Một trong những mô hình điển hình có thể kể đến là trồng cây ăn quả kết hợp với trồng băng cỏ.Với mục đích đánh giá được hiệu quả của mô hình và tác động của mô hình đến tính chất đất để
Trang 1NGUYỄN THANH HUYỀN
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG ĐẤT VÀ HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH TRỒNG CÂY ĂN QUẢ KẾT HỢP BĂNG CỎ
TẠI XÃ HÁT LÓT, HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ NGÀNH: 60.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ LÂM HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS ĐINH MAI VÂN
2 TS PHÍ ĐĂNG SƠN
Hà Nội, 2021
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2021
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thanh Huyền
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình và những lời chỉ bảo chân tình của các thầy cô giáo Trường Đại học Lâm Nghiệp Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp, Phòng Đào tạo Sau Đại học, các Thầy Cô giáo trong khoa Lâm học đã dành cho em sự giúp đỡ quý báu đó
Để hoàn thành được bản luận văn này, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo TS Đinh Mai Vân, thầy giáo TS Phí Đăng Sơn, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ mọi mặt để em hoàn thành đề tài
Em xin cảm ơn UBND huyện Mai Sơn, phòng nông nghiệp huyện Mai Sơn, cảm ơn ông Lèo Mạnh An cán bộ Chi cục Trồng trọt và BVTV, các hộ gia đình trong mô hình đã tạo điều kiện để em điều tra, thu thập số liệu phục
vụ cho nghiên cứu đề tài
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù em đã nỗ lực cố gắng, nhưng do hạn chế về trình độ, kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu, và đặc biệt là một số hạn chế trong quá trình điều tra thực địa do dịch COVID – 19, nên luận văn không tránh khỏi có những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng gióp, bổ sung của Thầy, Cô để luận văn của em được hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2021
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thanh Huyền
Trang 4
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Khái niệm về hệ thống canh tác 3
1.2 Tình hình nghiên cứu và phát triển hệ thống nông lâm kết hợp 4
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm chung về hệ thống nông lâm kết hợp 4
1.2.2 Tình hình nghiên cứu và phát triển NLKH trên thế giới 6
1.2.3 Ảnh hưởng của các hệ thống NLKH đến tính chất đất 9
1.2.4 Tình hình nghiên cứu và phát triển NLKH ở Việt Nam 10
1.2.5 Tình hình nghiên cứu mô hình tại điểm nghiên cứu 11
Chương 2 MỤC TIÊU, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
2.2 Mục tiêu nghiên cứu 14
2.2.1 Mục tiêu tổng quát: 14
2.2.2 Mục tiêu cụ thể: 14
2.3 Nội dung nghiên cứu 14
2.3.1 Hiện trạng của mô hình cây ăn quả kết hợp với băng cỏ, mô hình trồng Mía tại khu vực nghiên cứu 14
2.3.2 Đánh giá chất lượng đất của các mô hình (mô hình cây ăn quả kết hợp với băng cỏ và mô hình trồng Mía) tại khu vực nghiên cứu 15 2.3.3 Đánh giá hiệu quả của các mô hình sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu 15
Trang 52.3.4 Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng đất và hiệu quả sử
dụng đất 15
2.4 Phương pháp nghiên cứu 15
2.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp và sơ cấp 15 2.4.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu điều tra và phỏng vấn nông hộ 16 2.4.4 Đánh giá hiệu quả về xã hội 17
2.4.5 Đánh giá hiệu quả về môi trường 18
2.4.6 Phương pháp xác định tính chất lý học, hóa học của đất 18
2.4.7 Xử lý số liệu 20
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 21
3.1 Vị trí địa lý 21
3.2 Khí hậu 21
3.3 Môi trường nước 21
3.4 Dân số 22
3.5 Đất và hiện trạng sử dụng đất 22
3.6 Sản xuất nông nghiệp 22
3.6.1 Trồng trọt 22
3.6.2 Chăn nuôi 23
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
4.1 Hiện trạng của các mô hình sử dụng đất tại xã Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 25
4.1.1 Hiện trạng mô hình nông lâm kết hợp cây ăn quả + băng cỏ + ngô 25
4.1.2 Hiện trạng diện tích chuyên canh Mía 26
4.2 Đặc điểm sinh trưởng và kỹ thuật trồng của từng loài cây trong mô hình 26
4.2.1 Mô tả chung và kỹ thuật trồng cây nhãn ghép chín muộn 26
4.2.2 Mô tả chung và kỹ thuật trồng cây xoài Đài Loan 28
4.2.3 Cỏ Ghinê (Pannicum maximum) 28
Trang 64.2.4 Ngô 29
4.2.5 Mía 29
4.3 Đặc điểm của mô hình NLKH cây ăn quả kết hợp với băng cỏ 30
4.3.1 Mô hình NLKH nhãn + cỏ + ngô 30
4.3.2 Mô hình NLKH xoài + cỏ + ngô 31
4.3.3 Mô hình chuyên canh Mía 31
4.4 Đánh giá chất lượng đất của mô hình cây ăn quả kết hợp với băng cỏ 32 4.4.1 pH(H 2 O) 32
4.4.2 Thành phần cơ giới của đất tại các mô hình nghiên cứu 33
4.4.3 Hàm lượng dinh dưỡng trong đất của các mô hình nghiên cứu 34
4.4.4 Hàm lượng kim loại nặng trong đất của các mô hình nghiên cứu 38 4.4.5 Vi sinh vật tổng số trong đất ở các mô hình nghiên cứu 41
4.4.6 Đánh giá chất lượng đất của các mô hình nghiên cứu 42
4.5 Đánh giá hiệu quả của các mô hình sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu 43 4.5.1 Hiệu quả về kinh tế 43
4.5.2 Hiệu quả về xã hội 46
4.5.3 Hiệu quả về môi trường 48
4.5.4 Đánh giá hiệu quả tổng hợp từ các mô hình sử dụng đất 49
4.6 Một số biện pháp nâng cao chất lượng đất và hiệu quả sử dụng đất 51
4.6.1 Biện pháp nâng cao chất lượng đất của các mô hình 51
4.6.2 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất 51
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57 PHỤ LỤC
Trang 7RVAC Rừng – vườn – ao – chuồng
SWOT Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu),
Opportunities (Cơ hội), Threats (Nguy cơ) KHCN Khoa học công nghệ
VietGAP Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam
(Vietnamese Good Agricultural Practices) GLOBALGAP Thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu (Global Good
Agricultural Practice) LUT Loại hình sử dụng đất (Land Use Type)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Thành phần cơ giới của đất tại các mô hình nghiên cứu 34Bảng 4.2 Vi sinh vật tổng số trong đất ở các mô hình nghiên cứu 41Bảng 4.3 Đánh giá chất lượng đất của các mô hình nghiên cứu 43Bảng 4.4 Hiệu quả kinh tế của các mô hình sử dụng đất trong khu vực nghiên cứu 44Bảng 4.5 Hiệu quả về xã hội của các mô hình sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu 46Bảng 4.6 Hiệu quả về môi trường của các mô hình sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu 48Bảng 4.7 Hiệu quả tổng hợp từ các mô hình sử dụng đất 49
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Mô hình NLKH Nhãn + Cỏ + Ngô 30
Hình 4.2 Mô hình NLKH Xoài + Cỏ + Ngô 31
Hình 4.3 Mô hình chuyên canh Mía 32
Hình 4.4 pH(H2O) trong đất của các mô hình 33
Hình 4.5 Hàm lượng chất hữu cơ tổng số (OC%) trong đất của các mô hình35 Hình 4.6 Hàm lượng ni tơ tổng số (TN%) trong đất của các mô hình 36
Hình 4.7 Hàm lượng kali tổng số (TK%) trong đất của các mô hình 37
Hình 4.8 Hàm lượng Cu tổng số (Cu mg/kg) trong đất của các mô hình 38
Hình 4.9 Hàm lượng Pb tổng số (Pb mg/kg) trong đất của các mô hình 40
Trang 10
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sơn La là một tỉnh miền núi thuộc vùng cao phía Tây Bắc Việt Nam,
có diện tích tự nhiên đứng thứ 3 cả nước với 1.405.500 ha diện tích đất tự nhiên Trong đó, diện tích đất đang sử dụng chiếm 39,08% Đất đai mầu mỡ, tâng canh tác dày với nhiều loại thổ nhưỡng cho phép phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao Diện tích đất chưa sử dụng và sông suối chiếm 60,92% Quỹ đất diện tích đất nông nghiệp rất hạn chế, diện tích bình quân đạt 0,2 ha/người Sản xuất nông nghiệp ở Sơn La chủ yếu là độc canh cây ngắn ngày
Những năm 2015 trở về trước, sản xuất nông nghiệp chủ yếu ở Sơn La
là độc canh cây ngắn ngày và các phương pháp canh tác chưa phù hợp đã dẫn đến giảm năng suất nông nghiệp, tác động tiêu cực đến môi trường (giảm độ che phủ rừng, giảm khả năng giữ nước, xói mòn và thoái hóa đất, bồi lấp các khu đất thấp ) Chính vì vậy, Việc khai thác tiềm năng đất dốc để phát triển sản xuất hiệu quả và bền vững, phù hợp với định hướng thị trường để tăng năng suất một cách ổn định góp phần đảm bảo an ninh lương thực và bảo vệ tài nguyên môi trường là việc làm cấp thiết
Từ năm 2015 đến nay, tỉnh Sơn La đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tập trung phát triển cây ăn quả, đặc biệt là cây ăn quả trên đất dốc Đến nay, sau hơn 6 năm thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp nông thôn, Sơn La không những trở thành một trong những vùng cung cấp trái cây lớn nhất miền Bắc với diện tích gần 66.187 ha cây ăn quả, sản lượng quả ước đạt 300.000 tấn mà còn được xuất khẩu sang các thị trường lớn như Đức, Nhật Bản, Đài Loan Sản lượng một
số cây ăn quả cũng đứng đầu cả nước như nhãn (71156 tấn), mận và mơ (62418 tấn), xoài (45908 tấn) (theo số liệu thống kê năm 2020) [16]… Giá trị kinh tế mà nền nông nghiệp đóng góp cho tỉnh năm 2020 lên đến 5.400 tỷ đồng, tăng gần 64% so với năm 2016, tạo việc làm cho hàng nghìn lao động trên địa bàn tỉnh cũng như các tỉnh lân cận
Trang 11Huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La có diện tích rộng 141.970 ha, trong đó tổng diện tích nhóm đất nông nghiệp 60.510 ha chiếm 42,6 % [16] Mai Sơn
là huyện trọng điểm về phát triển nông nghiệp của tỉnh Sơn La Các đồng bào dân tộc khác nhau có những phương thức canh tác sử dụng đất khác nhau Tuy nhiên, các phương thức canh tác này chưa thực sự hiệu quả, mang lại năng suất không cao, khả năng bảo vệ đất kém dẫn đến khó đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững Đã có rất nhiều các mô hình nông lâm kết hợp được triển khai áp dụng trên địa bàn huyện dưới sự tài trợ của các tổ chức khác nhau ví
dụ như tổ chức ICRAF Một trong những mô hình điển hình có thể kể đến là trồng cây ăn quả kết hợp với trồng băng cỏ.Với mục đích đánh giá được hiệu quả của mô hình và tác động của mô hình đến tính chất đất để làm cơ sở đề xuất phát triển nhân rộng mô hình đề tài tiến hành lựa chọn nghiên cứu:
“Đánh giá chất lượng đất và hiệu quả của mô hình trồng cây ăn quả kết hợp băng cỏ tại xã Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La”
Trang 12có thể tác động qua lại với môi trường bên ngoài [16] Hệ thống là tập hợp
các yếu tố trong đó có sự tương tác với các yếu tố khác để sản xuất ra sản phẩm chung của hệ thống, khác với kết quả riêng lẻ của từng yếu tố [15]
“Hệ thống canh tác” là thể thống nhất hoạt động của con người sử
dụng tài nguyên (sinh học, tự nhiên, kinh tế, xã hội) trong một phạm vi nhất định để tạo ra sản phẩm thỏa mãn nhu cầu ăn, mặc của con người (bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội) Hệ thống canh tác là một phức hợp của đất đai, cây trồng, vật nuôi, lao động và các nguồn lợi đặc trưng khác trong một ngoại cảnh mà các nông hộ quản lý theo sở thích khả năng và kỹ thuật có thể
có Hệ thống canh tác (Farming System) là sự bố trí một cách thống nhất và
ổn định các ngành trong nông trại, được quản lý bởi các hộ gia đình trong môi trường tự nhiên, sinh học và kinh tế xã hội, phù hợp với mục tiêu mong muốn
và nguồn lực của nông hộ [16]
Hệ thống cây trồng gồm hệ thống không gian và thời gian với hệ thống biện pháp kỹ thuật được thực hiện nhằm đạt năng suất cây trồng cao và nâng cao độ phì nhiêu của đất đai Trong hệ thống canh tác thì luân canh cây trồng
là biện pháp hữu hiệu nhất, các chế độ canh tác như bón phân tưới nước, làm đất bao giờ cũng phải căn cứ vào hệ thống cây trồng [13]
Bất kỳ một hệ thống canh tác nào cũng đều mang những đặc điển như
có mục tiêu chung, có ranh giới rõ rệt, có đầu vào - đầu ra và các mối quan
hệ, có thuộc tính, có thứ bậc và thay đổi Hệ thống canh tác phải có sức sản xuất, có khả năng sinh lợi nhuận, có tính ổn định, tính bền vững, tính công bằng, và tính tự chủ
Trang 131.2 Tình hình nghiên cứu và phát triển hệ thống nông lâm kết hợp
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm chung về hệ thống nông lâm kết hợp
1.2.1.1 Khái niệm
Hệ thống nông lâm kết hợp là một lĩnh vực khoa học được đề xuất vào thập niên 1960 bởi King (1969) Đến nay, hệ thống canh tác nông lâm kết hợp (NLKH) được phát triển để diễn tả hiểu biết rõ hơn về nó Cụ thể, hệ thống canh tác nông lâm kết hợp (NLKH) là một hệ thống quản lý đất vững bền làm gia tăng sức sản xuất tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất các loại hoa màu (kể cả cây trồng lâu năm), cây rừng và /hay với gia súc cùng lúc hay kế tiếp nhau trên một diện tích đất và áp dụng các biện pháp canh tác tương ứng với điều kiện văn hóa xã hội của dân cư địa phương (theo Bene và nnk (1977) Theo PCARRD (1979), NLKH là một hệ thống quản lý đất đai trong đó các sản phẩm của rừng và trồng trọt được sản xuất cùng một lúc hay kế tiếp nhau trên các diện tích đất thích hợp để tạo ra các lợi ích kinh tế, xã hội, sinh thái cho cộng đồng dân cư tại địa phương NLKH là hệ thống sử dụng đất, trong
đó bao gồm các cây thân gỗ lâu năm được trồng có tính toán trên cùng một đơn vị diện tích đất với các loại cây nông nghiệp ngắn ngày và/hoặc được kết hợp với chăn nuôi, có thể kết hợp đồng thời hoặc kế tiếp nhau theo thời gian
và không gian (Lundgren & Raintree, 1983) Nair (1993) cũng đưa ra 5 đặc điểm của một hệ thống nông lâm kết hợp phải bao gồm: (i) hai hay nhiều hơn
2 loại cây trồng (hoặc cây trồng và vật nuôi) trong đó phải có ít nhất một loại cây thân gỗ lâu năm, (ii) tạo ra hai hay nhiều sản phẩm, (iii) chu kỳ sản xuất dài hơn một năm, (iv) đa dạng về cả sinh thái và kinh thế so với hệ thống sản xuất độc canh, (v) các yếu tố cấu thành hệ thống có sự tương tác qua lại, có
thể tương tác thuận hoặc tương tác nghịch Các khái niệm trên đơn giản mô tả
nông lâm kết hợp như là một loạt các hướng dẫn cho một sự sử dụng đất liên tục Ngày nay, nông lâm kết hợp được định nghĩa như là một hệ thống quản lý tài nguyên đặt cơ sở trên đặc tính sinh thái và năng động nhờ vào sự phối hợp
Trang 14cây trồng lâu năm vào nông trại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững sự sản xuất cho gia tăng các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trường của các mức
độ nông trại khác nhau từ kinh tế hộ nhỏ đến “kinh tế trang trại” Theo ICRAF (trung tâm nghiên cứu nông lâm kết hợp quốc tế), NLKH như là một
hệ thống sử dụng đất giới hạn trong các nông trại NLKH là một hệ thống quản lý tài nguyên đặt cơ sở trên đặc tính sinh thái và năng động nhờ vào sự phối hợp cây trồng lâu năm vào nông trại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững sự sản xuất cho gia tăng các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trường của các mức độ nông trại khác nhau [3]
Theo từ điển Việt Nam, mô hình được hiểu là một vật có cùng hình dạng nhưng làm thu nhỏ lại nhiều, mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật khác để trình bày, nghiên cứu [17] Như vậy, có thể hiểu mô hình NLKH
là một đại diện thu nhỏ của hệ thống canh tác NLKH
1.2.1.2 Đặc điểm chung của hệ thống nông lâm kết hợp
Hệ canh tác sử dụng đất được gọi là nông lâm kết hợp cần có các đặc điểm sau:
- Hệ thống NLKH thường gồm hai hay nhiều hơn hai loài thực vật (có thể cả thực vật và động vật) trong đó có ít nhất phải có một loài cây trồng lâu năm
- Có ít nhất hai hay nhiều hơn sản phẩm từ hệ thống
- Chu kỳ sản xuất thường dài hơn là một năm
- Đa dạng hơn về sinh thái (cấu trúc và chức năng) và về kinh tế so với canh tác độc canh
- Cần phải có mối quan hệ tương hỗ có ý nghĩa giữa các thành phần cây lâu năm và các thành phần khác
- Trong các hệ thống nông lâm kết hợp sự hiện diện của các mối quan
hệ tương hỗ bao gồm về sinh thái và kinh tế giữa các thành phần của hệ thống
là đặc điểm cơ bản
Trang 151.2.2 Tình hình nghiên cứu và phát triển NLKH trên thế giới
Trên toàn thế giới, hơn 50% diện tích đất nông nghiệp là đất dốc (973 triệu ha trên tổng số 1 tỷ 476 triệu ha đất nông nghiệp) [19] Diện tích đất dốc còn chiếm hơn 70% diện tích đất nông nghiệp tại khu vực Châu Á và Thái Bình Dương Do đó nghiên cứu khai thác đất nông nghiệp ở miền đồi núi thực chất là vấn đề nghiên cứu canh tác trên đất dốc hay canh tác trên đất nương rẫy Nhiều kỹ thuật canh tác hợp lý trên đất dốc nơi mà điều kiện cơ sở hạ tầng khó khăn đã được nghiên cứu và triển khai ở các nước, đặc biệt là các nước Châu Á - khu vực mà đất núi chiếm gần 80% diện tích đất nông nghiệp; được xem là nguồn tài nguyên quan trọng trong nông nghiệp cũng như trong phát triển kinh tế của đất nước [19] Trong những năm qua, nghiên cứu nông nghiệp theo tiếp cận hệ thống là một vấn đề phổ biến trên thế giới nhằm phát triển nông nghiệp một cách toàn diện, sử dụng một cách hữu hiệu các nguồn lực tại chỗ, hạn chế việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên dẫn đến huỷ hoại môi trường sinh thái Nghiên cứu hệ thống góp phần tạo điều kiện cho các thành phần của hệ thống có cơ hội tác động qua lại lẫn nhau, thúc đẩy lẫn nhau phát triển, tránh được tình trạng thành phần này cản trở sự phát triển của thành phần khác: Hệ thống canh tác Taungya (Taungya system) được bắt đầu vào năm 1856 ở Myanma Nhà nước đã cho trồng cây gỗ Tếch kết hợp trồng cây lúa cạn, ngô trong 2 năm đầu khi rừng chưa khép tán Mục tiêu chính của hệ thống này là khôi phục lại rừng bị tàn phá, sản xuất lương thực
là thu nhập phụ Đây là dạng mô hình chuyển tiếp từ canh tác nương rẫy sang canh tác nông lâm kết hợp [4] Hệ thống canh tác Ifugao trên dải núi cao ở Philippin, do Clofsam (1984) mô tả là hệ thống canh tác của người dân tộc Ifugao, họ biết canh tác lúa nước ở ruộng có hệ thống nước tưới kết hợp trồng cây lấy gỗ, lấy củi, cây ăn quả và cây thuốc Hệ thống canh tác hỗn hợp đã giúp giữ được nước chống xói mòn và sạt lở đất [18] Ở Thái Lan, Hoey M (1990) đưa ra mô hình sử dụng đất dốc nhấn mạnh việc canh tác trên đường
Trang 16đồng mức, trồng cỏ thành băng, hạn chế làm đất đến mức tối thiểu góp phần phát triển nông lâm nghiệp ổn định trên đất dốc Những kết quả nghiên cứu ở Kanđihult Bắc Thái Lan trồng cây ăn quả, cây cà phê theo băng kết hợp với bón phân đã cho hiệu quả kinh tế cao và có tác dụng cải tạo nâng cao độ phì của đất [9] Khi phân tích các hệ thống canh tác theo mô hình nông lâm kết hợp, chăn thả Agbool A (1990) đã cho rằng hệ thống đa dạng hoá cây trồng
là tốt nhất Việc sử dụng đất dốc để trồng các loài cây nào còn tuỳ thuộc vào các yếu tố khác như mưa gây xói mòn, tính chất của đất và nhất là phụ thuộc vào các biện pháp canh tác được sử dụng để chống xói mòn vào điều kiện cụ thể của từng địa phương Trên các vùng đất dốc, thường người ta không gieo trồng độc canh một loại cây liên tục mà trồng gối, trồng xen, luân canh [4] Mạng lưới nghiên cứu hệ thống canh tác đã thu hút nhiều quốc gia trồng lúa như Banglades, Myanma, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Nepan, Philippin, Triều Tiên, Srilanca, Thailan và Việt Nam tham gia nghiên cứu Các phương pháp canh tác trên đất dốc đã được lựa chọn phù hợp với điều kiện và đặc thù của từng nước Ví dụ như, sự kết hợp của trồng nấm và sản xuất hơi đốt sinh học biogas cũng là một phần của hệ thống NLKH ở Trung Quốc; vườn cây hỗn giao hàng năm và lâu năm bao gồm các loài cây lấy gỗ vừa và nhỏ, kết hợp các loài cây gỗ lớn, cây ăn quả, cây lương thực (Ngô, sắn) là kỹ thuật truyền thống ở đảo Java hay vườn NLKH đa tầng ở đảo Sumatra là đặc trưng của Indonesia
Đặc biệt những năm gần đây một số công nghệ sử dụng đất dốc bền vững của nước ngoài theo hướng nông lâm và lâm – nông kết hợp đã bước đầu áp dụng thành công ở nước ta Đó là kỹ thuật canh tác nông nghiệp đất dốc viết tắt là SALT (Sloping Agricultural Land Technology) Hệ thống kỹ thuật canh tác này đã được áp dụng thành công ở Philippin từ giữa những năm
1970 đến nay Trung tâm đời sống nông thôn Baptist Mindanao Philippin đã tổng kết hoàn thiện hệ thống này gồm 4 mô hình sau đây:
Trang 17* Mô hình kỹ thuật canh tác nông nghiệp đất dốc (SALT1)
Trong mô hình này là trồng trọt bằng cây ngắn ngày (cây hàng năm) xen kẽ với những cây lâu năm sao cho phù hợp với đặc tính và yêu cầu đất đai của các loài cây đó và đảm bảo có thu hoạch đều đặn Các băng được trồng theo đường đồng mức ngang dốc và giữa những bảng cây trồng chính rộng từ
4 – 6 m còn có bảng hẹp trồng cây cố định đạm, cây phân xanh để giữ đất, chống xói mòn hoặc lấy củi Cơ cấu cây trồng trong mô hình này, để đảm bảo
ổn định và hiệu quả nhất là 75% cây nông nghiệp, 25% cây lâm nghiệp Trong cây nông nghiệp thì 50% là cây hàng năm, 25% là cây lâu năm Với
mô hình này trên một ha hàng năm người dân thu hoạch được lượng sản phẩm hàng hoá gấp rưỡi so với trồng sắn, khả năng chống xói mòn tăng gấp 4 lần
* Mô hình kỹ thuật nông lâm súc kết hợp đơn giản (SALT2)
Trong mô hình này, một phần đất được dành cho chăn nuôi và kết hợp với trồng trọt Tác dụng mô hình này rất rõ là nhờ sự kết hợp theo phương thức Nông – Lâm - Súc đã tận dụng được tiềm năng đất đai, năng lượng mặt trời, đồng cỏ, thức ăn gia súc, tăng thêm nguồn phân chuồng, phân xanh trả lại cho đất Theo mô hình này việc sử dụng đất đảm bảo có thu nhập đều đặn vừa cải thiện được độ phì nhiêu, chống được xói mòn đất
* Mô hình kỹ thuật canh tác nông lâm kết hợp bền vững (SALT3)
Mô hình này đã kết hợp một cách tổng hợp việc trồng rừng quy mô nhỏ với sản xuất lương thực, cây ăn quả và cây thực phẩm Ở đây người nông dân dùng những phần đất có độ dốc dưới 200 – 250 sườn đồi và chân đồi để trồng các cây lương thực, thực phẩm, xen với các hàng cây cố định còn phần đất cao ( sườn trên là đỉnh đồi) để trồng rừng Cây lâm nghiệp chọn để trồng theo thời gian thu hoạch được chia ra các loại từ 1 – 5 năm, 6 – 10 năm, 11 –15 năm và trên 15 năm để có thể thu được sản phẩm cao nhất và đều đặn Cơ cấu đất được sử dụng thích hợp ở đây là dành 40% cho cây nông nghiệp, 60% cho cây lâm nghiệp Trong mô hình này các biện pháp nông – lâm - thuỷ lợi và
Trang 18công trình hạ tầng được áp dụng đồng bộ (thực hiện các biện pháp làm giảm lượng nước chảy tràn, thực hiện các biện pháp hạn chế tốc độ dòng chảy, ngăn cản sự cuốn trôi đất, làm đất theo đường đồng mức…) hiệu quả sử dụng đất được tăng cao hơn cả về mặt kinh tế - xã hội và môi trường Tuy nhiên mô hình này đòi hỏi vốn đầu tư cao hơn cả về vật chất và trình độ hiểu biết nên điều kiện mở rộng khó khăn hơn, cần có thời gian
* Mô hình sản xuất nông nghiệp trồng cây ăn quả (cam, chanh, xoài, bưởi, đu đủ…) hoặc trồng cây công nghiệp dài ngày (chè, café, quế…) với
quy mô vừa và nhỏ (SALT4): Trong mô hình này các loại cây ăn quả nhiệt
đới được đặc biệt chú ý do sản phẩm của nó có thể bán thu tiền mặt để đầu tư trở lại
1.2.3 Ảnh hưởng của các hệ thống NLKH đến tính chất đất
Các hệ thống NLKH với các loại cây trồng khác nhau trên cùng một diện tích đã duy trì và cải thiện độ phì nhiêu đất Hệ thống NLKH đã làm gia tăng hàm lượng các bon trong đất, gia tăng các dinh dưỡng cũng như lượng nước ở trong đất, gia tăng khả năng chống xói mòn của đất, mang lại nhiều lợi ích về kinh tế thể hiện trên sự tăng năng xuất của các loài cây trồng Sự đa dạng các loài cây trong hệ thống NLKH đã cải thiện và nâng cao hàm lượng chất hữu cơ, chất mùn không những ở tầng đất trên bề mặt mà còn cả những tầng đất ở dưới Các loài cây khác nhau, cơ cấu các hệ thống NLKH khác nhau sẽ làm tăng hàm lượng chất hữu cơ trong đất khác nhau Ở các hệ thống NLKH có lớp thảm thực vật dày, được trả lại hàng năm sẽ có hàm lượng chất hữu cơ lớn hơn và sinh khối vi sinh vật cũng cao hơn so với các hệ thống khác Hệ thống NLKH cũng cung cấp nhiều các chất dinh dưỡng khác cho đất như N, P, K, Ca, Mg…
cả về dinh dưỡng tổng số và dinh dưỡng hòa tan Hàm lượng ni tơ tổng số, P tổng số cũng như dễ tiêu ở hệ thống NLKH đều cao hơn so với rừng trồng thuần loài ở hầu hết các nghiên cứu Hệ thống NLKH cũng làm tăng chất lượng đất, chất lượng dinh dưỡng đất bởi khả năng chống xói mòn, duy trì dinh
dưỡng và các tính chất lý học cũng như sinh học đất [22]
Trang 191.2.4 Tình hình nghiên cứu và phát triển NLKH ở Việt Nam
Ở Việt Nam, đất đồi núi chiếm khoảng 2/3 diện tích và là vùng sinh sống của hơn 1/3 dân số cả nước Đất đai vùng đồi núi mang nhiều tiềm năng nhưng sản xuất còn hạn chế do sản xuất trên đất dốc gặp nhiều khó khăn hơn sản xuất ở đồng bằng, đất dễ bị xói mòn do mưa, dễ bị khô hạn do thoát hơi nước rất nhanh, bên cạnh đó thì cơ sở hạ tầng thiếu thốn, trình độ dân trí thấp Thêm vào đó, người dân miền núi trước đây chủ yếu canh tác theo hình thức
du canh (du canh không quay vòng, du canh quay vòng) Tất cả những điều
đó gây nên sự nghèo đói ở những vùng này NLKH đã dần dần phát triển và khắc phục dần những hạn chế của khu vực này Từ thập niên 60 của trở lại đây, hệ thống NLKH bắt đầu được nghiên cứu và áp dụng ở Việt Nam Có rất nhiều các nghiên cứu cũng như các mô hình được triển khai như mô hình thí nghiệm trồng xen Sắn với Lạc cùng với băng Cốt khí và hàng rào xanh kết hợp bón phân khoáng hợp lý trên đất dốc nghèo dinh dưỡng, mô hình Hồi-Chè dưới tán rừng tự nhiên, Cà phê – Chè – Dứa – rừng trồng… [3] Hiện nay, các hệ thống NLKH như VAC (Vườn ao chuồng), VR (Vườn – Rừng), RVCA (Rừng-vườn-ao-chuồng), RVCRg (Rừng-vườn-chuồng-ruộng), R-ong (Rừng-ong)… ngày càng được sử dụng mạnh mẽ trên các khu vực đất dốc, đặc biệt hệ thống RVAC Bên cạnh đó, nhiều dự án của các tổ chức quốc tế NGOs và các dự án Quốc tế khác cũng đã giới thiệu nhiều phương thức canh tác bền vững trên đất dốc trong đó có mô hình nông lâm kết hợp Đặc biệt, từ năm 1981 đến 1985, lần đầu tiên chương trình nghiên cứu NLKH được xem xét và thực hiện trên các quan điểm khoa học đảm bảo lý luận, thực tiễn và đảm bảo tính chặt chẽ dựa trên các điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của mỗi vùng NLKH được xem như một phương án sản xuất chủ yếu để xây dựng các mô hình lâm nghiệp xã hội tại các địa bàn sản xuất lâm nghiệp quan trọng trong toàn quốc như: Tây Nguyên, Duyên Hải Trung Bộ, Trung du Miền núi phía Bắc Các vấn đề về cơ cấu cây con nông nghiệp và lâm nghiệp
Trang 20cũng như các vấn đề chế biến, tiêu thụ các sản phẩm nông lâm nghiệp, các chính sách nghiên cứu để áp dụng cho từng vùng cũng được nghiên cứu, áp dụng cho từng vùng cụ thể Giai đoạn từ năm 1987 đến 1989, các mô hình NLKH được thực hiện ở các vùng đất ven biển trong khuôn khổ chương trình
hỗ trợ của FAO Từ năm 1990 đến nay, NLKH được đẩy mạnh phát triển do các chính sách, chiến lược phát triển của nhà nước cũng như các nguồn hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và cũng đã mang lại hiệu quả cao về kinh tế cũng như môi trường, xã hội
Các mô hình NLKH trên đất dốc được chia thành hai nhóm chính đó là nhóm các hệ thống nông lâm kết hợp truyền thống và nhóm các hệ thống NLKH cải tiến Hệ thống NLKH truyền thống là kiểu canh tác được phát triển bởi chính người dân địa phương, bao gồm các dạng: hệ thống hoang hóa/nương rẫy cải tiến, hệ thống rừng và ruộng bậc thang, hệ thống canh tác nương rẫy tổng hợp, hệ canh tác vườn nhà truyền thống, hệ canh tác vườn rừng Ngoài ra còn có hệ thống canh tác vườn cây công nghiệp, vườn cây ăn quả, hệ thống Vườn - Ao - Chuồng (VAC); hệ thống Rừng - Vườn - Ao - Chuồng (RVAC), hệ thống Rừng - Hoa màu - Lúa nước Các hệ thống NLKH cải tiến thường được tiến hành phát triển và giới thiệu một vùng nào đó do các nhà kỹ thuật bên ngoài vì vậy nó khác với hệ thống truyền thống được phát triển do chính người dân sáng tạo ra Việt Nam đã và đang áp dụng nhiều hệ thống kỹ thuật sử dụng đất mới trên nhiều vùng đất dốc khác nhau của cả nước như hệ thống canh tác xen theo băng, hệ thống đai phòng hộ chắn gió,
1.2.5 Tình hình nghiên cứu mô hình tại điểm nghiên cứu
Sơn La là một tỉnh miền núi phía Bắc với tổng diện tích canh tác nông nghiệp có độ dốc lớn hơn 15o chiếm hơn 80% Đặc biệt, nhiều khu vực người dân phải canh tác trên những diện tích có độ dốc hơn 20o, thậm chí 25o như huyện Bắc Yên, Sông Mã, các xã vùng cao thuộc các huyện Thuận Châu, Mường La Phương thức canh canh tác truyền thống đó là canh tác độc canh
Trang 21ngô, sắn, lúa… Tuy nhiên, phương thức canh tác độc canh chưa phù hợp với diện tích hầu hết là đất dốc dẫn đến làm thoái hóa đất, giảm năng suất, chất lượng cây trồng Để cải thiện và nâng cao hiệu quả canh tác trên đất đốc, miền núi khu vực phía Bắc cũng đã đưa nông lâm kết hợp vào ứng dụng trong những năm gần [12] Cơ cấu cây trồng trong các mô hình nông lâm kết hợp cùng đồi núi thường được bố trí như cây lấy gỗ/đa mục đích (muồng đen, keo dậu, keo lá tràm ) + cây công nghiệp dài ngày (cà phê, chè, hồi, dẻ…) + cây công nghiệp ngắn ngày (lạc, mía, đậu tương…) + cây lương thực, thực phẩm: lúa cạn, lúa nương, đậu đỗ…) [22] Bên cạnh đó, kỹ thuật canh tác cũng được phổ biến và áp dụng Ví dụ như, trồng ngô trên đất dốc không làm đất và trồng xen cây họ đậu (đậu tương, nho nhe) với ngô để vừa cho thu nhập cao hơn, vừa cải tạo đất; luân canh, gối vụ trong canh tác ngô xuân và đậu nho nhe; sử dụng các loại cỏ lào, cây tắc tẻ và nhiều cây khác làm phân xanh cho ruộng bậc thang vừa giải quyết được phân bón tại chỗ, vừa giảm công vận chuyển [7] Cơ cấu cây trồng với sự tham gia của cây bộ đậu đã mang lại những đóng góp quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng và bảo vệ đất trong việc canh tác trên đất dốc
Đặc biệt với tỉnh Sơn La, ngày 19/02/2013 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn đã ký quyết định phê duyệt dự án: “Xây dựng các thử nghiệm nông lâm kết hợp tại tỉnh Sơn La, Điện Biên và Yên Bái” trong khuôn khổ dự án NLKH cho sinh kế các nông hộ nhỏ vùng Tây Bắc Việt Nam do Trung tâm Nông lâm Thế giới (ICRAF) tài trợ Mục tiêu của sự án là cải thiện hiệu quả của các hệ thống canh tác của nông hộ nhỏ tại khu vực Tây Bắc kết hợp nhằm tăng gia sản lượng của các cây ngắn ngày và vật nuôi kết hợp hướng đến các hệ thống sản xuất bền vững, đa dạng hơn và đem lại lợi nhuận tốt hơn từ cây
Mai Sơn là một trong những huyện trọng điểm phát triển kinh tế của tỉnh Sơn La Để nâng cao hiệu quả kinh tế mà vẫn bảo vệ, duy trì được chất
Trang 22lượng đất, chính quyền và nhân dân nơi đây đã tích cực tiếp cận và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đặc biệt là các mô hình nông lâm kết hợp Hát Lót là một xã thuộc huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La với diện tích gần 57 km2, mật độ dân số đạt 138 người/km2 Cùng chủ trương với huyện Mai Sơn cũng như toàn tỉnh Sơn La các mô hình nông lâm kết hợp cũng được triển khai tại địa phương Từ năm 2015 đến 2021, mô hình nông lâm kết hợp trồng cây ăn quả với băng cỏ đã được áp dụng triển khai với diện tích 50 ha tại Hát Lót do tài trợ của tổ chức ICRAF Với mục tiêu đánh giá chất lượng đất và hiệu quả của các mô hình nông lâm kết hợp được triển khai bởi dự án ICRAF về cả kinh tế, xã hội và môi trường trên địa bàn xã Hát Lót, đề tài tiến
hành nghiên cứu: “Đánh giá chất lượng đất và hiệu quả của mô hình trồng
cây ăn quả kết hợp băng cỏ tại xã Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La”
Trang 23Chương 2
MỤC TIÊU, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: mô hình nông lâm kết hợp trồng cây ăn quả kết hợp băng cỏ (mô hình Nhãn + băng Cỏ xen với Ngô và mô hình Xoài + băng Cỏ xen với Ngô thuộc dự án ICRAF) và mô hình chuyên canh Mía (đối chứng)
Phạm vi nghiên cứu: mô hình nông lâm kết hợp được triển khai xây dựng bởi dự án ICRAF bắt đầu triển khai năm 2015 tại xã Hát Lót - huyện Mai Sơn – tỉnh Sơn La
2.2 Mục tiêu nghiên cứu
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Hiện trạng của mô hình cây ăn quả kết hợp với băng cỏ, mô hình trồng Mía tại khu vực nghiên cứu
- Thành phần, cơ cấu và sự phối hợp giữa các thành phần trong mô hình Nhãn + Cỏ + Ngô
Trang 24- Thành phần, cơ cấu và sự phối hợp giữa các thành phần trong mô hình
- Thành phần cơ giới của đất tại các mô hình nghiên cứu
- Hàm lượng dinh dưỡng trong đất của các mô hình nghiên cứu
- Hàm lượng chất hữu cơ tổng số (OC%)
- Vi sinh vật tổng số trong đất ở các mô hình nghiên cứu
2.3.3 Đánh giá hiệu quả của các mô hình sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu
- Đánh giá hiệu quả kinh tế
- Đánh giá hiệu quả xã hội
- Đánh giá hiệu quả môi trường
2.3.4 Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng đất và hiệu quả sử dụng đất
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp và sơ cấp
Thu thập tài liệu, số liệu có sẵn như số liệu về đất đai, diện tích, cơ cấu, thành phần từng loại đất…; về cây trồng, cơ cấu mùa vụ, năng suất các loại cây trồng; số liệu về chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội tại địa phương; số liệu
về tài chính như thu nhập, đầu tư từ các cơ quan nhà nước, phòng Tài nguyên
và Môi trường, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trung tâm
Khuyến nông
Trang 252.4.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu điều tra và phỏng vấn nông hộ
Các hộ điều tra là những hộ tham gia trực tiếp triển khai mô hình trồng cây ăn quả kết hợp băng cỏ, các hộ sản xuất chuyên canh Mía trên địa bàn xã Hát Lót Tổng số hộ điều tra là 24 hộ theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp Nội dung điều tra hộ chủ yếu là: diện tích, thành phần cây trồng, chi phí sản xuất, lao động, tỷ lệ hàng hóa, giá cả… Mẫu phiếu điều tra đánh giá hiệu quả
sử dụng đất được thiết kế dựa theo “Mẫu phiếu điều tra đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất sản xuất nông nghiệp” – TCVN 8409-2012 và và được thực hiện theo phương pháp của Đỗ Văn Nhạ và các cộng sự (2016) (Mẫu
phiếu đính kèm ở phần phụ lục) Khái quát nội dung cần phỏng vấn như sau: Đối tượng cần phỏng vấn Thông tin cần phỏng vấn
Hộ nông dân
-Loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp đang canh tác, diện tích sản lượng, năng suất các loại cây trồng
- Tỷ lệ bán sản phẩm nông nghiệp của hộ, đánh giá theo các mức: cao (>70%), trung bình (50-70%), thấp <50%)
- Mức thu nhập từ sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình
- Chi phí sản xuất: chi phí giống, thuốc bảo vệ thực vật, lao động, công cụ lao động…
(Đỗ Văn Nhạ và các cộng sự 2016) 2.4.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế (theo TCVN 8409-2012)
- Xác định mẫu điều tra bằng chọn mẫu chùm: dựa trên bản đồ, xác định hướng, ô điều tra
- Xác định mẫu điều tra từ đơn vị tỉnh, huyện, xã, loại đất
- Phân tích và xử lý số liệu điều tra: Sử dụng phần mềm máy tính EXCEL để xử lý số liệu điều tra
Trang 26* Một số chỉ tiêu tính toán (quy về đơn vị 1 ha, cho từng loại hình sử dụng đất (LUT) trên từng đơn vị đất đai (LMU) được tính như sau:
- Chi phí:
CP = VC + LĐT + DVP + KN (1) Trong đó:
CP là chi phí (không tính lao động gia đình);
CP là chi phí (không tính lao động gia đình)
2.4.4 Đánh giá hiệu quả về xã hội
Hiệu quả xã hội của các mô hình sử dụng đất được đánh giá theo hướng dẫn của Thông tư 60/2015/TT-BTNMT Quy định về kỹ thuật điều tra,
Trang 27đánh giá đất đai ban hành ngày 15 tháng 12 năm 2015 Căn cứ vào thực tế hiện tại của địa điểm nghiên cứu, trên cơ sở góp ý của chính quyền địa phương cùng với sự tham gia của người dân bằng phương pháp hỏi ý kiến của người dân để đưa ra kết quả đánh các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội như:
- Giải quyết nhu cầu lao động
- Mức độ chấp nhận của người sử dụng đất
- Mức độ phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội
- Mức độ phù hợp với chiến lược, quy hoạch ngành
2.4.5 Đánh giá hiệu quả về môi trường
Hiệu quả về môi trường của các mô hình sử dụng đất được đánh giá theo hướng dẫn của Thông tư 60/2015/TT-BTNMT Quy định về kỹ thuật điều tra, đánh giá đất đai ban hành ngày 15 tháng 12 năm 2015 Căn cứ vào thực tế hiện tại của địa điểm nghiên cứu, trên cơ sở góp ý của chính quyền địa phương cùng với sự tham gia của người dân bằng phương pháp hỏi ý kiến của người dân để đưa ra kết quả đánh các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội như:
- Tăng khả năng che phủ đất;
- Duy trì bảo vệ đất;
- Giảm thiểu thoái hóa đất;
- Mức độ ô nhiễm đất (chỉ tiêu Cu, Pb)
2.4.6 Phương pháp xác định tính chất lý học, hóa học của đất
* Phương pháp thu thập mẫu ngoài thực địa
Tại mỗi mô hình nghiên cứu, lập 03 OTC (mỗi OTC 500m2) các OTC được xác lập trên các địa điểm đồng đều về loại đất, tính chất đất, trải dài theo
độ cao từ chân đến đỉnh đồi để đảm bảo được tính đại diện cho mô hình Do
độ dốc tương đối lớn (80-150) nên mẫu đất được thu thập theo hình zíc zắc từ
12 vị trí khác nhau Tại mỗi vị trí, mẫu đất được lấy ở 2 độ sâu 0-20 cm và 20 – 40 cm; khoảng 200 g đất tại mỗi vị trí được thu thập bằng dụng cụ lẫy mẫu đất chuyên dụng Mẫu đất mang về để phân tích các tính chất lý hóa học là
Trang 28mẫu đất được trộn đều từ 12 vị trí khác nhau trong mỗi mô hình Mẫu đất được bảo vệ để đảm bảo độ ẩm của đất trong quá trình vận chuyển về phòng thí nghiệm Trong phòng thí nghiệm, các mẫu đất được bảo quản ở nhiệt độ 5oC Vậy tổng số OTC cần lập là 03OTC x 03 mô hình = 09 OTC Tổng số mẫu đất (sau khi đã trộn từ 12 vị trí đơn lẻ) là 9OTC x 02 tầng đất = 18 mẫu đất
* Phương pháp xử lý đất
Tại phòng thí nghiệm các mẫu đất được xử lý nhặt hết tạp vật, đá, sỏi Các mẫu đất được rây ướt qua rây có đường kính 2 mm Các mẫu được trộn đều, giữ ở nhiệt độ 50C để nghiên cứu tính chất lý hóa học các tính chất sinh học Một lượng nhỏ đất (khoảng 500g) được phơi khô không khí trong phòng thí nghiệm, sau đó được nghiền nhỏ và rây qua rây 0.25 mm và 0.1 mm để nghiên cứu hàm lượng tổng số một số chỉ tiêu dinh dưỡng trong đất Mỗi một tính chất đất được phân tích với ba lần lặp lại
* Phương pháp nghiên xác định tính chất lý học, hóa học của đất
Các mẫu đất sau khi được xử lý được phân tích tại Phòng Phân tích thí nghiệm tổng hợp địa lý, Viện Địa lý, Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Cụ thể, thành phần cơ giới của đất được xác định bằng phương pháp xác định thành phần cấp hạt TCVN 8567:2010 Hàm lượng các bon tổng
số trong đất được xác định theo TCVN 8941:2011) Hàm lượng nitơ tổng số (TN%) trong đất được xác định bằng phương pháp Kjeldahl (TCVN 6498:1999 pHH2O được xác định với tỷ lệ đất:nước là 1:5, sau đó giá trị pH được đo bằng máy đo pH metter (TCVN 5979:2007) Hàm lượng kali tổng số (TK%) được xác định theo TCVN 8660 :2011 Hàm lượng một số kim loại nặng trong đất (Chì (Pb), Đồng (Cu) được xác định theo phương pháp EPA 3051B :1994
* Phương pháp xác định vi sinh vật (VSV) tổng số trong đất
Phân lập VSV tổng số từ 18 mẫu đất thu được trên các mô hình khác nhau bằng phương pháp pha loãng tới hạn trên môi trường LB agar (10 g
Trang 29peptone, 5 g cao nấm men, 5 g NaCl, 15 g agar, 1 lít nước cất) Cân 10 g đất của mỗi mẫu hòa vào 90 ml nước cất đã khử trùng, lắc dung dịch trong thời gian 24h với tốc độ lắc là 150 vòng/phút Pha loãng mẫu đến nồng độ 10-4 Tại nồng độ 10-3 và 10-4, dùng pipet hút 0,5 ml dịch pha loãng nhỏ lên petri có chứa môi trường LB (mỗi nồng độ 3 petri), sau đó phân tán đều dịch trên bề mặt môi trường Nuôi vi sinh vật trong tủ ấm 28oC Sau 5 ngày nuôi cấy, đếm
số lượng khuẩn lạc trên các đĩa môi trường và tính số lượng tế bào trong 1 g đất theo công thức sau:
A (CFU/g) = Trong đó:
A: Số tế bào vsv trong 1 g đất ;
N: Tổng số khuẩn lạc đếm được trên các đĩa môi trường ;
n1, n2: số lượng đĩa cấy tại tại độ pha loãng 10-3 và 10-4 (n1 = n2 = 3) ; V: thể tích dịch mẫu cấy vào trong đĩa môi trường (V = 0,5) ;
f1, f2: độ pha loãng tương ứng 10-3 và 10-4
2.4.7 Xử lý số liệu
Để đánh giá sự khác biệt về các chỉ tiêu tính chất đất giữa các tầng đất, giữa các mô hình sử dụng đất, phân tích ANOVA một nhân tố đã được sử dụng Mọi tính toán trong đề tài đều được thực hiện trên phần mềm EXCEL 2013
Trang 30Chương 3
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Vị trí địa lý
Hát Lót là một xã nằm về phía Tây Nam của huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn
La với tọa độ địa lý 501.415 512.551 vĩ độ Bắc, 2.348.330 2.337.350 kinh
độ Đông Hát Lót có vị trí ranh giới hành chính như sau:
- Phía Bắc giáp với xã Mường Bon và thị trấn Hát Lót
- Phía Nam giáp với xã Chiềng Lương Chiềng Ve
- Phía Đông giáp với xã Cò Nòi
- Phía Tây giáp với xã Chiềng Mung và xã Chiềng Mai
3.2 Khí hậu
Hát Lót mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa của miền núi Tây Bắc Nhiệt độ trung bình trong năm là 21o C, thường nóng nhiều vào các tháng 4 – 8, lạnh nhiều từ tháng 11 đến tháng 03 năm sau; thường nắng nhiều vào các tháng 3-10 với tổng số giờ nắng 1.940 giờ/năm, mưa nhiều vào các tháng 5-9 Độ ẩm trung bình năm là 80,5%, tổng lượng mưa bình quân 1.410 mm/năm
3.3 Môi trường nước
- Chất lượng môi trường nước trên bề mặt:
Trên địa bàn toàn xã có 01 hồ chứa nước với diện tích (gần 37,91 ha), phục vụ sinh hoạt và tưới tiêu cho bà con nhân dân khu vực lân cận; có nhiều diện tích đất có mặt chứa nước (trên 49,05 ha), nhìn chung chất lượng môi trường nước trên bề mặt cơ bản đảm bảo, hợp vệ sinh
- Chất lượng môi trường nước ngầm:
Do đặc điểm địa hình đồi núi cao, ít chịu ảnh hưởng bởi các hoạt động sản xuất công nghiệp; một số hộ dân sử dụng giếng khoan có độ sâu trung bình 30 m, nước được đưa lên từ tầng chứa nước vĩnh viễn do vậy nước có
Trang 31chất lượng, hạn chế sự xâm nhập của các chất gây ô nhiễm; tuy nhiên nước có chứa nhiều cấn vôi, dễ nhận biết bằng mắt thường khi đun sôi nước
3.4 Dân số
Hát Lót là một trong tổng số 22 xã, thị trấn thuộc huyện Mai Sơn, dân
số năm 2020 của xã Hát Lót là 2583 hộ với 10.800 người, chiếm 6,59% dân
số của toàn huyện [16] 100% là dân số nông thôn, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Thành phần dân tộc chủ yếu của xã Hát Lót bao gồm người Kinh, người Thái và người Mông Tại khu vực nghiên cứu các hộ thực hiện mô hình 100% là dân tộc Thái
ha, chiếm 8,7% tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã Diện tích đất chuyên dùng 164,89 ha, chiếm 2,85% tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp/hộ gia đình tại xã Hát Lót khá cao (1.234 ha/hộ) Đây là một trong những điều kiện góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế từ nông lâm nghiệp
3.6 Sản xuất nông nghiệp
3.6.1 Trồng trọt
Trong năm 2020, trên địa bàn xã gieo trồng được 2.846,6 ha, bằng
110,4 kế hoạch giao
Trang 32- Cây dong giềng: 81,8 ha, năng suất 60 tấn/ha, sản lượng đạt 4.908 tấn
- Đậu đỗ các loại: 50 ha, năng suất: 6,2 tạ/ha, sản lượng ước đạt 310 tấn
- Rau các loại: 48,8 ha
- Cây sắn: 70 ha, năng suất: 180 tạ/ha, sản lượng ước đạt 12.600 tấn đạt 140% sản lượng kế hoạch huyện giao
- Cây cà phê: 36 ha, diện tích cho sản phẩm: 30 ha, năng suất: 115 tạ/ha, sản lượng đạt 3.450 tấn
- Cây cỏ chăn nuôi: 35 ha
Trồng mới năm 2020 là 200 ha cây ăn quả, nâng tổng diện tích cây ăn quả trên địa bàn lên 1.760 ha, (trong đó: Xoài: 800 ha; nhãn: 490 ha; bưởi:
250 ha và 220 ha cây ăn quả khác)
3.6.2 Chăn nuôi
Tổng đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn hiện có: Đàn trâu 490 con đạt 98% KH; đàn bò 1.890 con đạt 105% KH; đàn lợn 18.110 con đạt 106,5% KH; đàn dê 7.963 con đạt 107% KH; đàn gia cầm 130.208 con đạt 108,5%
KH (so với kế hoạch giao đầu năm của huyện)
Trang 33Nhìn chung, xã Hát Lót có điều kiện khí hậu, đất đai để phát triển nông lâm nghiệp nói chung, phát triển cây ăn quả nói riêng Xã Hát Lót thuộc khu vực 1 là khu vực có điều kiện kinh tế tốt nhất trên địa bàn huyện (có nhà cửa kiên cố, ti vi, xe máy, có vốn sản xuất, có kinh nghiệm sản xuất, chịu khó học hỏi và biết áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất) nên đây cũng là một điều kiện thuận lợi để triển khai áp dụng thành công các mô hình nông lâm kết hợp cải tiến
Trang 34Chương 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Hiện trạng của các mô hình sử dụng đất tại xã Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
4.1.1 Hiện trạng mô hình nông lâm kết hợp cây ăn quả + băng cỏ + ngô
Mô hình có quy mô 50 ha, diện tích tập trung liền vùng, liền khoảnh, có
29 hộ dân tham gia Mô hình thực hiện trên diện tích đất nương đồi, người dân địa phương thường trồng độc canh cây ngô, mía trong nhiều năm, năng
suất thấp Ngày 31/8/2015 UBND tỉnh Sơn La đã có QĐ số: 1982/QĐ-UBND
về việc cho phép mở rộng địa bàn hoạt động dự án NLKH tại bản Nà Ban, xã Hát Lót với qui mô DT 50 ha do ICRAF tài trợ; tham gia mô hình, các hộ được hướng dẫn kỹ thuật canh tác NLKH trên đất dốc; được đầu tư hỗ trợ phân bón, giống cỏ Ghi nê và một số loại giống cây ăn quả để trồng theo băng, theo đường đồng mức nhằm hạn chế xói mòn lớp đất mặt; giữa các băng cỏ và cây dài ngày, các hộ vẫn trồng ngô; nhằm lấy ngắn nuôi dài với mục tiêu của mô hình là tăng thu nhập bền vững trên một diện tích đất canh tác, và bảo vệ tài nguyên đất
Tổng số giống và vật tư dự án đã đầu tư cho các hộ thực hiện mô hình trong 02 năm đầu thực hiện mô hình (2015, 2016) (tính cả bổ sung trồng dặm) gồm: 5.120 cây xoài ghép; 3.874 cây nhãn ghép; 15 tấn giống cỏ ghi nê; 26.936 kg phân bón NPK; 10000 kg vôi bột; 442 gói chế phẩm EMUNIV để
ủ phân hữu cơ bón lót cho cây
Kết quả bước đầu thực hiện MH mở rộng 50 ha tại xã Hát Lót: Mô hình
NLKH được xây dựng theo phương thức trồng kết hợp cây dài ngày (cây ăn
quả, cây lâm nghiệp) với băng cỏ chăn nuôi xen với cây ngắn ngày theo
đường đồng mức, nhằm chống xói mòn và làm thức ăn chăn nuôi cho gia súc, tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích canh tác Các hộ tham gia mô
Trang 35hình đã được tập huấn hướng dẫn kỹ thuật nhiều lần về cách đo xác định đường đồng mức; trồng băng cỏ và hàng cây ăn quả theo đường đồng mức; mỗi băng cỏ cách nhau từ 5-10 m tùy theo độ dốc của sườn đồi; phía trên băng cỏ trồng hàng cây ăn quả; trên chỏm đồi trồng cây lâm nghiệp; giữa các hàng cây ăn quả người dân vẫn canh tác ngô bình thường Các hộ đã được dự
án đầu tư hỗ trợ 100 % cỏ giống và cây giống, cùng vật tư phân bón để canh tác theo phương thức trên; trong đó cỏ giống là giống cỏ ghi nê, nếu chăm sóc tốt cỏ sẽ sống, duy trì và thu hoạch được trong cả vụ đông trong vòng 5 năm; các giống cây ăn quả gồm: Nhãn ghép chín muộn, xoài Đài Loan và xoài Thái ghép, Mận Tam Hoa, Bưởi, Chanh; cây lâm nghiệp trồng trên chỏm đồi có cây xoan ta, vừa để phủ chỏm đồi, vừa lấy lá làm thức ăn cho dê
Hiện tại, hầu hết diện tích canh tác của các hộ tham gia mô hình đều đã
có các đường băng cỏ xanh tốt, trở thành các đường băng cản dòng nước chảy xói mòn khi trời mưa to, ngoài ra còn được luân phiên thu hoạch làm thức ăn cho trâu bò Các loại cây ăn quả trồng phía trên đường băng cỏ đã ổn định và đang trên đà sinh trưởng phát triển Thông qua việc tham gia mô hình, các hộ
ở khu vực này đã thay đổi nhận thức về phương thức canh tác cũ Họ đã thấy cần thiết phải bảo vệ tài nguyên đất và phải áp dụng kỹ thuật canh tác trên đất dốc thông qua phương thức sản xuất NLKH, chuyển đổi cơ cấu cây trồng
4.1.2 Hiện trạng diện tích chuyên canh Mía
Mía được người dân trồng ở khu vực này khoảng từ 10 năm trước, tỷ lệ sống cao đạt >85% Mía thường được trồng khoảng tháng 2, tháng 3 và được nông dân thu hoạch tháng 11 đến tháng 1 năm sau Tổng diện tích Mía trên địa bàn xã là trên 430 ha (tính cả diện tích mía của nông trường)
4.2 Đặc điểm sinh trưởng và kỹ thuật trồng của từng loài cây trong mô hình
4.2.1 Mô tả chung và kỹ thuật trồng cây nhãn ghép chín muộn
Cây nhãn giống tại các cơ sở nhân giống có uy tín và nên trồng các cây nhãn được nhân giống vô tính (cành chiết hoặc cây ghép) từ các cây nhãn đầu
Trang 36dòng đã qua bình tuyển có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao, chất lượng ổn định, cây nhanh ra quả Sự ra hoa của cây nhãn phụ thuộc vào chế độ chăm sóc và thời tiết Mùa đông lạnh và khô hạn là điều kiện lý tưởng để cây ra hoa Cây nhãn cần một thời gian nhiệt độ khoảng 8 –
15 độ để phân hóa mầm hoa, nhiệt độ thích hợp cho nhãn nở hoa, thụ phấn là
20 -27 độ Tùy điều kiện thời tiết cây có khả năng phát lộc đông muộn hoặc lộc xuân sẽ không ra hoa Để khắc phục mất mùa có thể xử lý cho nhãn ra hoa bằng cách đào chặn rễ, tiện cành, tưới thuốc Cây thường phân cành sớm, có chiều cao 3 - 4 m, đường kính tán rộng 4 - 5 m Cây bắt đầu ra hoa từ tháng 3 đến tháng 4 và thu hoạch quả từ tháng 8 tới tháng 9 Cây thường ra hoa ngay sau khi được ghép mắt nhưng để cho cây phát triển người ta thường ngắt bỏ hoa trong 2-3 năm đầu
Cây được trồng trong các hố có kích thước 60x60x40 - 50 cm, đã được bón lót 15-20 kg phân chuồng hoai mục, + 0,5 kg NPK và 0,1 kg vôi bột Khoảng cách trồng cây là 5mx10m (cây cách cây, hàng cách hàng) với mật độ
200 cây/ha Cây được tiến hành tỉa cành hàng năm Phân được bón qua gốc kết hợp phun phân qua lá khi cây ra đợt lộc để lộc phát triển tốt Sử dụng phân NPK có hàm lượng N, P, K cao và có tỷ lệ cân bằng nhau, lượng bón tăng dần theo năm, năm đầu tiên nên bón: 0,5 – 1 kg/cây/năm, năm thứ 2 là: 1-1,5 kg/cây/năm, năm trước khi cây đưa vào khai thác quả, lượng bón tăng lên 1,5-2 kg/cây/năm Phân được chia và bón làm nhiều lần theo các đợt lộc theo cách rải phân trên mặt đất dưới hình chiếu tán cây sau đó lấp một lớp đất mỏng lên trên hoặc hoà phân vào nước tưới cho cây
Đối với những vườn mới trồng, sâu bệnh chính thường hại trên lá non, lộc non và gốc rễ Thường gặp một số nhóm sâu bệnh như: Nhóm sâu chích hút : như bọ xít, rầy, rệp, nhện đỏ, bọ trĩ…; Nhóm sâu ăn lá : như sâu đo, sâu cuốn lá, câu cấu vòi voi…; Bệnh hại lá ; xém mép lá, khô đầu lá, đốm lá, tổ rồng… Đối với sâu, bệnh trên lá phun thuốc hai lần cho mỗi đợt lộc, lần một
Trang 37khi cây bắt đầu phát lộc, lần hai khi lộc rộ có thể phun riêng hoặc phối hợp cả thuốc sâu và thuốc bệnh
4.2.2 Mô tả chung và kỹ thuật trồng cây xoài Đài Loan
Cây trồng là giống ghép, được mua ở những cơ sở có uy tín Xoài thích hợp trên nhiều loại đất, nhưng tốt nhất là đất phù sa, sét nhẹ, đất thịt pha cát và đặc biệt là đất nhiều hữu cơ, có tầng đất mặt dày, thoát nước tốt, pH từ 5,5-7
Xoài thường được trồng vào tháng 5 – tháng 6 hàng năm, là cây ưa sáng và có quả ở chồi tận ngoài cùng tán cây Khoảng cách trồng cây là 5x10
m, được trồng trong các hố có kích thước 60x60x50 cm, mỗi hố được bón lót
từ 15 đến 20 kg phân chuồng mục, 0,5 kg NPK, 0,3 đến 0,5 kg vôi bột (bón lót trước khi trồng 1 tháng) Mật độ cây trồng là 200 cây/ha Sau khi trồng 8 –
12 tháng, cây có chiều cao 1 m đến 1,2 m tiến hành bấm ngọn chừa lại độ cao thân chính 0,8 m đến 1 m, khi ra cơi đọt 1 giữ lại 2-3 chồi khỏe phân bố đều tán cây và tiếp tục đến đợt cơi đọt 3 thì ngưng tỉa cành để đảm bảo cây có bộ khung hoàn chỉnh và cân đối Khi quả có đường kính khoảng 1,5 cm thì tiến hành tỉa bớt quả nhỏ và tiến hành bao trái bằng túi chuyên dụng Hàng năm, sau khi thu hoạch cây được cắt tỉa cành sâu bệnh, cành khuất trong tán, cành mất cân đối, cắt bỏ những đọt đã ra quả và không ra quả (10 – 20 cm) nhằm tạo tán cây đều và đồng loạt
Lượng phân bón được tăng hàng năm và thay đổi tùy theo tuổi cây, đất
và sản lượng thu hoạch vụ trước Đối với cây thời kỳ kinh doanh thường bón phân 4 lần trong năm vào các giai đoạn : Sau khi thu hoạch, chuẩn bị ra hoa, giai đoạn hình thành quả, khoảng 8-10 tuần sau khi đậu trái, Lượng vôi bón từ 5-8 tạ/ha/năm Cây cũng được phòng trừ bện thán thư, bệnh phấn trắng, bệnh cháy lá, sâu đục thân bằng các loại thuốc như Benlat C, Anvil 5SC, Bassa 50
EC, Actara 25 WG…
4.2.3 Cỏ Ghinê (Pannicum maximum)
Cỏ Ghinê còn gọi là cỏ sả, một số nơi còn gọi là cỏ Tây Nghệ An hay
cỏ sữa Cỏ Ghinê là loại cây hòa thảo, lâu năm, thân cao tới 2-3 m, không có
Trang 38thân bò, chỉ sinh nhánh và mọc thành bụi như bụi sả Loại cỏ này có nhiều đặc tính quý : sinh trưởng mạnh, năng suất cao, khả năng chịu hạn, chịu nóng
và chịu bóng cây tốt, dễ trồng Nhiệt độ thích hợp là từ 19 đến 22o, sống được trên nhiều loại đất khác nhau nhưng tốt nhất là loại đất phù sa và đất có nhiều
mùn, pH là 6
Để trồng cây, đất được cày vỡ đất ở độ sâu 20 cm, làm sạch cỏ dại và san phẳng đất Trồng thành hàng cách nhau 5 – 10 m tùy độ dốc (trên diện tích 01 ha thực hiện mô hình có khoảng 500 m2 cỏ), lượng phân bón cho diện tích cỏ trên 1 ha là 1 tấn phân chuồng, (bón lót toàn bộ theo hàng), 40 -50 kg NPK, bón thức NPK sau mỗi lần thu hoạch Sau khi trồng 60 ngày thì thu hoạch lứa đầu Các lứa thu hoạch sau cách nhau 40-45 ngày Loại cỏ này có giá trị dinh dưỡng cao, không bị giảm chất lượng nhanh như cỏ voi, dùng cho
chăn nuôi gia súc rất tốt
4.2.4 Ngô
Ngô phát triển tốt và cho năng suất cao nếu trồng trên đất thịt hay thịt pha cát, xốp, giàu chất hữu cơ, thoáng và thoát nước tốt Ngô thích hợp với đất có pH khoảng từ 6,4 đến 7 Ngô thường được trồng vào tháng 3-4 hàng năm khi có mưa và đất đủ ẩm Trước khi gieo hạt giống, đất phải được làm tơi
xốp, sạch cỏ ; sau đó bón lót cho đất toàn bộ bằng phân chuồng và phân lân
Ngô được trồng với khoảng cách giữa hàng với hàng là 60 - 100 cm, cây với cây trên hàng là 20 - 40 cm Sau khi trồng xong, một lớp đất dày khoảng được phủ lên trên Do đặc điểm canh tác của miền núi sản xuất phụ thuộc vào tự nhiên nên quá trình trồng và chăm sóc ngô còn phụ thuộc vào thời tiết thuận lợi Trong suốt quá trình trồng cây Ngô, bón phân được chia làm 3 đợt Đợt đầu bón sau khi cây được trồng 10 ngày, đợt thứ 2 sau đó 10
ngày và đợt cuối cùng sau 30 ngày gieo hạt
4.2.5 Mía
Cây mía đường thuộc họ hòa thảo, thuộc loại cây không kén đất và có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, từ đất sét đến đất cát Tuy nhiên, đất
Trang 39thích hợp nhất cho mía đường là những loại đất xốp, tầng canh tác sâu, có độ phì cao, giữ ẩm tốt và dễ thoát nước Cây mía không yêu cầu chọn đất khắt khe, nhưng để có năng suất cao, yêu cầu đất có độ dốc ≤ 100, tầng đất sâu, tơi
xốp, giàu dinh dưỡng, pH trung tính và thoát nước tốt
Mía được trồng theo đường đồng mức, đất được làm trước khi trồng từ 40-60 ngày trước khi trồng (tháng 1 đến tháng 2) Khoảng cách hàng đơn là từ 0,8-1,2 m, lượng hom giống cần từ 35000 đến 40000 hom/ha (mỗi hom có 3 -
5 mắt) tương đương 8 - 10 tấn Thời gian sinh trưởng của mía dài từ 10 đến
11 tháng, nên yêu cầu dinh dưỡng cao Bón lót bao gồm: phân hữu cơ (5 tấn/ha), phân vi sinh (1,5 tấn/ha), phân NPK (1 tấn/ha), đạm (50 kg/ha) ; phân bón thúc: NPK (2,5 tấn/ha), thuốc BVTV (các bệnh thường gặp ở mía : thối
đỏ ruột mía, đốm đỏ lá mía… thường được xử lý bằng các loại thuốc Tilt 205
x 10 m Ngô được trồng vào khoảng trống giữa các hàng nhãn, các hàng cỏ theo cự ly khoảng cách cây cách cây 25-30 cm, hàng cách hàng 65 cm
Hình 4.1 Mô hình NLKH Nhãn + Cỏ + Ngô
Trang 40Mô hình được thực hiện năm 2015, hiện nhãn, Cỏ được 06 năm tuổi Sau 6 năm thực hiện, tỷ lệ sống của nhãn cao, khoảng > 80% Nhãn cho chất lượng cao, đã ra hoa và bắt đầu cho thu hoạch năm thứ 2 Cỏ cho thu hoạch năm thứ 5 Hàng năm, cỏ, ngô trồng trong mô hình được người dân thu hoạch làm thức ăn phục vụ chăn nuôi đại gia súc
4.3.2 Mô hình NLKH xoài + cỏ + ngô
Mô hình này gồm có 03 thành phần loài cây trong đó cây xoài là cây chủ đạo Hàng cây xoài và băng cỏ được trồng theo đường đồng mức, mỗi băng cỏ cách nhau từ 5 -10 m tùy theo độ dốc của sườn đồi, phía trên băng cỏ trồng hàng cây xoài với khoảng cách cây cách cây và hàng cách hàng là 5 x
10 m Ngô được trồng vào khoảng trống giữa các hàng Xoài, các hàng cỏ theo
cự ly khoảng cách cây cách cây 25 - 30 cm, hàng cách hàng 65 cm
Hình 4.2 Mô hình NLKH Xoài + Cỏ + Ngô
Mô hình được thực hiện cuối năm 2015, hiện xoài, cỏ được 06 năm tuổi Sau 6 năm, tỷ lệ sống của xoài cao, đã cho thu hoạch năm thứ 3, cỏ cho thu hoạch năm thứ 5 Hàng năm, cỏ, ngô trồng trong mô hình được người dân thu hoạch làm thức ăn phục vụ chăn nuôi đại gia súc
4.3.3 Mô hình chuyên canh Mía
Nông dân được công ty hỗ trợ trả chậm phân bón, thuốc BVTV Hàng năm, năng suất Mía trung bình đạt khoảng 80 - 90 tấn/ha và được công ty cổ phần mía đường Sơn La cam kết thu mua, bao tiêu sản phẩm cho nông dân