BÀI GIẢNG TỘI PHẠM HỌC Thời lượng 30 tiết Mục lục BÀI GIẢNG TỘI PHẠM HỌC 1 Vấn đề 1 Khái niệm, đối tượng và phương pháp nghiên cứu tội phạm học 2 1 Khái niệm tội phạm học 2 2 Khái niệm 2 3 Đặc điểm 2[.]
Trang 1BÀI GIẢNG TỘI PHẠM HỌC
Thời lượng: 30 tiết
Mục lục
BÀI GIẢNG TỘI PHẠM HỌC 1
Vấn đề 1: Khái niệm, đối tượng và phương pháp nghiên cứu tội phạm học 2
1 Khái niệm tội phạm học 2
2 Khái niệm 2
3 Đặc điểm 2
4 Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học 2
III Phương pháp nghiên cứu của tội phạm học 3
Vấn đề 2: Lịch sử hình thành và phát triển của tội phạm học 3
1 Trường phái tội phạm học cổ điển 3
4 Diễn biến của tội phạm 9
Vấn đề 4: Nguyên nhân của tội phạm 13
1 Khái niệm 13
2 Tình huống cụ thể 13
3 Khái niệm 13
4 Phân loại tình huống cụ thể 13
5 Vai trò của tình huống cụ thể trong cơ chế của hành vi phạmtội 14
Trang 2III Nạn nhân của tội phạm 14
Vấn đề 5: Nhân thân người phạm tội 14
1 Khái niệm 14
2 Ý nghĩa của nghiên cứu nhân thân người phạm tội 14
Vấn đề 6: Dự báo tội phạm 14
1 Khái niệm 14
2 Cơ sở khoa học của việc dự báo tội phạm 15
III Phương pháp dự báo tội phạm 15
quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
Đặc điểm của tội phạm:
+ là hành vi nguy hiểm cho xã hội
+ được quy định trong Bộ luật hình sự
+ có lỗi
+ phải chịu hình phạt
Trang 3Cấu thành tội phạm: chủ thể, khách thể, mặt chủ quan, mặt kháchquan
Phân loại tội phạm: ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng
– Tội phạm học là khoa học liên ngành, thực nghiệm nghiên cứu
về tội phạm (hiện thực), nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm
2 Đặc điểm
– Tội phạm học có các đặc điểm:
+ đối tượng nghiên cứu độc lập: tội phạm hiện thực (tức là tội phạm đã xảy ra trong thực tế), nguyên nhân của tội phạm, kiểm soát tội phạm
+ là khoa học liên ngành (hay đa ngành): là sử dụng kiến thức của nhiều ngành khoa học khác nhau Với tội phạm học, nó sử dụng các thành tựu của các ngành khoa học khác như: xã hội học, tâm lý học, sinh vật học
+ là khoa học thực nghiệm: là khoa học mà kiến thức của nó thu được từ nghiên cứu thực tế (chứ không phải nghiên cứu lý
thuyết), VD nghiên cứu số lượng người phạm tội, nhân thân
người phạm tội, đặc điểm sinh học của người phạm tội
+ mục đích: đưa ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm (tức là ngăn ngừa, hạn chế tội phạm cả về số lượng và mức độ nguy hiểm)
II Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học
– Tội phạm học nghiên cứu nhiều đối tượng khác nhau:
Trang 4+ tình hình tội phạm: chính là tội phạm hiện thực, là bức tranh thực tế, toàn cảnh về tội phạm trong xã hội, thường được thể hiện qua 2 con số: thực trạng tội phạm, và diễn biến tội phạm (trong1 khoảng thời gian nhất định) Hai số liệu này đươc lấy từ các nguồn thống kê khác nhau, như của cơ quan công an, cơ quan tòa án, từ các cuộc điều tra xã hội học
+ nguyên nhân của tội phạm
+ nhân thân người phạm tội
+ phòng ngừa tội phạm
+ kiểm soát tội phạm: sự kiểm soát của Chính phủ đối với tội phạm, các thiết chế xã hội như giáo dục gia đình, thiết chế tôn giáo, chuẩn mực xã hội góp phần kiểm soát tội phạm
+ các học thuyết về tội phạm
+ nạn nhân học: nghiên cứu vai trò của nạn nhân trong hành vi phạm tội, như hiểu biết hạn chế của nạn nhân sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tội phạm, như nạn nhân quá dễ dãi, quá cả tin … Chú ý có những tội phạm không có nạn nhân hoặc rất khó xác định nạn nhân như tội về ma túy, tội cờ bạc, tôi xâm phạm môi trường, …
+ hình phạt học: nghiên cứu về vai trò của hình phạt: giáo dục, răn đe người phạm tội; đồng thời cũng răn đe người khác có thể
có ý định phạm tội
+ các tội phạm chuyên biệt: như tội phạm cổ cồn trắng (tội phạm
về chức vụ, tội phạm rửa tiền, …), tội phạm cổ cồn xanh (công nhân, nông dân, người làm lâm ngư nghiệp phạm tội)
Trang 5III Phương pháp nghiên cứu của tội phạm học
– Có nhiều phương pháp khác nhau, thường dùng 2 nhóm
phương pháp sau:
+ nhóm phương pháp xã hội học: phương pháp quan sát,
phương pháp phỏng vấn, phương pháp thực nghiệm, phương pháp điều tra xã hội học, …
+ nhóm phương pháp thống kê
– Trong nhóm phương pháp thống kê, chia thành:
+ phương pháp số tuyệt đối: dùng để xác định quy mô, khối
lượng của hiện tượng, nghiên cứu tình hình tội phạm Sử dụng phương pháp số tuyệt đối để xác định thực trạng của tội phạm
VD trên địa bàn tỉnh A từ năm 2010 đến 2015 đã xảy ra 5.670 vụ phạm tội với 2.367 người phạm tội
+ phương pháp số tương đối: sử dụng các công thức toán học
Sử dụng phương pháp số tương đối động thái định gốc để xác định diễn biến của tội phạm theo công thức sau:
Ydb = [Mi / Mo] x 100%
Trang 6 Sử dụng phương pháp số tương đối để xác định cơ cấu tội phạm theo công thức:
Ycc = [Mbp / Mtt] x 100%
Trong đó:
Mbp: số vụ hoặc số người phạm tội trong từng nhóm, loại tội phạm
Mtt: tổng số vụ hoặc tổng số người phạm tội
Sử dụng số tương đối để xác định hệ số tội phạm (chỉ số tội phạm): hệ số tội phạm là mức độ phổ biến của tội phạm trong dân cư, thường xác định trong 10.000 dân hoặc
100.000 dân
+ phương pháp số trung bình và phương pháp số trung vị
——————–
Vấn đề 2: Lịch sử hình thành và phát triển của tội phạm học
I Trường phái tội phạm học cổ điển
– Thời gian tồn tại: từ 1700 đến 1880
– Học giả tiêu biểu:
+ Cesare Beccaria: được coi là ông tổ của tội phạm học cổ điển, với tác phẩm kinh điển “Tội phạm và hình phạt” năm 1764
+ Jeremy Bentham: học trò của Cesare Beccaria, với tác phẩm nổi tiếng “Lời giới thiệu tới các nguyên tắc của đạo đức và luật pháp” năm 1798
Trang 71 Nội dung chính
– Khoảng thế kỷ 18, ở châu Âu xuất hiện “thời kỳ khai sáng” Đây
là giai đoạn của Triết học, chi phối hầu hết tri thức của nhân loại
– Theo quan điểm của triết học thì nguyên nhân của tội phạm là
do tự do ý chí và suy nghĩ lý trí
Quan điểm này đến nay vẫn còn nguyên giá trị, thể hiện ở yếu tố
“có lỗi” “lỗi cố ý” trong PL hình sự
2 Nguyên nhân của tội phạm theo quan điểm của các học giả tội phạm học cổ điển
a Cesare Beccaria
– Cesare Beccaria cũng thừa nhận và khẳng định suy cho cùng nguyên nhân của tội phạm là do các yếu tố thuộc về cá nhân Năm 1764, Cesare Beccaria xuất bản cuốn sách: “Tội phạm và hình phạt”, trong đó có nhiều quan điểm tiến bộ, ông cũng đề cao vai trò phòng ngừa tội phạm của hình phạt
– Theo Cesare Beccaria, hình phạt là phương tiện để phòng
ngừa tội phạm hiệu quả, cách tốt nhất để phòng ngừa tội phạm làluật phải được quy định đơn giản và rõ ràng, khen thưởng người
có đạo đức tốt và cải thiện nền giáo dục, bên cạnh đó cần cải thiện hệ thống tư pháp hình sự theo hướng nhân đạo
Cesare Beccaria đưa ra nhiều quan điểm tiến bộ:
+ không có bất kỳ ai được đứng trên luật pháp, kể cả giới quý tộc
và những nhà lãnh đạo
+ đồng thời mọi người đều bình đẳng, nên việc người này quyết định tước đoạt mạng sống của người khác là vô lý, nên Cesare Beccaria đề nghị bỏ án tử hình
Trang 8+ phòng ngừa tội phạm tốt hơn là trừng trị tội phạm
+ khi quyết định hình phạt phải căn cứ vào hành vi phạm tội chứ không được căn cứ vào chủ thể phạm tội
+ thẩm phán là người áp dụng PL chứ không phải là người ban hành PL (rất phù hợp với quan điểm của hệ thống Civil Law,
nhưng lại trái với quan điểm của Common law)
+ khi quyết định hình phạt phải dựa trên “niềm vui thích” và “sự đau khổ”: khi 1 người thực hiện hành vi phạm tội vui thích như thế nào, thì khi họ phải chịu hình phạt họ sẽ phải chịu đau khổ tương ứng như vậy
==> đến tận ngày nay tư tưởng của Cesare Beccaria vẫn được nhiều quốc gia tuân theo để xây dựng hệ thống tư pháp dân chủ
và hiệu quả
b Jeremy Bentham
– Theo Jeremy Bentham thì nguyên nhân của tội phạm cũng là
do tự do ý chí và suy nghĩ lý trí Tên tuổi của ông gắn liền với
“thuyết vị lợi” (thuyết thực dụng): trước khi thực hiện hành vi
phạm tội, con người bao giờ cũng cân nhắc giữa cái được và cái mất, nếu cái được nhiều hơn cái mất thì họ sẽ thực hiện hành vi, ngược lại nếu cái được ít hơn cái mất thì họ sẽ không thực hiện hành vi ==> do đó hình phạt phải tương ứng với hành vi phạm tội
và đây là biện pháp phòng ngừa tội phạm hiệu quả
– Jeremy Bentham đề ra 3 giải pháp phòng ngừa tội phạm:
+ cải cách lại hệ thống nhà tù: xây dựng nhà thù theo kiến trúc
“hình xoáy ốc”, theo đó người quản tù đứng ở vị trí trung tâm của
“xoáy ốc” để quan sát mọi hành vi của tù nhân (bị coi là vi phạm
Trang 9nhân quyền vì ngay cả tù nhân cũng vẫn còn 1 số quyền con người)
+ xăm trổ lên người phạm tội: để ngăn ngừa nguy cơ người phạmtội tái phạm (tuy nhiên lại bị coi là vi phạm nhân quyền)
+ xây dựng đội cảnh sát tuần tra: biện pháp này được sử dụng rộng rãi trên thế giới đến tận ngày nay
II Trường phái tội phạm học thực chứng
– Thời gian tồn tại: chia làm 2 giai đoạn
+ 1880 – 1930: giai đoạn đầu
+ 1930 – nay: thời kỳ hiện tại
– Học giả tiêu biểu:
+ Cesare Lombroso: cha đẻ của tội phạm học thực chứng, với tácphẩm “Người phạm tội”
+ Enrico Ferri, Raffaele Garofalo, Buckman Goring, …
1 Nội dung chính
– Từ nửa cuối thế kỷ 19, triết học không còn giữ vai trò độc tôn, nhiều ngành khoa học mới xuất hiện, trong đó nổi lên là sự xuất hiện của chủ nghĩa thực chứng: muốn tìm hiểu 1 sự vật, hiện tượng hoặc tìm ra quy luật cần phải sử dụng phương pháp khoa học
Trang 10– Theo chủ nghĩa thực chứng, con người không phải hoàn toàn được tự do lựa chọn thực hiện hành vi phạm tội, nói cách khác cónhững nhân tố nằm ngoài sự kiểm soát của họ dẫn đến hành vi phạm tội của họ Nhiều nhà khoa học đã ứng dụng thành tựu của các ngành khoa học khác để nghiên cứu về con người phạm tội,
từ đó giải thích nguyên nhân của tội phạm, như ứng dụng các thành tựu của sinh vật học, tâm lý học, xã hội học, …
2 Nguyên nhân của tội phạm theo quan điểm của các nhà tội phạm học thực chứng
a Các thuyết sinh học quyết định
– Cesare Lombroso:
+ Là người đầu tiên kết hợp giữa chủ nghĩa thực chứng và
nghiên cứu về sinh học của Darwin về nguồn gốc loài người để giải thích nguyên nhân của tội phạm Ông cho rằng nguyên nhân của tội phạm là do các yếu tố sinh học quyết định Năm 1876, ông xuất bản cuốn sách “Người phạm tội”, trong đó đưa ra khái niệm “người phạm tội bẩm sinh” hay người mắc bệnh “lại giống”
+ Cesare Lombroso đã thay thế quan niệm của tội phạm học cổ điển (cho rằng tự do ý chí, sự lựa chọn của cá nhân là nguyên nhân của tội phạm) bằng quan điểm cho rằng nguồn gốc phát sinh tội phạm bắt nguồn từ nguyên nhân loại cơ thể Theo đó ông
đã phát triển tội phạm học theo hướng mới, giải thích nguyên nhân của tội phạm thông qua nghiên cứu và thí nghiệm, đó chính
là trường tội phạm học thực chứng Cụ thể ông đã sử dụng rộng rãi các biện pháp và phương pháp thống kê trong việc xử lý các
dữ liệu về nhân chủng học, xã hội, kinh tế
+ Bằng cách nghiên cứu hộp sọ, diện mạo khuôn mặt, hình dáng của những người tù (còn sống hoặc đã chết), Cesare Lombroso cho rằng có thể đoán biết họ có phải là người phạm tội bẩm sinh hay không, tức là có đồng thời 5 đặc điểm (cả nam và nữ):
Trang 11 Miệng rộng, hàm răng khỏe, trán dốc, ngắn (là những đặc điểm của loài ăn thịt sống)
Xương gò má nhô cao, mũi bẹt
Tai hình dáng quai xách (tai vểnh)
Mũi diều hâu, môi to dày, mắt gian xảo, lông mày rậm
Không nhạy cảm với đau đớn, cánh tay dài hơn cẳng chân (giống loài khỉ)
+ Cesare Lombroso cho rằng người phạm tội có đặc điểm giống với tổ tiên của loài người hơn là công dân bình thường, đó là những dấu hiệu của bệnh “lại giống”, tức là quay trở lại với giống nòi của mình (loài khỉ, vượn người), có những đặc điểm nổi bật của loài người ở giai đoạn phát triển thấp, trước khi họ trở thành người
+ Để phòng ngừa tội phạm, Cesare Lombroso cho rằng cần biệt lập những người phạm tội bẩm sinh khỏi xã hội mà không cần chờ đến lúc họ phạm tội Tuy nhiên ông ủng hộ quan điểm cần đối xử nhân đạo với người phạm tội và phản đối việc áp dụng án
tử hình đối với người phạm tội
——————–
– Ernst Kretschmer, William Sheldon: đưa ra trường phái “kiểu cơthể”, theo đó kiểu “to, khỏe, lực lưỡng” có nguy cơ phạm tội cao hơn so với 2 kiểu “gày gò, ốm yếu, vai hẹp” và “cao trung bình, mũm mĩm, cổ to, mặt rộng”
– Richard Louis Dugdale, Henry Goddard: đưa ra Thuyết phạm tội do thừa kế, theo đó người phạm tội là do kế thừa “gen xấu” từ thế hệ trước Cơ sở là sự nghiên cứu của 1 số dòng họ có tỷ lệ người phạm tội nhiều hơn so với các dòng học khác
Trang 12+ thuyết “phạm tội do thừa kế” dẫn tới sự hình thành và phát triểncủa phong trào “ưu sinh”, là phong trào sinh sản có điều khiển để cải tạo chất lượng nòi giống Theo đó để phòng ngừa tội phạm thìphải không để cho gen xấu từ thế hệ trước truyền sang thế hệ sau, tức là “triệt sản” đối với người phạm tội Phong trào ưu sinh phát triển và lan rộng khắp nước Mỹ từ những năm 1920 đến trước thế chiến II Sau đó phong trào này lan sang châu Âu, là đỉnh điểm là khi phát xít Đức lợi dụng triệt để để tàn sát người DoThái và người tàn tật.
– Patricia Jacobs: đưa ra Thuyết nhiễm sắc thể, theo đó người phạm tội là do có kiểu nhiễm sắc thể bất thường
a Các thuyết tâm lý quyết định
– Gabriel Tarde: đưa ra Thuyết bắt chước, theo đó nguyên nhân của tội phạm là do 1 người đã bắt chước hành vi phạm tội của người khác mà người đó có cơ hội quan sát Có 3 loại bắt chước:
+ những người có địa vị ngang bằng nhau và có tần số tiếp xúc thường xuyên với nhau thì có xu hướng bắt chước nhau (cá nhânbắt chước những người khác cân xứng với mức độ và tần số tiếpxúc của họ) VD bạn bè thường có xu hướng bắt chước nhau
+ người ở tầng lớp dưới thường bắt chước người ở tầng lớp cao hơn VD trẻ con bắt chước người lớn, học sinh bắt chước thầy
cô, người nông thôn bắt chước người thành thị
==> ngày nay vẫn còn giá trị: ở việc coi trọng giáo dục, coi trọng việc “làm gương” của cha mẹ, thầy cô
+ nếu có nhiều khuynh hướng, khuôn mẫu khác nhau thì con người sẽ chọn cái chiếm ưu thế hơn
Trang 13==> ngày nay vẫn còn giá trị: tác động của phương tiện truyền thông, mạng xã hội, phim ảnh đến giới trẻ
– Sigmund Freud: thuyết phân tâm học, cho rằng tồn tại năng lực tình dục thúc đẩy hành vi của con người Năng lực tình dục đó được gọi là libido, trong libido có 2 lực lượng đối chọi nhau là bảnnăng sống (eros-hướng tới hoạt động) và bản năng chết
(thanatos-hướng tới hoạt động tự hủy diệt) Ông đưa ra khái niệmbản năng, bản ngã, siêu bản ngã:
+ bản năng tượng trưng cho phần vô thức và chống đối xã hội của cá nhân
+ bản ngã tượng trưng cho cho phần ý thức và ý chí của cá nhân
+ siêu bản ngã biểu hiện cho phần giá trị văn hóa với chức năng như là lương tâm cá nhân
Theo Freud, hành vi tội phạm diễn ra khi ở 1 cá nhân, phần bản năng lấn át bản ngã trong khi siêu bản ngã hoạt động kém hiệu quả
b Thuyết xã hội quyết định
– Emile Durkkeim: thuyết rối loạn tổ chức xã hội, theo đó hành vi phạm tội không phải do các yếu tố thuộc về cá nhân mà là do cácyếu tố thuộc về môi trường, về xã hội, cụ thể là do sự rối loạn, vô
tổ chức của xã hội, do sự phân công lao động xã hội không hợp
lý Quan điểm của Emile Durkkeim:
+ tội phạm là tồn tại tất yếu của xã hội: tức là tội phạm không thể biến mất, chỉ có thể hạn chế, đẩy lùi tội phạm; nếu tội phạm biến mất thì xã hội cũng tiêu vong
Trang 14+ tội phạm là thước đo cho sự phát triển của xã hội: VD trước đâychưa hề có khái niệm về “tội phạm công nghệ cao”, chỉ đến khi khoa học phát triển thì mới xuất hiện loại tội phạm này Chính về vậy quan sát tội phạm có thể đánh giá được mức độ phát triển của xã hội đó.
– Edwin Sutherland: đưa ra thuyết học lại từ xã hội, theo đó hành
vi phạm tội là do sự “học lại” hành vi của một nhóm xã hội (khác với thuyết bắt chước là sự “học hỏi” từ 1 cá nhân khác)
“Tình trạng” thường mang nghĩa tiêu cực
– Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tình hình tội phạm:
+ Tình hình tội phạm là toàn bộ thực trạng và diễn biến của tội phạm đã xảy ra trong 1 phạm vi không gian và thời gian xác định (Giáo trình Đại học Luật Hà Nội)
+ Tình hình tội phạm là trạng thái, xu thế vận động của (các) tội phạm (hoặc nhóm tội phạm, hoặc 1 loại tội phạm) đã xảy ra trong
1 đơn vị thông gian và đơn vị thời gian nhất định (GS TS Nguyễn Ngọc Hòa)
+ Tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội tiêu cực, trái PL hình
sự, mang tính giai cấp, thay đổi theo quá trình lịch sử và được thực hiện trong phạm vi không gian và thời gian nhất định
Trang 15– Đặc điểm:
+ dù theo quan điểm nào thì tình hình tội phạm đều có đặc điểm chung là xác định theo không gian và thời gian xác định, tức là đánh giá về tình hình tội phạm phải dựa trên các dữ liệu trong phạm vi và thời điểm nhất định
+ đối tượng của tình hình tội phạm luôn là tội phạm, VD tội trộm cắp, tội tham nhũng, tội phạm ma túy, …
– Chú ý: Quan niệm thứ 3 (nêu trên) hiện tại đã không còn được
sử dụng, vì quan điểm này gây ra sự nhầm lẫn giữa khái niệm tội phạm và tình hình tội phạm Cụ thể, nếu nói tình hình tội phạm cótính trái PL hình sự là không chính xác, vì trong Bộ luật hình sự không hề có khái niệm “tình hình tội phạm” (mà chỉ có các tội phạm); mặc dù tình hình tội phạm là tổng hợp của các tội phạm, nhưng nó không phải là phép cộng đơn thuần Hơn nữa việc coi
“tình hình tội phạm mang tính giai cấp” là quan điểm đồng nhất tình hình tội phạm với tội phạm, vì chỉ có tội phạm mới có tính giaicấp (tức là tội phạm ở những thời kỳ lịch sử khác nhau sẽ có sự khác nhau, VD ở thời kỳ bao cấp có tội “Làm giả tem phiếu”,
nhưng khi hết bao cấp thì tội này không còn nữa)
II Các thông số cơ bản của tình hình tội phạm
Trang 16+ hệ số tội phạm (hay Chỉ số tội phạm)
+ thông số về nạn nhân của tội phạm
a Tội phạm rõ
– Là toàn bộ số vụ và số người phạm tội đã xảy ra, đã bị phát hiện và xử lý hình sự Số liệu thống kê về tội phạm rõ ở VN thường lấy từ 2 nguồn sau:
+ số liệu thống kê của cơ quan công an, cơ quan điều tra, viện kiểm sát
+ số liệu thống kê của tòa án
b Tội phạm ẩn
Trang 17– Khái niệm: Là toàn bộ những tội phạm đã xảy ra, chưa bị phát
hiện, hoặc chưa bị xử lý về hình sự, và vì vậy không có số liệu thống kê
Tội phạm ẩn trong tình hình tội phạm được ví như phần chìm củatảng băng Thông thường, số lượng tội phạm ẩn gấp từ 6-8 lần
số lượng tội phạm rõ
– Nguyên nhân của tội phạm ẩn: có thể chia làm 4 nhóm:
+ nguyên nhân từ phía người phạm tội: người phạm tội thực hiện tội phạm bằng những thủ đoạn mới tinh vi, xảo quyệt để che dấu tội phạm VD tội phạm công nghệ cao
+ nguyên nhân từ phía nạn nhân của tội phạm: nạn nhân không khai báo do thiếu hiểu biết, do mặc cảm tâm lý (như tội hiếp
dâm), do sợ bị trả thù (bị thủ phạm đe dọa), do không tin tưởng
cơ quan chức năng có thể xử lý vụ việc (thủ phạm là người có chức quyền)
+ nguyên nhân từ phía người làm chứng: người chứng kiến
không khai báo, tố giác tội phạm Nguyên nhân do nhận thức chưa đúng đắn, ngại phiền hà, hoặc bị đe dọa
+ nguyên nhân từ phía các cơ quan bảo vệ PL: do nhận hối lộ, ý muốn che dấu tội phạm trên địa bàn mình quản lý, hoặc do tâm lý
“ngại cấp trên”, VD như xe ô tô của cấp trên gây tai nạn; hoặc vì
lý do “nhạy cảm” có sự thay đổi tội danh này bằng tội danh khác, thường thấy ở các tội chống phá chế độ bị thay đổi thành các tội khác như trốn thuế, mục đích để tránh cho nước ngoài đánh giá
về nhân quyền
Chú ý: Trên thực tế, có nhiều trường hợp tội phạm đã xảy ra, đã
bị phát hiện và xử lý hình sự, nhưng không có trong thống kê hình sự Những trường hợp này được coi là tội phạm rõ, do các nguyên nhân sau: