BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH TRẦN THỊ MINH TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ CHỈ SỐ SINH HỌC CỦA NỮ SINH DÂN TỘC THÁI TẠI BA TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THUỘ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
TRẦN THỊ MINH
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ CHỈ SỐ SINH HỌC CỦA NỮ SINH DÂN TỘC THÁI TẠI BA TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THUỘC HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng thành kính, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo, Phòng Quản lý Đào tạo Sau Đại học, Khoa Y tế công cộng Trường Đại học Y Dược Thái Bình và các thầy giáo, cô giáo trong Trường đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Khánh Thu và TS Nguyễn Thế Điệp là những người thầy cô đã tận tình hướng dẫn, động viên và hỗ trợ cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô bộ môn Dinh dưỡng khoa Y tế công cộng đã nhiệt tình chỉ bảo về chuyên môn, hỗ trợ tôi về phương pháp nghiên cứu, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Trường Đại học Tây Bắc, ban Lãnh đạo của ba trường Trung học cơ sở cùng quý đồng nghiệp đã nhiệt tình tham gia giúp đỡ tôi thu thập số liệu điều tra thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn những bậc phụ huynh, các em học sinh đã đồng
ý tham gia công trình nghiên cứu này
Một phần không nhỏ của thành công luận văn là nhờ sự giúp đỡ động viên của người thân trong gia đình, bạn bè, anh chị em lớp Cao học dinh dưỡng K5
đã luôn động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Xin gửi đến tất cả mọi người lòng biết ơn sâu sắc./
Thái Bình, ngày…….tháng… năm 2021
Tác giả
Trần Thị Minh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Trần Khánh Thu và TS Nguyễn Thế Điệp trên cơ sở nghiên cứu đánh giá tình trạng dinh dưỡng và diễn biến một số chỉ số nhân trắc của nữ học sinh dân tộc Thái tại ba trường Trung học cơ sở Thôm Mòn, Chiềng Ly, Tông Lệnh huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giai đoạn 2019 - 2021
Các số liệu thu thập và kết quả trong luận văn là trung thực, khách quan
và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết này
Thái Bình, ngày…….tháng … năm 2021
Tác giả
Trần Thị Minh
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BMI Body Mass Index Chỉ số khối cơ thể
CDC Center of Disease Control Trung tâm kiểm soát dịch bệnh
TCYTTG World Heath Organisation Tổ chức y tế thế giới
Trang 5MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Error! Bookmark not defined 1.1 Tình trạng dinh dưỡng Error! Bookmark not defined 1.1.1 Khái niệm về dinh dưỡng Error! Bookmark not defined 1.1.2 Khái niệm tình trạng dinh dưỡng Error! Bookmark not defined 1.1.3 Thiếu dinh dưỡng Error! Bookmark not defined 1.1.4 Thừa cân và béo phì Error! Bookmark not defined 1.1.5 Một số phương pháp đánh giá trình trạng dinh dưỡngError! Bookmark not defined
1.2 Các nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng lứa tuổi vị thành niên Error! Bookmark not defined
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới Error! Bookmark not defined 1.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam Error! Bookmark not defined
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng ở tuổi vị thành niên
Error! Bookmark not defined 1.3 Đặc điểm lứa tuổi vị thành niên và dấu hiệu dậy thì ở nữError! Bookmark not defined
1.3.1 Lứa tuổi vị thành niên Error! Bookmark not defined 1.3.2 Dậy thì và dấu hiệu dậy thì ở nữ Error! Bookmark not defined 1.3.3 Nhu cầu dinh dưỡng của lứa tuổi vị thành niênError! Bookmark not defined
1.3.4 Một số nghiên cứu xác định tuổi dậy thì của trẻ gái tuổi vị thành niên
Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined
2.1 Đối tượng nghiên cứu và địa bàn nghiên cứuError! Bookmark not defined
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu Error! Bookmark not defined 2.1.2 Địa bàn nghiên cứu Error! Bookmark not defined 2.1.3 Thời gian nghiên cứu Error! Bookmark not defined 2.2 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined
Trang 62.2.1 Thiết kế nghiên cứu Error! Bookmark not defined 2.2.2 Cỡ mẫu Error! Bookmark not defined 2.2.3 Phương pháp chọn mẫu Error! Bookmark not defined 2.3 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu Error! Bookmark not defined 2.3.1 Chuẩn bị Error! Bookmark not defined 2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin Error! Bookmark not defined 2.4 Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu Error! Bookmark not defined 2.5 Phương pháp phân tích số liệu Error! Bookmark not defined 2.6 Hạn chế sai số trong nghiên cứu Error! Bookmark not defined 2.7 Đạo đức trong nghiên cứu Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined
3.1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của học sinh nữ dân tộc Thái ở một số trường THCS trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 2019-2021 dựa vào một số chỉ
số nhân trắc Error! Bookmark not defined
3.2 Đặc điểm dậy thì và diễn biến một số chỉ số nhân trắc của nữ học sinh dân tộc Thái tại ba trường trung học cơ sở Thôm Mòn, Chiềng Ly, Tông Lệnh huyện
Thuận Châu, tỉnh Sơn La giai đoạn 2019- 2021Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN Error! Bookmark not defined
4.1 Tình trạng dinh dưỡng của học sinh nữ dân tộc Thái tại ba trường trung học
cơ sở Thôm Mòn, Chiềng Ly, Tông Lệnh huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La năm
2021 Error! Bookmark not defined
4.2 Đặc điểm dậy thì và diễn biến một số chỉ số nhân trắc của nữ học sinh dân tộc Thái tại ba trường trung học cơ sở Thôm Mòn, Chiềng Ly, Tông Lệnh huyện
Thuận Châu, tỉnh Sơn La giai đoạn 2019- 2021Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined
4.1 Tình trạng dinh dưỡng của học sinh nữ dân tộc Thái tại ba trường trung học
cơ sở Thôm Mòn, Chiềng Ly, Tông Lệnh huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La năm
2021 Error! Bookmark not defined
4.2 Đặc điểm dậy thì và diễn biến một số chỉ số nhân trắc của nữ học sinh dân tộc Thái tại ba trường trung học cơ sở Thôm Mòn, Chiềng Ly, Tông Lệnh huyện
Thuận Châu, tỉnh Sơn La giai đoạn 2019- 2021Error! Bookmark not defined KHUYẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng tham gia nghiên cứu theo trường và dấu hiệu kinh
nguyệt (n = 209) Error! Bookmark not defined
Bảng 3.2 Giá trị trung bình cân nặng của đối tượng theo trường và dấu hiệu
kinh nguyệt (n=209) Error! Bookmark not defined
Bảng 3.3 Giá trị trung bình chiều cao của đối tượng theo trường và dấu hiệu
kinh nguyệt (n=209) Error! Bookmark not defined
Bảng 3.4 Giá trị trung bình chỉ số HAZ (chiều cao/tuổi) của đối tượng theo
trường và dấu hiệu kinh nguyệt (n=209) Error! Bookmark not defined
Bảng 3.5 Giá trị trung bình chỉ số BAZ (BMI/ theo tuổi) của đối tượng theo
trường và dấu hiệu kinh nguyệt (n=209) Error! Bookmark not defined
Bảng 3.6 Phân loại tình trạng dinh dưỡng của trẻ theo HAZ (chiều cao/tuổi)
theodấu hiệu kinh nguyệt (n=209) Error! Bookmark not defined
Bảng 3.7 Phân loại tình trạng dinh dưỡng của trẻ theo BAZ (BMI/tuổi) theodấu
hiệu kinh nguyệt (n=209) Error! Bookmark not defined
Bảng 3.8 Phân loại tình trạng dinh dưỡng của trẻ theo chỉ số BAZ
(BMI/tuổi)theo trường (n=209) Error! Bookmark not defined Bảng 3.9 Phương tiện đi học của trẻ theo tình trạng dinh dưỡng (n=209)Error! Bookmark not defined
Bảng 3.10 Những công việc phụ giúp gia đình của đối tượng (n=209) Error! Bookmark not defined
Bảng 3.11 Tỷ lệ đối tượng ăn kiêng, bổ sung thuốc bổ (n=209) Error! Bookmark not defined
Trang 8Bảng 3.12 Tỷ lệ trẻ biết/quan tâm tới cân nặng, chiều cao của bản thân trước khi
được khám sức khỏe (n=209) Error! Bookmark not defined
Bảng 3.13 Tỷ lệ trẻ kể tên được 10 thực phẩm giàu protein, giàu sắt và giàu
canxi (n=209) Error! Bookmark not defined Bảng 3.14 Thời điểm có kinh nguyệt của đối tượngError! Bookmark not defined
Bảng 3.15 Dấu hiệu mọc lông nách của đối tượng (n=209)Error! Bookmark not defined
Bảng 3.16 Dấu hiệu mọc lông mu của đối tượng (n=209)Error! Bookmark not defined
Bảng 3.17 Dấu hiệu phát triển ngực của đối tượng (n=209)Error! Bookmark not defined
Bảng 3.18 Diễn biến mức tăng cân của đối tượng qua các nămtheo đặc điểm
dậy thì (n=209) Error! Bookmark not defined
Bảng 3.19 Diễn biến sự thay đổi chiều cao, mức tăng chiều cao của đối tượng
qua các năm (n=209) Error! Bookmark not defined
Bảng 3.20 Diễn biến sự thay đổi chiều cao của đối tượng qua các năm theo đặc
điểm dậy thì (n=209) Error! Bookmark not defined
Bảng 3.21 Diễn biến mức thay đổi chiều cao của đối tượng qua các năm theo
dấu hiệu kinh nguyệt (n=209) Error! Bookmark not defined
Bảng 3.22 Diễn biến sự thay đổi chỉ số chiều cao/tuổi (HAZ) và BMI theo tuổi
(BAZ) của đối tượng qua các năm (n=209) Error! Bookmark not defined
Bảng 3.23 Diễn biến tình trạng dinh dưỡng của đối tượng qua các năm theo chỉ
số chiều cao/tuổi (HAZ) (n=209) Error! Bookmark not defined
Bảng 3.24 Diễn biến tình trạng dinh dưỡng của đối tượng qua các năm theo chỉ
số BMI/tuổi (BAZ) (n=209) Error! Bookmark not defined
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Phân loại tình trạng dinh dưỡng của trẻ theo chỉ số HAZ (Chiều
cao/tuổi ) theo trường (n=209) Error! Bookmark not defined
Biểu đồ 3.2 Diễn biến sự thay đổi cân nặng của đối tượng qua các năm theo đặc
điểm dậy thì (n=209) Error! Bookmark not defined
Biểu đồ 3.3 Diễn biến tỷ lệ thấp còi, gày còm của đối tượng qua các năm theo
dấu hiệu kinh nguyệt (n=209) Error! Bookmark not defined
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Lứa tuổi vị thành niên kéo dài trong khoảng 10 năm từ 10 đến 19 tuổi [1]
Nó được đánh dấu bằng những thay đổi xen lẫn nhau về thể chất, trí tuệ và mối quan hệ xã hội chuyển từ đơn giản sang phức tạp Đây là giai đoạn chuyển tiếp rất quan trọng về tâm sinh lý và dinh dưỡng, chuẩn bị cho giai đoạn phát triển đầy đủ của cơ thể, hoàn thiện các cơ quan, chức phận [2] Hơn nữa lứa tuổi vị thành niên
có giai đoạn dậy thì, đó là giai đoạn đánh dấu sự trưởng thành của trẻ, chuyển tiếp
từ trẻ em thành người lớn
Sự tăng trưởng hình thái của con người ở lứa tuổi dậy thì và tình trạng dinh dưỡng của họ có liên quan chặt chẽ đến các chỉ số nhân trắc cơ bản Thực tế cho thấy các chỉ số nhân trắc phản ánh tình trạng hình thái, thể lực của con người chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau, trong đó chế độ dinh dưỡng và thói quen sinh hoạt không hợp lí là những yếu tố rất quan trọng, chúng liên quan đến suy dinh dưỡng hoặc béo phì cũng như một số bệnh tật hiện nay
Hiện nay Việt Nam đang đối mặt với gánh nặng kép về dinh dưỡng, bên cạnh
tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em và thiếu năng lượng trường diễn ở người trưởng thành còn cao thì tỷ lệ thừa cân, béo phì đang gia tăng dẫn đến thay đổi mô hình bệnh tật, tử vong [3] Nghiên cứu trên 1472 trẻ vị thành niên từ 11 đến 14 tuổi tại 5 trường phổ thông dân tộc bán trú tại Yên Bái năm 2017 cho thấy tỷ lệ cao trẻ bị suy dinh dưỡng thấp còi (43,6%) trong đó suy dinh dưỡng thấp còi mức độ nặng là 13,8%, mức độ vừa là 29,8% [4] Năm 2019, điều tra cắt ngang 663 học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú tại 3 huyện của tỉnh Cao Bằng thì cân nặng và chiều cao trung bình của học sinh dân tộc thiểu số tăng dần theo lứa tuổi Cân nặng
và chiều cao trung bình của học sinh lần lượt là 40,4 ± 8,5 kg và 147,7 ± 8,5 cm; tỷ
lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi mức độ vừa là 13,6%, mức độ nặng là 2,9%; suy dinh dưỡng thể gày còm là 6,2%; tỷ lệ thừa cân và béo phì lần lượt là 7,7% và 2,4% [3]
Trang 11Sơn La là một tỉnh miền núi ở khu vực Tây Bắc, là một tỉnh nghèo, có nhiều dân tộc cư trú trong đó dân tộc Thái chiếm đa số Trường THCS Chiềng Ly, Thôm Mòn, Tông Lệnh thuộc huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Học sinh của các trường 99% là người dân tộc thiểu số, đến từ các xã vùng cao của huyện: xã Thôm Mòn,
xã Chiềng Ly, xã Tông Lạnh… Các xã này có điều kiện kinh tế còn rất khó khăn, trình độ dân trí thấp, bố mẹ trẻ còn thiếu kiến thức về dinh dưỡng và chăm sóc trẻ
Do đó, tầm vóc và tình trạng dinh dưỡng của học sinh thấp hơn hẳn so với mặt bằng chung [5] Để cải thiện thực trạng này rất cần sự quan tâm từ các cấp lãnh đạo
và nhân dân địa phương, cần có nhiều hơn nữa những nghiên cứu về đối tượng học sinh trong khu vực, nhằm giúp nhà trường và gia đình có những định hướng đúng đắn trong phương pháp giảng dạy, truyền thông chăm sóc sức khỏe để học sinh có
sự phát triển toàn diện, góp phần cung cấp số liệu nghiên cứu vì sự phát triển cộng đồng Chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài:
“ Tình trạng dinh dưỡng và một số chỉ số sinh học của nữ học sinh dân tộc Thái tại ba trường trung học cơ sở thuộc huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giai đoạn 2019- 2021”, với 2 mục tiêu sau:
1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và một số đặc điểm về sinh hoạt, hiểu biết của học sinh nữ dân tộc Thái đang học lớp 9 tại ba trường trung học cơ sở Thôm Mòn, Chiềng Ly, Tông Lệnh huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La năm 2019
2 Mô tả diễn biến một số chỉ số nhân trắc và đặc điểm dậy thì của nữ học sinh dân tộc Thái tại ba trường trung học cơ sở Thôm Mòn, Chiềng Ly, Tông Lệnh huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giai đoạn 2019- 2021.
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tình trạng dinh dưỡng
1.1.1 Khái niệm về dinh dưỡng
Dinh dưỡng là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ, cân đối thành phần các chất dinh dưỡng, đảm bảo sự phát triển toàn vẹn, tăng trưởng của cở thể đảm bảo các chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội [7]
1.1.2 Khái niệm tình trạng dinh dưỡng
Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) là tập hợp các chỉ số sức khỏe (về đặc điểm chức phận, cấu trúc, hoá sinh…) phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể [7]
Từ lâu, người ta đã biết giữa dinh dưỡng và tình trạng sức khoẻ có liên quan chặt chẽ với nhau Tuy vậy, ở thời kỳ đầu, để đánh giá tình trạng dinh dưỡng, người
ta chỉ dựa vào các nhận xét đơn giản như gầy, béo; tiếp đó là một số chỉ tiêu nhân trắc khác Hiện nay, nhờ phát hiện về vai trò các chất dinh dưỡng và các tiến bộ kỹ thuật, phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng ngày càng hoàn thiện và trở thành một chuyên khoa của dinh dưỡng học
Số lượng và chủng loại thực phẩm cần để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con người khác nhau tùy theo tuổi, giới, tình trạng sinh lý (thời kì có thai, cho con
bú …) và mức độ hoạt động thể lực và trí lực Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể
là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể
Tình trạng dinh dưỡng của một quần thể dân cư được thể hiện bằng tỷ lệ của các cá thể bị tác động bởi các vấn đề dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng trẻ em từ 0-5 tuổi thường được coi là đại diện cho tình hình dinh dưỡng và thực phẩm của toàn cộng đồng Đôi khi người ta cũng lấy tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ tuổi sinh đẻ làm đại diện Các tỷ lệ trên phản ánh tình trạng dinh dưỡng của toàn bộ quần thể dân cư ở cộng đồng đó, người ta có thể sử dụng để so sánh với số liệu quốc gia hoặc cộng đồng khác
Trang 131.1.3 Thiếu dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng là tình trạng chậm lớn, chậm phát triển, do chế độ ăn của trẻ không đảm bảo đủ nhu cầu protein và năng lượng, kèm theo đó là các bệnh nhiễm khuẩn Những nghiên cứu về tỷ lệ suy dinh dưỡng đã chỉ ra các nước thuộc châu Phi, châu Mỹ La Tinh và Đông Nam Á từ trước cho đến nay vẫn có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao Không chỉ có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao mà còn có tỷ lệ tử vong cao nhất
do bị suy dinh dưỡng [8]
Lứa tuổi vị thành niên là thời kỳ phát triển rất nhanh (vượt trội) cân nặng cũng như chiều cao, cả về cơ bắp lẫn dự trữ mỡ vì vậy, nếu bị thiếu ăn, thiếu chăm sóc cũng dễ bị thiếu dinh dưỡng (trọng lượng thấp)
* Một số nguyên nhân gây nên thiếu dinh dưỡng ở trẻ em học đường [8]:
- Chế độ dinh dưỡng không đầy đủ, hợp lý:
+ Cung cấp nặng lượng hàng ngày cho trẻ không lớn hơn nặng lượng cho trẻ hoạt động và năng lượng cho sự phát triển
+ Khẩu phần của trẻ em phụ thuộc hoàn toàn vào khẩu phần của gia đình, gia đình chưa có chú ý đến khẩu phân riêng cho trẻ;
+ Khẩu phần thực tế của trẻ suy dinh dưỡng thường thiếu cả về số lượng, mất cân đối về chất lượng (khẩu phần chủ yếu là gạo, rau và gần như không có thịt, trứng, cá) Hàm lượng protid và năng lượng khẩu phần thấp hơn nhu cầu và không cân đối Năng lượng khẩu phần chủ yếu do glucid cung cấp, protid động vật trong khẩu phần rất thấp
- Tình trạng nhiễm trùng và dị tật:
+ Bệnh nhiễm khuẩn là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tăng
tỷ lệ trẻ SDD, đặc biệt là bệnh tiêu chảy và viêm đường hô hấp cấp;
+ Do trẻ bị nhiễm khuẩn cấp tính hoặc tái đi tái lại nhiều lần Tình trạng này dẫn đến suy dinh dưỡng và khi trẻ bị suy dinh dưỡng thì dễ mắc các bệnh nhiễm trùng hơn;
Trang 14+ Trẻ bị đẻ non, suy dinh dưỡng bào thai, dị tật bẩm sinh (hở hàm ếch, tắc ruột sơ sinh, phình đại tràng bẩm sinh, tim bẩm sinh…), rối loạn dung nạp lactose, bệnh di truyền (Down) thì có nguy cơ suy dinh dưỡng cao hơn
- Các yếu tố nguy cơ:
+ Tình trạng đói nghèo, môi trường sống không đảm bảo vệ sinh, tập quán dinh dưỡng lạc hậu, chất lượng dịch vụ y tế thấp cũng là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ suy dinh dưỡng;
+ Thiếu các vi chất dinh dưỡng: vitamin A, iod, sắt kẽm [9]
1.1.4.Thừa cân và béo phì
Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao Còn béo phì là tình trạng tích lũy thái quá của mô mỡ dẫn đến những hậu quả không mong muốn đối với sức khỏe
Thừa cân béo phì tăng nhanh cùng với qua trình hiện đại hóa, sự phát triển của nền kinh tế xã hội và sự giao lưu văn hóa Tỷ lệ mắc béo phì ở thành thị cao hơn nông thôn (do lối sống lười hoạt động thể lực và chế độ ăn) Tỷ lệ mắc bệnh rất khác nhau giữa các quốc gia ở các vùng địa lý khác nhau Ở các nước Âu Mỹ, bệnh béo phì là một vấn đề lớn, tỷ lệ béo phì đang tăng lên không ngừng, trong năm
1991 có 15% số người Mỹ bị béo phì, tới năm 1999 thì con số này tăng lên tới 27% Vùng Châu Á – Thái Bình Dương bệnh cũng phát triển với tốc độ nhanh cùng với sự thay đổi của nền kinh tế và lối sống [7]
* Nguyên nhân béo phì [8]
- Khẩu phần ăn: Chế độ ăn giàu lipid hoặc đậm độ nhiệt cao có liên quan tới chặt chẽ với gia tăng tỷ lệ béo phì Các thức ăn giàu chất béo thường ngon nên người ta ăn quá thừa mà không biết;
- Hoạt động thể lực: Cùng với yếu tố ăn uống, gia tăng béo phì đi đôi với giảm hoạt động thể lực trong một lối sống tĩnh tại hơn, dành nhiều thời gian cho việc xem ti vi, đọc báo, làm việc bằng máy tính, ăn uống…
Trang 15- Yếu tố di truyền: có vai trò nhất định đối với béo phì, những trẻ em béo phì thường có cha mẹ béo Tuy vậy, nhìn trên đa số cộng đồng, yếu tố này không lớn
- Yếu tố kinh tế xã hội: ở các nước đang phát triển, tỷ lệ người béo ở tầng lớp nghèo thường thấp (thiếu ăn, lao động chân tay nặng, phương tiện đi lại khó khăn)
và béo phì như là một đặc điểm của giàu có Ở các nước phát triển, khi thiếu ăn không còn phổ biến nữa thì tỷ lệ béo phì lại thường cao ở tầng lớp nghèo, ít học so với tầng lớp trên
* Hậu quả của béo phì [7]
- Các biến chứng và bệnh tật kết hợp với béo phì là rất phong phú và đa dạng quy tụ thành một hội chứng được gọi là hội chứng X hoặc “hội chứng chuyển hóa”
- Người béo phì thường trì trệ trong sinh hoạt, phản ứng chậm chạp, kém lanh lợi nên dễ bị tại nạn giao thông hoặc tai nạn lao động Trong cuộc sống thường mất
đi sự thoải mái, thường có cảm giác mệt mỏi chung toàn than, hay nhức đầu, tê buồn ở hai chân, thường giảm hiệu suất lao động
- Người béo phì dễ mắc bệnh tăng huyết áp Tim do mạch vành, đái tháo đường, dễ bị rối loạn dạ dày và ruột
1.1.5 Một số phương pháp đánh giá trình trạng dinh dưỡng
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng là quá trình thu thập và phân tích thông tin, số liệu về tình trạng dinh dưỡng và nhận định tình trạng trên cơ sở các thông tin số liệu đó Tình hình dinh dưỡng của một cộng đồng, một địa phương cũng như trên phạm vi cả nước là một trong các nguồn dẫn liệu rất quan trọng để xây dựng và đánh giá các dự án về sức khỏe và phát triển kinh tế xã hội [7]
Một số phương pháp định lượng chính thường được sử dụng trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng như:
- Nhân trắc học;
- Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống;
- Các thăm khám thực thể/dấu hiệu lâm sàng;
- Các xét nghiệm cận lâm sàng;
Trang 16- Các kiểm nghiệm chức phận;
- Điều tra tỷ lệ bệnh tật và tử vong;
- Đánh giá các yếu tố sinh thái liên quan đến tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe Một trong các phương pháp hay được sử dụng nhất là phương pháp nhân trắc học
* Nhân trắc học dinh dưỡng [7]
Đây là một trong các kĩ thuật sàng lọc nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Là phương pháp đo các thay đổi về giải phẫu học có liên quan đến thay đổi về tình trạng dinh dưỡng Các nhóm kích thước nhân trắc bao gồm: khối lượng cơ thể, biểu hiện bằng cân nặng; các kích thước về độ dài, đặc hiệu là chiều cao; cấu trúc cơ thể, các dự trữ về năng lượng và mô mỡ như tỷ trọng mỡ cơ thể… Cân nặng là thông số được sử dụng thường xuyên nhất trong thực hành lâm sàng Các thay đổi ngắn hạn phản ánh sự cân bằng dịch Các thay đổi dài hạn có thể phản ánh sự thay đổi toàn
bộ trong khối mô thực nhưng không cung cấp thông tin về sự thay đổi thành phần cấu tạo Giảm cân không chủ ý trong vòng 3-6 tháng qua là một chỉ số có giá trị trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng
1.2 Các nghiên cứu về tình trạng dinh dƣỡng lứa tuổi vị thành niên
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Phân tích dữ liệu từ hệ thống giám sát dinh dưỡng ở Tuscany, Bắc Trung Ý
để ước tính tình trạng dinh dưỡng và lối sống của trẻ em và thanh thiếu niên từ năm
2002 đến năm 2006: tỷ lệ trẻ 9 tuổi gầy ốm giảm từ 4,6% xuống 4,2% và tỷ lệ cân nặng bình thường từ 63,7% xuống 62,4%; tỷ lệ thừa cân (bao gồm cả béo phì) tăng
từ 31,7% lên 33,4% Từ năm 2004 đến năm 2006, ở trẻ vị thành niên 11 tuổi, tỷ lệ gầy ốm đã giảm từ 11,0% xuống 10,1%; tỷ lệ cân nặng bình thường tăng từ 68,4% lên 70,2% và tỷ lệ thừa cân giảm từ 20,7% xuống 19,6% Ở thanh thiếu niên 13 tuổi, tỷ lệ gầy ốm đã giảm từ 9 tuổi 8% đến 8,0%; tỷ lệ cân nặng bình thường tăng
từ 73,5% lên 74,0% và tỷ lệ thừa cân từ 16,8% lên 17,9% Tỷ lệ gầy của thanh
Trang 17thiếu niên 15 tuổi giảm từ 9,8% xuống 8,7% và tỷ lệ cân nặng bình thường từ 77,0% xuống 71,6%, trong khi tỷ lệ thừa cân tăng từ 13,3% lên 19,7% Số liệu năm
2006 cho thấy xu hướng tỷ lệ thừa cân (bao gồm cả béo phì) có xu hướng giảm theo độ tuổi ở cả hai giới, tuy nhiên rõ ràng hơn ở trẻ em gái (từ 34,0% ở 9 tuổi xuống 12,2% ở 15 tuổi) so với trẻ em trai (từ 32,8% ở độ tuổi 9 tuổi lên 22,8% ở độ tuổi 13 tuổi lên 27,5% ở độ tuổi 15 tuổi) Ngược lại, tỷ lệ gầy ốm lại tăng theo độ tuổi ở trẻ em gái (từ 4,9% ở độ tuổi 9 lên 14,1% ở độ tuổi 15), trong khi trẻ em trai
có tỷ lệ mắc bệnh thấp tương tự ở độ tuổi 9 và 15 tuổi (3,3% và 3,1%), tăng gấp đôi giá trị ở độ tuổi 11 và 13 (7,5% và 6,5%) Xu hướng tỷ lệ cân nặng bình thường tăng theo độ tuổi từ 62,4% ở 9 tuổi lên 74,0% ở 13 tuổi và 71,6% ở 15 tuổi Trẻ em trai có tỷ lệ hiện mắc cao hơn trẻ em gái chỉ ở độ tuổi 9 năm (63,9% so với 61,0%) [10]
Thực hiện tổng cộng 369 nghiên cứu từ 76 quốc gia khác nhau từ năm 2002 đến 2009 về tình trạng dinh dưỡng của trẻ em 6 đến 12 tuổi từ Châu Mỹ Latinh, Châu Phi, Châu Á và khu vực Đông Địa Trung Hải đã cho thấy tình trạng nhẹ cân
và gầy ốm nổi bật nhất ở các nhóm dân cư từ Đông Nam Á và châu Phi, trong khi ở
Mỹ Latinh, tỷ lệ nhẹ cân hoặc gầy ốm thường dưới 10% Hơn một nửa số nghiên cứu về thiếu máu báo cáo tỷ lệ thiếu máu ở mức độ trung bình (> 20%) hoặc nặng (> 40%) Tỷ lệ từ 20% đến 30% thường được báo cáo về tình trạng thiếu sắt, iốt, kẽm và vitamin A Tỷ lệ thừa cân cao nhất ở các nước Mỹ Latinh (20% đến 35%) Ở Châu Phi, Châu Á và Đông Địa Trung Hải, tỷ lệ thừa cân nói chung là dưới 15% [11]
Tại miền Đông Ethiopia, nghiên cứu tình trạng thiếu máu và dinh dưỡng của trẻ em gái vị thành niên cho thấy 21,6% gầy, 4,8% thừa cân và 1,1% béo phì, 32% thiếu máu và 15% thanh thiếu niên bị thấp còi/thấp bé hơn bình thường Tình trạng dinh dưỡng của vị thành niên thấp cả ở thành thị và nông thôn, nhưng tình trạng gầy nặng ở nông thôn cao hơn (39,3%) so với thành thị (37,5%) Các yếu tố liên
Trang 18quan độc lập đến SDD thể thấp còi là nơi ở, nghề nghiệp của bố và nguồn nước uống và độ tuổi của trẻ vị thành niên [12]
Tỷ lệ và xu hướng thừa cân và béo phì ở trẻ em châu Âu từ năm 1999 đến năm 2016 là rất cao, nhưng xu hướng đã ổn định ở hầu hết các nước Châu Âu Tỷ
lệ thừa cân và béo phì kết hợp ở khu vực Iberia có xu hướng giảm từ 30,3% (95%
CI, 28,3% -32,3%) xuống 25,6% (95% CI, 19,7% -31,4%) nhưng có xu hướng tăng lên ở khu vực Địa Trung Hải từ 22,9% (KTC 95%, 17,9% -27,9%) đến 25,0% (KTC 95%, 14,5% -35,5%) Không có thay đổi đáng kể nào được quan sát thấy ở Đại Tây Dương hoặc Trung Âu, nơi tỷ lệ thừa cân và béo phì thay đổi từ 18,3% (95% CI, 14,0% -23,9%) thành 19,3% (95% CI, 17,7% -20,9%) và từ 15,8 Lần lượt là% (95% CI, 13,4% -18,5%) đến 15,3% (95% CI, 11,6% -20,3%) [13]
Tỷ lệ và xu hướng thiếu cân ở trẻ em và thanh thiếu niên Châu Âu với dữ liệu từ 323.420 trẻ em và thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 2 đến 18 tuổi Từ năm
2000 đến năm 2017, theo tiêu chí của IOTF, tỷ lệ SDD nhẹ cân có xu hướng gia tăng ở các nước Đông, Bắc và Nam Âu, nơi tỷ lệ SDD nhẹ cân dao động từ 9,1 đến 12,0%, từ 4,1 đến 6,8% và từ 5,8 đến 6,7% Ở Tây Âu, tỷ lệ SDD nhẹ cân có xu hướng giảm từ 14,0 xuống 11,8% Không có sự khác biệt đáng kể nào được tìm thấy theo giới tính hoặc độ tuổi [14]
1.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Một cuộc điều tra thu thập các số đo nhân trắc lớn nhất từ trước tới nay, trên 14.000 trẻ học đường nông thôn trong các nước đang phát triển, bao gồm: Ghana, Tazania, Indonesia, Ấn Độ và Việt Nam đã cho thấy: 51% học sinh ở vào tình trạng chiều cao thấp so với tuổi (PCD, 1998) Kết quả của cuộc điều tra trên 11.917 trẻ
từ 0-15 tuổi ở các vùng nông thôn trong cả nước và 9.410 học sinh Hà Nội cho thấy: chiều cao, cân nặng trẻ em luôn thấp hơn kích thước tham khảo NCHS (theo khuyến nghị của WHO) Tuổi càng cao thì khoảng cách càng rõ rệt
Chiều cao và cân nặng của trẻ em Hà Nội hơn hẳn trẻ em nông thôn: tuổi càng lớn thì khoảng cách càng xa Ví dụ: chiều cao trung bình của trẻ 5 tuổi Hà Nội cao hơn
Trang 19trẻ nông thôn 5 cm, đến 15 tuổi, khoảng cách này là 10 cm (Ha Huy Khoi,1985) Nghiên cứu gần đây theo dõi chiều sâu về sự phát triển trẻ em từ sơ sinh đến 18 tuổi của viện Dinh dưỡng trên 218 trẻ Hà Nội cho thấy: mức tăng cân của trẻ em Việt Nam trong 3 tháng đầu không khác với tiêu chuẩn quốc tế, thậm chí còn cao hơn, nhưng sau đó kém dần (Lê Thị Hợp, 1995, 2000) Có hai thời kỳ sự thua kém biểu hiện cao nhất: từ 6-12 tháng và 6-11 tuổi (lứa tuổi tiểu học) (Hà Huy Khôi, 1998) Điều này cho thấy, việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng không chỉ quan trọng ở những năm đầu, mà đó phải là một quá trình liên tục, trong đó những năm tuổi học đường cũng đóng vai trò thiết yếu, không kém tuổi tiền học đường [15]
Cân nặng, chiều cao của 1382 trẻ vị thành niên 11 – 17 tuổi ở các trường trung học cơ sở và phổ thông trung học ở Hà Nội và Bắc Ninh được thu thập từ tháng 9/2001 đến tháng 1/2002 Kết quả cho thấy, cân nặng và chiều cao trung bình của học sinh thành phố (Hà Nội) cao hơn có ý nghĩa so với học sinh cùng tuổi, cùng giới ở nông thôn (Bắc Ninh); tỷ lệ học sinh bị gầy ở thành phố là 5,9%, ở nông thôn là 15,4%; tỷ lệ còi cọc ở thành phố là 14,2%, ở nông thôn là 39,0%; tỷ lệ thừa cân ở thành phố là 5,1%, ở nông thôn là 0,1% [16]
Theo dõi diễn tiến tình trạng suy dinh dưỡng, thừa cân – béo phì và sự gia tăng tăng trưởng của học sinh TP Hồ Chí Minh từ năm 2002 – 2009 từ các cuộc điều tra dịch tễ học tình trạng dinh dưỡng học sinh năm 2002 (1412 học sinh tiểu học và 1454 THCS), năm 2004 (1425 học sinh THPT), và năm 2009 (776 học sinh tiểu học, 1650 học sinh THCS, và 1404 học sinh THPT) Kết quả: Tỉ lệ SDD thấp còi và SDD thể gầy ở học sinh TP HCM năm 2009 đã giảm so với năm 2002 –
2004 là 7,5% so với 12,7%, p<0,05 (SDD thấp còi) và 6,8% so với 11,5%, p<0,05 (SDD gầy) Tỉ lệ thừa cân – béo phì ở học sinh năm 2002 – 2004 từ 11,6% tăng gấp đôi lên 21,9% năm 2009, p<0,001 Trong đó, tỉ lệ béo phì cũng gia tăng từ 4,0% (2002-2004) lên 7,3% (2009) nhưng chưa có ý nghĩa thống kê Chiều cao trung bình của học sinh nam có xu hướng gia tăng nhưng vẫn còn thấp hơn quần thể tham khảo WHO 2007 ở nhóm 15-18 tuổi Chiều cao trung bình học sinh nữ hầu như
Trang 20không cải thiện và vẫn còn thấp hơn chuẩn WHO 2007 ở nhóm 13 – 18 tuổi BMI của học sinh ở cả hai giới đều tăng so với trước và vượt chuẩn WHO 2007 ở nhóm tuổi 6 – 12 tuổi Cho thấy có sự thay đổi về tình trạng dinh dưỡng của học sinh TP HCM theo xu hướng giảm SDD và gia tăng nhanh thừa cân – béo phì Có sự gia tăng tăng trưởng ở học sinh nam, khuynh hướng tăng nhanh BMI ở lứa tuổi tiểu học và THCS [17]
Năm 2012, điều tra về tình trạng dinh dưỡng và phát triển thể lực của học sinh được triển khai tại 3 vùng thành thị, nông thôn và miền núi của 3 tỉnh thành phía Bắc (Hà Nội, Hải Dương và Bắc Giang) với tổng số 21626 học sinh từ lớp 1 đến lớp 12 Kết quả cho thấy học sinh thành thị cả nam và nữ đều cao hơn học sinh nông thôn và miền núi một cách có ý nghĩa (p<0,001) ở tất các cả các lớp tuổi (ở tuổi 17 học sinh miền núi cả nam và nữ thấp hơn học sinh thành thị khoảng 3cm) Tuy nhiên, chiều cao của cả nam và nữ ở cả 3 vùng đã điều tra đều thấp hơn chuẩn của WHO 2007 Nhìn chung tình trạng dinh dưỡng của học sinh thành thị tốt hơn
so với nông thôn và miền núi: Tỷ lệ gầy (BMI <-2SD) của học sinh thành thị khá thấp (3,9%) trong khi tỷ lệ này của học sinh nông thôn cao hơn (17,5%) và của học sinh miền núi là 16,8% Tỷ lệ thừa cân – béo phì (BMI>+2SD) trung bình của học sinh thành thị khá cao 7%, tỷ lệ này của học sinh nông thôn và miền núi thấp dưới 1% (nông thôn - 0,6% và học sinh miền núi là 0,4%) Trong 3 vùng nghiên cứu tỷ
lệ thấp còi của học sinh thành thị thấp nhất (6,1%) so với 2 vùng nông thôn và miền núi; tỷ lệ thấp còi học sinh nông thôn là 20,7% và tỷ lệ học sinh thấp còi cao nhất ở MN là 23,9% [18] Tại TP Hồ Chí Minh, điều tra cắt ngang trên 1650 học sinh Trung học cơ sở: Tỉ lệ SDD thấp còi và gầy lần lượt là 6,6% và 7,4% Tỉ lệ thừa cân-béo phì là 22,5% (15,7% thừa cân và 6,8% béo phì) [19]
Khảo sát nhân trắc và tình trạng dinh dưỡng trong các giai đoạn dậy thì trên
1280 học sinh Trung học Cơ sở Thị trấn Củ Chi – TPHCM năm học 2012-2013 Kết quả: Tỷ lệ thừa cân - béo phì là 33 % (22 % thừa cân và 11 % béo phì), trong
đó nam nhiều hơn nữ (40,7 % so với 25 %; p<0,05) Tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD)
Trang 21là 4,1 %, nam nhiều hơn nữ (5,2 % và 2,9 %; p<0,05) Chênh lệch chiều cao giữa đầu và cuối dậy thì ở nam là 24,1 cm, nữ là 16,1 cm Chênh lệch cân nặng giữa đầu
và cuối dậy thì ở nam là 18,5 kg và nữ là 17,7 kg Nam và nữ bị thừa cân béo phì
có tỉ lệ mỡ cơ thể cao hơn học sinh có tình trạng dinh dưỡng bình thường ở tất cả các giai đoạn dậy thì (p<0,001; t-test), nhưng tỉ lệ này không đổi nếu xét ở thời điểm đầu và cuối dậy thì Không thấy sự khác biệt về gia tăng trọng lượng khối không mỡ ở nam và nữ [20]
Một trong những vấn đề dinh dưỡng mới nảy sinh hiện nay là hiện tượng gia tăng nhanh chóng của tình trạng thừa cân, béo phì ở lứa tuổi học sinh ở khu vực đô thị như Hà nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng Nếu như trước 1995, hầu như thừa cân, béo phì ở học sinh không đáng kể, đến năm 2001, tỷ lệ béo phì ở học sinh các trường nội thành thành phố HCM là 14%, ở Hà nội và Hải phòng là 8-10% (VDD, 2002) Gần đây, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở TP Hồ Chí Minh tăng trên 17% (Trung tâm DD TP HCM, 2003) [15] Đây là bức tranh trái ngược với những gì phổ biến ở các vùng nông thôn song không có nghĩa là học sinh ở nông thôn không có nguy cơ thừa cân, béo phì Thừa cân, béo phì không chỉ ảnh hưởng tới học tập và hành vi của trẻ mà còn là cửa ngõ của các bệnh mạn tính không lây, thừa cân và béo phì càng xảy ra sớm thì nguy cơ mắc các bệnh này càng cao
Năm 2015, điều tra dịch tễ học được thực hiện trên 4879 học sinh 10-15 tuổi được chọn ngẫu nhiên tại các trường tiểu học và trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh nhằm đánh giá tỉ lệ thừa cân béo phì và các yếu tố nguy cơ tim mạch Tất
cả các đối tượng đều được đo chiều cao, cân nặng, vòng bụng, và huyết áp Có 486 học sinh được chọn ngẫu nhiên để lấy máu lúc đói nhằm phân tích hàm lượng cholesterol toàn phần, HDL-cholesterol, và triglyceride Kết quả: Tỉ lệ béo bụng là 31,3%, thừa cân béo phì là 36,5%, trong đó 13,4% là béo phì Tỉ lệ có hội chứng chuyển hóa là 4,3% (theo IDF) Tỉ lệ tăng huyết áp, triglyceride máu cao, HDL-C thấp lần lượt là 7,2%, 18,1%, và 10,3% Tỉ lệ tăng huyết áp và rối loạn lipid máu ở
vị thành niên thừa cân béo phì và béo bụng cao hơn so với nhóm không thừa cân,
Trang 22không béo phì, hoặc không béo bụng Béo phì (OR=2,02; 95%CI=1,45-2,81), béo bụng (OR=2,27; 95%CI=1,72-2,99), giới nam (OR=1,57; 95%CI=1,23-1,99), và tuổi (OR=1,40; 95%CI=1,31-1,50) là các yếu tố có tương quan với tăng huyết áp ở
vị thành niên Trong khi yếu tố liên quan đối với tăng triglyceride chỉ là béo bụng (OR=4,25; 95%CI=2,47-7,31) [21]
Năm 2017, nghiên cứu mô tả cắt ngang này tiến hành trên 174 đối tượng là học sinh tại trường Trung học cơ sở Nhân Hưng, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam nhằm xác định tỷ lệ thừa cân, béo phì cũng như tình trạng dinh dưỡng của các em học sinh Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ học sinh thừa cân, béo phì toàn trường
là 1,7% trong đó ở giới nam là 1,2% và giới nữ là 2,3% Bên cạnh đó tỷ lệ học sinh thiếu cân của trường vẫn còn khá cao chiếm 22,4% Trường Trung học cơ sở Nhân Hưng là một trường điển hình của vùng nông thôn với quy mô nhỏ, hiện tại đã xuất hiện gánh nặng kép về dinh dưỡng ở đây Thừa cân, béo phì đang là vấn đề dinh dưỡng cần được quan tâm đặc biệt là đối tượng trẻ em và vị thành niên [22] Thừa cân béo phì đang gia tăng đáng kể không chỉ ở các thành phố lớn mà hiện nay đã xuất hiện ở các vùng nông thôn vì vậy cần theo dõi giám sát tình hình dinh dưỡng
và có các biện pháp cần thiết để can thiệp sớm nhằm chủ động thay đổi và nâng cao nhận thức về thừa cân, béo phì Cũng trong năm 2017, nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 552 học sinh tại 03 trường THCS tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định Học sinh được cân đo và phân loại tình trạng dinh dưỡng theo giới và tuổi Tần suất tiêu thụ thực phẩm của học sinh được đánh giá với bộ câu hỏi được thiết kế sẵn Kết quả:
Tỷ lệ học sinh suy dinh dưỡng và thừa cân, béo phì là 15,9% và 5,6% Số học sinh thừa cân, béo phì giảm dần theo tuổi từ 12-14 Trong khẩu phần ăn hàng ngày của học sinh, rau xanh và quả chín chiếm tỷ lệ cao nhất với 70,5%, nhóm thực phẩm cung cấp protein động vật là 33,3% đối với thịt và 36,8% đối với cá Tỷ lệ học sinh
có kiến thức về thực phẩm và dinh dưỡng vẫn còn thấp Nguồn thông tin dinh dưỡng có ảnh hưởng lớn nhất là từ gia đình và bạn bè [23]
Trang 23Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thường xuyên đối mặt với tình trạng thiếu dinh dưỡng Nguyên nhân là do đồng bào dân tộc thiểu số thường sinh sống ở vùng sâu, vùng xa và gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe; việc di chuyển từ nhà đến các cơ sở y tế thường rất khó khăn, nhất là vào mùa mưa Phụ nữ dân tộc thiểu số thường cho trẻ ăn thức ăn thô từ rất sớm (từ 2-3 tháng tuổi) Tại một số vùng, người dân không đủ lương thực, nước sạch và vệ sinh
Tình hình thiếu hụt dinh dưỡng tại khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên còn nghiêm trọng hơn với tỷ lệ suy dinh dưỡng cao nhất trong cả nước Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến hành năm 2017 ở các trường phổ thông dân tộc bán trú:Tại 04 trường củahuyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái, trên 587 học sinh 11-14 tuổi để xác định tình trạng suy dinh dưỡng Kết quả cho thấy, tỷ lệ SDD thấp còi chung là 75,8% trong đó nam giới là 76,4% và nữ là 74,9%, ở ngưỡng nặng về ý nghĩa sức khỏe cộng đồng Tỷ lệ SDD thấp còi cao nhất ở trường TH&THCS Trạm Tấu (81,4%), tiếp theo là Pá Lau (77,0%) Có khác biệt rất lớn về tỷ lệ SDD thấp còi so với một số nghiên cứu gần đây, thậm chí đã được so sánh trên cùng đối tượng ở huyện lân cận thuộc tỉnh Yên Bái Có sự khác biệt về tỷ lệ SDD thấp còi và mức độ SDD thấp còi giữa các trường (p<0,05) [24] Tại Văn Yên, tỉnh Yên Bái: tỷ
lệ SDD thấp còi là 38,8% ở ngưỡng nặng về ý nghĩa sức khỏe cộng đồng; SDD thể gầy còm là 7,2%; thừa cân béo phì là 3,8%; tỷ lệ SDD thấp còi ở mức độ nặng là 10,5%; mức độ vừa là 28,3%; thấp còi dao động theo lứa tuổi từ 34,1% đến 44,0% (nam) và 27,6% - 42,0% (nữ) Có sự khác biệt về tỷ lệ SDD thấp còi theo nhóm tuổi ở giới nữ (p<0,05) [25] Cần có những giải pháp can thiệp kịp thời về tình trạng dinh dưỡng thấp còi trên học sinh trung học cơ sở tại các vùng dân tộc có tỷ
lệ SDD cao
Năm 2019, nghiên cứu của tác giả Lê Na và cộng sự trên 663 học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú thuộc 3 huyện của tỉnh Cao Bằng cho thấy: cân nặng và chiều cao trung bình của học sinh tăng dần theo lứa tuổi Cân nặng và chiều cao trung bình lần lượt là 40,4 ± 8,5 kg và 147,7 ± 8,5 cm Tỷ lệ suy dinh
Trang 24dưỡng thể thấp còi mức độ vừa là 13,6%, mức độ nặng là 2,9% Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể gầy còm là 6,2%, tỷ lệ thừa cân và béo phì lần lượt là 7,7% và 2,4%, nam giới có tỷ lệ suy dinh dưỡng (8,2%), thừa cân (8,2%), béo phì 3,9% cao hơn
nữ giới (5,1%; 7,4% và 1,6%) nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) [3]
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng ở tuổi vị thành niên
1.2.3.1 Yếu tố kinh tế, xã hội
Điều kiện kinh tế gia đình thể hiện qua mức thu nhập hằng tháng Đây là yếu
tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự ổn định trong cung cấp dinh dưỡng cho trẻ thông qua chế độ ăn, khẩu phần Từ đó, ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ Một trong những ảnh hưởng của tình trạng kinh tế - xã hội đến sự phát triển con người đó là thu nhập Nghiên cứu của Ahmed và cộng sự (1991) về ảnh hưởng của tình trạng kinh tế - xã hội đến sự phát triển của trẻ học đường ở Banglades cho thấy trẻ từ các gia đình có thu nhập cao có cân nặng và chiều cao theo tuổi cao hơn so với trẻ từ các gia đình có thu nhập thấp [26]
Một nghiên cứu khác ở Thái Lan cũng thấy rằng tình trạng dinh dưỡng của trẻ
em tuổi học đường cần được lưu tâm, học sinh ở tầng lớp xã hội thấp có tỷ lệ mắc các bệnh thiếu dinh dưỡng cao [27], [28] Một nghiên cứu ở Anh về vấn đề liên quan giữa tình trạng thất nghiệp của bố các em, những trẻ em bố bị thất nghiệp có chiều cao thấp hơn so với những trẻ em có bố đi làm việc [29]
Tại TP Hồ Chí Minh (2012), điều tra cắt ngang trên 1650 học sinh Trung học cơ sở: phân tích đa biến cho thấy yếu tố nguy cơ của SDD thể thấp còi và thể gầy còm là sống ở vùng ngoại thành, OR=3,87, 95%CI 2,08-7,22 (SDD thấp còi)
và OR=1,77, 95%CI 1,06-2,98, p<0,05 (SDD thể gầy) Yếu tố liên quan với thừa cân béo phì là kinh tế khá/giàu (OR=1,98, 95%CI 1,28-3,06), sống ở vùng ngoại thành (OR=0,34, 95%CI 0,21-0,55) và vùng ven (OR=0,51, 95%CI 0,41-0,62) [19]
Trang 25Trong khi đó, tình trạng thiếu đói ở một số địa phương vùng sâu, vùng khó khăn còn xảy ra Mặt khác, do diễn biến thiên tai bất thường, nhiều vùng cũng đứng trước nguy cơ thiếu đói Trẻ em tuổi đi học ở những vùng này gặp không ít khó khăn và tình trạng trẻ em đói bỏ học là một vấn đề cần quan tâm
ăn chiếm tỷ lệ cao Nghiên cứu của nhiều tác giả đều cho thấy khẩu phần thực tế của trẻ em Việt Nam thiếu cả về số lượng, mất cân đổi về chất lượng (khẩu phần chủ yếu là gạo, rau và gần như rất ít thịt, trứng, cá) Hàm lượng protit và năng lượng khẩu phần nhóm trẻ SDD thấp hơn nhóm trẻ bình thường, khẩu phần không cân đối [30]
Ở Việt nam, các số liệu nghiên cứu trong thập kỷ qua cho tới gần đây cho thấy, bữa ăn của trẻ lứa tuổi học đường phụ thuộc vào bữa ăn gia đình Gần 80% dân số nước ta sống ở nông thôn nơi chưa có mạng lưới nhà ăn học đường cho bậc học này Những năm qua mặc dù bữa ăn của người dân nông thôn đã có chiều hướng cải thiện hơn về mặt chất lượng, song nhìn chung thực phẩm chủ yếu vẫn là gạo, thức ăn động vật còn thấp, lượng sữa ăn vào chưa đáng kể, lượng rau dao động theo mùa; quả chín tiêu thụ hàng ngày cho bữa ăn rất ít Bữa ăn gia đình mới đạt khoảng 84% nhu cầu năng lượng và 87% nhu cầu protein; nguồn protit động vật trong bữa ăn còn thấp, đặc biệt là chất béo ở vùng nông thôn rất thấp (chỉ 6-8% năng lượng khẩu phần, trong khi yêu cầu chiếm từ 20-25%) [31]
Trang 26Năm 2017, nghiên cứu của tác giả Lê Thị Bích Ngọc tại 3 trường THCS của tỉnh Bình Định kết quả là trong khẩu phần ăn hàng ngày của học sinh,trong các bữa
ăn rau xanh và quả chín xuất hiện khá thường xuyên chiếm tỷ lệ cao nhất với 70,5%, Trong khi đó thịt, nhóm thực phẩm cung cấp protein động vật chỉ xuất hiện thỉnh thoảng là 33,3% đối với thịt và 36,8% đối với cá Tỷ lệ học sinh có kiến thức
về thực phẩm và dinh dưỡng vẫn còn thấp Nguồn thông tin dinh dưỡng có ảnh hưởng lớn nhất là từ gia đình và bạn bè [23] Nghiên cứumô tả tình trạng dinh dưỡng và thói quen ăn uống của học sinh lứa tuổi 13-17 tại một số trường phổ thông tại 4 tỉnh Hải Phòng, Nghệ An, Kontum, Cần Thơ thì tỷ lệ học sinh ăn trái cây ≥ 1 lần/ngày là 79% Tỷ lệ học sinh ăn rau ≥1 lần/ngày là 88% Tỷ lệ học sinh uống nước
có ga ≥1 lần/ngày là 29% Trong 7 ngày qua, tỷ lệ học sinh ăn đồ ăn nhanh >1 lần trong tuần là 21% [32]
Còn trong nghiên cứu vê điều tra khẩu phần và thừa cân, béo phì trên học sinh THCS TP Hồ Chí Minh của Nguyễn Ngọc Vân Phương năm 2014, kết quả tổng tiêu thụ là Tổng năng lượng khẩu phần của trẻ vị thành niên vượt ngưỡng Nhu cầu khuyến nghị năng lượng khẩu phần của Việt Nam, tiêu thụ 2774kcal/ngày Trẻ trai có năng lượng khẩu phần cao hơn trẻ gái Sống trong gia đình khá giả tiêu thụ các chất sinh năng lượng trong khẩu phần nhiều hơn các trẻ khác Trẻ gái thừa cân béo phì có tương quan nghịch chiều với khẩu phần các chất dinh dưỡng sinh năng lượng [33]
1.2.3.3 Kiến thức, thực hành về dinh dưỡng và tập quán ăn uống của trẻ
Sức khoẻ của học sinh là một bộ phận quan trọng của sức khoẻ cộng đồng, các dịch vụ sức khoẻ trong nhà trường mang lại hiệu quả kinh tế cao bởi vì trẻ học tập và vui chơi cùng với nhau sẽ học tập nhau và trẻ em sẽ chia sẻ những gì chúng học được cho cha mẹ và những người khác
Tuy nhiên ở lứa tuổi này trẻ cũng đã chịu phần nào chăm lo về sức khoẻ, do vậy gia đình ít quan tâm Trẻ có thể có những hiểu biết khác nhau về dinh dưỡng có thể có những hiểu biết đúng hoặc sai Những hiểu biết và thói quen dinh dưỡng của trẻ ảnh
Trang 27hưởng đến sự lựa chọn thực phẩm, cách ăn uống của trẻ và cuối cùng là ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ [34]
Mặc dù số trẻ tới trường hàng ngày bị đói chưa được xác định rõ, song đói tạm thời là một tình trạng khá phổ biến ở các nước đang phát triển Đói tạm thời trong số trẻ học đường thường xảy ra khi trẻ đến trường không ăn sáng Đói sẽ làm giảm sự chú ý, ảnh hưởng tới kết quả học tập Ngược lại, một số nghiên cứu đã chứng minh rằng: hành vi của trẻ được cải thiện rõ rệt và tức thời sau khi trẻ được
ăn hoặc uống giữa giờ (UNESCO, 1990)
1.3 Đặc điểm lứa tuổi vị thành niên và dấu hiệu dậy thì ở nữ
1.3.1 Lứa tuổi vị thành niên
Lứa tuổi vị thành niên kéo dài trong khoảng 10 năm từ 10 đến 19 tuổi Đây là lứa tuổi chiếm tỉ lệ cao (34%) dân số thế giới [35], [36] Lứa tuổi này được quan tâm bởi nó không những chiếm một tỉ lệ khá cao trong tháp dân số, mà tỉ lệ của lứa tuổi này tăng nhanh đáng kể so với các nhóm tuổi khác Giữa những năm của thập
kỉ 60 và 80 trong khi dân số thế giới tăng 46% thì lứa tuổi vị thành niên tăng 66%
Có một tỉ lệ rất cao thanh thiếu niên sống ở các nước đang phát triển và tỉ lệ này tăng lên rất nhanh [37] Theo thống kê năm 1980 có 77% dân số là ở lứa tuổi vị thành niên sống ở các nước đang phát triển và sẽ tăng lên 83% vào năm 2000 [38] Hơn nữa lứa tuổi vị thành niên có giai đoạn dậy thì Đây là một bước ngoặt cơ bản trong đời sống của mỗi con người Dậy thì là thời kỳ quá độ chuyển biến từ trẻ thơ sang người trưởng thành, tuy nhiên về hành vi trong giai đoạn này có những biến đổi bất thường, những biểu hiện chứng tỏ đã có những thay đổi nhưng vẫn còn biểu hiện chứng tỏ không là trẻ con nhưng vẫn chưa hẳn là một người lớn, là thời kỳ mà bất cứ một thiếu niên nào cũng phải trải qua những biến đổi quan trọng [39], [2]
1.3.2 Dậy thì và dấu hiệu dậy thì ở nữ
Dậy thì là một giai đoạnphát triển vượt bậc về các chỉ số hình thể của cơ thể, chiều cao của trẻ tăng nhanh và đạt đến “ Đỉnh của gia tốc tăng chiều cao – Peak Height Velocity” khi mà trẻ có thể tăng khoảng 8 -10 cm/1 năm và mức tăng giảm
Trang 28dần sau đó Đây cũng là một trong hai giai đoạn mấu chốt cho giai đoạn phát triển nhanh của cơ thể trong suốt quá trình tăng trưởng (có sựtham gia của hormon tăng trưởng GH và các hormon sinh dục: testosteron ở nam và oestrogen ở nữ) Giai đoạn này chăm sóc dinh dưỡng tốt, đặc biệt là cung cấp đủcalci sẽ tạo nên một bộ xương với mật độ xương tối ưu cho cơ thể trưởng thành sau này Và cũng trong giai đoạn nàycó nhiều hy vọng để khắc phục các vấn đề chậm phát triển do thiếu dinh dưỡng ở các giai đoạn trước [40]
Dậy thì liên quan đến hoạt động của hệ thống: Dưới đồi - Tuyến yên - Tuyến sinh dục, một số yếu tố tác động thông qua hệ thống này ảnh hưởng đến tuổi dậy thì như: môi trường sống, vị trí địa lý, kinh tế, xã hội… Dưới góc độ sinh lý học, tuổi dậy thì là thời kỳ cơ quan sinh dục đã thành thục và bắt đầu có khả năng sinh con Trong giai đoạn này con người phải trải qua những biến đổi lớn về cấu trúc cơ thể, về chức năng cũng như các hành vi Trong giai đoạn dậy thì các chỉ số sinh học như các chỉ số thể lực và các chỉ số sinh học, nhất là hàm lượng các hormone sinh dục có sự biến đổi rất lớn đánh dấu quá trình thành thục của các cơ quan trong cơ thể để chuyển từ một bé gái thành một thiếu nữ
Thời kỳ dậy thì thực ra bắt đầu từ lứa tuổi thiếu niên, khi bắt đầu có những biểu hiện tính sinh dục thứ yếu (thay đổi tuyến vú và tinh hoàn, mọc lông ở nách và xương mu, bước “nhảy vọt tăng trưởng”…) Nó thay đổi theo giới, tình trạng dinh dưỡng, môi trường văn hoá, xã hội…Sự thay đổi thần kinh - nội tiết, mà nổi bật là
sự hoạt động của các tuyến sinh dục, gây ra những biến đổi về hình thái và sự tăng trưởng của cơ thể Cân nặng của bé gái tăng trung bình 3- 4kg/năm, chiều cao tăng 4 -7cm Vì vậy, vấn đề cung cấp dinh dưỡng cần được quan tâm đặc biệt, để giúp các em có một thân hình đẹp, cân đối, sức khoẻ, dẻo dai.Sau khi dậy thì hoàn toàn, thì tốc độ tăng trưởng giảm xuống rất nhanh và ngừng hẳn ở nữ vào tuổi 19–
20 [41]
Xuất hiện kỳ kinh nguyệt đầu tiên, chứng tỏ rằng các cơ quan sinh sản đang trưởng thành Chu kỳ kinh nguyệt là sự biến đổi về cấu trúc, chức năng dẫn đến sự
Trang 29chảy máu có chu kỳ ở niêm mạc tử cung dưới tác dụng của các hormone tuyến yên
và buồng trứng Độ dài của chu kỳ kinh nguyệt được tính bằng khoảng thời gian giữa hai ngày chảy máu đầu tiên của hai chu kỳ kế tiếp nhau (trung bình từ 28 đến
30 ngày) [39]
Tình trạng dinh dưỡng của lứa tuổi nữ vị thành niên là yếu tố quan trọng góp phần làm xuất hiện sớm hay muộn một trong các dấu hiệu phát triển sinh lý của trẻ Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy các thiếu nữ có tình trạng dinh dưỡng tốt thường có hành kinh sớm so với các thiếu nữ có tình trạng dinh dưỡng kém Tốc độ tăng trưởng nói chung ở thiếu nữ hành kinh sớm cao hơn so với những thiếu nữ có hành kinh muộn Tuy nhiên cả hai nhóm đủ và thiếu dinh dưỡng cuối cùng đều cósự phát triển tầm vóc gần tương tự nhau trong giai đoạn vị thành niên Mặc dù phát triển có thể xảy ra sớm hay muộn hơn và thời gian phát triển cũng có sự khác nhau
1.3.3 Nhu cầu dinh dưỡng của lứa tuổi vị thành niên
Sự phát triển trong 10 năm thứ hai của cuộc đời đòi hỏi một khối lượng lớn các chất sinh dưỡng Nhu cầu đề nghị chung (RDAs) cho lứa tuổi này nhiều khi không đáp ứng được nhu cầu của nhiều cá thể [9], [8],
Ở giai đoạn thiếu niên, nhu cầu dinh dưỡng ở trẻ trai và trẻ gái ở cùng độ tuổi không khác nhau nhiều, nhưng đến giai đoạn này do tốc độ tăng trưởng và phát triển ở tuổi dậy thì nên nhu cầu dinh dưỡng ở hai giới khác nhau rõ rệt Sau tuổi dậy thì, sự khác biệt về nhu cầu trở lên ổn định
- Nhu cầu năng lượng:
Tuổi (năm) Nhu cầu năng lượng (Kcal/ngày)
Trang 30- Nhu cầu protein: NPU = 70%
+ Iod: tuổi 10 -12 là 120 µg/ngày, tuổi 13 – 18 là 150 µg/ngày
+ Sắt: Nhu cầu sắt hàng ngày dựa trên giá trị sinh học của khẩu phần
Nhu cầu sắt theo các lớp tuổi (mg/ngày) Giá trị sinh học của khẩu phần
Nữ
10–14 tuổi chưa kinh nguyệt 28,0 18,7 14,0
10 – 14 tuổi có kinh nguyệt 65,4 43,6 32,7
1.4 Một số nghiên cứu xác định tuổi dậy thì của trẻ gái tuổi vị thành niên
Trong nghiên cứu đánh giá tình trạng dinh dưỡng và xác định tuổi dậy thì ở trẻ gái vị thành niên tại hai vùng thành phố (Hà Nội) và nông thôn (Bắc Ninh) của tác giả Trần Thị Lụa năm 2002 thì tuổi bắt đầu có kinh nguyệt ở học sinh nữ thành phố là 12,66 ± 1,18 năm và ở học sinh nữ nông thôn là13,78 ± 1,20 năm Có mối
Trang 31liên quan thuận chiều giữa cân nặng, chiều cao và BMI với tình trạng có kinh nguyệt của học sinh nữ [16]
Với nghiên cứu trên 1.202 nữ học sinh 11-18 tuổi của các trường trung học
cơ sở và trung học phổ thông Duy Tiên (Hà Nam) của tác giả Lê Nguyễn Bảo Khanh năm 2004 thì cho thấy sự phát triển và hoàn thiện phát triển giới tính muộn (tuổi bắt đầu có kinh trung bình 14,4 ± 1,04; hầu hết vị thành niên sớm chưa có các dấu hiệu phát triển giới tính thứ phát; 11,8% vị thành niên muộn chưa phát triển tuyến vú và 4,2% chưa phát triển lông mu).Sự tăng trưởng thể lực kém và chậm phát triển các đặc điểm giới tính thứ phát phản ánh hậu quả của chế độ dinh dưỡng không đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng và phát triển của lứa tuổi này [30]
Khảo sát 1247 nữ sinh tại 8 trường THCS ở tỉnh Vĩnh Long vào tháng 2 và 3/2012 thì tỉ lệ dậy thì là 69,7%, tỉ lệ dậy thì ở nữ sinh cuối bậc THCS là 95,9%, tỉ lệ dậy thì sớm hơn hay bằng 11 tuổi là 32,9% Có 3 yếu tố liên quan tới tuổi dậy thì sớm
đó là: tình trạng kinh tế của gia đình, cân nặng trẻ lúc sinh và chỉ số khối của cơ thể trẻ [42]
Trang 32CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Là học sinh nữ dân tộc Thái sinh từ ngày 01/01/2006 có mặt ở địa bàn nghiên cứu tại thời điểm nghiên cứu
* Tiêu chí chọn đối tượng:
Là học sinh nữ, thuộc dân tộc Thái, có năm sinh trong giấy khai sinh là từ ngày 01/01/2006 đang học tại 03 trường THCS là Chiềng Ly, Thôm Mòn, Tông Lệnh thuộc huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La và có đủ hồ sơ kiểm tra chiều cao, cân nặng năm 2019, năm 2020 Như vậy tại thời điểm nghiên cứu tháng 3/2021, thì đối tượng nghiên cứu đang là học sinh lớp 9
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Những người không có đủ thông tin về chiều cao, cân nặng đã đo ở năm
2019
- Những người đang mắc các bệnh lý cấp tính mà không thể tham gia nghiên cứu được; những người không có khả năng trả lời phỏng vấn;
- Những người không có mặt ở địa điểm nghiên cứu tại thời điểm nghiên cứu;
- Những người từ chối tham gia hoặc người giám hộ không đồng ý cho tham gia nghiên cứu
2.1.2 Địa bàn nghiên cứu
Tại 3 trường THCS là Chiềng Ly, Thôm Mòn, Tông Lệnh thuộc huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
Sơn La là tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa ở vùng Tây Bắc Bộ, Việt Nam, cách Hà Nội 320 km trên trục Quốc lộ 6 Hà Nội - Sơn La - Điện Biên Với dân số 1.248.451 người, là tỉnh đông dân nhất vùng Tây Bắc Bộ đồng thời là một trong những tỉnh nghèo của Việt Nam, 13,8% dân số sống ở đô thị và 86,2% dân số
Trang 33sống ở nông thôn Đây là tỉnh có nhiều dân tộc cư trú nên có sự đa dạng về văn hoá truyền thống, đời sống, tập tục, trong đó chủ yếu là các dân tộc
Thuận Châu tên địa phương còn gọi là Mường Muổi, là một huyện miền núi nằm ở phía Tây tỉnh Sơn La, có diện tích 153.507,24 ha, nằm dọc trên đường Quốc
lộ 6 (Hà Nội - Hoà Bình - Sơn La- Điện Biên), cách Thành phố Sơn La 34 Km, cách huyện Tuần Giáo tỉnh Điện Biên 52 Km Phía Đông giáp huyện Mường La và Thành phố Sơn La Phía Tây giáp huyện Điện Biên Đông, huyện Mường Ảng và huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên Phía Nam giáp huyện Mai Sơn và huyện Sông
Mã Phía Bắc giáp huyện Quỳnh Nhai
Huyện Thuận Châu có 29 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Thuận Châu (huyện lỵ) và 28 xã Tổng dân số 147.073 người, chủ yếu là các dân tộc: dân tộc Thái: 102.788 người; dân tộc Mông: 15.643 người; dân tộc Kinh:
5019 người; dân tộc Khơ Mú: 1956 người; dân tộc Kháng: 3388 người; dân tộc La Ha: 2399 người; dân tộc khác: 137 người
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 4 năm 2019 đến tháng 4 năm 2021
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo thiết kế dịch tễ học mô tả qua điều tra cắt ngang kết hợp nghiên cứu hồi cứu nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng, đặc điểm dậy thì và diễn biến một số chỉ số nhân trắc của học sinh nữ dân tộc Thái tại 3 trường THCS trên địa bàn tỉnh Sơn La từ 2019-2021
1
d
p z
Trang 34Z: Hệ số tin cậy tính theo , chọn = 0,05 với khoảng tin cậy 95%, tra bảng
ta có Z = 1,96
d: Khoảng sai lệch mong muốn, chọn d = 0,05
p: Ước tính tỷ lệ học sinh THCS bị suy dinh dưỡng, lấy p = 0,159 là tỷ lệ học sinh THCS bị suy dinh dưỡng theo nghiên cứu của Lê Thị Bích Ngọc (2017) [23]
Thay vào công thức tính được n = 205, thực tế điều tra được 209 Vậy cỡ mẫu điều tra là 209 học sinh
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Mẫu nghiên cứu tại thời điểm điều tra năm 2019 được chọn qua các bước cụ thể như sau:
* Chọn huyện: Chọn chủ đích huyện Thuận Châu của tỉnh Sơn La
* Chọn trường: Theo phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên
- Lập danh sách tất cả các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Thuận Châu Có tất cả 12 trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện
- Sau đó bốc thăm ngẫu nhiên 3 trường trong danh sách 12 trường Mỗi lần bốc thăm, xác định được 1 trường Như vậy 03 trường được chọn vào nghiên cứu là: Trường THCS Chiềng Ly, THCS Thôm Mòn và THCS Tông Lệnh
* Chọn đối tượng nghiên cứu: Theo phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên
- Lập danh sách tất cả học sinh nữ tại 3 trường, có ngày sinh từ 01/01/2006
là dân tộc Thái thỏa các tiêu chí chọn đối tượng nghiên cứu ở trên Như vậy danh sách tổng số học sinh nữ của cả 3 trường là 337 học sinh trong đó trường THCS Thôm Mòn có 120 học sinh, Tông Lệnh là 105 và Chiềng Ly là 112 học sinh
- Sau đó bốc thăm ngẫu nhiên trong danh sách 337 học sinh này để chọn ra đối tượng nghiên cứu cho đến khi đủ số mẫu cần chọn là 205 học sinh Mỗi lần bốc thăm, xác định được 1 đối tượng nghiên cứu Và thực tế chọn điều tra được 209 học sinh
* Chọn đối tượng nghiên cứu năm 2021:
Trang 35- Theo danh sách đối tượng nghiên cứu đã triển khai vào tháng 4/2019 Rà soát lại toàn bộ hồ sơ, kiểm tra thông tin chiều cao, cân nặng của đối tượng qua các năm 2019, 2020 Chọn được 209 hồ sơ có đầy đủ thông tin thỏa tiêu chí
- Lập danh sách 209 đối tượng nghiên cứu này vào mẫu nghiên cứu năm
2021
2.3 Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu
- Phân bố đối tượng tham gia nghiên cứu theo trường và đặc điểm dậy thì;
- Nhóm biến số/chỉ số: chiều cao, cân nặng của đối tượng; chiều cao/tuổi; BMI/tuổi; trình trạng dinh dưỡng theo HAZ và BAZ
- Nhóm biến số: Phương tiện đi học, những công việc thường phụ giúp gia đình; tỷ lệ học sinh ăn kiêng và bổ sung thuốc bổ; tỷ lệ học sinh biết quan tâm tới cân nặng, chiều cao của bản thân; hiểu biết của học sinh về thực phẩm giàu protein, giàu sắt và giàu canxi;
- Nhóm biến số về đặc điểm dậy thì: Thời điểm có kinh nguyệt, dấu hiệu mọc lông nách, dấu hiệu mọc lông mu, dấu hiệu phát triển ngực;
- Nhóm biến số về diễn biến của chỉ số nhân trắc: diễn biến sự thay đổi cân nặng, chiều cao qua các năm; diễn biến sự thay đổi các chỉ số chiều cao/tuổi (HAZ)
và BMI theo tuổi (BAZ) qua các năm
2.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.4.1 Chuẩn bị
- Tổ chức tập huấn cho cán bộ tham gia nghiên cứu Sau đây được gọi là
điều tra viên
- Tổ chức hội nghị đồng thuận và triển khai thực hiện nghiên cứu cho các đối tượng là Lãnh đạo trường THCS, phụ huynh của đối tượng nghiên cứu Xác nhận đồng ý cho con tham gia nghiên cứu của phụ huynh học sinh
- Điều tra viên lập danh sách toàn bộ đối tượng đã được chọn nghiên cứu Điều tra viên viết và gửi thư mời hoặc đến mời trực tiếp các đối tượng được chọn
Trang 36- Tổ chức thu thập số liệu gồm: 01 cán bộ hướng dẫn quy trình; 01 cán bộ
đo chiều cao; 01 cán bộ đo cân nặng; 02 cán bộ phỏng vấn phiếu điều tra; 02 cán
bộ thu thập số liệu về chiều cao, cân năng của đối tượng từ năm 2019 và 2020
- Địa điểm tổ chức phỏng vấn: Thực hiện tại 03 trường THCS được chọn trong nghiên cứu Đối tượng được chọn sẽ được thông báo về thời gian, địa điểm trên giấy mời
2.4.2 Phương pháp thu thập thông tin
- Phỏng vấn trực tiếp đối tượng bằng bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn;
- Các thông tin về cân nặng, chiều cao từ năm 2019, 2020 sẽ được thu thập qua hồ sơ của nghiên cứu trước do học viên làm chủ nhiệm đề tài;
- Các chỉ số cân nặng, chiều cao năm 2021 sẽ được cán bộ điều tra đo trực tiếp
2.4.2.1 Phỏng vấn đối tượng: Phỏng vấn trực tiếp để tìm hiểu về thông tin gia
đình, tình trạng dinh dưỡng, các dấu hiệu sinh dục của đối tượng theo bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn
- Đo chiều cao: Đối tượng ở trong tư thế đứng thẳng thoải mái, mắt nhìn về phía trước, hai gót chân sát mặt sau của thước chụm lại thành hình chữ V, đi chân trần, không đội mũ, không cầm bất cứ vật gì, chỉ mặc quần áo mỏng, bảo đảm 4 điểm trên cơ thể chạm vào thước đo, đó là vùng chẩm, xương bả vai, mông và gót
Trang 37chân Người đo kéo êke gắn sẵn trên thước đo lên cho quá đầu, hạ xuống đến chạm đỉnh đầu Kết quả tính bằng đơn vị cm và lấy chính xác đến 0,1cm
- Chỉ số khối cơ thể (BMI): được tính theo công thức:
BMI = Cân nặng/ chiều cao2
- Phân loại tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 10-19 tuổi theo WHO 2007:
Sử dụng các số đo nhân trắc dinh dưỡng và phân loại trẻ em theo chỉ tiêu: Chiều cao theo tuổi (CC/T) (Height for Age: H/A) và BMI theo tuổi (BMI/T) (BMI for Age: BMI/A):
+ Đánh giá chỉ số Z-Score cao theo tuổi với Z-Score:
< -3 Trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi, mức độ nặng
< -2 Trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi, mức độ vừa
< -3 Trẻ suy dinh dưỡng thể gầy còm, mức độ nặng
< -2 Trẻ suy dinh dưỡng thể gầy còm, mức độ vừa
- Trẻ từ 156 tháng đến dưới 168 tháng là 13 tuổi;
Trang 38- Trẻ từ 168 tháng đến dưới 180 tháng là 14 tuổi;
- Trẻ từ 180 tháng đến dưới 192 tháng là 15 tuổi;
2.5 Phương pháp phân tích số liệu
- Sau khi điều tra, toàn bộ các phiếu điều tra sẽ được kiểm tra lại và loại bỏ những phiếu điền không đầy đủ;
- Nhâp liệu: toàn bộ số liệu thu thập được sẽ được nhập 2 lần bằng phần mềm Epi data 3.1
- Làm sạch số liệu: Sau khi nhập, các số liệu sẽ được kiểm tra và hiệu chỉnh các sai sót trong quá trình nhập liệu;
- Xử lý và phân tích số liệu: số liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0
- Các biến liên tục sẽ được mô tả bằng số trung bình và độ lệch chuẩn (mean SD), các biến phân loại được mô tả bằng tỷ lệ % T- test và Chi-square test
sẽ được sử dụng để xác định sự khác biệt giữa các biến với độ tin 95% Nhận định
có sự khác biệt khi giá trị p < 0,05
2.6 Hạn chế sai số trong nghiên cứu
- Tuân thủ theo nguyên tắc chọn mẫu ngẫu nhiên; kế hoạch và qui trình thực
hiện;
- Trong quá trình xây dựng công cụ nghiên cứu, bộ phiếu điều tra phỏng vấn
đã tổ chức thảo luận nhóm chuyên gia,thiết kế hệ thống Các khái niệm, thuật ngữ
rõ ràng, dễ hiểu phù hợp với đối tượng nghiên cứu Tiến hành điều tra thử để hoàn thiện bộ công cụ;
- Lựa chọn và tập huấn cho điều tra viên: Điều tra viên là cán bộ có trình độ
và được tập huấn kỹ trước khi tiến hành điều tra, thống nhất phương pháp điều tra
trong thu thập số liệu
- Trước khi phỏng vấn, điều tra viên giải thích rõ mục đích, hướng dẫn trả lời phiếu điều tra cho đối tượng để họ hiểu và sẵn sàng hợp tác;
Trang 39- Số liệu nhân trắc: không thay đổi điều tra viên tham gia cân đo từ đầu đến cuối nghiên cứu để tránh sai số do người đo
- Dụng cụ, máy móc, phải được kiểm tra trước khi sử dụng và được hiệu
chỉnh sau mỗi ngày làm việc, sử dụng một loại cân đó trong suốt quá trình nghiên
cứu Các thông tin được kiểm tra lại sau khi kết thúc mỗi trường hợp nghiên cứu;
- Đối tượng bỏ cuộc, không có mặt tại địa điểm nghiên cứu: Tổ chức địa
điểm thu thập số liệu phù hợp Ngày hôm trước cộng tác viên đến từng nhà đối tượng nghiên cứu để phát thư mời đồng thời giải thích nội dung, các yêu cầu nghiên cứu, vận động đối tượng tham gia nghiên cứu Trường hợp đối tượng nghiên cứu không có mặt tại địa điểm sẽ bị loại ra khỏi nghiên cứu và sẽ chọn lại
trường hợp khác thỏa tiêu chí;
- Các số liệu được phân tầng, chuẩn hóa trước khi xử lý Khi nhập số liệu, xử
lý và phân tích số liệu phải cẩn thận, chắc chắn
2.7 Đạo đức trong nghiên cứu
- Tất cả các đối tượng nghiên cứu, phụ huynh của đối tượng sẽ được giải thích cụ thể về mục đích, nội dung của nghiên cứu để tự nguyện tham gia và hợp tác tốt trong quá trình nghiên cứu Các đối tượng có quyền từ chối tham gia nghiên cứu;
- Mọi thông tin của đối tượng đều được giữ bí mật và số liệu thu được chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu Tất cả các thông tin chỉ có người nghiên cứu mới được phép tiếp cận;
- Kết quả được thông báo đầy đủ cho các đối tượng tham gia nghiên Sẵn sàng tư vấn về dinh dưỡng, sức khỏe sinh sản cho học sinh, phụ huynh học sinh
- Nghiên cứu được sự chấp thuận của chính quyền địa phương, Trung tâm y
tế huyện Thuận Châu, Ban lãnh đạo các trường THCS Chiềng Ly, Tông Mòn, Thôm Lệnh
Trang 40CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và một số đặc điểm về sinh hoạt, hiểu biết của học sinh nữ dân tộc Thái đang học lớp 9 tại ba trường trung học
cơ sở Thôm Mòn, Chiềng Ly, Tông Lệnh huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La năm 2019
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng tham gia nghiên cứu theo trường và dấu hiệu
kinh nguyệt (n = 209)
Đặc điểm dậy thì Trường
Chưa có kinh nguyệt (n=31)
Đã có kinh nguyệt (n=178) Chung (n=209)
Bảng 3.2 Giá trị trung bình cân nặng của đối tượng theo trường và dấu hiệu