BÀI GIẢNG LUẬT TÀI CHÍNH Thời lượng 45 tiết Tài liệu Giáo trình Luật Ngân sách nhà nước Giáo trình Luật thuế wordpress com Vấn đề 1 Những vấn đề chung của Pháp luật về ngân sách nhà nước Tài chí[.]
Trang 1BÀI GIẢNG LUẬT TÀI CHÍNH
Thời lượng: 45 tiết
Tài liệu:
Giáo trình Luật Ngân sách nhà nước
Giáo trình Luật thuế
wordpress.com
Vấn đề 1: Những vấn đề chung của Pháp luật về ngân sách nhà nước
Tài chính công là gì ?
– Tài chính công là tài chính của NN, có 3 chức năng:
+ thành lập và quản lý tiền tệ: NN thành lập và quản lý các quỹ tiền tệ của NN, ví dụ quỹ ngân sách NN, …
+ quyết định chi tiêu: NN sẽ quyết định việc chi tiêu của các quỹ tiền tệ NN như thế nào, VD quyết định đầu tư cơ sở hạ tầng
(đường, cầu, …), xây dựng trường học, …
+ giám sát: NN thực hiện giám sát việc chi tiêu ngân sách NN– Những đặc trưng của tài chính công:
+ chủ thể thực hiện: là các cơ quan NN và các đơn vị sử dụng ngân sách NN
+ phi lợi nhuận: mục đích chi tiêu của ngân sách NN không vì lợi nhuận, tức là NN cần tối thiểu hóa các khoản chi của mình, để từ
đó tối thiểu hóa các khoản thu
+ vừa đủ: thu ít – chi ít ; thu nhiều – chi nhiều
Trang 2+ phân phối lại thu nhập: NN lấy nguồn thu từ những nơi giàu có
để tài trợ cho những nơi yếu kém, VD lấy nguồn thu từ thành phố
Hồ Chí Minh để tài trợ cho các tỉnh nghèo như Gia Lai, Kon Tum,
…
+ minh bạch, công khai: vì công dân và NN không bình đẳng về
tư cách, do đó công dân đòi hỏi NN phải công khai, minh bạch trong việc thu chi ngân sách
Tài chính công và tài chính tư
– Giữa tài chính công và tài chính tư có sự đan xen với nhau.– Tài chính công có khuynh hướng mở rộng, nguyên nhân vì:
+ sự mở rộng của các định chế tự quản phi NN: đó là các tổ chức
xã hội dân sự, các hiệp hội, các quỹ, … Các định chế này không phải của NN nhưng chúng liên quan đến rất nhiều người nên phải
có sự can thiệp, hỗ trợ bằng PL để đảm bảo chúng hoạt động minh bạch
+ mô hình hợp tác giữa NN và các định chế tư nhân (hợp tác công – tư): VD các dự án BOT về xây dựng cơ sở hạ tầng (cầu, đường, …) Trong mô hình này do tư nhân bỏ vốn nên tư nhân đều muốn thu hồi vốn nhanh và có lãi càng nhiều càng tốt ==>
NN cần điều tiết để đảm bảo hài hòa lợi ích doanh nghiệp và lợi ích của người dân, đảm bảo mức phí phải dựa trên khả năng nộpcủa người sử dụng
+ các chủ thể công nhưng hoạt động tài chính tư: ví dụ bệnh viện,trường học do NN đầu tư nhưng được tự chủ về tài chính, có thể kêu gọi đầu tư để cùng kiếm lợi nhuận ==> dẫn đến hiện tượng
tư lợi từ tài chính công
Trang 3Khái niệm hàng hóa công
– Hàng hóa công là hàng hóa, dịch vụ công ích mà NN (và 1 số chủ thể được NN cho phép) cung cấp cho XH
– Những hàng hóa công cơ bản:
+ quốc phòng và an ninh
+ môi trường
+ giao thông và các tiện ích công cộng khác
– Những đặc trưng của hàng hóa công:
+ không loại trừ người hưởng lợi miễn phí: ví dụ là không phải ai cũng nộp thuế nhưng cũng đều được hưởng sự đảm bảo về an ninh, cùng được đi trên những con đường
+ gia tăng chi phí không đáng kể khi có thêm người hưởng lợi: ví
dụ làm 1 con đường, có thêm nhiều người đi thì cũng không phát sinh thêm chi phí đáng kể nào
Trang 4+ vệ sinh môi trường
+ nhà tù
Trả lời: vì những hàng hóa này vừa có tính chất của hàng hóa
công, vừa có tính chất của hàng hóa tư, khi tư nhân đạt đến trình
độ và khả năng nhất định thì NN chuyển dần những hàng hóa công sang cho tư nhân thực hiện, vừa để tối ưu hóa các nguồn lực xã hội, vừa để giảm bớt gánh nặng của bộ máy NN
– Liệu có hàng hóa công nào không thể chuyển giao ? Vì sao ?
+ an ninh quốc phòng: có thể sản xuất vũ khi giao cho tư nhân, nhưng việc tổ chức quốc phòng an ninh thì không thể giao cho tư nhân
+ môi trường (trên quy mô lớn)
+ chống nghèo đói (trên quy mô quốc gia)
Trả lời: vì mục tiêu của tư nhân là lợi nhuận, khác với mục tiêu
của NN
Sự phát triển của tài chính công
– Tài chính công thời phong kiến:
+ thiếu kế hoạch
+ thiếu kiểm soát
+ không rõ ràng giữa nhu cầu công và tư
Trang 5– Tài chính công của mô hình Xô-viết (kế hoạch hóa tập trung):+ quốc hội quyết định và giám sát chi tiêu
+ NN đảm nhận hầu hết các khoản thu và chi trong XH
+ việc phân phối nguồn lực công tuân theo 1 kế hoạch thống nhất
và cứng nhắc
– Tài chính công hiện đại:
+ quốc hội quyết định ngân sách TW và giám sát hoạt động tài chính công
+ phân quyền cho chính quyền địa phương quyết định tài chính công phù hợp với chức năng
+ NN không quyết định mọi nguồn lực mà chỉ đảm trách những nhiệm vụ thiết yếu và đảm bảo XH công bằng
+ đảm bảo công khai, minh bạch
Ngân sách nhà nước
– Khái niệm (khoản 14 Điều 4 Luật NSNN 2015): là toàn bộ các
khoản thu, chi của NN được dự toán và thực hiện trong 1 khoảng thời gian nhất định (thường là 1 năm) do cơ quan NN có thẩm quyền quyết định để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụcủa NN
– Đặc điểm của ngân sách NN:
+ là kế hoạch tài chính “khổng lồ” của NN
Trang 6+ do Quốc hội và HĐND quyết định theo thẩm quyền: chỉ được thực hiện sau khi đã được cơ quan quyền lực NN thông qua
+ hiệu lực trong 1 năm (ở VN là từ 1/1 đến 31/12)
+ được giao cho Chính phủ và UBND tổ chức thực hiện dưới sự giám sát trực tiếp của Quốc hội và HĐND
+ hoàn toàn vì mục tiêu mưu cầu lợi ích chung cho toàn thể quốc gia
+ phản ánh mối quan hệ giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp
– Bản chất của ngân sách NN:
+ bản chất pháp lý: ngân sách NN được xem như một “đạo luật đặc biệt”, gọi là đạo luật ngân sách thường niên, gồm:
Trình tự, thủ tục: đặc biệt (khác với trình tự, thủ tục xây
dựng các đạo luật thông thường), tất cả các chủ thể sử
dụng ngân sách đều phải lập kế hoạch ngân sách hàng năm(vào tháng 6 của năm trước)
Kết cấu văn bản: chủ yếu là các số liệu (khác với các đạo luật khác gồm có Chương, Mục, Điều, Khoản, Điểm)
Thời hạn có hiệu lực: là 1 năm (khác với các đạo luật thông thường thì thời gian có hiệu lực là vô hạn)
+ bản chất kinh tế: ngân sách NN là kế hoạch tài chính của 1 quốc gia:
Dự trù các khoản chi cần thiết
Dự trù các khoản thu để trang trải các khoản chi
– Cơ cấu các khoản thu của ngân sách NN:
+ các khoản thu có tính chất hoa lợi: là các khoản thu làm tăng
ngân quỹ nhưng không làm tăng trái vụ của quốc gia
Trang 7 Thuế
Thu từ hoạt động kinh tế của NN
Đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân
Viện trợ không hoàn lại của nước ngoài cho chính phủ
Tiền phạt vi phạm PL
+ các khoản thu không có tính chất hoa lợi: là các khoản thu làm
tăng ngân quỹ đồng thời làm tăng trái vụ của quốc gia (tức là thu
được bao nhiêu thì cũng phải chi ra bấy nhiêu để thực hiện các trái vụ với các chủ thể khác)
Phí và lệ phí
Vay nợ, viện trợ có hoàn lại
Thu tiền bồi thường thiệt hại cho NN
– Cơ cấu các khoản chi của ngân sách NN:
+ các khoản chi có tính chất phí tổn: là các khoản chi làm giảm
ngân quỹ nhưng không làm giảm trái vụ của quốc gia
Viện trợ không hoàn lại cho nước ngoài
Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội
Bù lỗ cho các doanh nghiệp NN
Hỗ trợ cho các doanh nghiệp và tổ chức xã hội
+ các khoản chi không có tính chất phí tổn: là các khoản thu làm
giảm ngân quỹ đồng thời làm giảm trái vụ của quốc gia
Chi hoạt động của bộ máy NN
Chi quốc phòng, an ninh
Chi văn hóa, xã hội
Chi đầu tư phát triển
Chi cấp vốn cho doanh nghiệp NN
Chi sự nghiệp kinh tế
Trả nợ của NN đối với tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài
– Khi thông qua 1 bản ngân sách tức là phải thông qua các khoản
dự toán chi và thông qua các khoản dự toán thu Ở VN việc thôngqua 2 khoản thu và chi được tiến hành cùng lúc (ở nhiều nước
có quy định khác, như ở Pháp thì phải thông qua dự toán chi trước, sau đó mới thông qua dự toán thu)
Trang 8Chú ý: ở các nước phát triển, hàng năm đều có Báo cáo tài chính
của Chính phủ, còn ở VN mới chỉ có Báo cáo ngân sách của Chính phủ (tức là mới chỉ có báo cáo thu – chi hàng năm), đến luật Ngân sách NN 2015 mới bắt đầu có những quy định đầu tiên
về Báo cáo tài chính Chính phủ Báo cáo ngân sách chỉ là 1 phầntrong Báo cáo tài chính, trong Báo cáo tài chính cần thể hiện những tài sản Chính phủ đang nắm giữ, giá trị của chúng, thặng
dư Chính phủ trong năm, …
– Các nguyên tắc của ngân sách NN:
+ mỗi năm, quốc hội sẽ biểu quyết ngân sách 1 lần
+ bản dự toán ngân sách được thực hiện trong 1 năm
– Ý nghĩa:
+ đảm bảo sự kiểm soát của Quốc hội (nếu lâu quá sẽ khó kiểm soát, nếu có sai lầm thì cũng nhanh chóng được điều chỉnh)
+ phù hợp với thực tế
Trang 9– Hạn chế:
+ sự ảnh hưởng của tính ngắn hạn: như có thể ảnh hưởng đến những kế hoạch chi tiêu công dài hạn (những kế hoạch ngắn hạn thưởng ảnh hưởng đến kế hoạch dài hạn)
+ chi phí soạn lập thường khá lớn
– Biệt lệ:
+ các khoản điều chỉnh sau 31/12: luật cho phép những khoản chisau ngày 31/12 nhưng trước ngày 31/1 thì được ghi là chi vào ngày 31/12 (vì ngày 31/1 được coi là ngày “chốt sổ ngân sách”)
+ chưa thông qua ngân sách sau ngày 31/12: thì vẫn có thể chi trước những khoản nhất định để đảm bảo hoạt động bình thườngcủa cơ quan, đơn vị trong khi chờ ngân sách được phê duyệt
b Nguyên tắc ngân sách đơn nhất
– Nội dung: mọi khoản thu và chi của quốc gia trong 1 năm được trình bày trong 1 văn kiện duy nhất là dự toán ngân sách được Chính phủ trình Quốc hội phê duyệt
– Ý nghĩa:
+ cung cấp cái nhìn toàn diện về tài chính quốc gia
+ thuận lợi cho việc thiết lập ngân sách thăng bằng và hiệu quả+ Quốc hội dễ kiểm soát, dễ lựa chọn để phê chuẩn
– Hạn chế:
Trang 10+ trong tình hình thế giới biến động nhanh chóng như hiện tại, thì
1 năm cũng là khá dài để có thể dự đoán
+ khả năng gây ra sự cứn nhắc, khó phản ứng kịp thời với tình hình mới
– Tuy nhiên, ở VN hiện không tuân theo nguyên tắc này, mà áp dụng “linh hoạt”:
+ các nguồn thu và nhiệm vụ chi được xây dựng ở nhiều tài liệu khác nhau
+ kế hoạch ngân sách thường xuyên được bổ sung, sửa đổi
trong quá trình thực hiện
+ luật cho phép Quốc hội và HĐND được quyền quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách khi cần
+ các khoản thu và các khoản chi không được bù trừ cho nhau: tức là không được phép dùng riêng 1 khoản thu cho 1 khoản chi
Trang 11cụ thể (hay nói cách khác mọi khoản thu đều được dùng để tài trợ cho mọi khoản chi)
– Ý nghĩa:
+ đảm bảo tính minh bạch, dễ kiểm soát
+ mở rộng chức năng XH của NN: nguồn thu từ 1 lĩnh vực không chỉ để tái đầu tư cho lĩnh vực đó mà còn được dùng để chi cho những lĩnh vực khó phát sinh lợi nhuận như xóa đói, giảm nghèo,chính sách dân tộc, mình đẳng giới, phát triển nông nghiệp nông thôn, … (khoản Điều 8 Luật NSNN 2015)
– Hạn chế:
+ liệu NN có làm tốt mọi việc ? (như mô hình nhà nước Xô-viết trước đây, hoặc mô hình “nhà nước phúc lợi”, tức là NN muốn tài trợ mọi thứ cho công dân, sẽ dẫn tới công dân có xu hướng ỉ nại mọi thứ vào NN, lợi dụng NN để tư lợi, không chịu lao động ==> nguồn thu của NN không đủ ==> NN phải đi vay để tiếp tục tài trợphúc lợi ==> vỡ nợ (điển hình là Hy Lạp, Venezuala)
+ liệu có phát hiện được các khoản “vẽ vời” ? Vì yêu cầu phải dự toán trước mới được chi nên các cơ quan của NN thường có xu hướng “vẽ vời” ra rất nhiều khoản chi, nhiều khi không thực sự cần thiết; hoặc trường hợp đã dự toán, nhưng do tình hình thay đổi nên lẽ ra không cần chi nữa, nhưng do tâm lý “sợ không hoànthành kế hoạch” nên tìm mọi cách để chi ==> lãng phí
– Biệt lệ:
+ tổ chức công phi lợi nhuận do NN thành lập
Trang 12d Nguyên tắc ngân sách thăng bằng (Điều 7)
+ NN không “mất khả năng thanh toán”
+ các khoản thu phải có “lý do chính đáng”: để tránh lạm thu
– Hạn chế:
+ thăng bằng không phải lúc nào cũng tốt, kinh tế học đã chứng minh nhiều trường hợp phải chi tiêu để kích thích tăng trưởng, qua đó mới có khoản thu
– Biệt lệ:
+ vay để bù đắp bội chi ngân sách: luật Ngân sách 2015 cho
phép địa phương cũng được quyền vay để bù đắp bội chi ngân sách
e Nguyên tắc ngân sách công khai
Trang 13– Nội dung: ngân sách phải được công khai đến nhân dân
– Ý nghĩa:
+ mục đích của ngân sách: vì nhân dân
+ giám sát tối cao của nhân dân
Trang 14+ ngân sách địa phương: được chia làm 3 cấp là ngân sách cấp tỉnh, cấp huyện, và cấp xã tương ứng với 3 cấp chính quyền địa phương, trong đó ngân sách tỉnh bao gồm ngân sách huyện, và ngân sách huyện bao gồm ngân sách xã
– Vai trò của ngân sách TW:
+ thực hiện những công trình mang tầm quốc gia (mà từng địa phương không thể làm được)
+ điều hòa ngân sách giữa các địa phương: lấy nguồn thu từ các tỉnh giàu để bù đắp cho các tỉnh nghèo
– Tại sao ngân sách nhà nước lại được chia theo các cấp chính quyền ? Vì:
+ hoạt động ngân sách là hoạt động của bộ máy chính quyền+ hoạt động ngân sách để phục vụ cho bộ máy chính quyền
– Mỗi cấp ngân sách có các nguồn thu và nhiệm vụ chi riêng
– Các nguồn thu:
+ nguồn thu được hưởng 100%
VD: nguồn thu từ khai thác dầu khí: 100% thuộc về TW
Nguồn thu từ cho thuê đất: 100% thuộc về ngân sách tỉnh
+ nguồn thu phân chia (hay nguồn thu điều tiết): phân chia giữa
TW và địa phương, phân chia giữa các cấp địa phương với nhau
Trang 15VD: với thành phố Hồ Chí Minh thì tỉ lệ phân chia là 26%, tức là thu 100 đồng thì được giữ lại 26 đồng, còn 74 đồng chuyển về TW
Với Hà Nội thì tỉ lệ là 31%, Hải Phòng 90%, Đà Nẵng 90%, phần lớn các tỉnh là 100%
+ nguồn thu bổ sung: trong các trường hợp:
TW bổ sung cho tỉnh khi tỉnh thu không đủ chi (gọi là bổ sung cân đối), tỉnh được TW cấp lại chi bổ sung cho huyện,
và huyện và chi bổ sung cho xã
Bổ sung có mục tiêu: ngân sách cấp bổ sung theo mục tiêu
cụ thể, không được chi cho mục tiêu khác
Câu hỏi: Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội có nguồn thu bổ
sung không ?
Trả lời: Có Mặc dù thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội có tỷ lệ
điều tiết nguồn thu về TW rất lớn, do đó không cần TW cấp bổ sung cân đối, nhưng vẫn có nguồn thu bổ sung theo mục tiêu, VDhai thành phố này vẫn được TW cấp bổ sung ngân sách để cải cách thủ tục hành chính, cấp bổ sung ngân sách để phục vụ
chương trình tiêm chủng mở rộng, …
– Các nhiệm vụ chi:
+ chi thường xuyên: là các khoản chi để đảm bảo hoạt động của
bộ máy NN như trả lương cho công chức, viên chức, chi công tácphí, chi hội nghị, …
+ chi đầu tư phát triển: chi cho phát triển cơ sở hạ tầng, VD xây dựng cầu, đường, thủy lợi, nghiên cứu khoa học cơ bản, …
+ các khoản chi khác: như chi cho an ninh, quốc phòng, …
Trang 16Chú ý: theo luật Ngân sách 2015 thì ngân sách từ cấp huyện trở
xuống không được chi cho nghiên cứu khoa học cơ bản (chỉ được chi ngân sách cấp tỉnh, cấp TW)
– Căn cứ xây dựng dự toán (Điều 41 luật Ngân sách NN 2015):
+ nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng-an ninh, đối ngoại, bình đẳng giới
+ nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan NN từ TW đến địa phương+ quy định của PL về chế độ thu và định mức chi NSNN
+ kế hoạch tài chính 5 năm, kế hoạch tài chính – ngân sách NN 3năm, kế hoạch đầu tư trung hạn
+ tình hình thực hiện ngân sách năm trước
– Yêu cầu lập dự toán (Điều 42 luật Ngân sách NN 2015):
+ dự toán NSNN phải tổng hợp theo từng khoản thu, chi và theo
cơ cấu từng lĩnh vực: chi thường xuyên, đầu tư phát triển, dự trữ
Trang 17quốc gia, trả nợ và viện trợ, bổ sung quỹ dự phòng tài chính, dự phòng ngân sách
+ dự toán ngân sách của đơn vị các cấp phải thể hiện đầy đủ cáckhoản thu, chi theo đúng biểu mẫu, thời hạn
– Lập dự toán: từ cấp xã, lên cấp huyện, cấp tỉnh, cấp TW
– Phê duyệt ngân sách: từ cấp TW trở xuống, do Quốc hội phê duyệt ở cấp cao nhất, HĐND phê duyệt ngân sách ở cấp tương ứng Nguyên tắc phê duyệt: biểu quyết theo đa số
– Chấp hành ngân sách (tức là thực hiện theo chủ trương của cơ quan quyền lực NN):
+ chấp hành thu: thực hiện các khoản thu trên thực tế
+ chấp hành chi: thực hiện các khoản chi trên thực tế
+ điều chỉnh ngân sách (Điều 52 luật Ngân sách NN 2015): thay đổi các chỉ tiêu thu chi cho phù hợp với thực tế (cũng phải lập dự toán điều chỉnh, trình cơ quan quyền lực tương ứng để quyết định)
– Chấp hành thu: ngân sách dựa chủ yếu vào 3 nguồn thu: thuế, phí, lệ phí
+ thuế là nguồn thu theo luật có tính chất bắt buộc, được định danh là thuế
Chú ý: có sự khác nhau trong cách xác định gọi là thuế ở các
nước, VD ở VN thì bảo hiểm xã hội, y tế không đươc coi là thuế, trong khi ở các nước khác coi là thuế
Trang 18==> hệ quả: trốn bảo hiểm ở nước ngoài bị coi là trốn thuế, và bị
xử lý hình sự, còn ở VN thì chỉ bị xử phạt hành chính ==> trốn bảo hiểm ở VN là phổ biến
+ phí: là 1 khoản nộp khi NN cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ công VD phí cầu, phí đường, viện phí, học phí
+ lệ phí: là khoản tiền phải nộp khi thụ hưởng các dịch vụ hành chính công VD lệ phí cấp biển số xe, lệ phí đăng ký kết hôn
Chú ý: “thuế môn bài” trước đây là sai về bản chất, nay đã
được gọi đúng là “lệ phí môn bài”, là vì khoản thu này là như nhau với mọi cơ sở kinh doanh cùng mức vốn (không quan tâm đến giá trị doanh nghiệp), tức là có bản chất lệ phí
“lệ phí chước bạ” hiện đang bị gọi sai, gọi đúng sẽ là “thuế chướcbạ”, là vì khoản thu này được xác định theo giá trị của tài sản, tức
là có bản chất thuế
——————-– Chấp hành chi:
+ điều kiện chi ngân sách (Điều 12 luật Ngân sách NN 2015)
Mọi khoản chi đều phải có trong dự toán (có thể có ngoại lệ
là những khoản chi để duy trì hoạt động bình thường tối thiểu của cơ quan NN khi Quốc hội chưa thông qua ngân sách cho năm mới)
==> chú ý: Hệ quả không mong muốn của điều này là khi lập dự toán hay bị “vống” lên, hoặc bị “vẽ vời” các khoản chi để dự trù cho những phát sinh chưa lường trước được
Trang 19==> một trong các giải pháp để hạn chế hệ quả này là cơ quan quyền lực NN sẽ phê duyệt tổng mức dự toán trước, sau đó cơ quan lập dự toán sẽ phải cân đối các khoản chi để phù hợp với mức tổng dự toán đã được duyệt Tuy nhiên sẽ lại có hệ quả tiếp theo là sẽ phát sinh việc “chạy” để dự án được lọt vào kế hoạch ngân sách
Các khoản chi phải đúng chế độ, tiêu chuẩn và định mức
==> vấn đề các định mức thường không sát với thực tế giá cả thị trường ==> hiện tượng khai tăng số lượng, khai tăng hạng mục
để bù đắp chi phí
Phải được người đứng đầu phê duyệt
Câu hỏi: Phân biệt chi thường xuyên với chi đầu tư phát triển ?
Trả lời: (theo Điều 4, Điều 56 Luật NSNN 2015):
Chi thường xuyên Chi đầu tư phát triển
Khái
niệm
Là nhiệm vụ chi của NSNN nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy NN, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị –
xã hội, hỗ trợ hoạt động củacác tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của NN về phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh (k6 Đ4 Luật NSNN)
Là nhiệm vụ chi của NSNN, gồmchi đầu tư xây dựng cơ bản vàmột số nhiệm
vụ chi đầu tư khác theo quy định của PL (k5 Đ4 Luật NSNN)
Nội
Chi xây dựng
cơ bản, phát triển kinh tế xã hội
Trang 20– Bố trí trong dựtoán và chi theophương thức rúthạn mức
– Trường hợp cấp thiết có thể được tạm ứng vốn để thực hiện (k2 Đ56 Luật NSNN)
Câu hỏi: Các phương thức chi NSNN (theo hạn mức và theo
lệnh chi tiền)
(chi theo lệnh chi tiền là chi bổ sung, theo lệnh của cấp có thẩm quyền)
Trả lời (tự trả lời): Phương thức chi NSNN là cách thức NN cấp
kinh phí cho các đối tượng sử dụng NSNN Có 2 phương thức chiNSNN là chi theo dự toán và chi theo lệnh chi tiền
Chi theo dự toán Chi theo lệnh chi tiền
NSNN: cơ quan NN, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức được NN đảm bảo kinh phí hoạt động
Là các chủ thể không có quan hệ thường xuyên với NSNN, khoản chi này mang tính đặc thù phát sinh từng lần (như chi bổ sung, chi trả nợ,
Trang 21hồ sơ thanh toán của đơn vị sử dụng NS, nếu
đủ điều kiện theo quy định, thì thực hiện thanhtoán trực tiếp cho ngườihưởng lương, trợ cấp
xã hội và người cung cấp hàng hoá, dịch vụ hoặc thanh toán qua đơn vị sử dụng NS
Khi đến thời điểm thực hiện khoản chi, hoặc khi có yêu cầu của đơn vịthụ hưởng ngân sách, Cơ quan tài chính chịu trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát nội dung,tính chất của từng khoản chi, bảo đảm các điều kiện cấp phát NSNN theo chế độ quy định sau đó lập lệnh chi tiền chuyển sang cho KBNN KBNN thực hiện xuất quỹ và thanh toán cho đơn
vị sử dụng NSNN theo nội dung ghi trong lệnh chi tiền của cơ quan tài chính
Cơ quan tài chính
có trách nhiệm chính trong việc kiểm tra nội dung, tính chất khoản chi,bảo đảm lệnh chi tiền chắc chắn có
Trang 22mức chi do cơ quan NN
có thẩm quyền quy định
Có quyền và trách nhiệm tạm đình chỉ, từ chối chi trả, thanh toán các khoản chi không bảo đảm các điều kiện chi theo quy định và thông báo cho đơn vị sửdụng NSNN biết
đủ điều kiện chi
NS KBNN chỉ xuấtquỹ thanh toán chođơn vị sử dụng theo yêu cầu của
cơ quan tài chính
Câu hỏi: Vai trò của kho bạc trong kiểm soát chi ngân sách
Trả lời (tự trả lời): Kho bạc NN là cơ quan quản lý NN với hoạt
động chủ yếu là quản lý các quỹ tiền tệ, tài sản của NN và huy động vốn vào NSNN Ở VN, kho bạc NN là cơ quan trực thuộc
Bộ Tài chính, được tổ chức thành hệ thống ngành dọc từ TW đếnđịa phương (cấp huyện)
Vai trò của kho bạc NN trong kiểm soát chi ngân sách là thực hiện kiểm tra các khoản chi để thỏa mãn các điều kiện cấp phát, thanh toán:
+ phải có trong dự toán,
+ đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức,
+ đã được thủ trưởng đơn vị ngân sách ký quyết định chi
+ có đầy đủ hồ sơ, chứng từ thanh toán theo quy định
Như vậy kho bạc NN là trạm kiểm soát cuối cùng được NN giao nhiệm vụ kiểm soát trước khi đồng vốn của NN rời khỏi NSNN
3 Xử lý những thay đổi trong chấp hành ngân sách
– Nếu tăng thu (Điều 59 luật Ngân sách NN 2015):
Trang 23+ giảm bội chi (tức là tăng trả nợ)
+ tăng bổ sung cho quỹ dự trữ tài chính (phân biệt với dự phòng ngân sách)
+ bổ sung cho đầu tư phát triển
Quỹ dự trữ tài chính Dự phòng ngân sách
Khái
niệm
Là quỹ của NN, hình thành từ NSNN và các nguồn tài chính khác theo quy định của PL (Điều 4 Luật NSNN 2015)
dư ngân sách, bố trí trong dự toán chi ngân sách hằng năm
và các nguồn tài chính khác theo quy định của PL, số dư
Mức bố trí dự phòng
từ 2% đến 4% tổng chi ngân sách mỗi cấp
Trang 24của quỹ dự trữ tài chính ở mỗi cấp không vượt quá 25%
dự toán chi ngân sách hằng năm của cấp đó
Mục
đích sử
dụng
– Cho ngân sách tạm ứng để đáp ứng các nhu cầu chi theo
dự toán chi ngân sách khi nguồn thu chưa tập trung kịp vàphải hoàn trả ngay trong năm ngân sách;
– Trường hợp thu NSNN hoặc vay để
bù đắp bội chi khôngđạt mức dự toán được Quốc hội, HĐND quyết định và thực hiện các nhiệm
vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh trên diện rộng, với mức độ nghiêm trọng, nhiệm
vụ về quốc phòng,
an ninh và nhiệm vụ cấp bách khác phát sinh ngoài dự toán
mà sau khi sắp xếp
a) Chi phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, cứu đói; nhiệm vụ quan trọng
về quốc phòng, an ninh và các nhiệm vụ cần thiết khác thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách cấp mình
mà chưa được dự toán;
b) Chi hỗ trợ cho ngân sách cấp dưới
để thực hiện nhiệm
vụ quy định tại điểm akhoản này, sau khi ngân sách cấp dưới
đã sử dụng dự phòngcấp mình để thực hiện nhưng chưa đápứng được nhu cầu;
c) Chi hỗ trợ các địa phương khác khác khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa
Trang 25lại ngân sách, sử dụng hết dự phòng ngân sách mà vẫn chưa đủ nguồn, được sử dụng quỹ
dự trữ tài chính để đáp ứng các nhu cầuchi nhưng mức sử dụng trong năm tối
đa không quá 70%
số dư đầu năm của
a) Chính phủ quy định thẩm quyền quyết định sử dụng
dự phòng ngân sách trung ương, định kỳ báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội việc sử dụng dự phòng ngân sách trung ương và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất;
b) UBND các cấp quyết định sử dụng
dự phòng ngân sách cấp mình, định kỳ báocáo Thường trực HĐND và báo cáo HĐND cùng cấp tại