Hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi Trong chăn nuôi thì hiệu quả kinh tế được hiểu là việc so sánh giữa các yếu tố đầu vào và khối lượng đầu ra trong quá trình sản xuất chăn nuôi bò thịt,
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG CHĂN NUÔI
Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
1.1.1 Hiệu quả và hiệu quả kinh tế
Hiệu quả là kết quả mong muốn mà con người hướng tới, thể hiện qua năng suất trong sản xuất và lãi suất trong kinh doanh Trong lao động, hiệu quả được đánh giá qua năng suất lao động, cụ thể là thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
Hiệu quả là một khái niệm kinh tế quan trọng, tồn tại từ xã hội chiếm hữu nô lệ đến xã hội chủ nghĩa Nó thể hiện mối quan hệ giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra trong một bối cảnh nhất định Hiệu quả kinh doanh phản ánh khả năng sử dụng các yếu tố cần thiết trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu cụ thể.
Hiệu quả kinh tế được định nghĩa là mối quan hệ giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm và đầu ra hàng hóa, dịch vụ Nó có thể được đo lường theo hiện vật, gọi là hiệu quả kỹ thuật, hoặc theo chi phí, được gọi là hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả kinh tế là khái niệm phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế, thể hiện qua việc tối ưu hóa sử dụng nguồn lực kinh tế và tự nhiên để phục vụ lợi ích con người Nâng cao hiệu quả kinh tế là yêu cầu khách quan của mọi nền sản xuất xã hội, nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu vật chất và tinh thần của xã hội Mục tiêu này được đạt được khi sản xuất tạo ra kết quả hữu ích ngày càng cao, với nguồn lực nhất định tạo ra khối lượng sản phẩm lớn nhất.
Hiệu quả kinh tế là chỉ số phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một đơn vị, yêu cầu tính khách quan và trung thực dựa trên căn cứ khoa học và thực tiễn Để đánh giá hiệu quả này một cách toàn diện, cần xem xét từ nhiều góc độ khác nhau.
Kết quả mà chủ thể đạt được trong hoạt động của mình sẽ càng có lợi khi nó lớn hơn chi phí đã bỏ ra.
Hiệu quả là tiêu chí quan trọng để phân tích, đánh giá và lựa chọn các phương án hành động, và nó có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, dẫn đến sự hình thành của nhiều khái niệm đa dạng.
Hiệu quả tổng hợp là chỉ số phản ánh kết quả đạt được từ nhiều mục tiêu trong một khoảng thời gian nhất định, liên quan đến chi phí để đạt được những kết quả đó Nó bao gồm cả hiệu quả kinh tế bên trong.
Hiệu quả kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà các chủ thể thu được và chi phí cần thiết để đạt được những lợi ích đó.
* Các quan điểm về hiệu quả kinh tế
Các nhà kinh tế và thống kê có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả sản xuất kinh doanh do điều kiện lịch sử và góc độ nghiên cứu khác nhau.
Trước đây, hiệu quả được hiểu là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, cụ thể là doanh thu từ tiêu thụ hàng hóa Theo quan điểm này, hiệu quả được đo bằng tốc độ tăng trưởng của doanh thu và lợi nhuận, với kết quả sản xuất tăng lên nhờ vào việc tăng chi phí và mở rộng nguồn lực sản xuất Tuy nhiên, nếu hai doanh nghiệp có cùng kết quả sản xuất nhưng lại có mức chi phí khác nhau, thì việc coi hiệu quả sản xuất kinh doanh của chúng là như nhau là điều khó chấp nhận.
Quan điểm 2 cho rằng hiệu quả sản xuất đạt được khi không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không giảm sản xuất của loại hàng hóa khác, với nền kinh tế hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất Tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được coi là hiệu quả khi nằm trên giới hạn này, được xác định bởi giá trị tổng sản lượng tiềm năng, tức là mức cao nhất có thể đạt được dựa trên công nghệ và nhân công hiện có Hiệu quả được thể hiện qua sự so sánh giữa mức thực tế và mức tối đa về sản lượng, với tỷ lệ so sánh càng gần 1 thì càng hiệu quả Tuy nhiên, quan điểm này chỉ đề cập một phần đến các yếu tố đầu vào, mang tính lý thuyết và khó áp dụng vào thực tế.
Quan điểm 3 cho rằng hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội được xác định bởi mức độ hữu ích của sản phẩm, tức là giá trị sử dụng của nó, chứ không phải giá trị trừu tượng Mức độ thoả mãn nhu cầu phụ thuộc vào các tác dụng vật chất cụ thể Tuy nhiên, quan điểm này gặp khó khăn trong việc đo lường tính hữu ích của sản phẩm, dẫn đến việc không thể so sánh tính hữu ích giữa các sản phẩm và đánh giá hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Theo quan điểm 4, hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra Quan điểm này đánh giá tốt trình độ lợi dụng các nguồn lực trong mọi điều kiện động của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là chỉ số quan trọng phản ánh chất lượng hoạt động của họ Kết quả từ quá trình sản xuất kinh doanh thể hiện số lượng hoạt động diễn ra Do đó, khi đánh giá hoạt động của một doanh nghiệp, cần xem xét cả kết quả và hiệu quả để có cái nhìn toàn diện.
Cơ sở thực tiễn về chăn nuôi bò thịt
1.2.1 Tình hình chăn nuôi bò thịt trên thế giới
Thái Lan là một quốc gia nổi bật trong chăn nuôi bò thịt, với hơn 1,26 triệu gia súc Sản xuất thịt bò chủ yếu phục vụ cho tiêu dùng nội địa, trong đó 40% được bán vào các thị trường hiện đại và phần còn lại vào các chợ truyền thống Bò lai cho thị trường cao cấp được nuôi trong các hệ thống thâm canh, với chế độ ăn giàu năng lượng Hầu hết các nhà sản xuất thịt bò cao cấp tham gia vào các hợp tác xã hoặc đầu tư lớn vào doanh nghiệp của họ Bò được nuôi nhốt, bao gồm cả bò bản địa và bò lai, chủ yếu phục vụ cho sản xuất tại các trang trại nhỏ.
Bò thịt bản địa Lào chủ yếu thuộc giống Bos Bosus, với sản xuất động vật nhai lại chủ yếu do các nhà sản xuất quy mô nhỏ hoặc sân sau thực hiện, dẫn đến năng suất thấp Quy mô đàn gia súc ở Lào đã tăng trung bình 5% mỗi năm, hiện tại dân số gia súc đã vượt quá 1,88 triệu con, trong đó các hộ chăn nuôi nhỏ chiếm 98% sản lượng.
Vào năm 2016, Lào có 170 trang trại gia súc thương mại, trong đó 56% nằm ở khu vực miền Trung Mặc dù sản lượng thịt động vật nhai lại tăng lên với mức tiêu thụ đạt 7,29 kg/người/năm vào năm 2017, nhưng vẫn không đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước Các sản phẩm phụ nông nghiệp như rơm rạ, bột sắn và ngũ cốc từ các nhà sản xuất bia ướt được sử dụng làm thức ăn cho gia súc, cung cấp năng lượng và protein Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc sẽ kết nối nước này với các quốc gia Đông Nam Á, làm cho Lào trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nhờ vào giao thông thuận tiện và chi phí thấp hơn.
Indonesia là một nền kinh tế mới nổi với dân số tăng nhanh, dẫn đến nhu cầu cao về thực phẩm động vật, đặc biệt là thịt đỏ, nguồn thực phẩm truyền thống Hiện tại, dân số gia súc ở Indonesia khoảng 15,4 triệu, trong đó 43% tập trung ở đảo Java Tiêu thụ thịt trung bình đạt 2,72 kg/người/năm, dự kiến tăng lên 3,36 kg/người vào năm 2020 Java chiếm 57% sản lượng và tiêu thụ thịt bò của cả nước 90% sản xuất gia súc đến từ các hệ thống chăn nuôi nhỏ, với khoảng 6,5 triệu nông dân nông thôn, trong khi 10% còn lại đến từ các nông dân thương mại và công ty lớn Sản xuất trong nước chỉ đáp ứng khoảng 45% nhu cầu thịt bò, buộc chính phủ phải nhập khẩu thịt và thức ăn chăn nuôi, chủ yếu từ Úc, điều này đã trở thành mối quan tâm lớn đối với người dân.
Indonesia Do đó, chính phủ Indonesia đã phát triển một chương trình từ năm
Chương trình tự cung cấp thịt với mục tiêu 2000 vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thịt bò ngày càng tăng Cần có những nỗ lực nghiêm túc hơn để thu hẹp khoảng cách giữa cung và cầu thịt bò tại địa phương.
Indonesia đang phải đối mặt với sự phụ thuộc cao vào nhập khẩu thịt, đặc biệt là từ Úc, điều này đã trở thành mối quan tâm lớn của công dân Kể từ năm 2000, chính phủ Indonesia đã triển khai một chương trình nhằm tự cung cấp thịt Tuy nhiên, chương trình này vẫn chưa đạt hiệu quả trong việc đáp ứng nhu cầu thịt bò ngày càng tăng, và cần có những nỗ lực nghiêm túc hơn để thu hẹp khoảng cách giữa cung và cầu thịt bò trong nước.
1.2.1.4 Xếp hạng các quốc gia Sản xuất thịt bò thế giới
Hoa Kỳ là quốc gia sản xuất thịt bò lớn nhất thế giới, theo sau là Brazil và Liên minh châu Âu Cả ba khu vực này cùng nhau chiếm khoảng 47% tổng sản lượng thịt bò toàn cầu.
+ Hoa Kỳ sản xuất gần 20% thịt bò của thế giới
+ Brazil sản xuất 15% thịt bò của thế giới
+ Liên minh châu Âu sản xuất gần 13% thịt bò của thế giới
Bảng 1.2 Xếp hạng các quốc gia sản xuất thịt bò trên thế giới năm 2017
Xếp hạng Quốc gia Năm 2017 % So với thế giới
Nguồn: https://beef2live.com
1.2.2 Tình hình chăn nuôi bò thịt tại Việt Nam
Chăn nuôi tại Việt Nam đã phát triển tốt trong những năm qua nhờ áp dụng nhiều kỹ thuật mới về giống, thiết bị và công nghệ Tái cơ cấu chăn nuôi bao gồm bốn nội dung chính: theo vùng chăn nuôi, vật nuôi, phương thức sản xuất và chuỗi giá trị Hiện Việt Nam có gần 6 triệu con bò, trong đó có hơn 300 nghìn con bò sữa, với sản lượng thịt bò ước đạt trên 320 nghìn tấn trong 10 tháng đầu năm 2018, tăng 4,2% so với năm trước Tuy nhiên, thị phần thịt bò chỉ chiếm dưới 10% tổng sản lượng thịt, trong khi trên thế giới, thịt bò chiếm 30-40% Do đó, Việt Nam đặt mục tiêu tăng sản lượng thịt bò để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng Bộ NN&PTNT đã đề ra mục tiêu nâng tỷ lệ giống bò lai từ 47,6% năm 2013 lên 70% vào năm 2020, đồng thời nhập khẩu nhiều giống bò có năng suất cao như bò Brahman, Charolais, Simmental và Limousin để cải thiện chất lượng đàn bò thịt.
Trong những năm gần đây, chăn nuôi bò, đặc biệt là bò thịt, đã có những tiến bộ đáng kể về số lượng và chất lượng Tuy nhiên, sản lượng thịt bò trong nước vẫn không đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng của người tiêu dùng Kể từ năm 2014, Việt Nam đã phải chi hàng triệu đô la mỗi năm để nhập khẩu bò thịt và bò sống nhằm bù đắp sự thiếu hụt Do đó, việc phát triển chăn nuôi bò là cần thiết để tạo việc làm, tăng thu nhập cho người chăn nuôi và cung cấp thịt bò chất lượng cao cho thị trường nội địa.
Chăn nuôi bò thịt tại Việt Nam đã có sự phát triển liên tục trong những năm qua, với số lượng bò thịt tăng từ 4,87 triệu con năm 2013 lên 5,35 triệu con năm 2017 Trong 10 tháng đầu năm 2018, đàn bò thịt tiếp tục tăng 2% so với năm 2017 Sản lượng thịt bò cũng tăng từ 285,4 nghìn tấn năm 2013 lên 321,67 nghìn tấn năm 2017, với tốc độ tăng trưởng bình quân 2,54% mỗi năm Hiện tại, vùng Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung là nơi tập trung nhiều nhất đàn bò thịt, chiếm 41,62% tổng đàn bò thịt của cả nước.
Trong 10 năm qua, chăn nuôi bò thịt ở Việt Nam đã chuyển mình từ các giống bò nội như bò Vàng, bò U đầu rìu, bò Mông sang việc nhập khẩu nhiều giống bò thịt ngoại như Red Sindhi, Sahiwal, Brahman, Limousine, Charolaise, Droughmaster, Red Angus, BBB và Senepol Những giống bò ngoại này được sử dụng chủ yếu để sản xuất tinh đông lạnh phục vụ cho thụ tinh nhân tạo, nhằm cải tạo đàn bò Việt Nam Do điều kiện kinh tế hạn chế, việc cải tạo đàn bò chủ yếu thông qua phối giống giữa bò ngoại và bò nội để tạo ra bò lai Kết quả là tỷ lệ bò thịt lai trong tổng đàn bò nước ta đã tăng liên tục, từ 47,61% năm 2013 lên 60,05% năm 2017.
Giải pháp quan trọng cho phát triển chăn nuôi bò thịt tại Việt Nam là cải tạo giống bò Viện Chăn nuôi đã nhập khẩu nhiều giống bò thịt chất lượng cao như Brahman, Senepol, Red Angus từ Hoa Kỳ, Australia và bò BBB từ Bỉ Trong số đó, bò Brahman được xem là giống phù hợp nhất với điều kiện chăn nuôi tại Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong phát triển ngành bò thịt Từ 2013-2018, các doanh nghiệp đã nhập từ 150-350 nghìn con bò giống Brahman ra thị trường Gần đây, Viện Chăn nuôi cũng đã nhập khẩu số lượng lớn tinh đông lạnh của giống bò Brahman để phục vụ cho công tác cải tạo giống bò thịt trong nước.
Giữa năm 2016 và 2018, Bộ NN&PTNT đã sử dụng ngân sách nhà nước để nhập 20 con bò đực Brahman từ Mỹ về nuôi tại Trung tâm bò giống Moncada (Ba Vì) Từ nguồn giống quý giá này, hàng năm, Viện Chăn nuôi và các đơn vị nhập khẩu đã sản xuất hàng trăm nghìn liều tinh bò Brahman đông lạnh chất lượng cao phục vụ cho công tác thụ tinh nhân tạo và cải tạo đàn bò ở các địa phương trên toàn quốc.
Bảng 1.3 Số lƣợng bò của Việt Nam giai đoạn 2013 – 2018 Địa phương
Miền núi và Trung du phía Bắc
Bắc Trung Bộ & Duyên hải miền trung
– % 88,55 92,41 94,98 95,76 96,82 97,64 Đồng Bằng Sông Cửu Long
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2018 1.2.3 Bài học kinh nghiệm về chăn nuôi bò thịt cho Công ty Cổ phần T&T 159
Bò thịt cần được chăn thả nhiều để tăng cường vận động, giảm chi phí thức ăn và nâng cao tỷ lệ đậu thai nhờ vào thời gian tiếp xúc với đàn Tuy nhiên, trong giai đoạn vỗ béo, bò cần được nuôi nhốt để tối ưu hóa việc tạo thịt.
- Đảm bảo tính ổn định của thức ăn, đặc biệt là thức ăn
Số lượng thức ăn thô xanh và diện tích trồng đồng cỏ là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả chăn nuôi bò thịt Khi xây dựng đồng cỏ chăn thả, cần để lại hoặc trồng cây bóng mát theo hàng hoặc cụm để bò có chỗ nghỉ ngơi và tránh nắng.
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33 2.1 Khái quát về Công ty cổ phần T&T 159
Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty cổ phần T&T 159
Thành lập năm 2012 theo giấy phép đăng ký kinh doanh do Sở Kế hoạch và đầu tƣ Thành phố Hà Nội cấp ngày 31/05/2012
Công ty cổ phần T&T 159 tiền thân là Công ty cổ phần chăn nuôi T&T
Dự án "Khu liên hợp trồng trọt, chăn nuôi, sản xuất thực phẩm theo cơ chế phát triển sạch" có diện tích 150 ha, nhằm đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp kết hợp trồng trọt và chăn nuôi.
Trong giai đoạn 2012 – 2015, doanh nghiệp đã mở rộng đầu tư vào các dự án tại Hòa Bình, Nghệ An và Hà Nội, với các dự án hiện đang được tổ chức sản xuất kinh doanh Năm 2016 – 2017, doanh nghiệp triển khai thủ tục đầu tư cho các dự án như: dự án "Đầu tư trang trại lõi và phát triển vùng liên kết sản xuất bò vỗ béo nuôi lấy thịt" với diện tích khoảng 60 ha; dự án "Sản xuất phân hữu cơ và phân bón khác" với công suất 50.000 tấn; và dự án "Làng nông nghiệp công nghệ cao kết hợp du lịch sinh thái" trên diện tích 35 ha.
Bảng 2.1 Tài sản và nguồn vốn của Công ty giai đoạn 2016 – 2018 Đơn vị tính: VNĐ
Chỉ tiêu Mã số Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018
1 Tiền và các khoản tương đường tiền 110 4.530.357.532 7.459.103.270 1.654.878.429
2 Các khoản phải thu ngắn hạn 130 128.868.581.082 116.932.265.344 133.269.503.762
4 Tài sản ngắn hạn khác 150 1.429.423.540 885.989.393 4.476.551.267
2 Tài sản dở dang dài hạn 240 8.158.744.646 87.869.515.265 154.577.445.413
3 Đầu tƣ tài chính dài hạn 250 19.960.000.000 32.691.000.000 32.485.000.000
4 Tài sản dài hạn khác 260 619.511.729 266.441.119 65.407.172
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty 3 năm 2016, 2017, 2018)
Tài sản của Công ty đã tăng đột biến từ 384.116.185.663 đồng năm 2016 lên 523.914.526.166 đồng năm 2018, với mức tăng 139.798.340.503 đồng Sự gia tăng này chủ yếu đến từ tài sản dài hạn, đặc biệt là tài sản dở dang dài hạn, từ 8.158.744.646 đồng năm 2016 lên 154.577.445.413 đồng năm 2018 Nguyên nhân chính của sự gia tăng này là do nhiều dự án lớn được triển khai đầu tư trong năm 2017 và 2018, bao gồm trang trại giáo dục, dây chuyền sản xuất phân hữu cơ và trại bò cao sản.
Công ty cổ phần T&T 159, thành lập năm 2012 với vốn điều lệ 100 tỷ đồng, đã tăng vốn lên 300 tỷ đồng vào năm 2016 Từ đó, nguồn vốn chủ sở hữu của công ty liên tục gia tăng, đạt 318.270.160.450 đồng vào năm 2018, tăng 8.209.133.470 đồng so với năm trước Tuy nhiên, nợ phải trả của công ty cũng tăng đáng kể, với mức tăng 74.251.911.753 đồng so với năm 2017, chủ yếu do các khoản vay ngân hàng.
Kể từ năm 2019, các Công ty thành viên đã triển khai kế hoạch sản xuất kinh doanh bằng cách vận hành các khu trang trại "lõi" nhằm tăng cường sản phẩm nông nghiệp hữu cơ, với triết lý "Vì chất lượng cuộc sống".
Công ty cổ phần T&T 159 đóng vai trò là Công ty mẹ cho các công ty thành viên trong toàn hệ thống, với mức đầu tư được ghi nhận qua các năm như sau:
Bảng 2.2 Đầu tƣ vốn vào các đơn vị khác Đơn vị tính: VNĐ
Tên đơn vị Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018
1 Công ty cổ phần Thực phẩm
2 Công ty cổ phần Thức ăn chăn nuôi T&T 159 4.885.000.000 4.985.000.000 4.985.000.000
3 Công ty cổ phần Giống cây trồng T&T159 830.000.000 996.000.000 1.500.000.000
4 Công ty cổ phần Chăn nuôi
5 Công ty cổ phần Giống và Thức ăn chăn nuôi (Yên Mông) 2.445.000 000 6.000.000.000 6.000.000.000
6 Công ty cổ phần Giống và Dịch vụ vật tƣ nông nghiệp Thái Hòa 1.000.000.000 2.710.000.000 1.000.000.000
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty 3 năm 2016, 2017, 2018)
Trong giai đoạn 2016 – 2018, công ty đã đầu tư vào các công ty con nhằm mở rộng quy mô sản xuất với các mức đầu tư khác nhau.
Công ty đã đầu tƣ dự án ―Khu liên hợp trồng trọt, chăn nuôi, sản xuất thực phẩm T&T 159 theo cơ chế phát triển sạch‖ khoảng 150 ha tại Thung
Cả Xã Sủ Ngòi Thành phố Hòa Bình Dự án đã hoàn thành đầu tƣ giai đoạn
1 và đã hoạt động chăn nuôi và trồng trọt với tổng vốn đầu tƣ năm 2018 là 12.000.000.000 đồng
Công ty đã đầu tư vào dự án "Khu liên hợp sản xuất thức ăn chăn nuôi từ phế phụ phẩm nông nghiệp và trại bò giống chất lượng cao" với diện tích khoảng 20 ha tại Thôn Mỵ, Xã Yên Mông, Thành phố Hòa Bình Dự án đã hoàn thành giai đoạn 1 và đi vào hoạt động, với tổng vốn đầu tư lên tới 6.000.000.000 đồng vào năm 2018.
Công ty tiếp tục đầu tư vào dự án "Đầu tư trang trại lõi" với diện tích khoảng 20 ha tại Xã Tân Mỹ, Huyện Lạc Sơn, Tỉnh Hòa Bình Dự án này nhằm phát triển vùng liên kết sản xuất bò giống cao sản và bò nuôi lấy thịt Giai đoạn 1 của dự án đã đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư 6.000.000.000 đồng vào năm 2018.
Công ty đã đầu tư khoảng 10 ha tại Xã Đông Hiếu, Thị xã Thái Hòa, Tỉnh Nghệ An Dự án hiện đã đi vào hoạt động giai đoạn 1 với tổng vốn đầu tư đáng kể.
Công ty đã đầu tư vào dự án "Xử lý rơm rạ và phế phụ phẩm nông nghiệp sau thu hoạch làm thức ăn chăn nuôi" trên diện tích khoảng 3 ha tại xã Canh Nậu, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội Dự án đã hoàn thành giai đoạn 1 và hiện đang hoạt động với tổng vốn đầu tư lên tới 4.985.000.000 đồng vào năm 2018.
Công ty đã đầu tư 1.500.000.000 đồng vào Công ty Giống cây trồng vào năm 2018 nhằm phát triển các loại cây trồng phục vụ cho chăn nuôi bò thịt.
Cơ cấu tổ chức
Công ty đã áp dụng mô hình quản lý trực tuyến với chức năng ở hai cấp độ: công ty và cơ sở Cấu trúc này giúp phát huy tối đa ưu điểm và khắc phục nhược điểm của cả hai loại hình trực tuyến và chức năng Nhờ vào bộ máy linh hoạt, ít trung gian và chỉ đạo tập trung, công ty đạt được sự chuyên môn hóa theo nghiệp vụ, từ đó nâng cao hiệu quả trong quản lý và điều hành mọi hoạt động.
Hình 2.1 Mô hình tổ chức quản lý của công ty ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
GIÁM ĐỐC BAN KIỂM SOÁT
Trực thuộc công ty hiện nay gồm: 9 công ty con là: Công ty Cổ phần Thức ăn chăn nuôi T&T 159, Công ty Cổ phần Thực phẩm T&T 159, Công ty
Cổ phần Dịch vụ và Vật tư nông nghiệp 159, cùng với các công ty con như Công ty Cổ phần T&T 159 Lạc Sơn, Công ty Cổ phần Giống và thức ăn chăn nuôi T&T 159 Hòa Bình, và Công ty Cổ phần T&T 159 Phú Thọ, cùng các chi nhánh tại Nghệ An và Hòa Bình, cũng như Công ty TNHH Đầu tư Giống và Vật tư nông nghiệp Tây Hà Nội, đều đóng góp vào sự phát triển của ngành nông nghiệp tại Việt Nam.
- Trang trại Thái Hòa thuộc Công ty cổ phần giống và vật tƣ nông nghiệp Thái Hòa
- Trang trại Lạc Sơn thuộc Công ty cổ phần chăn nuôi T&T 159 Lạc Sơn
- Trang trại Yên Mông thuộc Công ty cổ phần giống và thức ăn chăn nuôi T&T 159 Hòa Bình
Công tác quản lý là yếu tố then chốt để duy trì hoạt động của doanh nghiệp, đảm bảo giám sát hiệu quả tình hình sản xuất kinh doanh Tại Công ty T&T 159, bộ máy quản lý bao gồm đội ngũ cán bộ có năng lực, đóng vai trò chủ chốt trong việc điều hành các hoạt động một cách năng động và hiệu quả.
Mỗi bộ phận trong bộ máy quản lý đều có chức năng và nhiệm vụ riêng, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý doanh nghiệp Ban giám đốc đề ra kế hoạch và chiến lược phát triển, trong khi các bộ phận kỹ thuật, kinh doanh và các công ty con thực hiện các hợp đồng với tiêu chuẩn chất lượng Bộ phận kế toán chịu trách nhiệm thu chi, tổng hợp doanh thu và chi phí, từ đó báo cáo lên ban giám đốc để điều chỉnh nhằm tối ưu hóa lợi nhuận Mỗi khâu trong chu trình này đều cần thiết, và tất cả các bộ phận cùng nhau phát huy khả năng vì mục tiêu chung là sự phát triển bền vững của công ty.
Trình độ lao động của công ty hiện tại còn thấp, với chỉ 8.61% lao động có trình độ đại học và cao đẳng, trong khi 57.78% lao động chưa qua đào tạo Do đặc điểm chăn nuôi bò không quá phức tạp, phần lớn lao động trong công ty là lao động phổ thông.
Bảng 2.3: Trình độ lao động tại Công ty năm 2018 Chỉ tiêu
Tỷ lệ Lao động % thường xuyên
Nguồn: Bộ phận nhân sự của Công ty, 2018
Công ty hiện có 225 lao động thường xuyên, 98 lao động thời vụ và 37 lao động thuê ngoài Đối với lao động thời vụ và lao động thuê ngoài, đa số có trình độ thấp và chưa qua đào tạo, việc thuê này giúp công ty tiết kiệm chi phí công lao động.
Đặc điểm lao động có trình độ thấp gây khó khăn trong việc tiếp nhận kỹ thuật chăn nuôi bò thịt từ các chương trình dự án Thêm vào đó, lao động thời vụ và thuê ngoài chiếm 1/3 tổng số lao động, ảnh hưởng đáng kể đến quá trình chăm sóc bò tại Công ty.
2.1.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty đƣợc tổng hợp ở bảng 2.4
Bảng 2.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Đơn vị tính: VNĐ
Chỉ tiêu Mã số Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018
1 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 01 157.390.952.964 226.942.873.455 321.687.181.750
2 Các khoản giảm trừ doanh thu 02 - - -
3 Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ (10-02)
5 Lọi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dich vụ
6 Doanh thu hoạt động tài chính 21 8.472.675 4.240.650 20.808.381
- Trong đó: Chi phí lãi vay 23 5.029.844.885 6.512.216.690 9.003.351.815
9 Chi phí quản lý doanh nghiệp 26 1.878.831.638 2.236.347.481 3.147.345.022
10 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh {30
14 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế (500
15 Chi phí thuế TNDN hiện hành 51 1.232.524.895 2.407.731.850 3.927.283.368
16 Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty 3 năm 2016, 2017, 2018)
Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong giai đoạn 2016 – 2018 cho thấy sự ổn định và phát triển mạnh mẽ, với lợi nhuận sau thuế tăng đáng kể Cụ thể, lợi nhuận sau thuế năm 2016 đạt 6.252.988.828 đồng, tăng lên 15.709.133.470 đồng vào năm 2018, tương ứng với mức tăng 9.456.144.642 đồng.
2.1.4 Quy mô sản xuất kinh doanh của 3 trang trại
Công ty chuyên sản xuất và kinh doanh vỗ béo đàn gia súc, với đội ngũ kỹ sư, cử nhân và kỹ thuật viên lành nghề luôn nhiệt huyết và sáng tạo Phương pháp chăn nuôi chủ yếu sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp để tạo ra sản phẩm Quá trình chăn nuôi bò vỗ béo của công ty được thực hiện tại 3 trạng trại khác nhau.
Bảng 2.5 Quy mô sản xuất kinh doanh của 3 trang trại năm 2018
TT Chỉ tiêu Đơn vị tính
- Giống bò lai sind Con 157 62 189
3 Số lượng lao động Người 56 55 58
Nguồn: Công ty Cổ phần T&T 159, năm 2018
Quy mô chăn nuôi bò tại 3 trang trại có sự khác nhau:
Tại 2 trang trại Yên Mông và Lạc Sơn bò ở đây đƣợc chăn nuôi theo phương pháp hiện đại với diện tích là 20ha Trong đó, trang trại Yên Mông tập trung chủ yếu nuôi bò Brahman 1114 con Trang trại Lạc Sơn chủ yếu nuôi bò 3B với số lƣợng 617 con
Tại trang trại Thái Hòa, bò được chăn thả theo phương pháp bán truyền thống trên diện tích 22 ha, với tổng số lượng 1.040 con Giống bò chủ yếu được nuôi tại đây là bò Brahman, chiếm 689 con Ngoài ra, trang trại cũng thực hiện chăn nuôi thử nghiệm một số giống khác như giống 3B.
Hình 2.2 Biểu đồ Tỷ lệ các giống bò của Công ty qua các năm 2016-2018
Từ năm 2016 đến 2018, công ty chủ yếu nuôi giống bò ngoại, đặc biệt là giống Brahman, chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp theo là giống bò 3B Giống bò vàng, giống thuần chủng của Việt Nam, có tỷ lệ nuôi thấp hơn Theo ý kiến của cán bộ nhân viên, giống bò vàng phát triển và tăng trưởng chậm hơn so với các giống bò nhập ngoại.
Tại 3 trang trại số lượng lao động thường xuyên dao động từ 10-11 lao động Số lao động thuê ngoài chiếm số lƣợng lơn hơn dao động từ 45 – 48 lao động
2.1.5 Nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của 3 trang trại
Dựa trên kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty mẹ, nhu cầu về vốn của ba trang trại sẽ khác nhau tùy thuộc vào thực tế của từng trang trại.
Bảng 2.6: Nhu cầu vốn của 3 trang trại năm 2018 Đơn vị tính: VNĐ
Yên Mông Lạc Sơn Thái Hòa Tổng
2.Vốn xây dựng mở rộng quy mô sản xuất 1.500.000.000 1.300.000.000 1.500.000.000 3.127.000.000 7,11%
Nguồn: Bộ phận kế toán của Công ty, 2018
Nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh vỗ béo bò thịt của công ty lên tới 43.995.000.000 đồng, trong đó 50,92% (22.401.000.000 đồng) dành cho việc mua con giống và 41,98% cho thức ăn Tuy nhiên, công ty mẹ chỉ đầu tư 13.000.000.000 đồng vào 3 trang trại, chiếm 29,55% tổng nhu cầu, trong khi các đơn vị thành viên phải tự chủ nguồn vốn Sự thiếu hụt nguồn vốn là thách thức không chỉ của các đơn vị thành viên mà còn của công ty mẹ.
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Công ty Cổ phần T&T 159 là đơn vị tiên phong trong việc ứng dụng khoa học công nghệ vào ngành chăn nuôi đại gia súc tại miền Bắc, với 9 công ty thành viên và chi nhánh tại Hà Nội, Hòa Bình, Phú Thọ và Nghệ An Tuy nhiên, hoạt động chăn nuôi vỗ béo bò thịt chủ yếu chỉ diễn ra tại một số khu vực nhất định.
3 trang trại, đó là: Trang trại Yên Mông (Yên Mông, Hòa Bình), Trang trại Lạc Sơn (Lạc Sơn, Hòa Bình) và Trang trại Thái Hòa (Thái Hòa, Nghệ An)
Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Công ty Cổ phần T&T 159 là đơn vị tiên phong trong việc ứng dụng khoa học công nghệ vào ngành chăn nuôi đại gia súc tại miền Bắc Công ty có 9 công ty thành viên và chi nhánh tại Hà Nội, Hòa Bình, Phú Thọ và Nghệ An, tuy nhiên, hoạt động chăn nuôi vỗ béo bò thịt chỉ diễn ra tại một số khu vực nhất định.
3 trang trại, đó là: Trang trại Yên Mông (Yên Mông, Hòa Bình), Trang trại Lạc Sơn (Lạc Sơn, Hòa Bình) và Trang trại Thái Hòa (Thái Hòa, Nghệ An)
Mỗi trang trại là một mô hình thử nghiệm cho các phương pháp chăn nuôi khác nhau Trang trại Thái Hòa ở Nghệ An có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho giống bò Braman, áp dụng phương pháp chăn nuôi bò thịt bán truyền thống Trong khi đó, trang trại Yên Mông và Lạc Sơn tại Hòa Bình sử dụng công nghệ hiện đại trong chăn nuôi bò, nhưng định mức thức ăn lại khác nhau do giống bò tại hai trang trại này không giống nhau.
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, chúng tôi đã lựa chọn các trang trại đại diện cho công ty phát triển kinh tế và tiêu chí hiệu quả sản xuất trong chăn nuôi bò thịt Dựa trên quy mô và phương pháp chăn nuôi, nghiên cứu sẽ tập trung vào 3 trang trại cụ thể, dưới sự tư vấn của cán bộ và lao động trực tiếp tại Công ty.
Phương pháp thu thập số liệu
2.2.2.1.Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp Đây là những số liệu đã công bố, đảm bảo tính đại diện và khách quan của đề tài nghiên cứu Những số liệu này mang tính tổng quát, giúp cho người nghiên cứu có bước đầu hình dung được nghề chăn nuôi bò thịt Các thông tin thu thập cụ thể nhƣ sau:
- Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
- Số lƣợng bò thịt của Công ty qua 3 năm
- Các hình thức chăn nuôi bò thịt
- Kỹ thuật chăn nuôi bò thịt
- Các báo cáo tài chính về lĩnh vực chăn nuôi bò thịt của Công ty Cổ phần T&T 159 các năm 2016, 2017, 2018
- Các tài liệu, sách báo, tạp chí có bài viết liên quan đến công tác chăn nuôi đại gia súc…
2.2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Thu thập thông tin từ các trang trại chăn nuôi bò thịt của Công ty thông qua phương pháp điều tra truyền thống và khảo sát thực địa trực tiếp.
+ Những thuận lợi khó khăn của các trang trại chăn nuôi bò thịt của Công ty
+ Những mong muốn, kiến nghị của các trang trại chăn nuôi bò thịt của Công ty
+ 120 phiếu đƣợc sử dụng trong quá trình điều tra tại 3 trạng trại chăn nuôi bò thịt của Công ty Cụ thể nhƣ sau:
Bảng 2.7 Phân bố mẫu điều tra của điểm nghiên cứu
Cán bộ Người lao động trực tiếp Tổng số
Mẫu nghiên cứu bao gồm cán bộ phòng ban chức năng, cán bộ kỹ thuật và người lao động trực tiếp trong chăn nuôi bò thịt Mẫu điều tra được chọn ngẫu nhiên, nhưng dựa vào chuyên môn công việc liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
2.2.3.1 Phương pháp xử lý số liệu
Sau khi thu thập, số liệu được tổng hợp và xử lý để loại trừ những thông tin không đáng tin cậy Tiếp theo, công cụ phân tổ thống kê được sử dụng để phân loại và sắp xếp tài liệu, phục vụ cho việc phân tích bằng phần mềm Excel.
2.2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu
* Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp phân tích thống kê mô tả là một kỹ thuật cơ bản trong việc phân tích số liệu, sử dụng các chỉ tiêu như số tuyệt đối, số tương đối và số bình quân Phương pháp này cho phép so sánh giữa các nhóm để ước lượng mức độ của hiện tượng, bao gồm quy mô, cơ cấu và năng suất sản phẩm Đồng thời, nó cũng giúp phân tích tình hình biến động của hiện tượng và mối quan hệ giữa các yếu tố liên quan.
* Phương pháp thống kê so sánh
Phương pháp này sử dụng số tương đối và tuyệt đối để đánh giá tình hình hoạt động chung của trang trại tại Công ty Cổ phần T&T 159
Phương pháp so sánh là phương pháp xem xét một chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh với một chỉ tiêu cơ sở
+ Số tuyệt đối: là hiệu số của hai chỉ tiêu: chỉ tiêu kỳ phân tích và chỉ tiêu kỳ cơ sở
Số tương đối là tỷ lệ phần trăm giữa chỉ tiêu trong kỳ phân tích và chỉ tiêu gốc, giúp đánh giá mức độ hoàn thành Nó cũng thể hiện tỷ lệ của số chênh lệch tuyệt đối so với chỉ tiêu gốc, từ đó phản ánh tốc độ tăng trưởng.
Luận văn sẽ dựa trên tài liệu và nghiên cứu của các chuyên gia về hiệu quả chăn nuôi bò thịt, đồng thời thực hiện phỏng vấn và thu thập ý kiến trực tiếp từ các chuyên gia để đảm bảo tính đa chiều cho nghiên cứu.
2.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
2.2.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh tế Để đánh giá hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò thịt sử dụng các tiêu chí sau:
Giá trị sản xuất (GO) là tổng giá trị của sản phẩm vật chất và dịch vụ do hoạt động chăn nuôi tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm Đối với chăn nuôi bò thịt, giá trị sản xuất trong năm là tổng sản phẩm từ việc nuôi bò thịt trong năm đó Công thức tính giá trị sản xuất là GO = P*Q.
Trong đó: P là giá bán mỗi kg bò thịt
Q là số lƣợng bò thịt đƣợc bán ra Giá trị sản xuất càng cao càng tốt
- Giá trị gia tăng (VA): Là toàn bộ kết quả cuối cùng của hoạt động chăn nuôi trong một thời kỳ (1 năm) Công thức tính: VA = GO - IC
Giá trị gia tăng càng cao càng tốt
Trong đó IC là chi phí trung gian, bao gồm:
Chi phí vật chất trong chăn nuôi bao gồm giống, thức ăn, lao động, chi phí phòng và chữa bệnh, sửa chữa chuồng hàng năm, cùng với các công cụ dụng cụ như xẻng, chổi dọn chuồng, và các dụng cụ trồng và cắt cỏ, cũng như một số chi phí khác.
Chi phí dịch vụ bao gồm các khoản như dịch vụ thú y, đào tạo kỹ thuật, nghiên cứu, thử nghiệm, và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, cùng với những chi phí dịch vụ khác.
- Tổng chi phí (TC): Là toàn bộ chi phí đƣợc đƣa vào sản xuất Công thức tính: TC = IC + C1 + T
Trong đó: TC là tổng chi phí
IC là chi phí trung gian C1 là khấu hao tài sản cố định
T Lãi vay vốn Tổng chi phí càng nhỏ càng tốt
Thu nhập hỗn hợp (MI) là một phần của giá trị gia tăng, được tính sau khi trừ đi thuế nông nghiệp và khấu hao tài sản cố định Thành phần này phản ánh thu nhập thuần túy, bao gồm công lao động của nông hộ Công thức tính thu nhập hỗn hợp rất quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động nông nghiệp.
MI = VA - C1 – T Trong đó: MI là thu nhập hỗn hợp
VA là giá trị gia tăng C1 là khấu hao tài sản cố định
T là lãi vay vốn Thu nhập hỗn hợp càng cao càng tốt
2.2.4.2 Xác định hiệu quả kinh tế
(1) Hiệu quả tính trên một đồng chi phí trung gian
* Tỷ suất giá trị sản xuất theo chi phí trung gian (TGO):
TGO là tỷ số giữa giá trị sản xuất thu đƣợc và chi phí trung gian tiêu tốn của quá trình sản xuất đó Công thức tính:
T GO là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh dựa trên chi phí Chỉ tiêu này cho thấy mỗi đồng chi phí trung gian sẽ mang lại bao nhiêu đồng giá trị sản phẩm Nếu T GO càng lớn, hiệu quả kinh tế của sản xuất càng cao Tuy nhiên, chỉ tiêu này chưa làm rõ chất lượng đầu tư.
Tỷ suất giá trị gia tăng theo chi phí trung gian (TVA) là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng đầu tư trong sản xuất kinh doanh, được tính toán theo một công thức cụ thể.
Chỉ tiêu T VA cho thấy hiệu quả đầu tư trong sản xuất kinh doanh, phản ánh số đồng giá trị gia tăng (GTGT) thu được từ mỗi đồng chi phí trung gian Khi T VA càng lớn, điều này chứng tỏ sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao hơn.
* Tỷ suất thu nhập hỗn hợp theo chi phí trung gian (TMI):
TGPr là chỉ tiêu phản ánh chất lƣợng đầu tƣ trong sản xuất kinh doanh
TGPr đƣợc tính nhƣ sau:
Chỉ tiêu này cho biết mỗi 1 đồng chi phí trung gian sẽ mang lại bao nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp Phương pháp tính toán được thực hiện tương tự như các phương pháp tính toán khác.
TVA và việc tính toán T MI thường được thực hiện theo từng loại sản phẩm, bao gồm cả chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí phân bổ và thuế Do đó, chỉ tiêu này có thể được xem là cơ sở tham khảo quan trọng cho các quyết định sản xuất kinh doanh.
(2) Hiệu quả tính trên một đồng chi phí sản xuất
* Tỷ suất giá trị sản xuất theo tổng chi phí (TSGO):
TSGO là tỷ số giữa giá trị sản xuất thu đƣợc và tổng chi phí của quá trình sản xuất Công thức tính:
Chỉ số TS GO (Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí) là một tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh từ góc độ chi phí Chỉ số này cho thấy mỗi đồng chi phí đầu tư sẽ mang lại bao nhiêu đồng giá trị sản phẩm Càng có giá trị TS GO lớn, hiệu quả kinh tế trong sản xuất càng cao Tuy nhiên, chỉ số này vẫn chưa phản ánh được chất lượng của đầu tư.
Tỷ suất giá trị gia tăng theo tổng chi phí (TSVA) là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng đầu tư trong sản xuất kinh doanh TSVA được tính toán dựa trên công thức cụ thể, giúp phản ánh hiệu quả sử dụng nguồn lực trong quá trình sản xuất.