ tội phạm có thể có 1 hoặc nhiều khách thể trực tiếp
+ việc xác định đúng khách thể trực tiếp là căn cứ để gộp, tách những loại tội phạm cụ thể vào 1 hoặc nhiều tội danh và xếp
chúng vào từng chương của Bộ luật hình sự
II Đối tượng tác động của tội phạm
VD : với hành vi phạm tội giết người thì :
+ khách thể là …
1 Khái niệm
Trang 21– Là bộ phận của khách thể của tội phạm, bị hành vi phạm tội tác động để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ XH được luật hình sự bảo vệ.
2 Một số loại đối tượng tác động của tội phạm
– Con người có thể là đối tượng tác động của tội phạm
– Các đối tượng vật chất với ý nghĩa là khách thể của quan hệ
XH có thể là đối tượng tác động của tội phạm VD các công trình quốc gia, …
– Hoạt động bình thường của chủ thể VD hành vi đưa hối lộ làm biến đổi hành vi của chủ thể
– Phân biệt đối tượng tác động của tội phạm với khách thể và vớicông cụ, phương tiện phạm tội
– Ý nghĩa của đối tượng tác động của tội phạm :
+ có ý nghĩa định tội (trong 1 số trường hợp)
+ có khi được phản ánh là tình tiết định khung hình phạt
+ có khi là tình tiết đánh giá mức độ nguy hiểm cho XH của hành vi
Câu hỏi tình huống :
A lừa đảo chiếm đoạt tài sản xủa B trị giá 300 triệu đồng, hành vi của A được quy định tại điểm a, điều 139, A bị tòa xử 7 năm tù Hãy xác định :
Trang 22(1) Căn cứ vào quy định phân loại tội phạm tại khoản 3 điều 8 luậthình sự, hãy xác định loại tội mà A phạm tội trong tình huống trênthuộc loại tội gì
(2) Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có CTTP vật chất hay hình thức, tại sao ?
(3) Hành vi phạm tội của A thuộc trường hợp CTTP cơ bản, tăng nặng, hay giảm nhẹ ?
(4) Nêu khách thể và đối tượng tác động của tội phạm trong tình huống trên
(5) Nếu A 15 tuổi thì việc xử lý A như trên là đúng hay sai ?
(6) Giả sử A là công dân VN thực hiện hành vi phạm tội trên ở nước ngoài, thì A có phải chịu trách nhiệm hình sự tại VN theo luật hình sự VN không ?
————————- (thảo luận trên lớp)
Câu hỏi: Khẳng định sau là Đúng / Sai
(1) A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tòa tuyên 2 năm tù A phạm tội ít nghiêm trọng
(2) Khi có hành vi phạm tội xảy ra thì đối tượng tác động luôn bị gây thiệt hại
Trả lời:
Trang 23(1) Sai Vì không thể dùng bản án để làm căn cứ xác định loại phạm tội mà phải căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt
Vì mức phạt 2 năm tù có thể rơi vào khoản 1 hay khoản 2 của điều 139, thậm chí A có thể rơi vào khoản 3 nhưng vẫn được áp dụng mức 2 năm tù nếu áp dụng Điều 47
(2) Sai Vì không thể “luôn”: khi có hành vi phạm tội xảy ra, đối tượng tác động thường bị gây thiệt hại, nhưng cũng có nhiều trường hợp đối tượng tác động không bị gây thiệt hại, VD như trường hợp đe dọa gây thiệt hại và bị dừng lại thì đối tượng tác động chưa bị gây thiệt hại
– Phân biệt CTTP vật chất và CTTP hình thức: nếu có hành vi
và có hậu quả xảy ra mới hoàn thành tội phạm thì là cấu thành vật chất, còn dừng ở hành vi đã hoàn thành tội phạm thì là cấu thành hình thức Chú ý: chỉ căn cứ vào các dấu hiệu định tội để phân biệt, không cần xét đến các dấu hiệu về tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ
VD: tội gián điệp (Điều 80): “Người nào có một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù …”, ở đây điều luật chỉ quy định hành vi, không quy định hậu quả ==> CTTP hình thức
VD: tội cướp tài sản (Điều 133): “Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bịtấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm
chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù …”, ở đây điều luật chỉ quy định hành vi, không quy định hậu quả là có cướp được hay không ==>CTTP hình thức
VD: tội cố ý gây thương tích (Điều 104): “Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một
Trang 24trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt …”, như vậy ở đây điềuluật có quy định hành vi và hậu quả ==> CTTP vật chất
VD: tội giết người (Điều 93): “Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù …”, ở đây điều luật không quy định hành vi và hậu quả, do đó phải dựa vào văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền:
+ giết người là hành vi tước đoạt tính mạng người khác
+ hậu quả chết người xảy ra
Như vậy với hướng dẫn này là CTTP vật chất Người nào thực hiện hành vi giết người mà nạn nhân chết thì được coi là tội
phạm hoàn thành, còn nếu nạn nhân không chết thì được coi là tội phạm chưa đạt
– Phân loại khách thể chung, khách thể loại, khách thể trực tiếp của tội phạm
+ Theo Điều 8: “độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ
Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã
hội chủ nghĩa” là khách thể chung của tội phạm, tức là toàn bộ
những quan hệ XH mà hành vi tội phạm có thể gây thiệt hại
+ Trong khách thể chung, có những quan hệ XH có cùng tính chất, được 1 nhóm quy phạm PL luật hình sự bảo vệ, thì được gọi là khách thể loại VD: trong BLHS, chương về nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì toàn bộ nhóm các quan hệ XH về
Trang 25an ninh quốc gia được quy định trong đó là khách thể loại;
tương tự với chương về các tội về trật tự quản lý kinh tế, …
+ Trong mỗi khách thể loại, có những quan hệ XH bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại, VD: A giết B thì quan hệ trực tiếp ở đây là
quyền sống của con người, đây chính là khách thể trực tiếp.
Chú ý: việc xác định khách thể trực tiếp còn phụ thuộc vào tình huống thực tế VD: trộm cắp dây cáp của công ty viễn thông, hay dây điện, … tuy là hành vi trộm cắp nhưng không xâm phạm sở hữu tài sản (của cty), mà là xâm phạm quan hệ XH khác, ở đây là
sự an toàn về thông tin liên lạc và được coi là công trình quan trọng về an ninh quốc gia
Chương 6: Mặt khách quan của tội phạm
I Khái niệm
– Là toàn bộ những diễn biến, biểu hiện bên ngoài của tội phạm
II Các dấu hiệu của mặt khách quan của tội phạm
1 Hành vi khách quan của tội phạm
– Là những biểu hiện của con người ra bên ngoài thế giới khách quan, những biểu hiện này nhằm đạt những mục đích nhất định.Như vậy, Hành vi khách quan của tội phạm phải được:
+ ý thức con người kiểm soát
+ ý chí con người điều khiển
Do vậy, biểu hiện của những người bị tâm thần và mất năng lực hành vi thì không được coi là tội phạm Hoặc các biểu hiện khôngphải do ý chí của con người, hay bị cưỡng bức về thân thể thì cũng không bị coi là tội phạm
Trang 26VD: người tâm thần bị nnất năng lực hành vi thì giết người, đốt nhà hàng xóm, … cũng không bị coi là tội phạm, không bị truy cứu TNHS
– Đặc điểm của hành vi khách quan cả tội phạm:
+ hành vi khách quan có tính nguy hiểm cho XH: đã gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại do XH
+ là hành vi có ý thức và có ý chí: họ biết họ thực hiện hành vi tội phạm vì mục đích gì Trường hợp cưỡng bức về tinh thần vẫn có thể bị truy cứu TNHS tùy vào mức độ bị cưỡng bức
VD: A là cán bộ quản giáo tù nhân, A đang dẫn tù nhân đi lao động, trên đường đi A bị đồng bọn của tù nhân phục kích và gí súng vào đầu, yêu cầu A phải thả tù nhân, A buộc phải thả tù nhân ==> A bị cưỡng bức tinh thần và không bị truy cứu TNHS
VD: vẫn VD trên, nhưng đồng bọn của tù nhân không gí súng vàođầu A mà chỉ đến nói với A rằng “tôi có đầy đủ băng ghi âm, ghi hình việc ông nhận 500 triệu đồng để thả đồng bọn của tôi”, nếu
A về và tìm cách thả tù nhân ==> A vẫn bị truy cứu TNHS vì tuy A
bị cưỡng bức về tinh thần nhưng chưa đến mức không thể lựa chọn hành động khác
+ Là hành vi trái PL hình sự: tức là được luật hình sự quy định là tội phạm
Tại sao chỉ riêng luật Hình sự thì tính trái PL hình sự lại là các hành vi được quy định trong luật hình sự ?
Vì đặc điểm của luật hình sự là tính chất “cấm chỉ”, tức là nhà làmluật đưa ra các quy định để cấm công dân thực hiện những hành
vi gây nguy hiểm cho XH
Trang 272 Hình thức thể hiện của hành vi khách quan
– Bao gồm 2 hình thức:
+ hành động phạm tội: làm việc mà luật hình sự cấm
+ không hành động phạm tội: không làm việc mà luật hình sự buộc phải làm, do đó gây ra thiệt hại cho XH Ở hình thức này cần xác định 2 vấn đề:
3 Các dạng cấu trúc đặc biệt của hành vi khách quan
Căn cứ vào các dạng cấu trúc đặc biệt của hành vi khách quan,
ta chia thành:
– Hành vi khách quan có tính ghép, gọi là Tội ghép: là hành vi
khách quan của 1 tội được cấu trúc từ nhiều hành vi thực tế khác nhau, cùng xảy ra trong 1 thời điểm, xâm hại đến nhiều khách thểkhác nhau
VD tội hiếp dâm (điều 111) là tội ghép, được cấu thành từ 2 hành
vi là dùng vũ lực khống chế (xâm hại đến khách thể là quyền bất khả xâm phạm về thân thể con người) và giao cấu trái ý muốn (xâm hại đến khách thể là nhân phẩm, danh dự của con người), khi truy tố chỉ truy tố thành 1 tội là hiếp dâm, không truy tố thành
2 tội Trường hợp nếu có hậu quả là thương tích xảy ra thì đó là tình tiết tăng nặng (không truy tố thành tội khác)
Trang 28– Hành vi khách quan có tính kéo dài: là loại hành vi khách quan
mà thời điểm hoàn thành tội phạm đến thời điểm kết thúc là 1 khoảng thời gian, và không gián đoạn
VD: tội tàng trữ vũ khí, ma túy trái phép Từ thời điểm tàng trữ đến khi bị phát hiện luôn có khoảng thời gian, 1 ngày, 1 tháng, hay 1 năm, …
– Tội có tính liên tục (tội liên tục): hành vi khách quan được lặp đi lặp lại nhiều lần, cùng tính chất, nhưng ngắt quãng về thời gian Khi đó sẽ tổng hợp toàn bộ hành vi phạm tội để truy tố và xác định 1 lần phạm tội
VD: thủ quỹ thường xuyên lấy trộm tiền quỹ cơ quan, mỗi lần lấy một số tiền Khi đó sẽ tính tổng tất cả số tiền bị lấy trộm để quy tội
Chú ý: tội có tình liên tục khác với phạm tội nhiều lần VD: A
nhận hối lộ, tham ô nhiều lần, thì mỗi lần nhận hối lộ hay tham ô
là 1 lần phạm tội
II Hậu quả nguy hiểm cho xã hội
– Là thiệt hại cho các quan hệ XH là khách thể của tội phạm
– Biểu hiện: qua sự biến đổi tình trạng bình thường của các bộ phận cấu thành quan hệ XH ==> coi đây là hậu quả trong thực tiễn
– Một số hình thức của hậu quả nguy hiểm cho XH:
+ thiệt hại về vật chất
+ thiệt hại về thể chất
Trang 29+ thiệt hại về tinh thần
+ các biến đổi khác
III Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả trong luật hình sự
– Một người chỉ phải chịu TNHS nếu hành vi của họ đóng vai trò
là nguyên nhân gây ra hậu quả nguy hiểm cho XH, có thể là
nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp
– Điều kiện để xem xét 1 hành vi đóng vai trò là nguyên nhân:+ hành vi đó phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian
+ hành vi đóng vai trò là nguyên nhân phải là khả năng thực tế gây ra hậu quả: tức là hành vi mang tính quy luật, tất yếu, bản thân hành vi đã chứa mầm mống gây ra hậu quả VD chĩa súng vào người khác dù súng không có đạn vẫn bị coi là hành động nguy hiểm cho XH VD: uống rượu rồi lái xe ngay bị coi là hành vinguy hiểm cho XH mặc dù có thể không gây nguy hiểm
+ hậu quả xảy ra là sự hiện thực hóa của hành vi đóng vai trò là nguyên nhân
– Cần phân biệt hành vi với vai trò là nguyên nhân với vai trò là điều kiện: Hành vi là điều kiện không chứa đựng mầm mống, không chứa đựng cơ sở làm phát sinh tội phạm mà nó có thể tác động để hậu quả xảy ra nhanh hơn / chậm hơn, quy mô nhỏ
hơn / lớn hơn, … Và người có hành vi đóng vai trò là điều kiện không phải chịu TNHS về hậu quả mà hành vi đóng vai trò là nguyên nhân gây ra
VD: bà A lẫn chiếm vỉa hè để bán nước, khách ngồi ngay trên vỉa
hè uống nước Ông B uống rượu say điều khiển ô tô lao lên vỉa
Trang 30hè làm khách ngồi uống nước chết Ông B lý luận là ông ấy sai khi điều khiển ô tô lao lên vỉa hè, nhưng nếu bà A không vi phạm lấn chiếm vỉa hè thì sẽ không có người ngồi ở đó, ô tô của ông B
sẽ chỉ lao vào tường / cây, không thể gây chết người, nên chết người là do lỗi của bà A Bà A không chịu, nói đã bán nước ở đó nhiều năm mà không ai bị làm sao, lỗi là do ông B lao ô tô lên làmchết người
==> sẽ truy tội cho ai ?
VD: A lái ô tô khách đi qua phà, phà có quy định khi ô tô xuống phà thì khách phải xuống hết đi bộ, chỉ lái xe được điều khiển ô tôxuống phà Hôm đó có 3 phụ nữ vì ngại xuống đi bộ nên đã cho tiền người kiểm soát an toàn là B ở phà để khỏi phải xuống đi bộ.Khi ô tô xuống mép phà thì bị sóng to đánh, ô tô lao xuống sông, người lái xe mở cửa ra và thoát, còn 3 phụ nữ trên ô tô bị chết đuối
==> truy tố tội của A và B thế nào
———————-Chương 7: Chủ thể của tội phạm
I Khái niệm chủ thể của tội phạm
– Chủ thể của tội phạm là con người:
+ có năng lực TNHS
+ đạt độ tuổi luật hình sự quy định
Trang 31– Các đối tượng khác cũng có thể gây thiệt hại lớn cho XH như pháp nhân, người điên, trẻ em dưới 14 tuổi, súc vật, vật nuôi nhưng không bị coi là chủ thể của tội phạm
Trang 32Chú ý: năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành vi có thể không có, hay bị loại trừ nếu con người bị mắc bệnh tâm thần
– Mối quan hệ giữa 2 dấu hiệu là mối quan hệ giữa nguyên nhân
và kết quả:
+ dấu hiệu y học là nguyên nhân
+ dấu hiệu tâm lý là kết quả
– Vấn đề năng lực TNHS hạn chế :
+ điều kiện là khi mắc bệnh tâm thần, bệnh khác nhưng không đến mức làm mất năng lực nhận thức hay mất năng lực điều khiển hành vi
+ Người bị năng lực TNHS hạn chế vẫn bị quy lỗi, vẫn phải chịu TNHS, nhưng được giảm nhẹ tội
3 Năng lực TNHS và tình trạng say rượu
Trang 33Điều 14 : Người phạm tội trong tình trạng say rượu hoặc chất kích thích mạnh khác thì vẫn phải chịu TNHS
– Say rượu thông thường : người phạm tội có lỗi với tình trạng say (vì trước khi uống rượu đã nhận thức được khả năng gây ra lỗi) nên vẫn phải chịu TNHS với tội đã thực hiện khi say
– Say rượu bệnh lý : là chứng loạn tâm thần cấp tính lâm thời, là hiện tượng rất hiếm gặp, thường xuất hiện trên cơ sở đói, mệt hoặc do tiền sử chấn thương, khi đó :
+ người say rượu bệnh lý không có lỗi
+ không phải chịu TNHS về hành vi nguy hiểm đã thực hiện
III Tuổi chịu TNHS
Điều 12 :
– Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm
– Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
– Người chưa đủ 14 tuổi được coi là không có năng lực TNHS nên không phải chịu TNHS
IV Chủ thể đặc biệt của tội phạm
– Là người mà ngoài những dấu hiệu cần thiết của chủ thể của tội phạm còn phải có thêm những dấu hiệu riêng khác nữa và chỉ
có những người có dấu hiệu riêng này mới thực hiện được
những tội phạm mà CTTP đó phản ánh
Trang 34– Các dấu hiệu đó có thể là : quốc tịch (đối với tội phản quốc, chỉ
có người có quốc tịch VN mới mắc tội phản quốc), độ tuổi, giới tính, có chức vụ quyền hạn, có quan hệ họ hàng thân thích …
V Vấn đề nhân thân người phạm tội
– Nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn TNHS của họ
Những đặc điểm đó là : tuổi, nghề nghiệp, trình độ, trình độ văn hóa, lối sống, hoàn cảnh, đời sống kinh tế, thái độ chính trị, ý thức PL, tôn giáo, tiền án, tiền sự, …
– Ý nghĩa :
+ là dấu hiệu định tội
+ là dấu hiệu định khung tội phạm
+ là tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS
Chương 8 : Mặt chủ quan của tội phạm
I Khái niệm mặt chủ quan của tội phạm
– Là diễn biến tâm lý diễn ra bên trong của tội phạm, bao gồm :+ lỗi : có trong tất cả các CTTP
+ động cơ phạm tội
+ mục đích phạm tội
Trang 35II Lỗi
1 Khái niệm
– Nguyên tắc có lỗi là nguyên tắc cơ bản của luật hình sự
– Việc thừa nhận nguyên tắc có lỗi là :
+ không chấp nhận việc quy tội khách quan
+ thừa nhận và tôn trọng quyền tự do của con người
+ hình phạt có mục đích là cải tạo, giáo dục người phạm tội
– Bản chất của lỗi : 1 người được coi là có lỗi nếu lựa chọn thực hiện hành vi gây thiệt hại cho XH, trái PL trong khi có đủ điều kiệnkhách quan và chủ quan để lựa chọn thực hiện hành vi khác phù hợp với đòi hỏi của XH
– Về mặt hình thức, lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho XH của mình và đối với hậu quả do hành
vi đó gây ra, được biểu hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý
2 Lỗi với vấn đề tự do và trách nhiệm
– Con người trong cuộc sống thì có nhiều nhu cầu cần thỏa mãn
==> thỏa mãn nhu cầu là nguồn gốc của mọi hành vi con người hành động để thỏa mãn nhu cầu là tất yếu, nó được hình thành
có quy luật
– Hành vi của con người không chỉ có tính quy định trước mà còn
có tính tự do ==> con người không thể vì thỏa mãn nhu cầu mà
xử sự trái với đòi hỏi của XH Mọi xử sự của con người đều bị chiphối bởi quy luật khách quan, có tính tất yếu Nhưng nhờ hoạt động nhận thức, con người hoàn toàn tự do lựa chọn xử sự để đạt được mục đích của mình
Trang 36– Con người có tự do nhưng lại lựa chọn, thực hiện xử sự trái vớiđòi hỏi của XH thì bị coi là có lỗi.
– Như vậy, tự do là cơ sở của lỗi và của TNHS
– Các dấu hiệu của lỗi cố ý trực tiếp :
+ về lý trí : chủ thể nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho XH, chủ thể đã thấy trước được hậu quả của hành vi đó
+ về ý chí : chủ thể mong muốn cho hậu quả xảy ra
b Lỗi cố ý gián tiếp
– Là lỗi của người nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho XH, thấy trước được hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả
đó xảy ra
– Các dấu hiệu :
Trang 37+ về lý chí : chủ thể nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho XH, chủ thể thấy trước được hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra
+ về ý chí : chủ thể không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả mà mình đã ý thức xảy ra
c Một số loại cố ý khác (không có trong Luật)
4 Các loại lỗi vô ý
a Lỗi vô ý vì quá tự tin
– Là lỗi của người tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho XH nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được
– Các dấu hiệu :
+ về lý chí : chủ thể tuy thấy trước được hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho XH, chủ thể nhận thức được tính chất nguy hiểm cho XH của hành vi của mình
Trang 38+ về ý chí : chủ thể không mong muốn hậu quả xảy ra và tin hậu quả không xảy ra, hoặc tin sẽ tránh được hậu quả
b Lỗi vô ý do cẩu thả
– Là lỗi của người không thấy trước hành vi của mình có thể gây
ra hậu quả nguy hại cho XH, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó
ra VD hút thuốc lá xong vứt lung tung gây cháy
+ chủ thể có nghĩa vụ phải thấy trước hậu quả của hành vi của mình
5 Trường hợp hỗn hợp lỗi
– ĐN: Là trường hợp trong CTTP có 2 loại lỗi cố ý và vô ý đối với những tình tiết khách quan khác nhau
– Điển hình là trường hợp trong 1 CTTP có 2 loại lỗi:
+ cố ý đối với tình tiết khách quan A
+ vô ý đối với tình tiết khách quan B
Trang 39Khi đó thì A là để định khung hình phạt, B là tình tiết tăng nặng
VD Điều 104, Điều 111 khoản 3: cố ý gây thương tích dẫn đến chết người, hay hiếp dâm làm nạn nhân chết
Chú ý: trường hợp hỗi hợp lỗi chỉ có trong cấu thành tăng nặng của một số tội cố ý, trong đó tình tiết tăng nặng này được phản ánh là hậu quả, lỗi của người phạm tội đối với hậu quả đó là lỗi
VD người lái xe đi trên đường nông thôn vào đúng vụ gặt, khi người nông dân phơi rơm rạ trên đường, trẻ con chui xuống lớp rơm để chơi trốn tìm, người lái xe không thể nhìn thấy và cán chết đứa trẻ
Chú ý: bất ngờ >< bất khả kháng
III Động cơ phạm tội
– Là động lực thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi phạm tội
– Chỉ có các tội phạm có lỗi cố ý mới có động cơ phạm tội, lỗi vô
ý không có động cơ phạm tội
Trang 40– Có thể làm thay đổi mức độ nguy hiểm cho XH của hành vi
– Không phải là dấu hiệu bắt buộc chung cho mọi tội phạm
– Có thể được phản ánh là tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, hay định khung …
– Cần phân biệt mục đích phạm tội với hậu quả của tội phạm:
Thuộc mặt khách quan của
tội phạm Thuộc mặt chủ quan của tộiphạmTồn tại trên thực tế Tồn tại trong ý thức
Có sau khi thực hiện hành
vi phạm tội Có trước khi thực hiện hành vi phạm tội
Có thể không phát sinh Luôn luôn tồn tại
Có thể trong mọi tội phạm Chỉ có trong các tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp
– Mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mọi CTTP