1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững cho khu rừng đặc dụng phòng hộ sốp cộp

67 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững cho khu rừng đặc dụng phòng hộ Sóp Cộp
Tác giả Trần Ngọc Đoàn
Người hướng dẫn TS. Trần Việt Hà
Trường học Trường Đại học Lâm nghiệp
Chuyên ngành Lâm nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ lâm học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (12)
    • 1.1. Trên thế giới (12)
    • 1.2. Ở Việt Nam (16)
      • 1.2.1. Một số chính sách liên quan (16)
      • 1.2.2. Các nghiên cứu liên quan đến công tác quản lý rừng bền vững (17)
  • Chương 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (22)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (22)
      • 2.1.1. Mục tiêu tổng quát (22)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (22)
    • 2.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu (22)
      • 2.2.1. Đối tượng nghiên cứu (22)
      • 2.2.2. Phạm vi nghiên cứu (22)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (22)
      • 2.3.1. Xác định hiện trạng tài nguyên rừng (22)
      • 2.3.2. Đánh giá thực trạng công tác quản lí tài nguyên rừng (22)
      • 2.3.3. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lí rừng bền vững (23)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (23)
      • 2.4.1. Phương pháp kế thừa các tài liệu thứ cấp (23)
      • 2.4.2. Phương pháp điều tra thu thập số liệu hiện trường (24)
      • 2.4.3. Xử lý số liệu nội nghiệp (25)
  • Chương 3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU (27)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên (27)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý, địa hình (27)
      • 3.1.2. Khí hậu (27)
      • 3.1.3. Thủy văn (28)
      • 3.1.4. Địa chất và thổ nhưỡng (28)
    • 3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (30)
      • 3.2.1. Dân số, dân tộc, lao động (30)
      • 3.2.2. Kinh tế, xã hội (30)
    • 3.3. Hệ thống giao thông (32)
  • Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (33)
    • 4.1. Hiện trạng tài nguyên rừng thuộc Khu rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp (33)
      • 4.1.1. Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp (33)
      • 4.1.2. Hiện trạng tài nguyên rừng (35)
      • 4.1.3. Hiện trạng tài nguyên đa dạng sinh học (36)
      • 4.1.4. Khả năng cung cấp dịch vụ môi trường rừng (44)
    • 4.2. Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng của Ban quản lý khu rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp (45)
      • 4.2.1. Tình hình tổ chức lực lượng chức năng liên quan đến công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng (45)
      • 4.2.2. Thực trạng công tác Quản lý bảo vệ rừng (47)

Nội dung

Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng của Ban quản lý khu rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp .... Từ khi thành lập với sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền các cấp, đặ

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trên thế giới

Khoa học quản lý rừng đã hình thành từ cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, ban đầu tập trung vào việc khai thác và sử dụng gỗ một cách bền vững Khi gỗ trở thành hàng hóa có giá trị thương mại cao, chủ rừng đã tìm cách tối ưu hóa lợi nhuận bằng cách nâng cao năng suất và sản lượng gỗ trên mỗi đơn vị diện tích Các giải pháp kỹ thuật trong việc tạo rừng, nuôi dưỡng và khai thác đã dần dần phát triển thành những lĩnh vực khoa học được nghiên cứu và áp dụng (Phạm Hoài Đức và Nguyễn Ngọc Lung, 2015).

Trong suốt thế kỷ XIX và XX, khoa học quản lý rừng tập trung vào việc duy trì sản lượng ổn định hàng năm Các lý thuyết điều chỉnh sản lượng theo diện tích và cấp năng suất đã được phát triển để đảm bảo thu hoạch gỗ đều đặn Gần đây, hợp tác lâm nghiệp trong khối ASEAN đã chuyển hướng sang quản lý rừng bền vững, khuyến khích các chủ rừng đạt chứng chỉ quốc tế, từ đó mở rộng quyền xuất khẩu và gia tăng giá trị kinh tế so với gỗ nội địa.

Chứng chỉ rừng có thể được so sánh với các chứng chỉ ISO-9000 và ISO-14000, nhưng được thiết kế đặc thù cho các doanh nghiệp quản lý rừng, sản xuất gỗ và lâm sản Để đảm bảo tính khách quan và công bằng, tổ chức cấp Chứng chỉ rừng cần phải là các tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận quốc tế Các tổ chức này phải dựa trên bộ tiêu chuẩn với các tiêu chí Quản lý rừng bền vững tương đương ở mọi vùng, bao gồm các yếu tố kinh tế, môi trường và xã hội.

Quản lý rừng đã tiến hóa từ việc chỉ tập trung vào kinh doanh gỗ sang quản lý đa dạng tài nguyên rừng và hệ sinh thái, hướng tới quản lý rừng bền vững Điều này yêu cầu chủ rừng phải xây dựng kế hoạch quản lý chi tiết và giám sát chặt chẽ các hoạt động lâm nghiệp Tất cả các hoạt động liên quan đến xây dựng và phát triển rừng cần tuân theo kế hoạch đã được lập, trong đó việc khai thác gỗ và bảo vệ môi trường là rất quan trọng.

Quản lý rừng bền vững, theo ITTO (Tổ chức Gỗ Nhiệt Đới Quốc Tế), là quá trình duy trì các lâm phận ổn định để đạt được các mục tiêu quản lý rừng rõ ràng Mục tiêu này bao gồm việc đảm bảo sản xuất liên tục các sản phẩm và dịch vụ mong muốn, đồng thời bảo vệ giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng, tránh gây ra tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên và xã hội.

Theo Tiến trình Hensinki, quản lý rừng bền vững là việc quản lý rừng và đất rừng một cách hợp lý nhằm duy trì đa dạng sinh học, năng suất và khả năng tái sinh của rừng Điều này không chỉ bảo vệ sức sống của rừng mà còn đảm bảo các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội ở cấp địa phương, quốc gia và toàn cầu, đồng thời không gây hại cho các hệ sinh thái khác.

Từ đầu thập kỷ 80, cộng đồng quốc tế đã nỗ lực thay đổi chiến lược bảo tồn nhằm hướng tới quản lý rừng bền vững Chiến lược mới này nhấn mạnh việc liên kết quản lý các khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia với sinh kế của người dân địa phương Sự tham gia bình đẳng và tôn trọng văn hóa trong quá trình ra quyết định là điều cần thiết để đạt được mục tiêu này.

Nỗ lực của các cơ quan chính phủ ở Đông Nam Á nhằm đưa dân chúng ra khỏi các Khu bảo tồn không đạt được kết quả mong muốn về quản lý tài nguyên rừng và kinh tế - xã hội, dẫn đến việc không đạt được mục tiêu quản lý rừng bền vững (Lê Sỹ Trung, 2005) Tại Nepal, mặc dù có một số mô hình bảo tồn đa dạng sinh học thành công, nhưng cuộc xung đột vũ trang kéo dài gần một thập kỷ đã ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động bảo tồn và động vật hoang dã Nghiên cứu tại vườn quốc gia Bardia cho thấy 73% người dân địa phương phụ thuộc vào nông nghiệp và nguồn tài nguyên tự nhiên (Alice Sharp, Nobukazu Nakagoshi, Colin McQuistan, 1999) Ở Thái Lan, Dự án “Quản lý bền vững thông qua sự cộng tác” tại Khu bảo tồn động vật hoang dã Phu Kheio đã chỉ ra rằng sự tham gia của các bên liên quan và phát triển cộng đồng địa phương là yếu tố then chốt cho quản lý bền vững tài nguyên (Ngô Ngọc Tuyên, 2007).

Hệ thống quản lý khu bảo vệ trước đây tập trung vào quyền sở hữu và kiểm soát rừng của nhà nước, bỏ qua mối quan hệ giữa con người và tài nguyên, dẫn đến tỷ lệ phá rừng cao tới 2,6% mỗi năm Nghiên cứu của Bink Man W (1988) tại làng Ban Pong, tỉnh S.Risaket, Thái Lan cho thấy rằng các tầng lớp nghèo phụ thuộc vào rừng để chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên như củi và hoa quả.

Sheppherd G đề xuất rằng để hỗ trợ cộng đồng dân cư sống trong và gần các khu bảo tồn thiên nhiên, cần cho phép người dân địa phương củng cố quyền lợi của họ thông qua các hệ thống quản lý nông nghiệp hiện đại Việc trồng cây và trao đổi đất là những giải pháp khả thi, trong đó nhà nước cần xác định rõ các quyền lợi chính trị của dân trên mảnh đất mà họ nhận Mục tiêu là tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập và giảm tác động đến tài nguyên rừng (theo Nguyễn Minh Thanh, 2004).

Dilmour D.A cho rằng tính kém hiệu quả của các chương trình quản lý tài nguyên thiên nhiên chủ yếu do chưa giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân trong cộng đồng và giữa lợi ích cộng đồng địa phương với lợi ích quốc gia Điều này dẫn đến việc chưa phát huy được năng lực nội sinh của các cộng đồng trong quản lý tài nguyên Do đó, cần phát triển quản lý tài nguyên theo hướng kết hợp giữa bảo tồn và phát triển tài nguyên với hoạt động sản xuất, nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân và thống nhất lợi ích của họ với lợi ích quốc gia trong bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng.

Quản lý rừng không bền vững đang dẫn đến sự giảm sút diện tích rừng, chất lượng rừng kém, và sự tuyệt chủng của nhiều loài cây và động vật hoang dã Môi trường sống bị đe dọa bởi lũ lụt, khô hạn và xói mòn đất, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của các cộng đồng địa phương Do đó, việc tăng cường các chương trình hành động nhằm quản lý rừng bền vững là rất cần thiết để bảo tồn và phát triển tài nguyên, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân và thống nhất lợi ích của họ với lợi ích quốc gia trong hoạt động bảo tồn rừng.

Ở Việt Nam

1.2.1 Một số chính sách liên quan

Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Chỉ thị này nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc bảo vệ tài nguyên rừng, đồng thời khuyến khích các hoạt động phát triển bền vững Việc thực hiện chỉ thị sẽ góp phần bảo vệ môi trường, duy trì đa dạng sinh học và phát triển kinh tế địa phương.

- Luật Đa dạng sinh học ngày 13/11/2008

- Luật Đất đai năm ngày 29/11/2013

- Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH 13 và các văn bản hướng dẫn

- Nghị định 65/2010/NĐ-CP ngày 11/6/2010 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật da dạng sinh học

Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Bên cạnh đó, Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 cũng được ban hành nhằm bổ sung và điều chỉnh các quy định liên quan đến việc bảo vệ các loài này.

- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2013

- Nghị định số 156/2018 của ngày 16/11/2018 của Chính phủ về Quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật Lâm nghiệp

Nghị định số 06/2019/NĐ-CP, ban hành ngày 22/01/2019, của Chính phủ quy định về việc quản lý thực vật rừng và động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nghị định này cũng nhằm thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp, góp phần bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường.

- Quyết định số 1288/QĐ-TTg ngày 01/10/2018 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng

Quyết định số 487/QĐ-BNN, ban hành ngày 26/2/2007 bởi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, quy định các định mức kinh tế kỹ thuật trong công tác điều tra quy hoạch rừng Quyết định này nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển bền vững tài nguyên rừng, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động liên quan đến quy hoạch rừng.

- Thông tư số 28/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về quản lý rừng bền vững

- Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quy định về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng

- Thông tư số 15/2019/TT-BNNPTNT ngày 30/10/2019 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hướng dẫn một số nội dung quản lý đầu tư công trình lâm sinh

- Thông tư số 25/2019/TT-BNNPTNT ngày 27/12/2019 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng

1.2.2 Các nghiên cứu liên quan đến công tác quản lý rừng bền vững

Kể từ năm 1998, Việt Nam đã tích cực tham gia vào quản lý rừng bền vững Hiện nay, Viện Nghiên cứu quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng (SFMI) hoạt động theo quy chế thành viên của Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC), được xem là “Sáng kiến quốc gia” của Việt Nam.

Theo thống kê từ Tổng cục Lâm nghiệp, đến năm 2019, Việt Nam có khoảng 235.000 ha rừng được cấp chứng chỉ bền vững, bao gồm 88.000 ha rừng tự nhiên và 147.000 ha rừng trồng Mặc dù con số này còn khiêm tốn so với tổng diện tích hơn 14 triệu ha rừng của cả nước, nhưng mục tiêu đạt chứng chỉ rừng để quản lý bền vững trong thời gian ngắn là thách thức lớn Đề án Quản lý rừng bền vững đặt mục tiêu đến năm 2030 cấp chứng chỉ cho 1 triệu ha rừng trồng sản xuất và phòng hộ Việc cấp chứng chỉ thành công sẽ góp phần vào quản lý rừng bền vững, mở rộng diện tích rừng và tăng cường khả năng hấp thụ carbon, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Quản lý rừng bền vững là một phần quan trọng của phát triển bền vững, đảm bảo phát triển kinh tế hiệu quả mà không gây hại cho môi trường sống của con người và các loài sinh vật Phát triển bền vững hiện nay là một yêu cầu cấp bách toàn cầu, nhằm khắc phục những tác động tiêu cực từ sự phát triển không bền vững trong quá khứ, đã dẫn đến suy giảm tài nguyên thiên nhiên, hủy hoại môi trường và đe dọa sự sống còn của nhân loại.

Mục tiêu của quản lý rừng bền vững là nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý của chủ rừng, đồng thời tối đa hóa và duy trì các lợi ích kinh tế, môi trường và xã hội từ rừng Sản phẩm có chứng chỉ quản lý rừng bền vững được thị trường toàn cầu ưu tiên tiêu thụ với giá cao Việc áp dụng chứng chỉ rừng cũng nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của thị trường quốc tế đối với sản phẩm gỗ Áp lực này gia tăng khi Việt Nam chuẩn bị ký kết nhiều thỏa thuận và hiệp định quốc tế (WWF, 2018).

Quản lý rừng bền vững thông qua Chứng chỉ rừng đang ngày càng phổ biến trên toàn cầu, đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn nạn phá rừng và khai thác gỗ bất hợp pháp Việt Nam, một trong những nước xuất khẩu gỗ lớn, đang chịu áp lực từ các thị trường như EU và Hoa Kỳ về việc cung cấp sản phẩm gỗ có chứng chỉ Để đảm bảo sự phát triển của ngành chế biến gỗ, việc có đủ nguồn gỗ có chứng chỉ là rất cần thiết Chứng chỉ rừng đã được áp dụng tại Việt Nam từ những năm 2000 và được chính phủ xem là công cụ quản lý rừng bền vững, với mục tiêu đạt 30% rừng sản xuất tương đương khoảng 2 triệu ha có chứng chỉ theo Chiến lược lâm nghiệp 2006 - 2020.

Thông tư số 28/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định chi tiết về quản lý rừng bền vững, bao gồm trình tự và thủ tục xây dựng, phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững, cùng với tiêu chí và chứng chỉ liên quan Thông tư này áp dụng cho các tổ chức và chủ rừng có hoạt động liên quan đến việc xây dựng, phê duyệt và thực hiện các phương án, tiêu chí và chứng chỉ quản lý rừng bền vững.

Các khu rừng đặc dụng và phòng hộ như ở Sốp Cộp có những đặc trưng riêng về quy mô, sinh thái, dân cư, và kinh tế xã hội Do đó, việc quản lý rừng bền vững là cần thiết để bảo tồn tài nguyên và đảm bảo sinh kế cho người dân địa phương Cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các hoạt động này trên toàn quốc.

Trong những năm qua, nhiều nghiên cứu trong nước đã tập trung vào việc nâng cao hiệu quả bảo tồn tại các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia Mục tiêu là tìm ra giải pháp cân bằng giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội cho người dân địa phương, nhằm giải quyết các vấn đề sinh kế và thực hiện các mục tiêu bảo tồn.

Theo nghiên cứu của Donovan D và cộng sự (2007), diện tích rừng già ở miền núi phía Bắc Việt Nam đã giảm sút nghiêm trọng do áp lực khai thác gỗ, củi và các lâm sản khác như tre nứa, nấm, cây dược liệu và động vật hoang dã Những sản phẩm này được xem là nguồn sinh kế chủ yếu của người dân địa phương, dẫn đến việc gia tăng sức ép lên rừng.

D.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999), đã thực hiện một nghiên cứu về quản lý vùng đệm tại 3 vườn quốc gia: Ba Vì, Bạch Mã và Cát Tiên Kết quả nghiên cứu đã phản ánh khá rõ nét thực trạng vùng đệm ở Việt Nam Nhìn chung ở các khu vực vùng đệm của các vườn quốc gia thì tình trạng thiếu đất canh tác và thói quen sử dụng tài nguyên rừng của các cộng đồng địa phương là sức ép trực tiếp ảnh hưởng tới công tác bảo tồn Đỗ Anh Tuân (2001) thực hiện một nghiên cứu điểm tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát cho đề tài ảnh hưởng của bảo tồn tới sinh kế của các cộng đồng địa phương và thái độ của họ về các chính sách bảo tồn Tác giả chủ yếu đánh giá sự thay đổi sinh kế của người dân địa phương do sự ảnh hưởng của Khu bảo tồn và mức độ chấp nhận của cộng đồng thông qua việc phân tích mối quan hệ giữa cộng đồng và tài nguyên Nghiên cứu cho rằng hầu hết người dân địa phương vẫn còn sử dụng tài nguyên rừng một cách bất hợp pháp

Nguyễn Bá Ngãi (2003) và cộng sự chỉ ra rằng việc loại trừ cộng đồng địa phương khỏi lợi ích từ tài nguyên rừng trong các vườn quốc gia không hiệu quả trong bảo tồn thiên nhiên Người dân và cộng đồng địa phương đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn và phát triển rừng đặc dụng Tác giả khẳng định rằng hệ thống chính sách hiện tại đủ khả năng thu hút cộng đồng địa phương tham gia quản lý và sử dụng các khu rừng đặc dụng, đồng thời đề xuất mô hình quản lý đất đai cho khu phục hồi sinh thái tại vườn quốc gia Ba Vì.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Góp phần đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý rừng bền vững tại khu rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp

- Xác định được hiện trạng tài nguyên rừng và khả năng cung cấp dịch vụ môi trường rừng

- Đánh giá được thực trạng công tác quản lý tài nguyên rừng

- Đề xuất một số giải pháp quản lý rừng bền vững tại khu rừng đặc dụng

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Là tài nguyên rừng bao gồm rừng và đất lâm nghiệp và các hoạt động quản lý rừng tại khu rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp

Nghiên cứu này tập trung vào các hoạt động quản lý rừng và đất lâm nghiệp bền vững tại khu rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp.

Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Xác định hiện trạng tài nguyên rừng

- Xác định hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp

- Xác định tiềm năng đa dạng sinh học

- Xác định khả năng cung cấp dịch vụ môi trường rừng

2.3.2 Đánh giá thực trạng công tác quản lí tài nguyên rừng

- Tình hình tổ chức lực lượng chức năng liên quan đến công tác quản lí tài nguyên rừng

- Hoạt động quản lí bền vững hệ sinh thái rừng và các loại lâm sản

- Hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học

- Hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng

2.3.3 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lí rừng bền vững

- Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu trong công tác quản lí tài nguyên rừng

- Đề xuất giải pháp quản lí rừng bền vững.

Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp kế thừa các tài liệu thứ cấp

- Các văn bản, chính sách của Nhà nước, các kết quả nghiên cứu đã thực hiện thuộc lĩnh vực liên quan đến vấn đề nghiên cứu

- Báo cáo các chuyên đề điều tra đa dạng sinh học tại Khu rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp, tỉnh Sơn La

- Các loại bản đồ quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng đặc dụng:

+ Bản đồ Quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng đặc dụng tỉnh năm 2014; + Bản đồ kiểm kê rừng 2015;

+ Bản đồ quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vũng Khu rừng đặc dụng Sốp Cộp năm 2013;

+ Bản đồ Quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Sơn La năm 2018

- Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh:

+ Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Sơn La đến năm 2020 và tầm nhìn đến đến năm 2030;

Quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng đặc dụng tỉnh đến năm 2020 nhằm đảm bảo sự bền vững và bảo vệ hệ sinh thái Đặc biệt, quy hoạch này cũng tập trung vào việc phát triển bền vững Khu rừng đặc dụng Sốp Cộp, với mục tiêu nâng cao giá trị sinh thái và kinh tế của khu vực.

+ Kết quả rà soát, điều chỉnh quy hoạch 03 loại rừng cấp tỉnh giai đoạn

2017 - 2025 và định hướng đến năm 2030

- Số liệu hiện trạng tài nguyên rừng, kế hoạch sử dụng đất:

+ Kết quả kiểm kê rừng năm 2015;

Kết quả theo dõi diễn biến rừng tại huyện Sông Mã và Sốp Cộp trong năm 2019 cho thấy sự thay đổi đáng kể về tình trạng rừng Kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) của hai huyện này đã được triển khai nhằm quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng hiệu quả hơn Thêm vào đó, số liệu từ các dự án lâm nghiệp và bảo tồn đa dạng sinh học, cùng với việc chi trả dịch vụ môi trường rừng tại địa phương, đã cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả của các hoạt động quản lý rừng từ các cơ quan và đơn vị liên quan.

2.4.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu hiện trường Đề tài đã sử dụng các công cụ điều tra có sự tham gia như: phỏng vấn cá nhân; thảo luận nhóm, phân tích tổ chức, tham vấn chuyên gia để thu thập thông tin hiện trường phục vụ nghiên cứu, cụ thể như sau:

Công cụ này nhằm xác định các bên liên quan trong quản lý tài nguyên rừng, đồng thời làm rõ vai trò và ảnh hưởng của họ đối với việc tổ chức, thực hiện và kết quả của các hoạt động liên quan.

2.4.2.2 Phỏng vấn cá nhân a) Phỏng vấn các cán bộ thuộc Ban quản lý rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp, Chi cục kiểm lâm

Dự kiến sẽ thực hiện từ 3 đến 5 cuộc phỏng vấn cho mỗi cơ quan được lựa chọn, tổng số cuộc phỏng vấn dự kiến sẽ dao động từ 6 đến 10 cuộc.

Nội dung phỏng vấn tập trung vào tình hình tổ chức lực lượng và triển khai các dự án khoanh nuôi phục hồi rừng, cùng với các hoạt động nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu Bên cạnh đó, phỏng vấn cũng đề cập đến những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý rừng bền vững, nguyên nhân của những thách thức này, cũng như các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rừng Cuối cùng, phỏng vấn các chủ thể tham gia quản lý rừng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng và nhu cầu cải thiện trong lĩnh vực này.

Dự kiến sẽ thực hiện 3 cuộc phỏng vấn cho mỗi đối tượng chủ rừng, bao gồm các tổ chức nhà nước, cá nhân, cộng đồng và hộ gia đình Tổng cộng, khoảng 12 cuộc phỏng vấn sẽ được tiến hành.

Nội dung phỏng vấn tập trung vào tình hình thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy rừng và phòng trừ sinh vật gây hại Bài phỏng vấn sẽ làm rõ những thuận lợi và khó khăn mà các chủ rừng gặp phải trong công tác của họ, đồng thời nêu ra các yêu cầu và đề xuất của họ đối với các cơ quan thực thi pháp luật và hỗ trợ kỹ thuật.

- Đối tượng tham gia thảo luận: Các cán bộ thuộc hạt kiểm lâm

- Số lượng cuộc thảo luận: Dự kiến thực hiện 2 cuộc thảo luận đối với nhóm cán bộ văn phòng và nhóm kiểm lâm địa bàn

Nội dung thảo luận nhóm tập trung vào tình hình thực thi pháp luật lâm nghiệp, nêu rõ những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện Đồng thời, nhóm cũng đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này trên địa bàn huyện.

Sau khi tổng hợp kết quả từ phỏng vấn cá nhân và thảo luận nhóm, chúng tôi sẽ tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực lâm nghiệp Mục tiêu là bổ sung và hoàn thiện phân tích về các tác động bất lợi đối với quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng, đồng thời thu thập các khuyến nghị nhằm đề xuất giải pháp hiệu quả.

2.4.3 Xử lý số liệu nội nghiệp

Sử dụng phần mềm Excel để thống kê và tính toán các đặc trưng mẫu là cơ sở quan trọng cho việc tổng kết và phân tích kết quả, từ đó đưa ra các kết luận chính xác.

Dựa trên số liệu từ các báo cáo của cơ quan chức năng, bài viết sẽ tổng hợp và đưa ra những nhận định khách quan về thực trạng quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng trong khu vực nghiên cứu.

Dựa trên số liệu thu thập từ báo cáo, phỏng vấn và thảo luận nhóm, chúng tôi đã tiến hành tổng hợp và phân tích để xác định các hình thức chủ yếu, mức độ tác động và nguyên nhân gây ra những tác động tiêu cực đối với công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng.

Dựa trên việc phân tích các nguyên nhân gây ra tác động tiêu cực đến quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động này Các giải pháp được xây dựng dựa trên hệ thống tổ chức quản lý, nguồn lực hiện có và mối quan hệ giữa chủ rừng với các bên liên quan, kết hợp với ý kiến từ các chuyên gia Mục tiêu là nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng tại huyện.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý, địa hình

Ban quản lý rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp được thành lập theo Quyết định số 3279/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của UBND tỉnh Sơn La, với tổng diện tích 22.768,71 ha Khu rừng này nằm trên địa bàn 2 huyện Sốp Cộp và Sông Mã, bao gồm 6 xã: Púng Bánh, Sốp Cộp, Dồm Cang (huyện Sốp Cộp) và Huổi Một, Mường Cai, Nậm Mằn (huyện Sông Mã) Khu vực này giáp với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ở phía Nam, tỉnh Điện Biên ở phía Tây, và huyện Sông Mã ở phía Bắc và Đông.

Tọa độ địa lý: 20 0 39'33'' - 21 0 7'15'' Vĩ độ Bắc; 103 0 14'56'' - 103 0 45'06'' Kinh độ Đông

Huyện có địa hình phức tạp với độ cao trung bình 600 m so với mặt biển, nằm giữa khối núi Thuận Châu và Sốp Cộp, cùng dãy núi biên giới Việt - Lào Địa hình này có nhiều dãy núi cao, tạo thành các khe suối sâu và hẹp, với độ cao từ 1.000 m đến 1.500 m và độ dốc trung bình 20 - 30 độ, gây khó khăn trong việc di chuyển Khu vực này không chỉ có giá trị về cảnh quan và môi trường sinh thái mà còn đóng vai trò quan trọng trong quốc phòng, an ninh và quản lý rừng bền vững, đặc biệt là trong việc bảo vệ đầu nguồn.

Khí hậu của khu vực này thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Mùa khô chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ gió Lào khô và nóng, đặc biệt vào đầu tháng 2 và tháng 3 hàng năm, dẫn đến ít mưa và thời tiết khô nóng, tạo điều kiện dễ dàng cho việc cháy rừng.

Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 22,4 °C, với bốn tháng có nhiệt độ dưới 20 °C từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau Tháng lạnh nhất là tháng 12 và tháng 1, khi nhiệt độ trung bình dao động từ 15,3 đến 16,1 °C Ngược lại, tháng nóng nhất là tháng 6 và tháng 7, với nhiệt độ trung bình từ 26,3 đến 26,4 °C Nhiệt độ có thể giảm xuống dưới 0 °C và tăng lên trên 40 °C, trong khi số ngày mưa hàng năm dao động từ 110 đến 140 ngày.

Hệ thống suối Nậm Công là hệ thống suối lớn nhất huyện, chảy qua xã Sốp Cộp và trở thành nhánh chính của sông Mã Nó là hợp lưu của ba con suối nhỏ: suối Nậm Ca (chảy qua xã Mường Và), suối Nậm Lạnh (chảy qua xã Nậm Lạnh) và suối Nậm Ban (chảy qua bốn xã: Sam Kha).

Hệ thống suối Nậm Công không chỉ cung cấp đủ nước cho 4 xã Sốp Cộp, Dồm Cang, Púng Bánh và Mường mà còn có tiềm năng lớn về thủy điện, đặc biệt trong mùa khô.

- Suối Nậm Pừn: Bắt nguồn từ độ cao 1.600 m thuộc xã Mường Lèo (Giáp biên giới Việt Lào) chảy sang huyện Điện Biên Đông đổ ra Sông Mã

- Suối Nậm Sọi: Chảy dọc xã Mường Lạn; xã Mường Cai và Chiềng Khoong (huyện Sông Mã) đổ ra Sông Mã

Ngoài hệ thống suối và các con suối chính trên, còn có những con suối nhỏ phân bố không đồng đều trong huyện

3.1.4 Địa chất và thổ nhưỡng

Theo điều tra của Trung tâm Địa Môi trường và tổ chức lãnh thổ thuộc Liên hiệp Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, kết hợp với bản đồ thổ nhưỡng tỷ lệ 1/100.000 của tỉnh Sơn La, huyện này có sự phân bố của một số loại đất chính, trong đó nổi bật là đất vàng xám (Xf).

Diện tích 143.968 ha, chiếm 97,71% tổng diện tích tự nhiên Trong đất vàng xám được chia ra 3 loại đất phụ là:

Đất vàng xám điển hình (Xfh) có diện tích 66.974 ha, chiếm 46,52% tổng diện tích đất xám vàng Loại đất này chủ yếu phân bố ở khu vực đai cao từ sườn lên đỉnh núi, với độ pH dao động từ 6 đến 6,5 Đặc điểm nổi bật là tỷ lệ đá lẫn và đá lộ đầu lớn, cùng với độ dốc cao.

Đất có độ dày từ 300 cm trở lên thường có tầng mỏng đến trung bình, với hàm lượng mùn chủ yếu ở mức trung bình đến giàu Loại đất này thường được bao phủ bởi cây rừng tự nhiên và các khu vực đất trống trên đồi núi trọc.

Đất xám vàng có thành phần cơ giới nặng, chiếm 42,29% diện tích đất vàng xám với tổng diện tích 60.884 ha Loại đất này chủ yếu phân bố ở đai cao từ sườn đến đỉnh núi, có độ pH từ 4,5 - 7,5 và hàm lượng mùn trung bình Đặc điểm nổi bật là tỷ lệ đá lẫn nhiều và độ dốc cao, phần lớn từ 350 trở lên, với tầng đất mỏng trung bình Thực bì chủ yếu là cây rừng tự nhiên đang tái sinh và một phần là đất trống đồi núi trọc.

Đất xám tích mùn (Xfu) có diện tích 16.110 ha, chiếm 11,19% tổng diện tích đất vàng xám, chủ yếu phân bố ở các vùng núi thấp và ven suối lớn Đất này có độ pH từ 4,5 - 5, hàm lượng mùn trung bình đến giàu, tỷ lệ đá lẫn ít, và độ dốc từ 20 - 35 độ Hiện tại, loại đất này đang được sử dụng cho rừng tái sinh tự nhiên và canh tác nông nghiệp.

Diện tích 2.505 ha, chiếm 1,7% tổng diện tích tự nhiên Đất này được chia làm 3 loại đất phụ:

Đất phù sa chua (Pc) có diện tích 2.077 ha, chiếm 82,91% tổng diện tích đất phù sa Loại đất này chủ yếu phân bố ở các vùng chân núi, với độ pH dao động từ 4,5 đến 6,5, hàm lượng mùn trung bình, tỷ lệ đá lẫn ít và độ dốc thấp, tập trung từ 15 độ trở xuống.

25 0 ; có tầng mỏng trung bình Loại đất này hiện tại đang canh tác sản xuất nông nghiệp;

Đất phù sa ít chua (Pi) có diện tích 354 ha, chiếm 14,13% tổng diện tích Loại đất này chủ yếu phân bố ở các vùng chân núi, với độ pH dao động từ 5,5 đến 7,5 và hàm lượng mùn từ trung bình đến giàu Hiện tại, đất phù sa ít chua đang được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp.

Đất phù sa bão hòa (Peh) có diện tích 74 ha, chiếm 2,96% tổng diện tích đất phù sa, chủ yếu phân bố ở các vùng chân núi với độ pH trung tính và hàm lượng mùn trung bình Loại đất này hiện đang được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp.

Diện tích 486 ha, chiếm 0,33% tổng diện tích tự nhiên Đất này phân bố chủ yếu ở sườn dông d) Đất mới biến đổi (CM)

Diện tích 177 ha, chiếm 0,12% tổng diện tích tự nhiên Đất này phân bố rải rác ở sườn dông đ) Đất glây (Gl)

Diện tích 206 ha, chiếm 0,14% tổng diện tích tự nhiên Đất này phân bố rải rác ở dọc ven các con suối lớn, có độ dốc thấp

Đất đai huyện Sốp Cộp có khả năng phù hợp với nhiều loại cây trồng, tuy nhiên, phần lớn diện tích đất có độ dốc lớn và phân bố không đồng đều Hàm lượng các chất dinh dưỡng như đạm, lân, kali, canxi và manhê trong đất ở mức thấp và giảm nhanh theo độ sâu, dẫn đến tỷ lệ dinh dưỡng không cân đối.

Điều kiện kinh tế - xã hội

3.2.1 Dân số, dân tộc, lao động

Sốp Cộp có dân số năm 2019 là 45.050 người, có 6 dân tộc sinh sống (dân tộc Thái 62,2%, dân tộc Mông 17,8%, dân tộc Khơ Mú 6,1%, dân tộc Lào 11,3%, dân tộc Kinh 2,4%)

Cơ sở hạ tầng tại huyện Sốp Cộp còn nghèo nàn và là vùng xung yếu về an ninh quốc phòng phía Tây Bắc Tổ quốc, với biên giới tiềm ẩn nhiều diễn biến phức tạp và tình trạng truyền đạo trái pháp luật vẫn diễn ra Để phát triển kinh tế - xã hội, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1584/QĐ-TTg vào ngày 04/11/2008 phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội huyện Sốp Cộp đến năm 2015 Chương trình này nhằm hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững từ năm 2009 đến 2020, tập trung vào đầu tư ổn định dân cư, phát triển sản xuất và an sinh xã hội, với mục tiêu giúp huyện Sốp Cộp thoát khỏi tình trạng khó khăn và trở thành một huyện khá trong tỉnh Sơn La.

Huyện có diện tích tự nhiên 148.088 ha, trong đó hơn 81.700 ha đất chưa sử dụng, có khả năng đưa vào sản xuất nông nghiệp (7.000 ha) và lâm nghiệp (62.000 ha) Lực lượng lao động nông nghiệp phong phú và thời gian nông nhàn còn nhiều Với 120 km đường biên giới tiếp giáp với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, huyện có tiềm năng thuận lợi cho việc đầu tư xây dựng các khu trung tâm kinh tế cửa khẩu, thúc đẩy giao lưu buôn bán và hợp tác phát triển với nước bạn.

Diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt đạt 7.163 ha với sản lượng ước đạt 21.600 tấn Cây cà phê được trồng trên diện tích 405 ha, trong khi tổng diện tích cây ăn quả trên địa bàn huyện là 358,5 ha Ngoài ra, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản cũng đạt 156,2 ha.

- Lâm nghiệp: Trên địa bàn huyện Sốp Cộ có 01 doanh nghiệp lâm nghiệp, các sản phẩm chế biến gồm có gỗ, tre, măng, giống cây trồng

Thương mại và dịch vụ tại huyện đang được phát triển mạnh mẽ với sự đa dạng về loại hình và quy mô Hệ thống lưu thông và phân phối hàng hóa được tổ chức hiệu quả, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân Các doanh nghiệp vận tải trong khu vực đảm bảo an toàn trong việc vận chuyển hành khách, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ.

Hệ thống giao thông

Giao thông vận tải trong huyện Sốp Cộp hiện đang hoạt động thông suốt, đáp ứng nhu cầu sản xuất và đi lại của người dân Tổng chiều dài hệ thống giao thông trên địa bàn huyện đạt 603,75 km, bao gồm 120 km đường biên giới và 9,75 km đường quốc lộ từ km 110 đến km 119 Đường tỉnh lộ 105 kết nối trung tâm huyện Sốp Cộp với Mường Lèo và Mường Lói, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế địa phương.

Huyện có tổng chiều dài 64 km với 4 trục đường huyện lộ, bao gồm: Tuyến Sốp Cộp - Mường Và - Mường Lạn dài 28 km, Tuyến Sốp Cộp - Nậm Lạnh đi mốc D1 dài 31 km, Tuyến Púng Bánh - Sam Kha dài 17 km, và Tuyến Mường Và - Mường Cai dài 10 km Ngoài ra, có 59 tuyến đường xã với tổng chiều dài 324 km, tất cả đều là đường đất Hiện tại, khoảng 150/603,75 km các tuyến đường đã được nhựa hóa và bê tông, đạt 24,84% Chỉ có 2/8 xã (Sốp Cộp và Mường Và) có đường ô tô đi lại được quanh năm, trong khi 6/8 xã còn lại chỉ có thể di chuyển vào mùa khô, gây khó khăn trong mùa mưa Các tuyến đường giao thông được đầu tư xây dựng đã đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng và an ninh của huyện.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Hiện trạng tài nguyên rừng thuộc Khu rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp

4.1.1 Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp

Theo Quyết định số 439/QĐ-UBND ngày 06/3/2020 của UBND tỉnh Sơn La, hiện trạng rừng tỉnh Sơn La năm 2019 cho thấy Ban quản lý rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp đang quản lý 22.768,71 ha đất lâm nghiệp Trong đó, diện tích đất có rừng là 16.661,99 ha, chiếm 73,18% tổng diện tích, còn đất chưa có rừng là 6.190,68 ha, chiếm 26,82%.

Hình 4.1a Bản đồ hiện trạng rừng Đặc dụng Sốp Cộp

 Rừng đặc dụng với diện tích 17.573,94 ha, trong đó:

- Diện tích đất có rừng tự nhiên là 14.737,08 ha, chiếm 83,86% tổng diện tích đất đặc dụng của Ban quản lý, gồm: Rừng tự nhiên là 14.470,30 ha; Rừng trồng 266,70 ha;

Diện tích đất chưa có rừng của Ban quản lý là 2.836,86 ha, chiếm 16,14% tổng diện tích đất đặc dụng Trong đó, đất trống có cây gỗ tái sinh là 914,85 ha, đất trống không có cây gỗ tái sinh là 798,90 ha, và đất khác trong lâm nghiệp là 1.123,11 ha.

Hình 4.1b Bản đồ hiện trạng rừng Phòng hộ Sốp Cộp

 Rừng phòng hộ với diện tích là 5.194,77 ha, bao gồm:

- Diện tích đất có rừng tự nhiên là 1.924,91 ha, chiếm 37,06% tổng diện tích đất phòng hộ của Ban quản lý, gồm: Rừng gỗ 1.924,91 ha;

- Diện tích đất chưa có rừng là 3.269,86 ha, chiếm 62,94% tổng diện tích đất phòng hộ của Ban quản lý

Ranh giới và diện tích rừng đã được xác định rõ ràng trên bản đồ cũng như thực địa Công tác quản lý rừng và đất lâm nghiệp của Ban quản lý rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp được thực hiện theo đúng quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng, hiện nay là Luật Lâm nghiệp.

Vào năm 2017, công tác theo dõi diễn biến rừng hàng năm được thực hiện bởi chủ rừng, với việc cập nhật các biến động tăng và giảm theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng hiện chiếm 26,96%, gây ra thách thức trong việc quản lý sử dụng đất giữa Khu rừng đặc dụng - phòng hộ và các bản vùng đệm Bên cạnh đó, tập quán sản xuất canh tác của người dân các dân tộc tại các bản vùng cao vẫn duy trì tình trạng sử dụng đất để canh tác nông nghiệp, dẫn đến tranh chấp đất đai vẫn còn diễn ra.

4.1.2 Hiện trạng tài nguyên rừng

Khu rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp bao gồm hai loại rừng chính: rừng gỗ lá rộng thường xanh và rừng hỗn giao tre nứa Thông tin về trữ lượng các loại rừng được thể hiện trong bảng 4.1.

Bảng 4.1 Tổng hợp trữ lượng các loại rừng của Khu rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp

TT Loại rừng Diện tích

(ha) Đơn vị tính Tổng trữ lượng

4 Rừng hỗn giao tre nứa 6.619,68 cây 135.000

(Nguồn: Phương án quản lý rừng bền vững của Ban quản lý khu rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp)

Khu rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp có tổng diện tích rừng giàu là 9.775,61 ha, với trữ lượng khoảng 1.955.122 m³ Rừng trung bình chiếm 2.511,63 ha, trữ lượng đạt khoảng 301.396 m³, trong khi rừng nghèo có diện tích 4.108,05 ha và trữ lượng khoảng 205.403 m³ Đặc biệt, rừng hỗn giao tre nứa có diện tích khoảng 6.619,68 ha, với trữ lượng đạt 135.000 cây.

Khu rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp sở hữu thảm thực vật phong phú trên núi đá vôi, tạo nên một cảnh quan độc đáo Nơi đây là môi trường sống của nhiều loài hạt trần quý hiếm như Bách xanh và Du sam núi đất, với sự phân bố hạn chế Ngoài ra, Sốp Cộp còn có nhiều loài thực vật có giá trị khoa học và kinh tế cao, bao gồm lan kim tuyến, đinh thối và lát hoa.

Hệ thực vật Sốp Cộp phong phú với nhiều loài cây có ích, đặc biệt là các cây thuốc quý như Hòang đàn, Cốt toái bổ, Tắc kè đá, Đẳng sâm và Bảy lá một hoa Khu rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp chứa đựng nhiều cây thuốc, trong đó một số loài đang bị khai thác và săn lùng, bao gồm Lan kim tuyến, Cốt toái bổ, Bảy lá một hoa và Hòang đằng.

Trước đây, nguồn tài nguyên cây thuốc đã trở nên khan hiếm do bị khai thác quá mức Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhờ vào việc tăng cường công tác kiểm tra và kiểm soát, cùng với các hoạt động tuyên truyền và giáo dục nâng cao nhận thức cho người dân về bảo vệ tài nguyên và đa dạng sinh học, tình trạng khai thác lâm sản trái pháp luật đã được hạn chế Người dân ngày càng nhận thức rõ trách nhiệm và quyền lợi trong việc sử dụng bền vững nguồn tài nguyên này.

4.1.3 Hiện trạng tài nguyên đa dạng sinh học

4.1.3.1 Đa dạng hệ sinh thái rừng a) Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp

Kiểu rừng này chủ yếu phân bố ở khu núi Pu Cọp Mường, Phiêng Piềng và núi Pu Căm, với độ cao từ 700 đến 800 m Rừng có sự đa dạng về thực vật, chủ yếu là cây lá rộng, kèm theo một số loài cây lá kim Mặc dù diện tích rừng nhỏ, nó vẫn được chia thành 4 tầng: tầng vượt tán, tầng dưới tán, tầng cây dưới và tầng thảm tươi Nơi đây có một số loài thực vật quý hiếm cần được quản lý và bảo vệ, hạn chế khai thác vì mục đích thương mại, như loài Du sam.

Rừng hương và các loài tuế có chất lượng và trữ lượng tương đối cao, với tầng tán khá liên tục và đồng đều Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở vùng núi thấp ít bị tác động.

Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp phân bố thành đám nhỏ ở độ cao từ 600 - 800 m, chủ yếu ở ven suối Nậm Công Kiểu rừng này có sự đa dạng thực vật phong phú, với nhiều loài tham gia tạo thành tán rừng liên tục, bao gồm các loài như Chò nâu, Lát xoan, Sống rắn, và Sếu trung hoa Rừng được chia thành 4 tầng rõ nét, trong khi hệ sinh thái rừng kín thường xanh ít bị tác động trên sườn đỉnh núi đá vôi.

Rừng kín thường xanh trên sườn đỉnh núi đá vôi tại xã Huổi Một, đặc biệt ở các khoảnh 1, 2, 3 tiểu khu 693 và khoảnh 1, 2 tiểu khu 677, có sự đa dạng về thành phần thực vật, bao gồm các loài như Nghiến, Mạy tèo, Lát hoa, và Đinh Sự hiện diện của các loài cây đặc trưng như Nghiến và Mạy tèo cho thấy tính chỉ thị cao của loại hình rừng này Rừng ở đây có cấu trúc phức tạp, với những khu vực đã qua canh tác nương rẫy thường là rừng phục hồi, nơi xuất hiện các loài chịu khô hạn như Vối thuốc Chất lượng rừng và trữ lượng rừng ở khu vực này được đánh giá là khá tốt so với các kiểu rừng khác trong khu rừng đặc dụng.

Rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy chủ yếu tập trung ở Pu Cọp Mường và rải rác tại Ngầm Trang, Pu Căm Cấu trúc rừng đơn giản với một tầng cây gỗ thưa, tạo điều kiện cho thảm thực vật phát triển mạnh mẽ, bao gồm nhiều loài cỏ cao Các loài thực vật chủ yếu là những loài tiên phong ưa sáng, chịu khô hạn và mọc nhanh Diện tích rừng phân tán khác nhau tùy thuộc vào quy mô nương rẫy, trong khi kích thước cây rừng biến động theo thời gian phục hồi và điều kiện lập địa Dưới tán rừng, nhiều loài cây nguyên sinh như Hu đay, Hoóc quang, Bời lời, thồ lộ đã xuất hiện trở lại, cho thấy sự phục hồi của hệ sinh thái rừng thứ sinh sau khai thác.

Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng của Ban quản lý khu rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp

4.2.1 Tình hình tổ chức lực lượng chức năng liên quan đến công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng

Theo Quyết định số 57/QĐ-CCKL ngày 30/01/2019, Ban quản lý rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp được thành lập năm 2018 từ việc sát nhập Ban quản lý rừng Đặc dụng và Ban quản lý rừng Phòng hộ Sốp Cộp Quyết định này được ban hành theo Quyết định số 3279/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của UBND tỉnh Sơn La, nhằm quản lý rừng đặc dụng và phòng hộ tại khu vực Sốp Cộp, trực thuộc Chi cục Kiểm lâm và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sơn La.

Ban quản lý khu rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp được giao quản lý 22.768,71 ha rừng tại 09 xã, bao gồm Dồm Cang, Mường Lạn, Mường Và, Nậm Lạnh, Sốp Cộp, Huổi Một (huyện Sốp Cộp) và Huổi Một, Mường Cai, Nậm Mằn (huyện Sông Mã) Hiện tại, Ban quản lý rừng đặc dụng đang thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng.

Phòng hộ Sốp Cộp, với Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng nằm trong Ban, có tổng biên chế 27 công chức và viên chức kiểm lâm, bao gồm 03 lãnh đạo: Giám đốc kiêm Hạt trưởng và 02 Phó Giám đốc Các bộ phận chuyên môn bao gồm phụ trách kỹ thuật, thanh tra-pháp chế, tổ chức hành chính và 05 trạm bảo vệ rừng.

Hình 4.2 Sơ đồ tổ chức lực lượng quản lý rừng bền vững tại Khu rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp

Giám đốc Ban quản lý rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp, đồng thời là Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Sốp Cộp, có trách nhiệm quản lý và điều hành toàn bộ các hoạt động của đơn vị.

- Phó giám đốc - phó Hạt trưởng: Giúp việc cho Giám đốc - Hạt trưởng trong lĩnh vực chuyên môn về kỹ thuật và pháp chế

- Tổ Hành chính: Gồm 05 người Tham mưu về công tác kế toán, văn thư, thủ quỹ, lái xe, bảo vệ cơ quan

Tổ kỹ thuật bao gồm một thành viên, có nhiệm vụ tư vấn cho lãnh đạo trong việc triển khai kế hoạch hoạt động lâm nghiệp, theo dõi tình hình tài nguyên rừng và đất rừng Tổ chức và điều hành các trạm bảo vệ rừng cùng với các hộ nhận khoán bảo vệ rừng, đồng thời cập nhật phương án quản lý rừng bền vững theo quy trình.

- Các trạm bảo vệ rừng:

Trạm Túp Phạ gồm 04 thành viên có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát và quản lý bảo vệ rừng tại xã Huổi Một, Nậm Mằn, Mường Cai (huyện Sông Mã) Trạm phối hợp với các tổ, đội bảo vệ rừng của xã và bản để thường xuyên tuần tra, kiểm soát và bảo vệ rừng trong khu vực được phân công.

Trạm Tà Cọ gồm 04 thành viên có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát và quản lý bảo vệ rừng tại xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp Trạm phối hợp với các tổ, đội bảo vệ rừng của xã để thường xuyên tuần tra, kiểm soát và bảo vệ rừng trong khu vực được phân công.

Trạm Tin Tốc gồm 05 thành viên có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát và quản lý bảo vệ rừng tại xã Dồm Cang, Púng Bánh, huyện Sốp Cộp Trạm phối hợp với các tổ, đội bảo vệ rừng của xã để thường xuyên tuần tra, kiểm soát và bảo vệ rừng trong khu vực được phân công.

Trạm Nậm Lạnh gồm 03 thành viên có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát và quản lý bảo vệ rừng tại xã Nậm Lạnh, huyện Sốp Cộp Trạm phối hợp với các tổ, đội bảo vệ rừng của xã để thường xuyên tuần tra, kiểm soát và bảo vệ rừng trong khu vực được phân công.

4.2.2 Thực trạng công tác Quản lý bảo vệ rừng

4.2.2.1 Công tác phòng cháy chữa cháy rừng

Trong thời gian qua, công tác phòng cháy chữa cháy đã nhận được sự quan tâm đặc biệt từ Hạt kiểm lâm huyện, Ban quản lý rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp và các cấp chính quyền tỉnh, huyện, xã Các hoạt động tuyên truyền về phòng cháy chữa cháy được tổ chức thường xuyên nhằm nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề này.

Hàng năm, Ban quản lý rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp phối hợp với các cơ quan công an, quân đội và ủy ban nhân dân xã để xây dựng phương án phòng cháy chữa cháy (PCCC) rừng Các bên thống nhất quy chế phối hợp bảo vệ rừng và PCCC, cung cấp thông tin kịp thời và thực hiện dự báo nguy cơ cháy rừng Ngoài ra, họ tuyên truyền, tăng cường lực lượng và phương tiện PCCC, tổ chức kiểm tra công tác PCCC rừng, và phối hợp chặt chẽ với xã, bản cùng các chủ được thuê khoán bảo vệ rừng.

Bảng 4.5 Kết quả thực hiện công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật Lâm nghiệp giai đoạn 2016 - 2020

Số lượt người cam kết bảo vệ - phòng cháy chữa cháy rừng

(Nguồn: Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Sốp Cộp)

Trong bối cảnh tổ chức biên chế còn hạn chế và địa bàn phức tạp, công tác phòng cháy chữa cháy rừng đã được chú trọng trong những năm qua Ban quản lý phối hợp với chính quyền địa phương để quản lý diện tích rừng tự nhiên theo đúng quy định của Nhà nước Tuy nhiên, thời tiết và khí hậu diễn biến phức tạp, với nhiệt độ ngày càng tăng và nắng nóng kéo dài, đã gây ra hạn hán, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của rừng Điều này dẫn đến việc tích tụ ngày càng nhiều vật liệu cháy trong khu rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp.

Hình 4.3 Hội nghị phòng cháy chữa cháy rừng cấp thôn bản

Công tác giao khoán bảo vệ rừng cho các cộng đồng tại khu vực vùng đệm đã tạo động lực cho nhân dân các dân tộc tại Khu rừng đặc dụng - phòng hộ Sốp Cộp Họ tích cực tham gia cùng với đơn vị thực hiện nhiệm vụ quản lý diện tích rừng tự nhiên được nhà nước giao Số liệu về tình hình tổ chức khoán bảo vệ rừng được trình bày trong bảng 4.6.

Bảng 4.6 Tổng hợp tình hình khoán bảo vệ rừng giai đoạn 2015 - 2020

Năm Tổng số bản nhận khoán (bản)

Tổng số hộ nhận khoán (hộ)

Số tiền hỗ trợ (đồng)

(Nguồn: Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Sốp Cộp)

Theo số liệu từ bảng 4.6, trước năm 2018, có từ 58 đến 69 bản tham gia nhận khoán bảo vệ rừng, nhưng trong hai năm gần đây, chỉ còn 33 bản tham gia Sự giảm sút này chủ yếu do chính quyền địa phương đã thực hiện chương trình sát nhập hai bản thành một từ năm 2019 Bên cạnh đó, diện tích giao khoán bảo vệ rừng cũng giảm đáng kể so với năm trước đó.

Vào năm 2018, do Nhà nước không bố trí đủ kinh phí, hiện tại chỉ thực hiện giao khoán bảo vệ rừng trên diện tích rừng đặc dụng với mức chi trả khoảng 2.400.000.000 đồng mỗi năm.

4.2.2.3 Công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng

Ngày đăng: 13/07/2023, 17:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Khuất Thị Lan Anh (2009), Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Lâm nghiệp, Trường ĐHLN Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: Khuất Thị Lan Anh
Nhà XB: Trường ĐHLN Việt Nam
Năm: 2009
2. Bộ NN&PTNT (2016), Quản lý rừng bền vững - Cẩm nang ngành Lâm nghiệp. Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý rừng bền vững - Cẩm nang ngành Lâm nghiệp
Tác giả: Bộ NN&PTNT
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2016
3. D.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999), Quản lý vùng đệm ở Việt Nam, IUCN Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý vùng đệm ở Việt Nam
Tác giả: D.A Gilmour, Nguyễn Văn Sản
Nhà XB: IUCN Việt Nam
Năm: 1999
4. Donovan D., Rambo A.T, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên (1997), Những xu hướng phát triển vùng núi phía Bắc Việt nam, Tập 2 - Các nghiên cứu mẫu và bài học từ Châu Á, Trung tâm Đông Tây, Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường - Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những xu hướng phát triển vùng núi phía Bắc Việt nam, Tập 2 - Các nghiên cứu mẫu và bài học từ Châu Á
Tác giả: Donovan D., Rambo A.T, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên
Nhà XB: Trung tâm Đông Tây
Năm: 1997
5. Nguyễn Xuân Đặng (2005), Quản lý rừng đặc dụng, Tài liệu giảng dạy cho học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý rừng đặc dụng
Tác giả: Nguyễn Xuân Đặng
Nhà XB: Trường Đại học Lâm nghiệp
Năm: 2005
6. Phạm Hoài Đức, Nguyễn Ngọc Lung (2015), Bài giảng Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng
Tác giả: Phạm Hoài Đức, Nguyễn Ngọc Lung
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2015
7. Ngô Đức Hậu (2012), Nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại VQG Yên Tử, Luận văn Thạc sĩ Nông nghiệp, Trường Đại học Nông lâm - Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại VQG Yên Tử
Tác giả: Ngô Đức Hậu
Nhà XB: Trường Đại học Nông lâm - Thái Nguyên
Năm: 2012
8. Đỗ Thị Hường (2010), Nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến, huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến, huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình
Tác giả: Đỗ Thị Hường
Năm: 2010
9. IUCN Việt Nam (2008), Hướng dẫn quản lý KBTTN - Một số kinh nghiệm và bài học quốc tế, IUCN Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn quản lý KBTTN - Một số kinh nghiệm và bài học quốc tế
Tác giả: IUCN Việt Nam
Nhà XB: IUCN Việt Nam
Năm: 2008
10. Nguyễn Ngọc Lung, Ngô Đình Thọ (2013), Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lung, Ngô Đình Thọ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
11. Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Thị Phương, Trần Ngọc Thể (2003), Nghiên cứu tại khu phục hồi sinh thái VQG Ba Vì, Báo cáo kết quả đề tài cấp NCKH cấp trường, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tại khu phục hồi sinh thái VQG Ba Vì
Tác giả: Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Thị Phương, Trần Ngọc Thể
Nhà XB: Báo cáo kết quả đề tài cấp NCKH cấp trường
Năm: 2003
12. Nguyễn Thị Phương (2003), Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa phương trong vùng đệm đến tài nguyên rừng tại VQG Ba Vì, Hà Tây, Luận văn thạc sĩ Khoa học Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa phương trong vùng đệm đến tài nguyên rừng tại VQG Ba Vì, Hà Tây
Tác giả: Nguyễn Thị Phương
Nhà XB: Trường Đại học Lâm nghiệp
Năm: 2003
13. Đỗ Anh Tuân (2001), Nghiên cứu ảnh hưởng của bào tồn đến sinh kế sinh nhai của cộng đồng địa phương và thái độ của họ về chính sách bảo tồn, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của bào tồn đến sinh kế sinh nhai của cộng đồng địa phương và thái độ của họ về chính sách bảo tồn
Tác giả: Đỗ Anh Tuân
Nhà XB: Trường Đại học Lâm nghiệp
Năm: 2001
14. Ngô Ngọc Tuyên (2007), Nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, Luận văn Thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, tỉnh Tuyên Quang
Tác giả: Ngô Ngọc Tuyên
Nhà XB: Trường Đại học Lâm nghiệp
Năm: 2007
15. Nguyễn Minh Thanh (2004), Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có người dân tham gia tại xã Thượng Tiến thuộc KBTTN Thượng Tiến, tỉnh Hòa Bình, Luận văn thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có người dân tham gia tại xã Thượng Tiến thuộc KBTTN Thượng Tiến, tỉnh Hòa Bình
Tác giả: Nguyễn Minh Thanh
Nhà XB: Trường Đại học Lâm nghiệp
Năm: 2004
16. Trần Ngọc Thể (2009), Nghiên cứu các tác động của người dân địa phương tới tài nguyên rừng tại vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, Luận văn Thạc sĩ khoa học lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các tác động của người dân địa phương tới tài nguyên rừng tại vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: Trần Ngọc Thể
Nhà XB: Luận văn Thạc sĩ khoa học lâm nghiệp
Năm: 2009
17. Vũ Thị Bích Thuận (2017), Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo tồn và phát triển cho quản lý các khu rừng đặc dụng vùng Tây Bắc Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo tồn và phát triển cho quản lý các khu rừng đặc dụng vùng Tây Bắc Việt Nam
Tác giả: Vũ Thị Bích Thuận
Nhà XB: Trường Đại học Lâm nghiệp
Năm: 2017
18. Lê sĩ Trung (2005), Nghiên cứu cơ sở khoa học cho một số giải pháp trong quy hoạch sử dụng đất góp phần quản lý rừng bền vững vùng đệm VQG Ba Bể, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học cho một số giải pháp trong quy hoạch sử dụng đất góp phần quản lý rừng bền vững vùng đệm VQG Ba Bể
Tác giả: Lê sĩ Trung
Nhà XB: Trường Đại học Lâm nghiệp
Năm: 2005
19. WWF (2018), Sổ tay hướng dẫn thực hiện quản lý rừng bền vững cho rừng trồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn thực hiện quản lý rừng bền vững cho rừng trồng
Tác giả: WWF
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2018

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w