1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và nhân giống chè vàng gân lõm (camellia impressinervis hung t chang s ye liang) tại tỉnh cao bằng

102 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và nhân giống Chè hoa vàng gân lõm (Camellia impressinervis Hung T. Chang & S. Ye Liang) tại tỉnh Cao Bằng
Tác giả Đào Trung Đức
Người hướng dẫn TS. Cao Thị Thu Hiền, TS. Trần Lâm Đồng
Trường học Trường Đại học Lâm nghiệp
Chuyên ngành Lâm học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (12)
    • 1.1. Những nghiên cứu về Chè hoa vàng (12)
      • 1.1.1. Những nghiên cứu về Chè hoa vàng trên thế giới (12)
      • 1.1.2. Những nghiên cứu về Chè hoa vàng tại Việt Nam (19)
    • 1.2. Nghiên cứu về Chè hoa vàng gân lõm (34)
    • 1.3. Nghiên cứu đặc điểm lâm học (35)
      • 1.3.1. Những nghiên cứu đặc điểm sinh thái học trên thế giới (35)
      • 1.3.2. Những nghiên cứu đặc điểm sinh thái học tại Việt Nam (39)
  • Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (41)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (41)
    • 2.2. Phạm vi nghiên cứu (41)
    • 2.3. Mục tiêu nghiên cứu (41)
    • 2.4. Nội dung nghiên cứu (41)
    • 2.5. Phương pháp nghiên cứu (41)
      • 2.5.1. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học và lâm học Chè hoa vàng gân lõm (41)
      • 2.5.2. Phương pháp nghiên cứu kỹ thuật nhân giống từ hạt (44)
      • 2.5.3. Phương pháp nghiên cứu kỹ thuật nhân giống bằng hom (46)
      • 2.5.4. Tính toán xử lý số liệu (48)
  • Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU (50)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên (50)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (50)
      • 3.1.2. Địa hình, địa mạo (50)
      • 3.1.3. Khí hậu (51)
      • 3.1.4. Thủy văn (51)
      • 3.1.5. Đặc điểm đất đai (51)
    • 3.2. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội (53)
  • Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (56)
    • 4.1. Một số đặc điểm sinh học và lâm học Chè hoa vàng gân lõm (56)
      • 4.1.1. Đặc điểm hình thái Chè hoa vàng gân lõm (56)
      • 4.1.2. Đặc điểm đất đai nơi Chè hoa vàng gân lõm phân bố (60)
      • 4.1.3. Đặc điểm cấu trúc rừng nơi có Chè hoa vàng phân bố tự nhiên . 52 4.2. Kết quả nghiên cứu nhân giống Chè hoa vàng gân lõm (61)
      • 4.2.1. Kết quả nghiên cứu kỹ thuật nhân giống từ hạt (65)
      • 4.2.2. Kết quả nghiên cứu nhân giống phương pháp giâm hom (72)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Những nghiên cứu về Chè hoa vàng

1.1.1 Những nghiên cứu về Chè hoa vàng trên thế giới

Trong những năm gần đây, nhiều tác giả đã chú ý nghiên cứu các loài cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị về dược liệu và cảnh quan, đặc biệt là chi.

Chi Camellia thuộc họ Theaceae, được nghiên cứu từ đầu thế kỷ 17 Tên gọi Camellia do nhà thực vật học Thụy Điển, Line, đặt để tưởng nhớ cha cố "Camellus Job" trong cuốn "Genera plantarum" Mặc dù một số loài chỉ được nghiên cứu gần 20 năm sau, Camellia japonica là loài đầu tiên được mô tả, tiếp theo là C sinensis Đến cuối thế kỷ 17, chi Camellia mới thực sự thu hút sự chú ý của các nhà thực vật học, đánh dấu sự khởi đầu cho các nghiên cứu sâu rộng về chi này.

Vào những năm đầu thế kỷ XX (1904 - 1931), nhà sưu tập thực vật học người Anh, Forest, đã đến Vân Nam, Trung Quốc, để thu thập các loài như C reticulata và C saluenensis nhằm trồng tại Vườn thực vật hoàng gia Anh Đồng thời, nhà thực vật học nổi tiếng Robert Sealy cũng đã nghiên cứu sâu về chi Camellia Trong cuốn "Revesion of the genus Camellia" xuất bản năm 1958, ông đã giới thiệu và mô tả 82 loài, trong đó 62 loài được phân loại thành 12 nhánh dựa trên các đặc điểm cần thiết, trong khi 20 loài còn lại không được xếp vào nhánh nào do thiếu các đặc điểm phân loại cần thiết.

Năm 1964, các nhà thực vật học Trung Quốc đã phát hiện loài Chè hoa vàng đầu tiên, C chrysantha (Hu) Tuyama, tại Quảng Tây Kể từ đó, nghiên cứu về chi Camellia ở Trung Quốc đã nhận được sự chú ý đặc biệt.

Trung Quốc đã phát hiện 16 loài Camellia hoa vàng và nhanh chóng nhận ra giá trị của chúng Quốc gia này được xem là tiên phong trong nghiên cứu, ứng dụng và khai thác các nguồn lợi từ các loài thuộc chi Camellia.

Camellia đóng vai trò quan trọng trong nghệ thuật làm cây cảnh Nghiên cứu về chi Camellia tại Trung Quốc đã được thực hiện một cách nghiêm túc và có hệ thống từ cuối thế kỷ 19 đến nay Cheng Jin Shui và các cộng sự của ông đã tiến hành phân loại các loài trong chi Camellia, thực hiện nhân chéo và lai tạo giống mới Chỉ sau 20 năm, họ đã tạo ra hơn 300 loài hoa khác nhau.

Khi tiến hành phân loại chi Camellia hai tác giả Trình Kim Thuỷ

(1994) [27] và Trương Hồng Đạt (1998) [45] đã phân thành 4 chi phụ là:

ProtoCamellia, Camellia, MetaCamellia và Thea là các chi phụ chính của chi Camellia, được phân chia thành nhiều nhóm loài khác nhau Nghiên cứu của nhà thực vật học Trung Quốc, Chang Hung Ta, trong cuốn "Camellias" xuất bản năm 1981 đã xác nhận sự phân chia này thành 4 chi phụ và 20 nhánh Công trình của ông đã chỉ ra sự phân bố đa dạng của chi Camellia.

Camellia rất tập trung ở một số tỉnh miền Nam Trung Quốc như: Quảng Tây,

Quảng Đông, Vân Nam và miền Bắc Việt Nam có nhiều điểm tương đồng trong quan điểm của một số nhà thực vật học Trung Quốc như Xia Lijang và Quan Kaiyun Họ đã đưa ra những kết luận tương tự khi nghiên cứu về các loài thuộc chi này.

Trong cuốn "An introduction to the yellow Camellia" và "Camellias", tác giả nêu rõ những đặc điểm quan trọng giúp phân biệt hoa Camellia hoa vàng với ba chi lớn khác trong họ Cụ thể, hoa Camellia thường có nhiều thành phần và ít sự phân hóa, trong khi nhị hoa thường tập trung và liên tục, dẫn đến số loài trên một đơn vị diện tích có thể lớn hơn hẳn so với các chi khác trong họ.

Nghiên cứu phân loại học cho thấy chi Camellia có cấu trúc phức tạp với mối quan hệ phát sinh chủng, loại, giống và loài rõ ràng hơn so với các chi khác trong họ Chi Camellia cũng bao gồm nhiều loài có giá trị kinh tế cao.

Theo Ma Jinglin và cộng sự (2008), loài Chè hoa vàng đầu tiên ở Trung Quốc được phát hiện vào năm 1948, và sau 30 năm, thêm 2 loài đã được thu thập Từ năm 1979 đến 2001, đã xác định thêm 40 loài thuộc chi Camellia, trong đó các loài Chè hoa vàng chỉ phân bố tự nhiên ở Trung Quốc và Việt Nam Chè hoa vàng có phân bố tự nhiên tại vĩ độ 21°30'-22°55' Bắc và kinh độ 107°36'-108°33' Đông, với độ cao từ 100m đến 1100m Khí hậu nơi đây là nhiệt đới gió mùa, với mùa Đông khô và mùa Hè ẩm ướt, nhiệt độ trung bình năm là 22,3°C Lượng mưa hàng năm đạt 1326mm, chủ yếu từ tháng 4 đến tháng 9 Chè hoa vàng phát triển tốt trên đất sét vàng, đỏ với pH từ 4,5-5,5, và có thể sống trên đất có pH 6,5-7,5 Tổng cộng, đã phát hiện 35 loài Chè hoa vàng trên thế giới, trong đó Trung Quốc có 22 loài, và Việt Nam có 4 loài ở Vĩnh Phúc, 1 loài ở Ninh Bình, và 2 loài ở Lạng Sơn.

Ma Jinglin và cộng sự (2008) [55] đã thống kê được 48 loài chè hoa vàng có ở Trung Quốc và Việt Nam như sau:

Bảng 1.1: Danh sách 48 loài chè hoa vàng có ở Trung Quốc và Việt Nam

TT Theo Gao et al (2005) Theo Ming (2000) Theo Chang (1998)

(Nguồn: Theo Ma Jinglin, Donglin Zhang, Riqing Zhang, Jiyuan Li,

Yi Jiang năm 2008 [55]) 1.1.1.2 Phân bố tự nhiên và một số đặc điểm sinh học của Chè hoa vàng

Các loài trong chi Camellia thường là dạng cây bụi, hoặc cây gỗ nhỏ hay trung bình, thường xanh, chiều cao dao động từ 2 đến 20m, có lá đơn,

TT Theo Gao et al (2005) Theo Ming (2000) Theo Chang (1998)

33 C n var Microcarpa C n var Microcarpa C n var microcarpa

39 C p var Terminalis C p var Terminalis C terminalis

48 C xiashiensis C chrysanthoides C parvipetala mọc so le, dày,… mép có khía, thường có mặt ngoài bóng láng; phiến lá dài 3

Hoa chè hoa vàng có đường kính từ 1 đến 12 cm, với 5 đến 9 cánh hoa có màu sắc đa dạng từ trắng, hồng, đỏ đến vàng Quả của cây thuộc loại quả nang, khô, được chia thành 1 đến 5 ngăn, mỗi ngăn chứa từ 1 đến 8 hạt.

Chè hoa vàng có nguồn gốc từ khu vực miền Đông và miền Nam châu Á, trải dài từ dãy Himalaya đến Nhật Bản và Indonesia Theo nghiên cứu của Chinmei Hung và Shihlin Lee (2013), vùng phân bố chính của Chè hoa vàng nằm từ Nam Ninh - Trung Quốc đến Việt Nam, với độ cao thích hợp từ 50-800m so với mực nước biển, nhưng cũng có thể được tìm thấy ở độ cao lên đến 1800m tại Trung Quốc.

Các loài trong chi này thường phát triển tốt trên đất chua và không thích hợp với đất giàu canxi Hầu hết các loài đều ưa ẩm và không chịu được tình trạng khô hạn.

1.1.1.3 Giá trị sử dụng của Chè hoa vàng

Cách đây 4.000 năm người Trung Quốc đã biết sử dụng Chè hoa vàng để uống và coi như một thứ dược liệu quý (Guangxi Institute of Botany,

Gần đây, nghiên cứu về thành phần dược liệu trong cây Chè hoa vàng đã chỉ ra rằng cây này có khả năng chiết xuất 9 vi chất khác nhau Chè hoa vàng có thể kiềm chế sự phát triển của các khối u lên đến 33,8%, giảm 35% hàm lượng cholesterol trong máu và giảm 36,1% lượng lipoprotein trong máu Những công dụng này của Chè hoa vàng được cho là nhờ vào sự hiện diện của các nguyên tố như Selen (Se), Gecmani (Ge) và Molypden (Mo).

Nghiên cứu về Chè hoa vàng gân lõm

Chè hoa vàng gân lõm có tên khoa học C impressinervis Hung T

Chè hoa vàng gân lõm, loài thực vật phân bố tự nhiên tại Cao Bằng và các tỉnh phía Nam Trung Quốc, hiện đang bị đe dọa do khai thác quá mức, đặc biệt là việc đào cả cây con từ rừng tự nhiên Vì lý do này, loài này đã được liệt kê trong danh sách các loài nguy cấp trên thế giới.

Chè hoa vàng gân lõm là một loại cây bụi thường xanh, có thể cao tới 4m và đường kính gốc đạt 12cm Lá của cây đơn, mọc cách, không có lá kèm, với phiến lá dài từ 7-12 cm và rộng từ 3-6 cm, có răng cưa Mặt trên của lá có màu xanh bóng, trong khi mặt dưới có màu xanh đậm Lá non và búp lá có màu tím, sau đó chuyển sang màu xanh khi trưởng thành.

Hoa có màu vàng đậm, kích thước từ 4-6 cánh và trọng lượng từ 6-8 gam mỗi hoa, với 8 cánh xếp thành 2 lớp so le Quả nang có kích thước 2-4 cm, khi chín chuyển sang màu nâu đen, vỏ quả nứt và hạt tự rơi xuống Mỗi quả có 3-5 ngăn, mỗi ngăn chứa 1 hạt.

Chè hoa vàng gân lõm thường phân bố dưới tán rừng tự nhiên nguyên sinh hoặc rừng bị tác động nhẹ, với độ tàn che lớn hơn 0,4 Loài này ưa ẩm, thường xuất hiện ven khe suối, nơi có đất ẩm, thoát nước tốt, hàm lượng mùn cao và thành phần cơ giới nhẹ, cùng với đất trung tính có pH từ 6 đến 7,5.

Chè hoa vàng gân lõm phân bố ở độ cao từ 100-550m so với mực nước biển, tại những khu vực có lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.300 - 1.800mm và có thể trải qua 2-4 tháng khô hạn vào mùa Đông Nhiệt độ trung bình lý tưởng cho sự phát triển của Chè hoa vàng gân lõm dao động từ 19 - 22 oC, và khu vực này không có tuyết (Nguyễn Văn Tuấn và cộng sự, 2019).

Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào về thành phần hóa học của hoa Chè hoa vàng gân lõm tại Việt Nam và trên thế giới Tuy nhiên, giống như các loài Chè hoa vàng khác, Chè hoa vàng gân lõm được sử dụng phổ biến trong dân gian và được coi là có giá trị dược liệu quan trọng cho sức khỏe Tại Cao Bằng, nơi có sự phân bố của Chè hoa vàng gân lõm, hoa và lá được dùng để pha trà tương tự như trà xanh, với nước trà có mùi thơm, vị đậm nhưng không chát, màu vàng nhạt và đặc biệt không bị thiu sau 24 giờ Hoa Chè hoa vàng gân lõm cũng có thể được sấy khô và bảo quản kín, giữ nguyên mùi thơm và vị nước trong thời gian từ 6 tháng đến 1 năm Mặc dù chưa có ghi nhận khoa học về giá trị dược liệu của Chè hoa vàng gân lõm, người dùng cho rằng việc uống thường xuyên có thể cải thiện giấc ngủ, điều hòa huyết áp và giảm đau xương cốt (Trần Văn Đô, 2018) [13].

Nghiên cứu đặc điểm lâm học

1.3.1 Những nghiên cứu đặc điểm sinh thái học trên thế giới

Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của loài cây rừng là rất quan trọng để đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh rừng Các nhà khoa học đã áp dụng lý thuyết về hệ sinh thái, cấu trúc và tái sinh rừng để phân tích đặc điểm của từng loài cụ thể.

Năm 1978, Odum đã hoàn thiện học thuyết về hệ sinh thái dựa trên thuật ngữ của Tansley từ năm 1935 Ông phân chia sinh thái học thành hai nhánh: sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể Trong đó, sinh thái học cá thể tập trung nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài, đặc biệt chú trọng đến chu kỳ sống, tập tính và khả năng thích nghi với môi trường.

Vào thời điểm này, Lacher đã nêu rõ các vấn đề cần nghiên cứu trong sinh thái thực vật, bao gồm việc đánh giá sự thích nghi của sinh vật với các điều kiện dinh dưỡng khoáng, ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm và khí hậu trong môi trường xung quanh.

Quá trình tái sinh rừng là một quá trình sinh học đặc thù của hệ sinh thái rừng, liên quan đến sự xuất hiện của thế hệ cây con từ các loài cây gỗ trong môi trường rừng Hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con và đặc điểm phân bố Theo Baur (1976), sự thiếu hụt ánh sáng trong rừng nhiệt đới ảnh hưởng đến sự phát triển của cây con, mặc dù tác động này đối với sự nảy mầm thường không rõ ràng Đặc biệt, trong rừng nhiệt đới, số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích và mật độ tái sinh thường rất lớn Do đó, việc nghiên cứu tái sinh tự nhiên cần đánh giá chính xác tình hình tái sinh rừng và áp dụng các biện pháp tác động phù hợp.

Cấu trúc rừng là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá đặc điểm lâm học, phản ánh mối quan hệ giữa các loài thực vật và môi trường sống Nghiên cứu cấu trúc rừng giúp xác định các mối quan hệ sinh thái trong quần xã, từ đó cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp.

Hiện tượng thành tầng là đặc trưng cơ bản của cấu trúc hình thái quần thể thực vật, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành cấu trúc tầng thứ Phương pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng được phát triển bởi David và Risa vào năm 1933.

Phương pháp được đề xuất lần đầu tiên vào năm 1934 tại Guyan vẫn được sử dụng, nhưng có nhược điểm là chỉ minh họa cách sắp xếp theo hướng thẳng đứng trong diện tích hạn chế Để khắc phục điều này, Cusen (1951) đã vẽ các dải kề nhau, tạo ra hình tượng không gian 3 chiều Năm 1952, Richards đã nghiên cứu sâu về cấu trúc rừng mưa nhiệt đới, nhấn mạnh rằng hầu hết thực vật trong rừng đều là thân gỗ và thường có nhiều tầng Ông nhận định rằng "Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo, đồng thời phong phú nhất về loài cây".

Nghiên cứu về tầng thứ theo chiều cao trong rừng tự nhiên nhiệt đới vẫn còn mang tính cơ giới và chưa phản ánh đầy đủ sự phân tầng phức tạp Hiện nay, việc nghiên cứu cấu trúc rừng đang chuyển từ mô tả định tính sang định lượng, nhờ vào sự hỗ trợ của thống kê toán học và công nghệ thông tin.

Năm 1971, Rollet đã nghiên cứu mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính thông qua các hàm hồi quy, đồng thời phân tích sự phân bố của đường kính ngang ngực và đường kính tán bằng các dạng phân bố xác suất.

Nhiều nhà khoa học trên thế giới đã áp dụng lý luận về sinh thái, tái sinh và cấu trúc rừng để nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái của từng loài cây Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có thể được nhắc đến.

Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (World Agroforestry Centre,

Nghiên cứu của Anon (1996), Keble và Sidiyasa (1994) đã chỉ ra đặc điểm hình thái của loài Vối thuốc (Schima wallichii), bao gồm thân, lá, hoa, quả và hạt, từ đó cung cấp cơ sở cho việc trồng và nhân rộng loài cây này trong các dự án trồng rừng (Hoàng Văn Chúc, 2009) Theo nghiên cứu của Tian - XiaoRui, Vối thuốc (S wallichii) cùng với Castanopsis hystrix và Myrica rubra là những loài cây có khả năng chống lửa tốt nhất trong số 12 loài được khảo sát.

Vối thuốc là loài cây tiên phong ưa sáng, phân bố rộng rãi ở Đông Nam Á, từ các vùng rừng thấp ở Nam Thái Lan đến các khu vực cao hơn như Nepal Cây này là bản địa của nhiều quốc gia như Brunei, Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, Myanmar, Nepal, Papua New Guinea, Philippines, Thái Lan và Việt Nam Vối thuốc thường mọc thành quần thụ ở các khu vực rừng thứ sinh, đồng cỏ, cây bụi và cả nơi ngập nước có độ mặn nhẹ Loài cây này có khả năng sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau, từ đất cằn cỗi đến đất phì nhiêu, và thường xuất hiện ở những nơi như đầm lầy Vối thuốc được coi là cây tiên phong trong các khu vực nương rẫy.

Theo Khamleck (2004), họ Dẻ có sự phân bố rộng rãi với khoảng 900 loài, chủ yếu ở vùng ôn đới Bắc bán cầu, cận nhiệt đới và nhiệt đới Tuy nhiên, chưa có tài liệu nào ghi nhận sự hiện diện của chúng ở vùng nhiệt đới Châu Phi Đặc biệt, Châu Á là nơi tập trung nhiều loài nhất, trong đó Việt Nam có tới 216 loài, trong khi Châu Phi và vùng Địa Trung Hải chỉ có 2 loài.

Các nghiên cứu về lý thuyết sinh thái, tái sinh và cấu trúc rừng tự nhiên, cùng với việc tìm hiểu đặc điểm sinh học và sinh thái của một số loài cây, đã giúp làm rõ những đặc điểm cấu trúc và tái sinh của rừng nhiệt đới.

1.3.2 Những nghiên cứu đặc điểm sinh thái học tại Việt Nam Ở nước ta, nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học của các loài cây bản địa chưa nhiều, tản mạn, có thể tổng hợp một số thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như sau:

MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là loài Chè hoa vàng gân lõm (Camellia impressinervis Hung T Chang & S Ye) tại tỉnh Cao Bằng.

Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung

Chỉ nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và kỹ thuật nhân giống từ hạt và giâm hom cho loài Chè hoa vàng gân lõm

- Phạm vi về không gian Đối với nghiên cứu đặc điểm lâm học được tiến hành tại huyện Thạch

Nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống từ hạt và giâm hom được thực hiện tại Viện Nghiên cứu Lâm sinh ở Đức Thắng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội, với vật liệu lấy từ huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.

- Phạm vi về thời gian

Thời gian nghiên cứu thực hiện từ tháng 10/2018-10/2020

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định được một số đặc điểm lâm học và kỹ thuật nhân giống Chè hoa vàng gân lõm.

Nội dung nghiên cứu

 Nghiên cứu đặc điểm lâm học của Chè hoa vàng gân lõm;

 Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống từ hạt Chè hoa vàng gân lõm;

 Nghiên cứu kỹ thuật giâm hom Chè hoa vàng gân lõm.

Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học và lâm học Chè hoa vàng gân lõm

2.5.1.1 Điều tra, thu thập số liệu ngoại nghiệp a) Nghiên cứu đặc điểm sinh học Chè hoa vàng gân lõm

Phương pháp quan sát mô tả trực tiếp đối tượng đại diện, kết hợp với phương pháp đối chiếu và so sánh với tài liệu hiện có, là một phương pháp phổ biến trong nghiên cứu thực vật học (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001).

Quan sát và mô tả hình thái của cây Trà hoa vàng bao gồm việc xác định kích thước các bộ phận như thân cây, vỏ cây, sự phân cành, lá, hoa và hạt Để đo chu vi thân cây, sử dụng thước dây tại vị trí D1.3 Đối với lá và quả, chọn những mẫu sinh trưởng bình thường, không bị sâu bệnh hay biến dạng, sau đó dùng thước kẻ hoặc thước dây để đo chiều dài và rộng, ghi lại các thông số vào bảng Ngoài ra, thước kẹp cũng có thể được sử dụng để đo kích thước quả với độ chính xác cao và tiện lợi.

Việc lấy mẫu tiêu bản không chỉ giới hạn ở loài nghiên cứu mà còn bao gồm các loài khác trong quần xã để hỗ trợ cho việc định danh loài Các mẫu vật thu thập cần được so sánh với các tiêu bản trước đây hoặc những loài cây có hình thái tương tự nhằm đảm bảo tính chính xác trong việc xác định loài.

Đo đếm giá trị trung bình của lá và quả cây Trà hoa vàng được thực hiện với sự hỗ trợ của các dụng cụ như máy ảnh, thước dây, ống nhòm và GPS Nghiên cứu này cũng tập trung vào đặc điểm lâm học của Chè hoa vàng gân lõm.

Phỏng vấn cán bộ kiểm lâm và người dân địa phương để xác định khu vực phân bố tự nhiên của Chè hoa vàng gân lõm, bao gồm địa điểm, độ cao và loại rừng Kết hợp thông tin này với bản đồ hiện trạng rừng và bản đồ địa hình để chấm điểm phân bố Dựa vào các thông tin thu thập được, lựa chọn tuyến điều tra Nếu phát hiện Chè hoa vàng trên tuyến điều tra, lập ô tiêu chuẩn (OTC) tạm thời trên các dạng lập địa và trạng thái thực bì khác nhau, đồng thời xác định vị trí địa lý của các ô điều tra bằng GPS.

Mỗi ô thử nghiệm (OTC) có diện tích 1.000m² (20m × 50m) và được sử dụng để đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng của toàn bộ cây trong ô, bao gồm cả cây Chè hoa vàng và tầng cây cao Các chỉ tiêu cần đo đếm bao gồm đường kính gốc của cây Chè hoa vàng (Dg), đường kính ngang ngực của tầng cây cao (D1,3 ≥ 6cm), chiều cao dưới cành (Hdc), chiều cao vút ngọn (Hvn) và đường kính tán lá (Dt) Đối với cây Chè hoa vàng, cần xác định nguồn gốc là cây hạt hay cây chồi, cũng như thông tin về hoa (đã ra hoa hay chưa) dựa trên quan sát chồi nụ, nụ, hoa, quả và cây tái sinh dưới tán Cuối cùng, cần xác định tên loài cho tất cả các cây được đo đếm.

Mô tả lâm phần bao gồm kiểu rừng lá rộng thường xanh và bán rụng lá, với các yếu tố như độ cao phân bố được đo bằng máy GPS, độ dốc và hướng phơi ảnh hưởng đến cường độ ánh sáng và độ ẩm đất Vị trí của rừng, như chân đồi, đỉnh đồi, ven suối và gần nguồn nước, thể hiện độ ẩm của đất và không khí Lớp thảm tươi cây bụi được mô tả qua tên loài chủ yếu, số lượng khóm, chiều cao bình quân và độ che phủ trung bình của từng loài Lớp thảm mục phản ánh khả năng giữ ẩm và dinh dưỡng của đất, trong khi các yếu tố như loại đất, độ dày tầng đất, độ đá lẫn, thành phần cơ giới và mức độ thoát nước cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá chất lượng lâm phần.

Tại mỗi điểm điều tra, mẫu đất được lấy trong độ sâu 0 - 40cm để phân tích thành phần cơ giới, N, P, K, pH và hàm lượng mùn Chè hoa vàng, một loại cây gỗ nhỏ/cây bụi với hệ rễ nông, chủ yếu phát triển trong lớp đất này Do đó, việc nghiên cứu và đánh giá thành phần cơ giới, dinh dưỡng và pH của lớp đất 0 - 40cm là rất quan trọng.

Nhiệt độ không khí và lượng mưa trung bình được thu thập từ các trạm khí tượng thủy văn tại Cao Bằng, đại diện cho các khu vực điều tra.

2.5.1.2 Tính toán, xử lý số liệu

Hệ số tổ thành của cây thường được xác định dựa trên số lượng cây hoặc tiết diện ngang Trong sinh thái, tổ thành tầng cây cao được xác định theo số cây, trong khi đó, từ góc độ sản lượng, tổ thành thực vật lại được xác định qua tiết diện ngang hoặc trữ lượng Để xác định tổ thành tầng cây cao, nghiên cứu áp dụng phương pháp tính giá trị quan trọng (IV %) của Daniel Marmillod.

IVi% là tỷ lệ tổ thành (độ quan trọng) của loài i

Ni% là % theo số cây của loài i trong quần xã thực vật (QXTV) rừng Gi% là % theo tổng tiết diện ngang của loài i

Theo Daniel Marmillod, chỉ những loài cây có IV% ≥ 5% mới có ý nghĩa sinh thái trong quản lý và bảo tồn rừng Thái Văn Trừng (1978) cho rằng nhóm cây dưới 10 loài có tổng IV% ≥ 50% tổng số cá thể của tầng cây cao được xem là nhóm loài ưu thế, hay còn gọi là ưu hợp thực vật.

Cấu trúc mật độ thể hiện số lượng cá thể của từng loài hoặc tổng thể các loài trong một đơn vị diện tích, phản ánh mức độ sử dụng không gian dinh dưỡng và vai trò của loài trong quá trình phát triển của rừng.

Công thức xác định mật độ như sau:

𝑆 𝑜̂ × 10.000 Trong đó: n: Số lượng cá thể của loài hoặc tổng số cá thể trong OTC

2.5.2 Phương pháp nghiên cứu kỹ thuật nhân giống từ hạt

Thí nghiệm nghiên cứu kỹ thuật nhân giống từ hạt được thực hiện tại Vườn ươm Viện Nghiên cứu Lâm sinh tại Bắc Từ Liêm - Hà Nội

Hạt giống được thu hoạch từ cây trồng tại vườn hộ gia đình ở huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng Những hạt này được lấy từ 5 cây mẹ có chiều cao từ 1,3 đến 1,8m và đường kính gốc từ 4 đến 7cm Đây là những cây được trồng từ cây đào rừng, phát triển tốt và không bị sâu bệnh Các cây này đã cho quả trong khoảng 3 đến 4 năm.

2.5.2.1 Thí nghiệm xử lý hạt trước khi gieo gồm 3 công thức:

+ Hạt được ngâm trong nước nóng 40 - 45 o C cho đến khi nước đạt nhiệt độ bình thường;

+ Hạt được ngâm trong nước nóng 70 - 75 o C trong thời gian 5 phút;

+ Đối chứng, hạt được ngâm trong nước ở nhiệt độ thường (nhiệt độ của nước nằm trong khoảng từ 20 0 C đến 25 0 C) trong thời gian 5 giờ

+ Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ, 3 lần lặp, mỗi lặp

2.5.2.2 Thí nghiệm bảo quản hạt gồm 2 công thức:

+ Hạt được bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ -10 o C đến -12 o C trong thời gian 1 tháng (hạt sau khi thu về, cho vào túi bóng kín và để vào tủ lạnh);

Hạt giống không được bảo quản và được gieo ngay sau khi thu hoạch từ cây mẹ Thí nghiệm được thiết kế theo phương pháp khối ngẫu nhiên đầy đủ với ba lần lặp lại cho mỗi thí nghiệm.

2.5.2.3 Gieo hạt và quản lý luống gieo

Hạt được gieo trên luống cát, dày 10 cm Hạt được gieo theo khoảng cách

3 cm x 3 cm, hạt sau khi reo được phủ bằng 1 lớp cát dày 1 - 1,5cm

Luống gieo được che bóng 40 - 50% bằng lưới che vườn ươm và phủ bên ngoài một lớp giấy bóng để giữ độ ẩm trên 95% và nhiệt độ từ 24 - 27 độ C Cần tưới nước định kỳ mỗi ngày một lần vào buổi chiều.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 13/07/2023, 17:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Phương Anh (1995), Phân loại chi Camellia ở Vườn Quốc gia Cúc Phương, Luận văn Thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại chi Camellia ở Vườn Quốc gia Cúc Phương
Tác giả: Trần Thị Phương Anh
Nhà XB: Trường Đại học Lâm nghiệp
Năm: 1995
2. Baur G.N. (1976), Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa, Vương Tấn Nhị dịch, Nxb. Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa
Tác giả: Baur G.N
Nhà XB: Nxb. Khoa học kỹ thuật
Năm: 1976
3. Nguyễn Thanh Bình (2003), Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Dẻ ăn quả phục hồi tự nhiên tại Bắc Giang, Luận văn thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp, Trường ĐHLN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Dẻ ăn quả phục hồi tự nhiên tại Bắc Giang
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Trường ĐHLN
Năm: 2003
4. Vũ Văn Cần (1997), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của cây Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng ở Vườn Quốc gia Cúc Phương, Luận văn thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của cây Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng ở Vườn Quốc gia Cúc Phương
Tác giả: Vũ Văn Cần
Nhà XB: Trường Đại học Lâm nghiệp
Năm: 1997
5. Nguyễn Bá Chất (1996), Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và biện pháp kỹ thuật gây trồng nuôi dưỡng cây Lát hoa (Chukrasia tabularis A.Juss), Luận án PTS Khoa học Nông nghiệp, VKHLN Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và biện pháp kỹ thuật gây trồng nuôi dưỡng cây Lát hoa (Chukrasia tabularis A.Juss)
Tác giả: Nguyễn Bá Chất
Nhà XB: VKHLN Việt Nam
Năm: 1996
6. Hoàng Văn Chúc (2009), Trong công trình: Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên loài Vối thuốc (Schima wallichii Choisy) trong các trạng thái, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên loài Vối thuốc (Schima wallichii Choisy) trong các trạng thái
Tác giả: Hoàng Văn Chúc
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
7. Hoàng Minh Chúc (1996), Tìm hiểu đặc tính hình thái, sinh thái và sinh trưởng của loài Camellia có hương thơm ở Vườn quốc gia Ba Vì - Hà Tây, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu đặc tính hình thái, sinh thái và sinh trưởng của loài Camellia có hương thơm ở Vườn quốc gia Ba Vì - Hà Tây
Tác giả: Hoàng Minh Chúc
Nhà XB: Trường Đại học Lâm nghiệp
Năm: 1996
8. Lê Thành Cương (2012), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng nhân giống bằng hom loài Hải đường vàng (Camellia tienii Ninh, Tr.) tại Vườn quốc gia Tam Đảo, Luận văn cao học, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng nhân giống bằng hom loài Hải đường vàng (Camellia tienii Ninh, Tr.) tại Vườn quốc gia Tam Đảo
Tác giả: Lê Thành Cương
Nhà XB: Trường Đại học Lâm nghiệp
Năm: 2012
9. Ngô Thị Minh Duyên (2012), Nghiên cứu tuyển chọn loài, xuất xứ và nhân giống trà hoa vàng (Camellia spp) phục vụ bảo tồn và phát triển, Báo cáo kết quả khoa học đề tài, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tuyển chọn loài, xuất xứ và nhân giống trà hoa vàng (Camellia spp) phục vụ bảo tồn và phát triển
Tác giả: Ngô Thị Minh Duyên
Nhà XB: Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Năm: 2012
10. Ngô Quang Đê (1996), Nghiên cứu hai loài cây Camellia có triển vọng thuần hóa làm cây cảnh ở Ba Vì - Hà Tây, Báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hai loài cây Camellia có triển vọng thuần hóa làm cây cảnh ở Ba Vì - Hà Tây
Tác giả: Ngô Quang Đê
Nhà XB: Báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học
Năm: 1996
11. Ngô Quang Đê, Ngô Quang Hưng, Lê Sỹ Doanh (2008), “Khảo sát điều kiện sống của trà hoa vàng tại Ba Vì (Hà Tây) và Sơn Động (Bắc Giang)”, Tạp chí khoa học lâm nghiệp, (số 4), trang 806 ÷ 810 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát điều kiện sống của trà hoa vàng tại Ba Vì (Hà Tây) và Sơn Động (Bắc Giang)
Tác giả: Ngô Quang Đê, Ngô Quang Hưng, Lê Sỹ Doanh
Nhà XB: Tạp chí khoa học lâm nghiệp
Năm: 2008
12. Ngô Quang Đê (2013), “Nhân giống Trà hoa vàng”, Tạp chí Việt Nam Hương sắc, (Số 6/2013), trang 22-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân giống Trà hoa vàng
Tác giả: Ngô Quang Đê
Nhà XB: Tạp chí Việt Nam Hương sắc
Năm: 2013
13. Trần Văn Đô (2018), Tổng quan gây trồng và phát triển Chè hoa vàng tại Cao Bằng, Báo cáo Khoa học, Viện Nghiên cứu Lâm sinh. Hà Nôi, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan gây trồng và phát triển Chè hoa vàng tại Cao Bằng
Tác giả: Trần Văn Đô
Nhà XB: Báo cáo Khoa học
Năm: 2018
14. Nguyễn Thị Hương Giang (2009), Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh của loài Vối thuốc (Schima wallichii Choisy) tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía Bắc, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh của loài Vối thuốc (Schima wallichii Choisy) tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía Bắc
Tác giả: Nguyễn Thị Hương Giang
Nhà XB: Trường Đại học Nông nghiệp I
Năm: 2009
15. Chu Tương Hồng (1993), Nghiên cứu lợi dụng tài nguyên hoa trà và triển vọng, Dịch giả Ngô Quang Đê, Tạp chí nghiên cứu thực vật học Vân Nam (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu lợi dụng tài nguyên hoa trà và triển vọng
Tác giả: Chu Tương Hồng
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu thực vật học Vân Nam
Năm: 1993
16. Trần Hợp (2002), “Tài nguyên cây gỗ Việt Nam”, Nxb. Nông nghiệp, TP Hồ Chí Minh, (Số 151), trang 143-175 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên cây gỗ Việt Nam
Tác giả: Trần Hợp
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2002
18. Bùi Văn Khánh (1996), Tìm hiểu đặc tính hình thái, sinh thái và sinh trưởng của một số loài cây trong chi Camellia ở Vườn quốc gia Ba Vì - Hà Tây, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu đặc tính hình thái, sinh thái và sinh trưởng của một số loài cây trong chi Camellia ở Vườn quốc gia Ba Vì - Hà Tây
Tác giả: Bùi Văn Khánh
Nhà XB: Trường Đại học Lâm nghiệp
Năm: 1996
19. Ly Meng Seang (2008), Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của rừng Tếch trồng ở Kampong Cham, Campuchia, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của rừng Tếch trồng ở Kampong Cham, Campuchia
Tác giả: Ly Meng Seang
Nhà XB: Trường Đại học Nông nghiệp
Năm: 2008
20. Vương Hữu Nhị (2003), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và kỹ thuật tạo cây con Căm xe góp phần phục vụ trồng rừng ở Đắc Lắc, Tây Nguyên, Luận án Tiến sỹ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và kỹ thuật tạo cây con Căm xe góp phần phục vụ trồng rừng ở Đắc Lắc, Tây Nguyên
Tác giả: Vương Hữu Nhị
Nhà XB: Luận án Tiến sỹ Nông nghiệp
Năm: 2003
22. P Odum (1978), Cơ sở sinh thái học, Tập 1. Nxb. Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh thái học
Tác giả: P Odum
Nhà XB: Nxb. Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1978

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Hoa một số loài Chè hoa vàng có phân bố tại Việt Nam - Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và nhân giống chè vàng gân lõm (camellia impressinervis hung t  chang  s  ye liang) tại tỉnh cao bằng
Hình 1.1 Hoa một số loài Chè hoa vàng có phân bố tại Việt Nam (Trang 28)
Hình 4.2: Mặt trước lá Chè hoa - Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và nhân giống chè vàng gân lõm (camellia impressinervis hung t  chang  s  ye liang) tại tỉnh cao bằng
Hình 4.2 Mặt trước lá Chè hoa (Trang 58)
Hình 4.4: Hoa Chè hoa vàng gân lõm  Hình 4.5: Quả Chè hoa vàng gân lõm - Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và nhân giống chè vàng gân lõm (camellia impressinervis hung t  chang  s  ye liang) tại tỉnh cao bằng
Hình 4.4 Hoa Chè hoa vàng gân lõm Hình 4.5: Quả Chè hoa vàng gân lõm (Trang 59)
Hình 4.6. Búp Chè hoa vàng gân - Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và nhân giống chè vàng gân lõm (camellia impressinervis hung t  chang  s  ye liang) tại tỉnh cao bằng
Hình 4.6. Búp Chè hoa vàng gân (Trang 60)
Hình 4.8: Cây mẹ Chè hoa vàng gân lõm (a), hoa (b), quả (c), quả chín - Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và nhân giống chè vàng gân lõm (camellia impressinervis hung t  chang  s  ye liang) tại tỉnh cao bằng
Hình 4.8 Cây mẹ Chè hoa vàng gân lõm (a), hoa (b), quả (c), quả chín (Trang 66)
Hình 4.10: Ảnh hưởng của xử lý hạt giống đến ngày bắt đầu nảy mầm - Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và nhân giống chè vàng gân lõm (camellia impressinervis hung t  chang  s  ye liang) tại tỉnh cao bằng
Hình 4.10 Ảnh hưởng của xử lý hạt giống đến ngày bắt đầu nảy mầm (Trang 68)
Hình 4.11: Ảnh hưởng của xử lý hạt giống đến ngày kết thúc nảy mầm - Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và nhân giống chè vàng gân lõm (camellia impressinervis hung t  chang  s  ye liang) tại tỉnh cao bằng
Hình 4.11 Ảnh hưởng của xử lý hạt giống đến ngày kết thúc nảy mầm (Trang 69)
Hình 4.12: Ảnh hưởng của xử lý hạt giống đến tỷ lệ nảy mầm - Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và nhân giống chè vàng gân lõm (camellia impressinervis hung t  chang  s  ye liang) tại tỉnh cao bằng
Hình 4.12 Ảnh hưởng của xử lý hạt giống đến tỷ lệ nảy mầm (Trang 70)
Hình 4.13: Ảnh hưởng của xử lý hạt giống đến tổng tỷ lệ nảy mầm. - Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và nhân giống chè vàng gân lõm (camellia impressinervis hung t  chang  s  ye liang) tại tỉnh cao bằng
Hình 4.13 Ảnh hưởng của xử lý hạt giống đến tổng tỷ lệ nảy mầm (Trang 71)
Hình 4.14: Số rễ trung bình/hom sau khi giâm 4 tháng tại các loại giá thể - Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và nhân giống chè vàng gân lõm (camellia impressinervis hung t  chang  s  ye liang) tại tỉnh cao bằng
Hình 4.14 Số rễ trung bình/hom sau khi giâm 4 tháng tại các loại giá thể (Trang 73)
Hình 4.16: Hom trong luống giâm với hệ thống phun tự động (a), luống  giâm được che lưới (b), hom ra rễ sau 4 tháng ở các giá thể giâm (c) - Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và nhân giống chè vàng gân lõm (camellia impressinervis hung t  chang  s  ye liang) tại tỉnh cao bằng
Hình 4.16 Hom trong luống giâm với hệ thống phun tự động (a), luống giâm được che lưới (b), hom ra rễ sau 4 tháng ở các giá thể giâm (c) (Trang 74)
Hình 4.17: Tỷ lệ hom ra rễ sau khi giâm 4 tháng ở các loại và nồng độ - Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và nhân giống chè vàng gân lõm (camellia impressinervis hung t  chang  s  ye liang) tại tỉnh cao bằng
Hình 4.17 Tỷ lệ hom ra rễ sau khi giâm 4 tháng ở các loại và nồng độ (Trang 76)
Bảng 4.10: Ảnh hưởng của nồng độ IAA đến tỷ lệ hom sống và hom ra rễ - Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và nhân giống chè vàng gân lõm (camellia impressinervis hung t  chang  s  ye liang) tại tỉnh cao bằng
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của nồng độ IAA đến tỷ lệ hom sống và hom ra rễ (Trang 77)
Bảng 4.11: Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến tỷ lệ hom sống và hom ra rễ - Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và nhân giống chè vàng gân lõm (camellia impressinervis hung t  chang  s  ye liang) tại tỉnh cao bằng
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến tỷ lệ hom sống và hom ra rễ (Trang 78)
Hình 4.18: Hom ra rễ sau khi giâm 4 tháng ở các loại và nồng độ chất - Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và nhân giống chè vàng gân lõm (camellia impressinervis hung t  chang  s  ye liang) tại tỉnh cao bằng
Hình 4.18 Hom ra rễ sau khi giâm 4 tháng ở các loại và nồng độ chất (Trang 79)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm