1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng và đê xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng tại huyện thuận châu, tỉnh sơn la

93 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
Tác giả Nguyễn Mạnh Cương
Người hướng dẫn TS. Trần Việt Hà
Trường học Trường Đại học Lâm nghiệp
Chuyên ngành Lâm nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (10)
    • 1.1. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu (10)
    • 1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu (11)
      • 1.2.1. Trên thế giới (11)
      • 1.2.2. Ở Việt Nam (12)
  • Chương 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (16)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (16)
      • 2.1.1. Mục tiêu tổng quát (16)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (16)
    • 2.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu (16)
      • 2.2.1. Đối tượng nghiên cứu (16)
      • 2.2.2. Phạm vi nghiên cứu (16)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (16)
      • 2.3.1. Nghiên cứu hiện trạng rừng (16)
      • 2.3.2. Nghiên cứu thực trạng công tác QLBVTNR (16)
      • 2.3.3. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác QLBVTNR (16)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (17)
      • 2.4.1. Phương pháp kế thừa các tài liệu thứ cấp (17)
      • 2.4.2. Phương pháp điều tra thu thập số liệu hiện trường (17)
      • 2.4.3. Xử lý số liệu nội nghiệp (19)
  • Chương 3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SINH, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA (21)
    • 3.1 Điều kiện tự nhiên (21)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (21)
      • 3.1.2. Địa hình (22)
      • 3.1.3. Khí hậu - thủy văn (23)
      • 3.1.4. Tài nguyên đất (23)
    • 3.2. Tình hình dân sinh, kinh tế, xã hội (24)
      • 3.2.1. Dân sinh (24)
      • 3.2.2. Kinh tế (24)
      • 3.2.3. Văn hóa - xã hội (25)
      • 3.2.4. Lao động (25)
  • Chương 4. KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ (26)
    • 4.1. Đặc điểm hiện trạng tài nguyên rừng huyện Thuận Châu (26)
      • 4.1.1. Hiện trạng rừng và đất rừng (26)
      • 4.1.2. Chủ thể tham gia QLBVTNR (29)
    • 4.2. Thực trạng công tác QLBVTNR tại Thuận Châu (31)
      • 4.2.1. Tình hình tổ chức lực lượng tham gia công tác QLBVTNR (31)
      • 4.2.2. Công tác thực thi pháp luật về QLBVTNR (34)
    • 4.3. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác QLBVTNR (45)
      • 4.3.1. Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với công tác QLBVTNR tại huyện Thuận Châu (45)
    • 4.4. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác QLBVTNR (48)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (52)
  • PHỤ LỤC (54)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Rừng được định nghĩa theo quy định của pháp luật Việt Nam và các tổ chức quốc tế như một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật, động vật, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác Thành phần chính của rừng là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau với chiều cao xác định theo hệ thực vật trên các loại đất như núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác Rừng có diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên và độ tàn che từ 0,1 trở lên (Luật số 16, điều 2, khoản 3).

Tài nguyên rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên tái tạo, đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái Chúng bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng, cùng với thực vật, động vật và các yếu tố tự nhiên liên quan, tạo thành quần xã sinh vật đa dạng và có giá trị lớn.

QLBV tài nguyên rừng bao gồm các hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền nhằm tổ chức và quản lý hiệu quả, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng.

QLRBV là phương thức quản trị rừng nhằm đạt được các mục tiêu bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời không làm suy giảm giá trị rừng Phương thức này còn nâng cao giá trị rừng, cải thiện sinh kế, bảo vệ môi trường và góp phần giữ vững quốc phòng, an ninh.

Quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng là yếu tố then chốt trong việc duy trì và phát triển nguồn tài nguyên quý giá này Hoạt động này không chỉ đảm bảo giá trị phòng hộ và cân bằng sinh thái mà còn góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao giá trị kinh tế của tài nguyên rừng.

Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Lịch sử quản lý rừng nhiệt đới bắt đầu từ đầu thế kỷ 19 tại Ấn Độ và Mianma, sau đó lan rộng ra nhiều khu vực ở Châu Phi Ban đầu, mục tiêu quản lý là bảo vệ các nguồn tài nguyên gỗ Sau này, các hoạt động quản lý đã được đa dạng hóa, bao gồm chuyển đổi rừng tự nhiên thành rừng trồng hoặc nông lâm kết hợp, tạo ra rừng tự nhiên có năng suất cao hơn, và giảm thiểu tác động bằng cách sử dụng tái sinh tự nhiên để phát triển các lâm phần lấy gỗ Quản lý rừng cũng bao gồm các hệ thống phục hồi nhằm khôi phục rừng trên đất đã bị thoái hóa.

Vào những năm 90, các nhà bảo tồn đã phát triển một cách tiếp cận mới nhằm cân bằng giữa lợi ích kinh tế và bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) Các cộng đồng địa phương có cơ hội hưởng lợi trực tiếp từ ĐDSH, từ đó giảm thiểu các tác nhân gây hại từ bên ngoài Sinh kế không chỉ hỗ trợ cho việc bảo tồn ĐDSH mà còn khẳng định vai trò quan trọng của người dân địa phương trong quá trình này (FAO, 1996).

Theo Schachenmann P (1999), nguyên nhân chính dẫn đến hiệu quả kém của các chương trình quản lý tài nguyên thiên nhiên là do chưa giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân trong cộng đồng và giữa lợi ích cộng đồng địa phương với lợi ích quốc gia Điều này dẫn đến việc chưa phát huy được năng lực nội sinh của các cộng đồng trong quản lý tài nguyên Do đó, cần phát triển quản lý tài nguyên theo hướng kết hợp giữa bảo tồn và phát triển tài nguyên với hoạt động sản xuất, nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân và thống nhất lợi ích của họ với lợi ích quốc gia trong công tác bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng.

Gần đây, hình thức quản lý rừng cộng đồng đã nổi bật với sự tham gia của người dân, trở thành nguồn thu nhập và cơ hội việc làm cho các cộng đồng nông thôn Nhờ sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật từ các tổ chức phi chính phủ và tổ chức tài trợ quốc tế, chương trình này đã được triển khai trên toàn quốc và đạt nhiều thành công trong giai đoạn hiện tại (theo Cẩm nang ngành Lâm nghiệp, 2006).

Trước năm 1945, đơn vị quản lý rừng được gọi là Hạt lâm nghiệp, tương đương với cấp tỉnh Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào việc quản lý tài nguyên rừng để thu thuế Để khai thác tài nguyên rừng hiệu quả, rừng được chia thành ba loại, trong đó có rừng không thuộc quản lý của Nhà nước.

Rừng khai thác là những khu rừng tự nhiên gần khu dân cư với điều kiện giao thông thuận lợi Trong khi đó, rừng quan trọng là những khu rừng có vị trí kinh tế thiết yếu, được khai thác và bảo vệ liên tục, hoặc những khu rừng có chức năng quan trọng khác như rừng đầu nguồn cần được bảo vệ nghiêm ngặt.

Thời kỳ 1946 - 1990, ngành lâm nghiệp Việt Nam được quản lý bởi Nha lâm chính thuộc Bộ canh nông, với nhiệm vụ chính là quản lý lâm phận nhằm ngăn chặn sự tàn phá rừng và lạm dụng lâm sản, bảo vệ các khu rừng quan trọng cho khí hậu và mực nước sông, cũng như giữ vững các cồn cát Ngoài ra, Nha lâm chính còn thực hiện lâm pháp và quy định về săn bắn Trong giai đoạn này, các hoạt động lâm nghiệp gắn liền với nhiệm vụ kháng chiến và tập trung vào các nhiệm vụ quan trọng.

- Xây dựng chính sách thể chế lâm nghiệp;

- Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng;

- Khai thác gỗ và lâm sản phục vụ yêu cầu kháng chiến;

- Vận động nhân dân trồng cây;

- Đóng góp các nguồn thu của ngành lâm nghiệp vào ngân sách; (vi) Đào tạo cán bộ lâm nghiệp

Từ tháng 10/1995, Bộ NN&PTNT đã xác định bốn định hướng đổi mới chiến lược phát triển lâm nghiệp tại Việt Nam Đầu tiên, lâm nghiệp được chuyển từ việc khai thác tài nguyên rừng sang xây dựng và phát triển vốn rừng Thứ hai, lâm nghiệp chuyển từ mô hình Nhà nước và tập thể sang nền lâm nghiệp xã hội, thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, bao gồm hộ gia đình và cá nhân Thứ ba, lâm nghiệp chuyển từ khai thác gỗ tự nhiên sang kinh doanh đa dạng sản phẩm và phát triển nhiều ngành nghề Cuối cùng, lâm nghiệp chuyển từ quảng canh với trình độ khoa học kỹ thuật thấp sang thâm canh với trình độ khoa học kỹ thuật cao.

Trong giai đoạn này, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm quản lý rừng bền vững, bao gồm Luật đất đai và các chính sách giao đất lâm nghiệp Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (1991, 2004) đã được sửa đổi thành Luật Lâm nghiệp năm 2017, cùng với các thể chế tăng cường quản lý và bảo vệ rừng Ngoài ra, quy chế quản lý ba loại rừng: sản xuất, phòng hộ và đặc dụng cũng được thiết lập, cùng với nghị định của Chính phủ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp.

Nguyễn Đình Tư (1998) đã phân tích quá trình giao đất giao rừng từ năm 1968 đến 1992, giúp đánh giá thực trạng rừng và đất rừng sau khi giao Nghiên cứu đã đề xuất những định hướng và giải pháp cơ bản để cải cách công tác giao đất lâm nghiệp tại miền núi.

Bùi Minh Vũ (1999) đã tiến hành một nghiên cứu lớn tại 2 KBT TN và

Đề tài đánh giá điều kiện tự nhiên, tính đa dạng sinh học và kinh tế - xã hội của các điểm điều tra đã đề xuất 3 tiêu chuẩn xác định vùng đệm Các tiêu chuẩn này bao gồm: đường ranh giới phía trong và phía ngoài vùng đệm tối thiểu là 1 km và tối đa là 10 km, quy mô đất đai của vùng đệm, cùng với các yếu tố về dân số, lao động và dân tộc.

D.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999), đã thực hiện một nghiên cứu về quản lý vùng đệm tại 3 VQG: Ba Vì, Bạch Mã và Cát Tiên Kết quả nghiên cứu đã phản ánh khá rõ nét thực trạng vùng đệm ở Việt nam như: Tình hình KT-XH, tình trạng bảo tồn tại các VQG và vùng đệm; hoạt động phát triển trong các vùng đệm; tổ chức, thể chế cho quản lý vùng đệm

Hà Thị Minh Thu (2001) chỉ ra rằng các chương trình tại vùng đệm VQG Ba Vì chưa đạt hiệu quả mong muốn, không cải thiện đời sống người dân và không giảm thiểu được tác động của họ vào TNR.

Lý do chính là các chương trình đó đã không làm thoả mãn nhu cầu của người Dao

Quản lý và phát triển lâm nghiệp bền vững trong nền kinh tế thị trường hiện nay đòi hỏi sử dụng hiệu quả đất đai quy hoạch cho phát triển lâm nghiệp, đảm bảo tính bền vững Cần khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm rừng tự nhiên và rừng trồng, đồng thời quản lý bền vững các khu rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, gắn kết bảo vệ và phát triển rừng Việc phối hợp với các ngành liên quan để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên gắn liền với diện tích rừng hiện có là rất quan trọng Cơ chế thị trường có thể được sử dụng để phân bổ nguồn lực kinh tế, trong đó giá cả là tín hiệu quan trọng điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa Do đó, quản lý và phát triển ngành lâm nghiệp bền vững là cấp thiết đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Hệ thống quản lý rừng cần đạt được sự hài hòa giữa kinh tế nhà nước và kinh tế doanh nghiệp, đồng thời yêu cầu một môi trường chính sách và thể chế thông thoáng, hợp lý Các vấn đề quan trọng trong việc tạo ra môi trường chính sách thể chế bao gồm việc giải quyết mối quan hệ sở hữu và quyền sử dụng rừng, làm rõ trách nhiệm quản lý của các cấp, các ngành, và thiết lập cơ chế quản lý để tạo quyền chủ động cho các doanh nghiệp và chủ rừng.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Góp phần đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng trên địa bàn huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La

- Xác định được hiện trạng rừng và đất rừng tại địa bàn nghiên cứu;

- Đánh giá được thực trạng công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng tại địa bàn nghiên cứu;

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng tại địa bàn nghiên cứu.

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Là các hoạt động trên địa bàn huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La

Nghiên cứu này tập trung vào kết quả của các hoạt động thực thi pháp luật liên quan đến quản lý bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu hiện trạng rừng

- Xác định hiện trạng rừng phân chia theo mục đích sử dụng;

- Xác định hiện trạng rừng phân chia theo chủ thể quản lý

2.3.2 Nghiên cứu thực trạng công tác QLBVTNR

- Tình hình tổ chức lực lượng tham gia công tác QLBVTNR;

- Công tác thực thi pháp luật QLBVTNR

2.3.3 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác QLBVTNR

- Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu công tác;

Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp kế thừa các tài liệu thứ cấp

- Các văn bản, chính sách của Nhà nước, các kết quả nghiên cứu đã thực hiện thuộc lĩnh vực liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Kế thừa các số liệu và tài liệu có sẵn liên quan đến nghiên cứu, bao gồm bản đồ hiện trạng rừng và số liệu thống kê về điều kiện tự nhiên cũng như kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu.

Thu thập số liệu thứ cấp từ các cơ quan chuyên môn về quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bao gồm dữ liệu từ các dự án lâm nghiệp và bảo tồn đa dạng sinh học tại địa phương, cùng với các báo cáo kết quả thực hiện hoạt động quản lý rừng của các cơ quan và đơn vị liên quan.

2.4.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu hiện trường Đề tài đã sử dụng các công cụ điều tra có sự tham gia như: Phỏng vấn cá nhân; thảo luận nhóm, phân tích tổ chức, tham vấn chuyên gia để thu thập thông tin hiện trường phục vụ nghiên cứu, cụ thể như sau:

Công cụ này được sử dụng để xác định các bên liên quan đến quản lý bảo vệ tài nguyên nước (QLBVTNR), đồng thời phân tích vai trò và ảnh hưởng của họ đối với việc tổ chức thực hiện cũng như kết quả của các hoạt động liên quan.

Xây dựng 04 mẫu phiếu phỏng vấn, trong đó 03 mẫu phiếu phỏng vấn cán bộ và 01 mẫu phiếu phỏng vấn hộ dân

Bảng 2.1 Tổng hợp đối tượng tham gia phỏng vấn

TT Đối tượng phỏng vấn Số lượng ( Người )

Tổng 97 a) Phỏng vấn cán bộ huyện: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Hạt Kiểm lâm, Ban quản lý rừng Đặc dụng - Phòng hộ Thuận Châu

- Số lượng phỏng vấn: 05 người, 01 phiếu phỏng vấn Phó Chủ tịch UBND huyện phụ trách khối Nông Lâm nghiệp, 04 phiếu phỏng vấn lãnh đạo các Phòng, Ban

Nội dung phỏng vấn tập trung vào tình hình tổ chức lực lượng và kết quả thực hiện các dự án khoanh nuôi phục hồi rừng, cùng với các hoạt động nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn nghiên cứu Phỏng vấn sẽ được thực hiện với cán bộ xã, bao gồm Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch phụ trách khối Nông Lâm nghiệp và Kiểm lâm phụ trách địa bàn, nhằm làm rõ thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng.

- Số lượng phỏng vấn: 12 người (6 xã, mỗi xã 02 người)

Nội dung phỏng vấn tập trung vào tình hình tổ chức lực lượng và kết quả thực hiện các dự án khoanh nuôi phục hồi rừng, cũng như các hoạt động nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn nghiên cứu Bên cạnh đó, phỏng vấn cũng đề cập đến những thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng Đối tượng phỏng vấn bao gồm cán bộ bản như Trưởng bản, Tổ trưởng hoặc Tổ phó Tổ bảo vệ rừng.

- Số lượng phỏng vấn: 12 bản, mỗi bản 02 người

Nội dung phỏng vấn tập trung vào tình hình tổ chức lực lượng và kết quả thực hiện các dự án khoanh nuôi phục hồi rừng, cùng với các hoạt động nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn Bên cạnh đó, phỏng vấn cũng đề cập đến những thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng Ngoài ra, người dân tham gia vào các ban, ngành đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Phụ nữ, Cựu Chiến binh, Hội Nông dân và Mặt trận cũng được phỏng vấn để thu thập ý kiến và kinh nghiệm thực tiễn.

- Số lượng phỏng vấn: 56 người (12 bản, mỗi bản 4-5 người)

Nội dung phỏng vấn tập trung vào tình hình thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy rừng và phòng trừ sinh vật gây hại Bài phỏng vấn sẽ làm rõ những thuận lợi và khó khăn mà các chủ rừng gặp phải trong công tác của họ, đồng thời nêu ra các yêu cầu và đề xuất của họ đối với các cơ quan thực thi pháp luật và hỗ trợ kỹ thuật.

+ Đối tượng tham gia thảo luận: Cán bộ thuộc Hạt Kiểm lâm, đại diện UBND xã, đại diện các bản, đại diện hộ dân (5-10 hộ dân)

Dự kiến sẽ tổ chức 2 cuộc thảo luận tại 2 xã nhằm đánh giá tình hình thực thi Luật Lâm nghiệp Nội dung thảo luận sẽ tập trung vào những thuận lợi, khó khăn trong công tác thực thi pháp luật này và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi Luật Lâm nghiệp trên địa bàn huyện.

Sau khi tổng hợp kết quả từ phỏng vấn cá nhân và thảo luận nhóm, chúng tôi sẽ tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực lâm nghiệp Mục tiêu là bổ sung và hoàn thiện kết quả, phân tích các tác động tiêu cực đối với quản lý bảo vệ tài nguyên rừng, đồng thời thu thập các khuyến nghị để đề xuất giải pháp hiệu quả.

2.4.3 Xử lý số liệu nội nghiệp

- Sử dụng phần mềm MapInfo để xử lý các số liệu liên quan đến hiện trạng rừng và bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng

Sử dụng phần mềm Excel để thống kê và tính toán các đặc trưng mẫu là cơ sở quan trọng cho việc tổng kết và phân tích kết quả, từ đó giúp đưa ra những kết luận chính xác.

Dựa trên số liệu thu thập từ các báo cáo của các cơ quan chức năng, bài viết sẽ tổng hợp và đưa ra những nhận định, đánh giá khách quan về thực trạng công tác quản lý bảo vệ tài nguyên môi trường (QLBVTNR) tại khu vực nghiên cứu.

Dựa trên số liệu thu thập từ báo cáo, phỏng vấn và thảo luận nhóm, cùng với điều tra hiện trường, chúng tôi đã tiến hành tổng hợp và phân tích để xác định các hình thức chủ yếu, mức độ tác động và nguyên nhân gây ra những tác động tiêu cực đối với công tác quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

Dựa trên việc phân tích nguyên nhân gây ra tác động tiêu cực đến quản lý bảo vệ tài nguyên rừng (QLBVTNR), bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động này Các giải pháp được xây dựng dựa trên hệ thống tổ chức quản lý, nguồn lực hiện có và mối quan hệ giữa chủ rừng với các bên liên quan, kết hợp với ý kiến từ các chuyên gia, nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLBVTNR tại huyện.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SINH, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

Điều kiện tự nhiên

Hình 3.1: Bản đồ tỉnh Sơn La

Huyện Thuận Châu, tọa lạc ở phía Tây Bắc tỉnh Sơn La, có diện tích 155.002 ha và nằm dọc theo Quốc lộ 6, kết nối Hà Nội với Hòa Bình, Sơn La và Điện Biên Huyện cách thành phố Sơn La 34 km và gần huyện Tuần Giáo của tỉnh Điện Biên.

Huyện có chiều dài biên giới 52 km, bao gồm 28 xã và 1 thị trấn, trong đó có 22 xã thuộc khu vực III, 5 xã thuộc khu vực II và 2 xã cùng thị trấn thuộc khu vực I Dân số ước tính vào năm 2020 là 175.800 người, với 6 dân tộc chủ yếu, trong đó dân tộc Thái chiếm 73%, dân tộc Mông 12%, dân tộc Kinh 9%, và các dân tộc khác như La Ha, Khơ Mú, Kháng.

Tọa độ địa lý: 21 0 12 ’ - 21 0 41 ’ vĩ độ Bắc, 103 0 20 ’ - 103 0 59 ’ kinh độ Đông

- Phía Bắc giáp huyện Quỳnh Nhai

- Phía Nam giáp huyện Mai Sơn và huyện Sông Mã

- Phía Đông giáp huyện Mường La và thành phố Sơn La

- Phía Tây giáp huyện Điện Biên Đông, huyện Mường Ẳng, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên

Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng luôn được lãnh đạo huyện ủy quan tâm và chỉ đạo chặt chẽ, cùng với sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng Sự chỉ đạo chuyên môn trực tiếp đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ này.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ

Công tác xây dựng Đảng và củng cố các tổ chức đoàn thể đã được tăng cường lãnh đạo và chỉ đạo, mang lại những kết quả tích cực trên ba phương diện chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Thuận Châu là huyện có diện tích lớn và nhiều đơn vị hành chính cấp xã, nhưng kinh tế phát triển chậm và cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ Đời sống của người dân, đặc biệt là các dân tộc vùng cao, vùng sâu, vùng xa, còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp Hơn nữa, trình độ nhận thức và hiểu biết pháp luật của một số người dân còn hạn chế, gây khó khăn cho công tác quản lý và bảo vệ rừng.

3.1.2 Địa hình Địa hình Thuận Châu khá phức tạp, chia cắt mạnh, phần lớn là địa hình cao và dốc, diện tích đất bằng chiếm tỷ lệ nhỏ và phân tán, tạo ra nhiều tiểu vùng khí hậu cho phép phát triển nhiều loại hình sản xuất nông lâm nghiệp khác nhau trên địa bàn huyện Điển hình có đỉnh Copia cao 1.818,6m, chia địa hình Thuận Châu làm 2 phần: Phần phía Tây thuộc lưu vực sông Đà, Phía Đông thuộc lưu vực sông Mã Hướng dốc của địa hình thấp dần theo hướng từ

Khu vực ven sông Đà ở phía Tây sang Đông có địa hình thấp, xen kẽ giữa những dãy núi là các thung lũng và ruộng nước tương đối bằng phẳng, mặc dù diện tích không lớn.

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, khu vực này có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.371 mm, chủ yếu tập trung vào các tháng từ tháng 6 đến tháng 9.

8, chiếm 80% lượng mưa cả năm

Nhiệt độ trung bình năm là 22,3 0 C, nhiệt độ tối cao là 39 0 C vào tháng

Nhiệt độ thấp nhất ghi nhận là 0°C vào tháng 1 Khu vực này chủ yếu chịu ảnh hưởng của gió Đông Nam, ít bị tác động bởi bão và gió mùa Đông Bắc, nhưng lại có sự tác động của gió Tây khô nóng và gió lốc.

Khí hậu Thuận Châu, với đặc trưng miền núi Tây Bắc, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đa dạng sinh học và nhiều loại cây trồng Tuy nhiên, gió Lào khô nóng cùng với ý thức bất cẩn của người dân đã dẫn đến tình trạng cháy rừng thường xuyên xảy ra trong khu vực.

Nằm giữa lưu vực sông Đà và sông Mã, khu vực này có nhiều nhánh suối như Suối Muội, Suối Ty, và Suối Hét Địa hình chia cắt mạnh và dốc khiến các con suối có lưu vực nhỏ, hẹp và ngắn, thường bắt nguồn từ núi cao Sự đa dạng về dòng chảy và lưu lượng nước giữa hai mùa rõ rệt: mùa khô có lưu lượng nước rất nhỏ, trong khi mùa mưa, lưu lượng dòng chảy lớn và tốc độ cao, thường gây ra lũ quét và lũ ống, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống của người dân.

Tài nguyên đất của huyện được chia làm các loại chính như sau:

Đất Feralit, với diện tích 131.054,5ha, chiếm 84,54% tổng diện tích, có màu vàng đỏ và đỏ nâu, giàu sắt và nhôm, có tính chua Loại đất này rất thích hợp cho việc trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả và các loại cây nông nghiệp dài ngày như cà phê và chè.

Đất phù sa sông suối có diện tích 558ha, chiếm 0,36% tổng diện tích, chủ yếu phân bố ven suối Muội và suối Ty Loại đất này rất thích hợp cho việc trồng lúa, hoa màu và cây ăn quả.

- Đất dốc tụ có 1.364ha, chiếm 0,88%: Phân bố chủ yếu ở các bãi bằng phẳng, thích hợp cho trồng cây ăn quả, cây ngô, lúa nước

- Đất khác 22.026ha, chiếm 14,22%: Phân bố ở tất cả các xã trên địa bàn huyện.

Tình hình dân sinh, kinh tế, xã hội

Đến cuối năm 2020, dân số trung bình toàn huyện ước tính khoảng 175.800 người, trong đó 96,70% cư trú ở khu vực nông thôn với 169.999 người, và 3,30% ở khu vực thị trấn với 5.801 người.

89.078 người (50,67%), nữ 86.722 người (49,33%) Tỷ lệ tăng dân số năm

Tỷ lệ sinh năm 2020 giảm còn 1,09%, giảm 0,51% so với năm 2015, trong khi tỷ lệ chết giảm từ 4,1% năm 2015 xuống khoảng 3,6% năm 2020 Dân số trong độ tuổi lao động, từ 15 tuổi trở lên, đã tăng từ 82.822 người năm 2015 lên 90.750 người vào cuối năm 2020 Tuy nhiên, phân bố dân số trong độ tuổi lao động vẫn chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn, với 79.178 người (chiếm 95,6%) năm 2015 và 87.302 người (chiếm 96,2%) năm 2020.

Đề án phát triển nguồn nhân lực năm 2021 tập trung vào việc nâng cao chất lượng lao động nông thôn, phát triển kinh tế tập thể và cải thiện đội ngũ cán bộ, công chức huyện Thuận Châu Mục tiêu chính là đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và nâng cao hiệu quả công việc trong khu vực nông thôn.

Tổng giá trị sản xuất giai đoạn 2016-2020 ước đạt 29.368,8 tỷ đồng, với mức tăng trưởng bình quân 10,4%/năm Trong đó, nông lâm nghiệp tăng 5,0%/năm, công nghiệp - xây dựng tăng 8,6%/năm, và dịch vụ tăng 15,6%/năm Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản đã phát triển, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tiếp tục phát triển, cải thiện chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh Hoạt động tài chính, ngân hàng đạt nhiều kết quả quan trọng, trong khi thương mại, dịch vụ và du lịch cũng tiếp tục phát triển mạnh mẽ.

Mạng lưới cơ sở giáo dục trên địa bàn huyện đã phát triển mạnh mẽ, với mỗi xã, thị trấn đều có trường mầm non, tiểu học và trung học cơ sở Tính đến tháng 9 năm 2020, huyện có 84 cơ sở giáo dục công lập từ mầm non đến trung học phổ thông Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia được chú trọng, với 34 trường đạt chuẩn vào năm 2020, tăng 23 trường so với năm 2015.

Xu hướng di cư lao động tại huyện Thuận Châu hiện nay cho thấy sự chuyển dịch từ nông thôn ra thị trấn và đến các tỉnh, thành phố lớn Cơ cấu lao động đang thay đổi, với sự giảm dần của lao động nông nghiệp và sự gia tăng của lao động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ.

Tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đã giảm từ 85% vào năm 2015 xuống còn 74% vào năm 2020 Ngược lại, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng đã tăng từ 5,79% lên 10,50% trong cùng thời gian, trong khi thương mại và dịch vụ cũng ghi nhận sự tăng trưởng từ 9,21% lên 16,80%.

KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

Đặc điểm hiện trạng tài nguyên rừng huyện Thuận Châu

4.1.1 Hiện trạng rừng và đất rừng

Theo quyết định phê duyệt kết quả theo dõi diễn biến rừng huyện Thuận Châu năm 2020, tổng diện tích tự nhiên của huyện là 155.002,3 ha, trong đó diện tích quy hoạch phát triển lâm nghiệp là 88.474,6 ha Diện tích có rừng đạt 68.900,01 ha, bao gồm 63.218,3 ha rừng tự nhiên và 4.252,9 ha rừng trồng đã thành rừng Diện tích rừng trồng chưa thành rừng là 1.428,81 ha Tỷ lệ che phủ rừng toàn huyện năm 2020 đạt 43,53%, không tính diện tích rừng trồng chưa thành rừng vào độ che phủ.

Hình 4.1: Bản đồ hiện trạng rừng huyện Thuận Châu

Nếu phân theo mục đích sử dụng thì Thuân Châu có 12.826,33ha rừng đặc dụng, rừng phòng hộ có diện tích là 30.416,47ha và 25.657,22ha rừng sản xuất

Hình 4.2: Tỷ lệ diện tích các loại rừng theo mục đích sử dụng của Thuân Châu

Rừng phòng hộ chiếm tỷ trọng lớn nhất với 44%, tiếp theo là rừng sản xuất 37% và rừng đặc dụng khoảng 19% Toàn huyện có 5.681,81ha rừng trồng, chiếm 8,25% tổng diện tích rừng Diện tích rừng trồng hiện nay rất thấp, chủ yếu là các loài như Thông, Sơn Tra, Trẩu Tại tỉnh, huyện chưa có nhà máy chế biến lâm sản, dẫn đến sản phẩm rừng trồng phải vận chuyển đi nơi khác tiêu thụ, làm tăng cước vận chuyển và giá thành sản phẩm, từ đó không khuyến khích người dân đầu tư vào trồng và phát triển rừng trồng.

Bảng 4.1: Hiện trạng trữ lượng rừng huyện Thuận Châu

TT Loại rừng Diện tích

- Rừng gỗ lá rộng thường xanh hoặc nửa rụng lá 60.578,7 m 3 4.846.296 80

- Rừng gỗ lá rộng rụng lá 6,2 m 3 496 80

TT Loại rừng Diện tích

3 Rừng hỗn giao gỗ và tre nứa 2.501,1 163.350 55

4 Rừng trồng đã thành rừng 4.252,9 m 3 425.290 100

(Nguồn: Hạt Kiểm lâm huyện Thuận Châu, 2020)

Theo số liệu từ bảng 2, rừng ở Thuận Châu chủ yếu là rừng nghèo đến trung bình, với diện tích rừng gỗ khoảng 60.584,9 ha và trữ lượng đạt khoảng 80 m³/ha Rừng tre nứa có diện tích khoảng 132,1 ha, với trữ lượng khoảng 20.000 cây/ha Rừng hỗn giao gỗ và tre nứa chiếm khoảng 2.501,1 ha, có trữ lượng từ 40-70 m³/ha Ngoài ra, rừng trồng có diện tích khoảng 4.252,9 ha, với trữ lượng đạt 100 m³/ha.

Hình 4.3: Rừng tự nhiên xã Phổng Lái huyện Thuận Châu Kiểm lâm địa bàn chụp năm 2020

Rừng tự nhiên Thuận Châu chủ yếu có các loài cây như Giổi, Dẻ, Vối Thuốc, Thông Đất, và Xoan Rừng Trong khu rừng đặc dụng và các núi đá cao, xuất hiện nhiều loại gỗ quý hiếm như Pơ Mu, Nghiến, Đinh Hương, và Vàng Tâm Tuy nhiên, do khai thác quá mức vào cuối những năm 90, một số loài gỗ quý hiện chỉ còn lại với số lượng rất ít Rừng trồng chủ yếu của huyện là rừng Thông Mã Vĩ, được trồng theo Dự án 327 và 661, cùng với một số diện tích trồng rừng Cao Su Gần đây, diện tích trồng Táo Mèo đang gia tăng, góp phần không nhỏ vào tỷ lệ che phủ rừng chung của huyện.

4.1.2 Chủ thể tham gia QLBVTNR

Hiện nay, các chủ thể tham gia vào công tác quản lý tài nguyên (QLTNR) ở Thuận Châu rất đa dạng Thông tin chi tiết về mức độ tham gia của các chủ thể này được thể hiện trong bảng 3.

Bảng 4.2: Diện tích rừng phân chia theo chủ thể tham gia quản lý rừng

TT Hạng mục BQLR ĐD

1 Rừng tự nhiên 6.691,40 3.428,60 11.121,60 37.777,10 18,10 4.181,20 1.1 Rừng gỗ 6.691,4 3.428,5 10.422,2 35.904,0 18,1 4.120,7

Rừng gỗ xen tre nứa

3 Đất quy hoạch phát triển rừng

(Nguồn: Hạt Kiểm lâm huyện Thuận Châu, 2020)

Vào năm 2000, Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La đã ban hành Quyết định số 3010/QĐ-UBND ngày 12/12/2000, quy định về việc áp dụng "Hướng dẫn kỹ thuật giao đất, giao rừng tự nhiên" trên địa bàn tỉnh Sơn La.

Vào ngày 12/12/2000, Quyết định 3011/QĐ-UBND được ban hành nhằm thiết lập tạm thời chính sách và giải pháp giao đất lâm nghiệp và giao rừng tự nhiên Trong các năm 2001 và 2002, việc giao đất và giao rừng đã được thực hiện tại 28/29 xã, thị trấn, trong khi một số tổ chức nhà nước đã tiến hành giao vào năm 2005.

Tính đến nay, đã có 11.644 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp, tương ứng với diện tích 116.466,58 ha Trong đó, hộ gia đình nhận 3.962 giấy với diện tích 13.120,714 ha, nhóm hộ nhận 7.048 giấy với diện tích 13.657,196 ha, và cộng đồng, tổ chức khác nhận 634 giấy với diện tích 89.689,467 ha Năm 2018, UBND tỉnh Sơn La đã ban hành Quyết định số 3248/QĐ-UBND ngày 27/12/2018, điều chỉnh giảm diện tích rừng và đất lâm nghiệp xuống còn 88.474,6 ha để cấp đất nông nghiệp lần đầu cho người dân Do đó, diện tích rừng huyện Thuận Châu còn lại là 68.900 ha, trong đó cấp cho Ban quản lý rừng Đặc dụng 11.414,50 ha và Ban quản lý rừng phòng hộ 7.287,70 ha.

Hộ gia đình, cá nhân 19.798,30 ha; Cộng đồng dân cư 71.081,90 ha; Tổ chức khác 70,50 ha và đất chưa giao 9.696,10 ha

Việc giao rừng cho cộng đồng khuyến khích sự tham gia của nhiều thành viên trong việc bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy Điều này cũng tạo ra nguồn đất đủ lớn cho các dự án phát triển rừng Tuy nhiên, khi xảy ra tình trạng mất rừng, việc quy trách nhiệm cho chủ rừng trở nên khó khăn Các cá nhân và hộ gia đình được giao đất và rừng sẽ chủ động bảo vệ và phát triển diện tích rừng của mình, nhưng họ gặp khó khăn trong việc tổ chức bảo vệ khi xảy ra cháy rừng hoặc phá rừng ở các khu vực giáp ranh.

Mặc dù Nhà nước đầu tư lớn và có lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách, rừng giao cho Ban quản lý rừng Đặc dụng - Phòng hộ vẫn xảy ra tình trạng cháy rừng và phá rừng do tranh chấp đất canh tác với người dân địa phương Đối với diện tích rừng chưa được giao, chính quyền địa phương vẫn thực hiện trách nhiệm bảo vệ và trông coi.

Hình 4.4: Biểu đồ tỷ lệ diện tích rừng của các chủ thể tham gia quản lý rừng tại Thuận Châu

Theo số liệu từ hình 5, các hộ gia đình (HGĐ) và cá nhân quản lý khoảng 17% diện tích rừng và đất rừng, trong khi cộng đồng dân cư tham gia quản lý tới 59% tổng diện tích này tại huyện Thuận Châu Điều này cho thấy vai trò quan trọng của HGĐ, cá nhân và cộng đồng trong công tác quản lý tài nguyên rừng (QLTNR) Bên cạnh đó, diện tích rừng và đất rừng chưa được giao vẫn còn khoảng 9.696,10 ha, chiếm khoảng 8% tổng diện tích rừng và đất rừng của huyện, hiện đang do UBND các cấp tạm thời quản lý, gây ra một số trở ngại cho công tác QLTNR.

Thực trạng công tác QLBVTNR tại Thuận Châu

4.2.1 Tình hình tổ chức lực lượng tham gia công tác QLBVTNR

Số lương và thành phần tham gia công tác QLBVTNR huyện Thuận Châu được trình bày ở bảng 4

Theo số liệu từ bảng 4, huyện Thuận Châu có khoảng 4.798 người tham gia công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng (QLBVTNR), trong đó cấp huyện có 48 người, cấp xã với 28 xã có khoảng 840 người, và cấp thôn bản với 391 bản có khoảng 3.910 người Các thành viên tham gia QLBVTNR ở cấp huyện và xã chủ yếu có trình độ trung cấp hoặc cao đẳng trở lên, trong khi hầu hết thành viên ở cấp thôn bản chưa được đào tạo chuyên môn.

Bảng 4.3: Thành phần tham gia công tác QLBVTNR huyện Thuận Châu

TT Cấp quản lý Biên chế

Trình độ chuyên môn Đại học Cao đẳng/

Trung cấp Chưa đào tạo

(Nguồn: Hạt Kiểm lâm huyện Thuận Châu, 2020)

Trong những năm qua, huyện Thuận Châu và các xã đã duy trì Ban Chỉ đạo thực hiện Kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng Tuy nhiên, sau khi có Nghị quyết về việc tinh giản bộ máy, Ban Chỉ đạo này đã bị giải thể Dù vậy, nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng vẫn được phân công rõ ràng trong các Kế hoạch hàng năm của huyện và xã Sơ đồ tổ chức lực lượng tham gia công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng của huyện Thuận Châu được thể hiện trong hình 6.

Tại huyện Thuận Châu, công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng (QLBVTNR) được tổ chức theo hai cấp độ: cấp huyện và cấp xã Ngoài ra, cấp bản cũng thành lập tổ chức bảo vệ rừng dựa trên Ban Chỉ đạo bảo vệ và phát triển rừng ở xã, với nguồn kinh phí từ dịch vụ môi trường rừng và hỗ trợ bảo vệ rừng Sơ đồ tổ chức lực lượng QLBVTNR tại Thuận Châu được thể hiện trong hình 6.

Hình 4.5: Sơ đồ tổ chức lực lượng QLBVTNR huyện Thuận Châu

Ban Chỉ đạo triển khai Kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng huyện gồm 48 thành viên, do Phó Chủ tịch UBND huyện phụ trách khối Nông - Lâm nghiệp làm Trưởng ban Các Phó trưởng ban bao gồm Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm, Trưởng phòng Nông nghiệp và PTNT, Trưởng Công an huyện, Giám đốc Ban quản lý Dự án Bảo vệ và PTR, cùng Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự huyện Ngoài ra, còn có 37 ủy viên đại diện cho các đơn vị chức năng và các ban, ngành, đoàn thể cấp huyện.

Tại cấp xã, Ban Chỉ đạo thực hiện Kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng gồm 25-35 thành viên, do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND xã phụ trách khối Nông - Lâm nghiệp làm Trưởng ban Các Phó trưởng ban bao gồm cán bộ kiểm lâm, Trưởng Công an xã, Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự xã, và cán bộ địa chính Các ủy viên còn lại là đại diện từ các bộ phận thuộc UBND xã và các tổ chức xã hội như hội Cựu chiến binh, hội Phụ nữ, và Đoàn thanh niên.

Ban Chỉ đạo triển khai, thực hiện

Kế hoạch BV&PTR huyện

Cơ quan thường trực (Hạt Kiểm lâm Thuận Châu)

Ban Chỉ đạo triển khai, thực hiện

Kế hoạch BV&PTR xã

Tổ BVR bản Tổ BVR bản Tổ BVR bản

Trên địa bàn huyện, có 391 tổ bảo vệ rừng cấp thôn bản, mỗi tổ gồm từ 8 đến 12 thành viên Tổ trưởng thường là các Trưởng bản, trong khi tổ phó thường là Phó bản hoặc công an viên, cùng với các thành viên là người dân trong bản.

Bảng 4.4: Ngân sách chi cho lực lượng trực tiếp làm công tác bảo vệ rừng giai đoạn 2016 -2021

TT Năm Tổng Nguồn tự chủ Nguồn không tự chủ

Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %

(Nguồn: Hạt Kiểm lâm huyện Thuận Châu, 2021)

Ngân sách dành cho lực lượng bảo vệ rừng chủ yếu được sử dụng cho lương và nhu yếu phẩm phục vụ công tác, được tính dựa trên số lượng công chức thực tế tại đơn vị, không bao gồm lái xe và bảo vệ cơ quan Từ năm 2016 đến giữa năm 2021, ngân sách cho lực lượng trực tiếp bảo vệ rừng khoảng 4 tỷ đồng mỗi năm, trong đó 97% là từ nguồn ngân sách tự chủ.

4.2.2 Công tác thực thi pháp luật về QLBVTNR

4.2.2.1 Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật Lâm nghiệp

Kết quả thực hiện công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật Lâm nghiệp giai đoạn 2016 - 2021 được trình bày ở bảng 6

Công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật Lâm nghiệp ở cấp xã và thôn bản được thực hiện thường xuyên, với số lượng người tham gia rất lớn, đạt trên 30 nghìn lượt mỗi năm Năm 2019, có tới 37.011 lượt người được tuyên truyền và ký cam kết bảo vệ rừng Tuy nhiên, trong 2 quý đầu năm 2021, số người tham gia chỉ đạt 3.784 lượt do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19.

19, tỉnh, huyện cấm tổ chức hội họp, tập trung đông người

Bảng 4.5: Kết quả thực hiện công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật

TT Năm Hội nghị cấp huyện

Số lượt người cam kết BVR-PCCCR

Tại Thuận Châu, rừng chủ yếu tập trung ở các xã khó khăn, nơi người dân còn hạn chế về nhận thức và hiểu biết pháp luật Việc ban hành Luật Lâm nghiệp mới thay thế Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đòi hỏi cần tăng cường tuyên truyền để người dân nắm rõ và thực hiện Công tác tuyên truyền được ưu tiên hàng đầu, thực hiện liên tục và rộng rãi, kết hợp giữa hình thức tuyên truyền miệng và tài liệu trực quan để dễ hiểu Ngoài ra, việc ký cam kết bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng cũng được tổ chức đến từng hộ dân Tuy nhiên, do ảnh hưởng của giãn cách xã hội, cần điều chỉnh hình thức tuyên truyền qua các kênh truyền thông như hệ thống truyền thanh và truyền hình địa phương để đảm bảo an toàn.

Việc tuyên truyền giáo dục pháp luật Lâm nghiệp cần được thực hiện mạnh mẽ vào đầu hoặc cuối năm, trước mùa phát nương làm rẫy Kiểm lâm địa bàn cần phối hợp với các ban ngành xã để tiếp cận trực tiếp người dân, từ đó nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật, góp phần giảm thiểu các vụ vi phạm liên quan đến rừng.

Hình 4.6: Hội nghị tuyên truyền công tác PCCCR cấp bản tại xã Long

Hẹ, Kiểm lâm địa bàn chụp năm 2020

4.2.2.2 Công tác hỗ trợ bảo vệ rừng

Nguồn kinh phí hỗ trợ bảo vệ rừng được quy định theo Nghị định 75/2015/NĐ-CP, ban hành ngày 09/9/2015, nhằm thực hiện các chính sách bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời hỗ trợ giảm nghèo bền vững và giúp đỡ đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn 2015-2020 Huyện đã phân bổ kinh phí cho 11 xã và 80 bản tham gia dự án, chủ yếu tập trung vào các xã thuộc lưu vực Sông.

Kinh phí hỗ trợ cho công tác bảo vệ rừng tại Thuận Châu bình quân khoảng 428.000 đ/ha/năm, với số liệu chi tiết được trình bày trong bảng 7.

Bảng 4.6: Kết quả công tác hỗ trợ hoạt động BVR huyện Thuận Châu giai đoạn 2016 – 2021

TT Nội dung Diện tích (ha) Tổng số tiền (đ)

(Nguồn: Hạt Kiểm lâm huyện Thuận Châu, 2021)

Dữ liệu từ bảng 7 cho thấy diện tích và số tiền hỗ trợ bảo vệ rừng được duy trì qua các năm, với năm 2018 ghi nhận số tiền hỗ trợ cao nhất là 3.081.600.000 đồng Đây là năm chuyển tiếp, đánh dấu sự kết thúc của dự án pha thứ nhất và khởi động dự án pha thứ hai, mỗi giai đoạn kéo dài ba năm Tuy nhiên, trong hai quý đầu năm 2021, hoạt động hỗ trợ chưa được thực hiện do chưa bố trí được vốn.

4.2.2.3 Công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng

Kết quả thực hiện công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng huyện Thuận Châu giai đoạn 2016 - 2021 được trình bày ở bảng 8

Trên địa bàn huyện Thuân Châu, nguồn chi trả DVMTR chủ yếu tập trung ở lưu vực hai con sông lớn là sông Mã và sông Đà Tuy nhiên, số tiền chi trả DVMTR ở hai lưu vực này có sự chênh lệch đáng kể, lên tới 400.000 đồng, do lưu vực sông Mã có ít thủy điện, nhà máy và xí nghiệp hơn so với lưu vực sông Đà Để hỗ trợ người dân trong việc bảo vệ rừng, Nhà nước đã ban hành chính sách bù chênh theo Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 09/9/2015 của Chính phủ.

Hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) tại Thuận Châu bắt đầu từ năm 2009 theo Quyết định số 380/QĐ-TTg ngày 10/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ, với hai tỉnh Sơn La và Lâm Đồng được chọn làm thí điểm Sau giai đoạn thí điểm, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 về chính sách chi trả DVMTR Hiện nay, công tác chi trả được thực hiện theo Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp.

Bảng 4.7: Kết quả công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng huyện

TT Năm Số xã được chi trả

Số bản được chi trả

(Nguồn: Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Sơn La, 2021)

Số liệu tại bảng 8 cho thấy từ năm 2016 - 2019 huyện Thuận Châu có

Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác QLBVTNR

4.3.1 Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với công tác QLBVTNR tại huyện Thuận Châu

Công tác quản lý bảo vệ tài nguyên nước (QLBVTNR) được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ cấp ủy, chính quyền và các ban ngành đoàn thể của huyện, với ngân sách và cơ sở vật chất ngày càng ổn định và nâng cao.

UBND các cấp đang tích cực chỉ đạo việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ rừng, nhằm tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc để giải quyết các xung đột và tranh chấp liên quan đến ranh giới đất đai.

Huyện Thuận Châu sở hữu tiềm năng đất đai phong phú, với 57,1% diện tích tự nhiên dành cho đất lâm nghiệp Hiện nay, tỷ lệ che phủ rừng trong khu vực đã đạt 43,53%.

Thuận Châu sở hữu ba loại rừng chính: rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng Hiện nay, nhiều chủ thể, đặc biệt là hộ gia đình và cộng đồng, đang tích cực tham gia vào công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng, quản lý một diện tích rừng lớn bao gồm cả ba loại rừng này.

Có nguồn ngân sách ổn định cho hoạt động bảo vệ rừng và dịch vụ môi trường rừng từ lưu vực sông Mã và sông Đà, tạo ra thu nhập và khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng.

Trên địa bàn huyện Thuận Châu, không có hiện tượng tàng trữ, vận chuyển và buôn bán động vật rừng Các vụ phá rừng và buôn bán gỗ trái phép đang có xu hướng giảm, với khối lượng tang vật vi phạm luật Lâm nghiệp bị thu giữ không lớn.

Hầu hết diện tích rừng tự nhiên ở Thuận Châu chủ yếu là rừng thứ sinh nghèo, với một phần nhỏ là rừng trung bình Rừng phân bố ở những địa hình khó khăn và xa khu dân cư, gây nhiều thách thức cho công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng Bên cạnh đó, rừng trồng vẫn chưa phát triển về cả số lượng lẫn chất lượng.

Lực lượng Kiểm lâm hiện đang rất mỏng, với nhiều cán bộ phải phụ trách từ 2 đến 3 xã Chỉ có 1% trong tổng số 4.798 người tham gia công tác Quản lý Bảo vệ Tài nguyên Rừng (QLBVTNR) có trình độ đại học Mặc dù lực lượng tham gia QLBVTNR ở cấp thôn bản lên tới 3.910 người, nhưng 100% trong số họ chưa được đào tạo nghiệp vụ chuyên môn.

- Ở một số địa phương, chính quyền còn phó mặc nhiệm vụ QLBVTNR cho lực lượng Kiểm lâm, chưa thực sự vào cuộc trong triển khai các hoạt động QLBVTNR

Mâu thuẫn lợi ích giữa tổ chức Nhà nước quản lý rừng và người dân địa phương về quyền sử dụng đất canh tác vẫn chưa được giải quyết triệt để.

Trình độ dân trí của một số người dân sống trong và gần rừng còn thấp, dẫn đến hiểu biết hạn chế về Luật Lâm nghiệp Tập quán đốt nương làm rẫy và thả rông gia súc vào rừng đã gây ra nhiều khó khăn cho công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng.

- Dụng cụ, trang thiết bị phục vụ công tác PCCCR con nghèo nàn, cùng với thời tiết không thuận lợi, gây khó khăn cho công tác PCCCR

- Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến công tác QLBVTNR ngày cang được hoàn thiện

Ngành lâm nghiệp được xác định là một lĩnh vực kinh tế quan trọng tại tỉnh Sơn La và huyện Thuận Châu, nơi chính quyền địa phương đang tập trung nguồn lực để thúc đẩy sự phát triển bền vững.

- Hệ thống, hạ tầng cơ sở từng bước được đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác BVR

- Sự tham gia của cộng đồng người dân địa phương đem lại cơ hội để phát triển hình thức đồng quản lý trong công tác QLBVTNR ở địa phương

Thuân Châu là một tỉnh với sự đa dạng về thành phần dân tộc và môi trường sinh thái trong lành, ít ô nhiễm Những cảnh quan thiên nhiên đẹp mắt tại đây tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các loại hình du lịch sinh thái, mang lại nguồn thu nhập cao cho địa phương.

Tỷ lệ hộ nghèo cao và năng suất cây trồng không ổn định đang tạo ra áp lực lớn lên công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng, đặc biệt khi cuộc sống của người dân phụ thuộc nhiều vào rừng và dân số ngày càng tăng.

Tình trạng di dân tự do tại huyện Thuận Châu diễn ra thường xuyên, gây ra nhiều bất ổn cho kinh tế - xã hội và tạo ra khó khăn trong công tác quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên ở địa phương.

Nhu cầu sử dụng gỗ tự nhiên và sản phẩm từ động vật rừng tại Thuận Châu và các tỉnh lân cận đang gia tăng, gây ra nhiều thách thức cho công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng.

Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác QLBVTNR

Để phát triển rừng trồng tại huyện Thuân Châu, cần thực hiện thử nghiệm lựa chọn giống cây lâm nghiệp phù hợp với điều kiện lập địa và mang lại giá trị kinh tế Cần có chính sách khuyến khích vùng trồng rừng tập trung, nhằm thu hút doanh nghiệp thu mua và chế biến lâm sản trong khu vực.

Mở lớp đào tạo và tập huấn tiếng dân tộc cho cán bộ tuyên truyền, đồng thời bố trí kinh phí để mua sắm tài liệu và dụng cụ cần thiết cho công tác tuyên truyền tại cơ sở.

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và tổ chức các khóa tập huấn về kỹ năng sử dụng công cụ GIS cho cán bộ chuyên trách nhằm phát hiện kịp thời các điểm biến động tài nguyên và mất rừng Điều này sẽ giúp xử lý nhanh chóng các hành vi vi phạm pháp luật, từ đó nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

Chính sách chi trả DVMTR đang phát huy hiệu quả, nhưng hiện tại có nhiều mức giá chi trả khác nhau trên địa bàn huyện, với sự chênh lệch có thể lên đến một hai lần, dẫn đến sự so bì giữa các chủ rừng Do đó, Nhà nước cần nghiên cứu và điều chỉnh mức chi trả DVMTR để đảm bảo công bằng cho tất cả các chủ rừng.

Để bảo vệ rừng hiệu quả, cần tranh thủ sự hỗ trợ từ các cấp, ngành và sự tham gia của toàn bộ hệ thống chính trị, với lực lượng Kiểm lâm đóng vai trò chủ chốt Đồng thời, cần gắn trách nhiệm của chính quyền địa phương và chủ rừng đối với diện tích rừng được giao Việc thường xuyên kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm Luật Lâm nghiệp là rất quan trọng, nhằm tạo cơ sở phòng ngừa và răn đe các đối tượng vi phạm.

Tăng cường tuyên truyền và hướng dẫn kỹ thuật phát và đốt nương cho người dân, đồng thời tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng với từng hộ dân sống trong và gần khu vực rừng Ứng dụng công nghệ phát hiện điểm cháy qua ảnh vệ tinh và phần mềm theo dõi cháy rừng, cùng với việc tăng cường kinh phí cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR).

Chính sách khuyến khích người dân tham gia hoạt động quản lý bảo vệ tài nguyên rừng và trồng rừng là cần thiết, nhằm đảm bảo sinh kế và nâng cao thu nhập cho cộng đồng Điều này không chỉ giúp cải thiện đời sống người dân mà còn giảm thiểu tác động tiêu cực từ hoạt động của họ đối với rừng và đất rừng.

Theo quy định, cứ 500 ha rừng đặc dụng và 1000 ha rừng phòng hộ sẽ có 01 công chức Kiểm lâm Hiện tại, huyện Thuận Châu có 19 công chức Kiểm lâm, trong đó 13 người phụ trách 28 xã và 1 thị trấn với tổng diện tích rừng là 67.471 ha Trung bình, mỗi công chức Kiểm lâm quản lý từ 2 đến 3 xã, tương đương khoảng 5.200 ha Tuy nhiên, việc thiếu cán bộ Nông Lâm Thủy tại xã đã gây khó khăn trong việc phối hợp và thực hiện nhiệm vụ Do đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần nghiên cứu và đề xuất bổ sung lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách cho các tỉnh và huyện có diện tích rừng lớn.

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ

Huyện Thuận Châu có tổng diện tích tự nhiên là 155.002,3 ha, trong đó diện tích quy hoạch phát triển lâm nghiệp đạt 88.474,6 ha và diện tích rừng là 68.900,01 ha, với tỷ lệ che phủ rừng đạt 43,53% Rừng gỗ chiếm tỷ trọng lớn nhất, lên đến 89,8%, nhưng chủ yếu là rừng nghèo đến trung bình, với trữ lượng bình quân khoảng 80 m³/ha Một số khu rừng đặc dụng và rừng trên núi có sự xuất hiện của các loại gỗ quý hiếm như Pơ Mu, Nghiến, Đinh Hương, Vàng Tâm Tuy nhiên, do khai thác quá mức, nhiều loài cây đang có số lượng rất ít và có nguy cơ tuyệt chủng.

Hơn 90% diện tích rừng và đất rừng ở Thuận Châu đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tuy nhiên, vẫn còn khoảng 9.696,10 ha rừng và đất rừng chưa được giao, chiếm khoảng 8% tổng diện tích Các diện tích này hiện đang do UBND các cấp tạm thời quản lý, gây khó khăn cho công tác quản lý tài nguyên rừng tại huyện.

Hiện nay, công tác quản lý tài nguyên rừng (QLTNR) ở Thuận Châu có sự tham gia đa dạng từ nhiều chủ thể Đáng chú ý, một tỷ lệ lớn rừng và đất rừng tại đây đang được quản lý bởi các hộ gia đình (17%) và cộng đồng (59%).

Tại huyện Thuận Châu, công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng được tổ chức theo hai cấp độ: cấp huyện và cấp xã Ngoài ra, ở cấp thôn bản cũng có tổ chức bảo vệ rừng, được thành lập dựa trên Ban Chỉ đạo bảo vệ và phát triển rừng tại xã, với nguồn kinh phí từ dịch vụ môi trường rừng và hỗ trợ bảo vệ rừng.

Công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật Lâm nghiệp tại cấp xã và thôn bản diễn ra thường xuyên hàng năm, với số lượng người tham gia nghe và ký cam kết bảo vệ rừng đạt trên 30 nghìn lượt mỗi năm.

Thuận Châu có 28 xã với số lượng bản từ 363 đến 481, trong tổng số 3.092 đến 3.337 chủ rừng được chi trả DVMTR Diện tích rừng được chi trả DVMTR hàng năm ổn định, dao động từ 62.128 đến 63.595 ha, với tổng số tiền chi trả hàng năm khoảng từ 9.543.165 đến 29.131.670 nghìn đồng Kinh phí hỗ trợ cho công tác bảo vệ rừng trung bình đạt khoảng 428.000 đồng/ha/năm.

Số vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp tại huyện Thuân Châu đã giảm dần qua các năm, cho thấy công tác quản lý và bảo vệ rừng của huyện ngày càng được cải thiện Hệ thống chính trị từ huyện đến xã đã tích cực tham gia, kiểm soát hành vi vi phạm, đồng thời người dân đã bắt đầu có thu nhập và gắn bó hơn với rừng.

Ngày đăng: 13/07/2023, 17:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w