1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 2 tuổi về tiêm chủng, an toàn tiêm chủng tại huyện yên khánh, tỉnh ninh bình, năm 2020

94 11 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 2 tuổi về tiêm chủng, an toàn tiêm chủng tại huyện yên khánh, tỉnh ninh bình, năm 2020
Tác giả Vũ Thị Lĩnh
Người hướng dẫn PGS.TS. Ngô Thị Nhu, PGS.TS. Dương Huy Hoàng
Trường học Trường đại học y dược Thái Bình
Chuyên ngành Y học
Thể loại Luận văn thạc sĩ y học dự phòng
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thái Bình
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi cam đoan luận văn “Thực trạng và kiến thức thực hành của bà mẹ có con dưới 2 tuổi về tiêm chủng và an toàn tiêm chủng tại huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình năm 2020” là do tôi được sự c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

VŨ THỊ LĨNH

THỰC TRẠNG VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA BÀ MẸ

CÓ CON DƯỚI 2 TUỔI VỀ TIÊM CHỦNG, AN TOÀN

TIÊM CHỦNG TẠI HUYỆN YÊN KHÁNH,

TỈNH NINH BÌNH, NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC DỰ PHÕNG

Mã số: 8 72 01 63

THÁI BÌNH - 2021

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

VŨ THỊ LĨNH

THỰC TRẠNG VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA BÀ MẸ

CÓ CON DƯỚI 2 TUỔI VỀ TIÊM CHỦNG, AN TOÀN

TIÊM CHỦNG TẠI HUYỆN YÊN KHÁNH,

Trang 3

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sử chỉ bảo tận tình của các Quý Thầy/Cô Sự giúp đỡ nhiệt tình của bạn bè, đồng nghiệp Với lòng biết ơn sâu sắc nhất:

Tôi xin trân trọng cảm ơn tới Ban Giám hiệu, Phòng QLĐTSĐH, Khoa YTCC, cùng các thầy giáo, cô giáo trường đại học Y Dược Thái Bình đã trang

bị các kiến thức cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo CDC tỉnh Ninh Bình, Trưởng/Phó các Khoa/Phòng, Trung tâm, các Y Bác sĩ và nhân viên của Trung tâm CDC và trạm y tế đã nhiệt tình tình hỗ trợ và giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc hai Thầy/Cô PGS.TS Ngô Thị Nhu

và PGS.TS Dương Huy Hoàng là những người thầy trực tiếp hướng dẫn và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Sau cùng, tôi xin gửi đến những người thân trong gia đình, những bạn

bè và đồng nghiệp đã động viên, chăm sóc, khuyến khích và giúp đỡ tôi trong đời sống, học tập và công tác để tôi hoàn thành tốt luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn

Ngày … tháng 9 năm 2021

Tác giả

Vũ Thị Lĩnh

Trang 4

Tôi cam đoan luận văn “Thực trạng và kiến thức thực hành của bà mẹ

có con dưới 2 tuổi về tiêm chủng và an toàn tiêm chủng tại huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình năm 2020” là do tôi được sự cho phép của Ban Giám CDC tỉnh Ninh Bình, tôi được thực hiện nghiên cứu và hoàn thành, các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về lời cam đoan này

Ngày … tháng 9 năm 2021

Tác giả

Vũ Thị Lĩnh

Trang 5

- ATTC : An toàn tiêm chủng

- BKT : Bơm kim tiêm

- TT-GDSK : Truyền thông giáo dục sức khoẻ

- TTYT : Trung tâm y tế

- TYT : Trạm y tế

- WHO : World Health Organization (tổ chức Y tế thế giới)

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Tiêm chủng, an toàn thiêm chủng và vắc-xin trong tiêm chủng 3

1.1.1 Tiêm chủng và an toàn tiêm chủng 3

1.1.2 Vắc-xin 9

1.2 Thực trạng tiêm chủng và an toàn tiêm chủng trên thế giới, Việt Nam 11

1.2.1 Trên thế giới 11

1.2.2 Tại Việt Nam 14

1.3 Thực trạng kiến thức và thực hành của bà mẹ về tiêm chủng và an toàn tiêm chủng 18

1.3.1 Trên thế giới 18

1.3.2 Tại Việt Nam 19

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Địa bàn, đối tượng và thời gian nghiên cứu 21

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 21

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 21

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 22

2.2 Phương pháp nghiên cứu 22

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 22

2.2.2 Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu 22

2.2.3 Các nhóm biến số và chỉ số nghiên cứu 24

2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu 28

2.2.5 Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá 28 2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu 29

2.2.7 Hạn chế của nghiên cứu và biện pháp khắc phục 29

2.2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 30

Trang 7

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31

3.1 Thực trạng tiêm chủng và an toàn tiêm chủng tại huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình năm 2020 31 3.1.1 Nhân viên y tế tham gia công tác tiêm chủng 31 3.1.2 Thực trạng công tác bảo quản vắc-xin và tiêm chủng tại trạm y tế 32 3.2 Kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 2 tuổi về an toàn tiêm chủng tại địa bàn nghiên cứu 39

Chương 4 BÀN LUẬN 46

4.1 Thực trạng tiêm chủng và an toàn tiêm chủng tại huyện Yên khánh tỉnh Ninh Bình năm 2020 50 4.2 Kiến thức và thực hành về an toàn tiêm chủng của bà mẹ có con dưới 2 tuổi tại địa bàn nghiên cứu 59

KẾT LUẬN 68 KHUYẾN NGHỊ 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Số lượng nhân viên y tế tham gia buổi tiêm chủng 31

Bảng 3.2 Số lượng nhân viên y tế trực tiếp tiêm chủng tại các buổi tiêm chủng được quan sát 31

Bảng 3.3 Thời gian tham gia công tác tiêm chủng và đào tạo lại của nhân viên y tế trực tiếp tiêm chủng 32

Bảng 3.4 Thực trạng bảo quản vắc-xin tại tủ lạnh 32

Bảng 3.5 Thực trạng chuẩn bị và sử dụng vắc xin tại các TYT 33

Bảng 3.6 Thực trạng vô khuẩn trong tiêm chủng tại các trạm y tế 33

Bảng 3.7 Việc sử dụng bơm kim tiêm và thao tác tiêm trong các buổi tiêm chủng tại các trạm y tế 34

Bảng 3.8 Xử lý bơm kim tiêm sau khi sử dụng của buổi tiêm chủng 34

Bảng 3.9 Một số hoạt động liên quan tới an toàn tiêm chủng 35

Bảng 3.10 Một số hoạt động khác trong buổi tiêm chủng 35

Bảng 3.11 Tỷ lệ trẻ được tiêm chủng 36

Bảng 3.12 Kết quả theo dõi sau tiêm chủng của trẻ 37

Bảng 3.13 Nghề nghiệp của bà mẹ được điều tra 39

Bảng 3.14 Tuổi và trình độ học vấn của bà mẹ được điều tra 40

Bảng 3.15 Kiến thức của bà mẹ về địa điểm lựa chọn tiêm vắc-xin cho trẻ 41

Bảng 3.16 Kiến thức của bà mẹ về các loại vắc-xin cần tiêm chủng cho con 41

Bảng 3.17 Kiến thức của bà mẹ về bảo quản vắc xin 42

Bảng 3.18 Kiến thức của bà mẹ về các phản ứng của cơ thể trẻ có thể gặp sau tiêm chủng 43

Bảng 3.19 Kiến thứccủa bà mẹ về xử trí phản ứng của cơ thể trẻ sau khi tiêm chủng 43

Bảng 3.20 Tỷ lệ con của các bà mẹ được tiêm đủ vắc-xin và lý do 44

Bảng 3.21 Thực hành của bà mẹ về theo dõi các biểu hiện của trẻ sau tiêm 45

Trang 9

Bảng 3.22 Thực hành của bà mẹ khi trẻ bị sốt cao sau tiêm phòng 45 Bảng 3.23 Xử trí của bà mẹ vào vết tiêm của trẻ 46 Bảng 3.24 Mối liên quan giữa tuổi và kiến thức của bà mẹ về an toàn tiêm

chủng 48 Bảng 3.25 Mối liên quan giữa trình độ học vấn và kiến thức của bà mẹ về an

toàn tiêm chủng 48 Bảng 3.26 Mối liên quan giữa trình độ học vấn và thực hành của bà mẹ về an

toàn tiêm chủng 48 Bảng 3.27 Mối liên quan giữa tuổi và thực hành của bà mẹ về an toàn tiêm

chủng 49 Bảng 3.28 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành của bà mẹ về an toàn

tiêm chủng 49

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Phân bố trẻ đã được điều tra theo độ tuổi 36 Biểu đồ 3.2 Số con hiện có dưới 5 tuổi của bà mẹ 40 Biểu đồ 3.3 Kiến thức của bà mẹ về sự cần thiết phải khám sức khỏe cho trẻ

trước khi tiêm chủng 42 Biểu đồ 3.4 Kiến thức chung của bà mẹ đạt về an toàn tiêm chủng 44 Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ bà mẹ thường xuyên mang phiếu tiêm chủng khi cho trẻ đi

tiêm phòng 46 Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ bà mẹ có đọc thông tin trong phiếu tiêm chủng 47 Biểu đồ 3.7 Thực hành chung của bà mẹ đạt về an toàn tiêm chủng 47

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đề xướng và tích cực hưởng ứng, thực hiện chương trình tiêm chủng mở rộng Tiêm vắc xin phòng bệnh có vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với trẻ em Tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch không chỉ có tác dụng phòng bệnh đối với trẻ mà còn mang lại những lợi ích to lớn đối với xã hội và là một chương trình mang tính nhân văn sâu sắc Chính vì lợi ích của vắc-xin mang lại cho con người là vô cùng to lớn nên ngày nay hoạt động tiêm chủng được phổ cập và khuyến nghị ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới [1]

Chương trình Tiêm chủng mở rộng bắt đầu được triển khai ở Việt Nam từ năm 1981 do Bộ Y tế khởi xướng với sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) Trên cơ sở thành quả đã đạt được, từ năm 1996 Chương trình Tiêm chủng mở rộng phấn đấu duy trì diện bao phủ thường xuyên trên toàn quốc, đồng thời tập trung hoạt động để nâng cao các mặt chất lượng tiêm chủng Nhằm duy trì tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tuổi luôn đạt mức cao trên 90% ở quy mô tuyến huyện Nâng cao tỷ

lệ hình thức tiêm chủng thường xuyên hàng tháng ở đơn vị tuyến xã, kết hợp chặt chẽ với hình thức tiêm chủng chiến dịch, gồm cả chiến dịch toàn quốc, chiến dịch theo khu vực hoặc chiến dịch nhỏ đáp ứng cho từng địa bàn (huyện, xã, nhà trường, khu dân cư ) có nguy cơ cao hoặc xảy ra dịch Tăng cường chỉ đạo, giám sát, hỗ trợ đối với những vùng triển khai tiêm chủng gặp nhiều khó khăn như ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo Tranh thủ hỗ trợ quốc tế, đưa vào Chương trình những vắc xin mới, lịch tiêm mới, kỹ thuật tốt hơn; tăng cường chất lượng dây chuyền lạnh; giám sát bệnh, giám sát an toàn tiêm chủng ở những địa bàn trọng điểm và trên toàn quốc [2] Tuy nhiên, với công tác an toàn cho tiêm chủng ở một số địa phương vẫn còn một số những khó khăn vướng mắc chẳng hạn như cần có sự hỗ trợ và đầu tư về kỹ thuật,

Trang 12

kinh phí cho các hoạt động bao gồm tập huấn, hướng dẫn xây dựng kế hoạch chi tiết, nâng cao kiến thức cho cán bộ y tế thôn bản, truyền thông huy động cộng đồng [2], [3]

Tại Ninh Bình, tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em dưới 1 tuổi đã được nâng lên hàng năm Huyện Yên Khánh cũng như một số địa phương khác của tỉnh, qua quan sát thực tế buổi tiêm chủng được tổ chức tại các trạm y tế xã cho thấy hoạt động tiêm chủng còn có một số tồn tại, một câu hỏi đặt ra rằng: Vậy việc thực hiện an toàn tiêm chủng tại huyện Yên Khánh như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến an toàn tiêm chủng tại huyện Yên Khánh?

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 2 tuổi về tiêm chủng an, toàn tiêm chủng tại huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình năm 2020”

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng tiêm chủng và an toàn tiêm chủng tại các trạm y tế

xã của huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình năm 2020

2 Đánh giá kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 2 tuổi về tiêm chủng và an toàn tiêm chủng tại một số xã huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình năm 2020

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tiêm chủng, an toàn thiêm chủng và vắc-xin trong tiêm chủng

1.1.1 Tiêm chủng và an toàn tiêm chủng

* Tiêm chủng là đưa vắc xin vào cơ thể thông qua đường tiêm, uống,

hít, rỏ mũi,… để kích thích cơ thể sinh ra kháng thể đặc hiệu chống lại mầm

bệnh tương ứng khi chúng xâm nhập cơ thể [4]

* Tiêm chủng phòng bệnh là cần thiết cho mọi đối tượng có nguy cơ

nhiễm bệnh mà chưa có miễn dịch, đặc biệt là trẻ em Miễn dịch thụ động nhờ kháng thể do mẹ truyền qua rau thai hoặc qua sữa mẹ chỉ tồn tại một thời gian, trung bình khoảng 6 tháng và chỉ còn đối với những bệnh mà cơ chế bảo

vệ chủ yếu do miễn dịch dịch thể, còn không có hoặc có rất ít đối với những bệnh mà cơ chế bảo vệ là miễn dịch qua trung gian tế bào Vì vậy trẻ có thể mắc một số bệnh ngay từ tháng đầu tiên sau khi sinh Nếu trẻ không được tiêm vắc-xin, trẻ sẽ có nguy cơ nhiễm bệnh và sẽ có nguy cơ tử vong hoặc tàn phế do bệnh truyền nhiễm gây lên [1]

* Tiêm phòng cho từng cá nhân cũng góp phần bảo vệ sức khỏe cho

cộng đồng, đặc biệt cho những người không được miễn dịch, bao gồm trẻ chưa đến tuổi tiêm vắc xin, những người không được tiêm chủng do các nguyên nhân

y tế và những người không có đáp ứng miễn dịch đầy đủ với tiêm chủng Tiêm chủng sẽ làm chậm lại hoặc chặn đứng các vụ dịch [4]

* Kỹ thuật tiêm chủng [4]:

+ Liều lượng, vị trí và đường tiêm khác nhau tùy loại vắc xin:

- Tiêm bắp đối với các vắc xin chứa tá chất

- Tiêm dưới da đối với vắc xin sống

Trang 14

- Tiêm trong da đối với BCG để tránh tổn thương thần kinh mạch máu nhưng vẫn đảm bảo tính sinh miễn dịch

+ Thực hiện vô trùng trong tiêm chủng [4]

Trong tiêm chủng cần đảm bảo vô trùng ở mọi khâu:

- Vắc xin phải đảm bảo vô khuẩn

- Dụng cụ tiêm chủng vô khuẩn: Sử dụng bơm kim tiêm đảm bảo vô trùng Hiện nay chương trình TCMR thường sử dụng bơm kim tiêm sử dụng một lần hoặc bơm tự khóa Tuy nhiên một số nơi không đủ cung cấp hoặc cung cấp không kịp thời, hoặc trong tiêm chủng thu phí có tự đi mua bơm kim tiêm sử dụng 1 lần, nhưng cần phải mua bơm kim tiêm có nguồn gốc rõ ràng

và không được sử dụng những bơm kim tiêm đã thủng rách túi bảo quản hoặc quá hạn sử dụng Sau khi sử dụng bơm kim tiêm phải được bỏ ngay vào thùng hủy (hiện nay chương trình TCMR cung cấp hộp an toàn để các điểm tiêm chủng thu gom bơm kim tiêm đã sử dụng

- Sự chuẩn bị của nhân viên y tế đúng qui định: Bàn tay sạch sẽ, có đầy đủ khẩu trang, mũ, quần áo công tác sạch sẽ gọn gàng

- Xử lý tại vết tiêm sau khi tiêm chủng đúng: Tại vết tiêm sau khi tiêm chủng không cần phải bôi bất cứ thứ gì để tránh nhiễm trùng tại vết tiêm

- Địa điểm tiêm chủng phải sạch, tránh gây bụi, xa các nguồn ô nhiễm,

đủ ánh sáng, đảm bảo đủ rộng để thực hiện một chiều, tránh ùn tắc và để tránh lây nhiễm chéo

Trang 15

- Cán bộ y tế cần nắm chắc các thông tin về sản phẩm vắc-xin

- Đảm bảo chắc chắn vắc-xin còn hạn sử dụng và được bảo quản ở nhiệt độ bảo quản đúng quy định

- Cung cấp cho cha mẹ hoặc người đi kèm các câu hỏi có liên quan tới chỉ định và chống chỉ định trước khi sử dụng vắc-xin

- Kiểm tra họ tên người được sử dụng vắc-xin

- Tiêm đúng kỹ thuật về chủng loại liều lượng và đường tiêm

- Nói cho cha mẹ hoặc người đi kèm về những phản ứng thông thường

và những phản ứng nặng cần đưa ngay đến đúng cơ sở y tế gặp sau khi tiêm vắc-xin

- Ghi phiếu theo dõi tiêm chủng và hẹn thời gian tiêm lần sau

* Chống chỉ định trong tiêm chủng: Chống chỉ định tiêm chủng có

hướng dẫn riêng đối với từng loại vắc xin, nhưng nói chung không được tiêm

chủng cho các đối tượng sau:

- Đang bị sốt cao trên 38,50C, nhiễm trùng cấp tính

- Đang trong tình trạng dị ứng

- Điều trị thuốc làm suy giảm miễn dịch, hoặc bị bệnh ác tính

- Có phản ứng mạnh như sốt cao co giật, sốc hoặc các triệu chứng về thần kinh khác trong vòng 3 ngày đầu sau mũi tiêm lần trước của vắc xin đó

Tất cả các vắc-xin sống giảm độc lực không được tiêm cho phụ nữ đang mang thai hoặc những người thiếu hụt miễn dịch [6]:

* An toàn trong tiêm chủng: Tiêm chủng không an toàn là tiêm chủng

gây cho người được tiêm, nhân viên y tế và cộng đồng những tác hại khó lường Tổ chức Y tế Thế giới khuyến nghị rằng tất cả các mũi tiêm đều phải được đảm bảo an toàn Tiêm chủng là rất cần thiết cho nên đảm bảo an toàn trong tiêm chủng là nhiệm vụ hàng đầu [6]

Trang 16

An toàn mũi tiêm: Thực hành tiêm đảm bảo vô trùng Những thao tác

có thể có hại cho trẻ được tiêm vắc xin là: Sử dụng lại bơm kim tiêm, thay kim tiêm nhưng sử dụng lại bơm tiêm, sử dụng vắc xin đông khô pha hồi chỉnh trên 6 giờ, dùng tay hoặc vật không vô trùng ấn vào chỗ tiêm khi chảy máu, lưu kim tiêm ở lọ vắc xin để lấy vắc xin tiêm cho những liều sau, trộn lẫn 2 lọ vắc xin đang dùng dở, tiêm không đúng vị trí, tiêm sai đường tiêm

(tiêm bắp, tiêm trong da, tiêm dưới da), chạm tay vào kim tiêm, dùng dung

môi không cùng nhà sản xuất pha hồi chỉnh vắc xin, bảo quản thuốc và vắc xin trong cùng tủ lạnh [7], [8]

* Tác hại xảy ra do tiêm chủng không an toàn:

- Sai sót trong thực hành tiêm chủng có thể gây ra cụm phản ứng có thể do cung cấp vắc-xin, thực hành tiêm tại cơ sở y tế, nhiễm khuẩn lọ vắc-xin hoặc pha hồi chỉnh không đúng [7]

- Mắc các bệnh lây truyền qua đường máu đặc biệt nguy hiểm như viêm gan B, C, D, vi rút HIV có thể lây truyền từ người mang mầm bệnh sang các đối tượng khác do dụng cụ tiêm chủng bị nhiễm bẩn, lây sang cán bộ y tế do

bị kim đâm trong khi tiêm chủng, lây cho cộng đồng khi các dụng cụ tiêm chủng mang mầm bệnh không được hủy đúng cách, còn tồn tại trong cộng đồng

- Nhiễm trùng tại chỗ hoặc nhiễm khuẩn do dụng cụ tiêm chủng không được diệt khuẩn, vắc xin bị nhiễm trùng, thao tác vô khuẩn khi tiêm không đúng, xử lý tại vết tiêm sau khi tiêm chủng sai

- Viêm hạch bạch huyết, hoặc viêm dây thần kinh do kỹ thuật tiêm sai

- Có thể gây choáng, sốc phản vệ, hoặc xảy ra các phản ứng mạnh sau tiêm chủng do không tuân theo chỉ định và chống chỉ định

- Tai nạn thương tích như chảy máu do bị kim đâm

Trang 17

* Các yếu tố đảm bảo an toàn trong tiêm chủng [4]:

- Thực hành tiêm chủng an toàn đòi hỏi các cán bộ y tế phải đảm bảo các thao tác an toàn trước, trong và sau khi kết thúc buổi tiêm chủng bao gồm đảm bảo vắc-xin được bảo quản ở nhiệt độ từ +20C đến +80C trong suốt buổi tiên chủng, đảm bảo đúng nguyên tắc tiêm chủng [2]

- Các vắc xin, đặc biệt các vắc xin trong chương trình TCMR, sau khi sản xuất đều được cơ quan kiểm định nhà nước kiểm tra chặt chẽ về mặt vô trùng, thuần khiết và không độc

* Một số sai sót thường gặp và cách phòng tránh [2]

+ Tiêm không vô khuẩn: áp xe, viêm mô tế bào, nhiễm trùng huyết, hội chứng sốc nhiễm độc, nhiễm HIV, viêm gan B, C và các bệnh lây nhiễm qua đường máu…

Cách phòng tránh[9]:

- Đảm bảo thực hành tiêm an toàn: Dùng 1 bơm kim tiêm vô khuẩn cho 1 mũi tiêm; Bỏ ngay bơm kim tiêm sau khi sử dụng vào hộp an toàn; đảm bảo vô trùng khi pha hồi chỉnh vắc xin đông khô; đảm bảo tiêm vô khuẩn

- Vắc-xin được bảo quản lạnh 20C-80C, sử dụng càng sớm càng tốt

- Chỉ sử dụng vắc-xin trong vòng 6 giờ sau khi pha hồi chỉnh ngay cả khi bảo quản lạnh tốt

- Không vận chuyển vắc-xin đã pha hồi chỉnh từ điểm tiêm chủng này đến điểm tiêm chủng khác

- Không lấy sẵn vắc-xin vào bơm kim tiêm để vận chuyển tới các điểm tiêm chủng

+ Chuẩn bị vắc-xin không đúng: Pha hồi chỉnh dung môi sai, lấy nhầm

thuốc hoặc dung môi gây phản ứng tại chỗ hoặc áp xe, phản ứng thuốc

Cách phòng tránh:

- Dùng đúng dung môi của nhà sản xuất để pha hồi chỉnh vắc-xin

Trang 18

- Các pha dung môi đúng

- Bảo quản vắc-xin trong tủ lạnh riêng, không để thuốc khác hoặc thực phẩm chung với vắc-xin Kiểm tra nhãn lọ vắc xin và dung môi (hạn sử dụng, nơi sản xuất…) trước khi sử dụng Chỉ hút vắc xin vào bơm tiêm ngay trước khi tiêm, không hút sẵn vắc-xin vào bơm tiêm

+ Tiêm không đúng vị trí gây phản ứng tại chỗ hoặc gây áp xe, tổn thương

dây thần kinh

Cách phòng tránh:

- Tiêm vắc-xin đúng liều lượng, đúng vị trí, đúng đường tiêm

+ Vận chuyển và bảo quản vắc-xin không đúng nên vắc-xin bị đông băng gây phản ứng tại chỗ

+ Không quan tâm đến chống chỉ định, không khám phân loại có thể

gặp những phản ứng trùng hợp

Cách phòng tránh:

- Khám phân loại trước khi tiêm chủng

- Theo đúng hướng dẫn về chỉ định và chống chỉ định của mỗi loại vắc xin và khuyến cáo của nhà sản xuất

- Không tiêm đối với các trường hợp có tiền sử phản ứng mạnh với liều tiêm trước

- Hoãn tiêm đối với các trường hợp hiện tại đang ốm sốt, mắc các bệnh nhiễm trùng cấp tính và đặc biệt không nên tiêm khi không được sự đồng ý của cha mẹ trẻ

Trang 19

* Giám sát phản ứng sau tiêm chủng [4], [7]:

Phản ứng sau tiêm chủng là tình trạng bệnh xảy ra sau khi tiêm chủng, được định là do tiêm chủng gây ra Các trường hợp này có thể do vắc-xin hoặc liên quan tới quá trình thực hiện tiêm chủng

Giám sát phản ứng sau tiêm chủng là một bước quan trọng trong vấn đề

an toàn tiêm chủng Việc báo cáo nhanh, chính xác những phản ứng bất thường sau tiêm chủng có thể giúp xác định những sai sót trong thực hành tiêm chủng, những vấn đề về chất lượng vắc xin và những sự cố ngẫu nhiên trùng hợp, từ đó đề ra hành động thích hợp Và điều quan trọng là củng cố lòng tin của cộng đồng đối với tiêm chủng qua việc quản lý các phản ứng sau tiêm chủng và tránh những thông tin sai lệch có thể gây mất lòng tin cho cộng đồng và ảnh hưởng tới công tác tiêm chủng

1.1.2 Vắc-xin

* Vắc-xin: là những chế phẩm được sản xuất từ những vi khuẩn, vi

rút, ký sinh trùng hoặc độc tố của chúng đã được làm yếu, làm giảm độc lực hoặc làm bất hoạt nhưng vẫn đủ khả năng kích thích cơ thể người sinh ra kháng thể đặc biệt chống lại chúng [5]

* Thành phần của vắc-xin gồm: Kháng nguyên đặc hiệu, nước, muối đệm, chất bảo quản, chất ổn định, tá chất Ngoài ra có thể các thành phần khác

như: chất tồn dư của môi trường nuôi cấy, kháng sinh neomycin, streptomycine trong vắc xin bại liệt tiêm, [5]

* Phân loại vắc-xin: Có nhiều cách phân loại vắc-xin Căn cứ vào bản

chất sinh học, có thể chia vắc xin chia thành 3 loại truyền thống: vắc-xin giải độc tố, vắc-xin chết, vắc-xin sống giảm độc lực, hoặc làm yếu không có khả năng gây bệnh đã được làm giảm độc lực, hoặc làm yếu không có khả năng gây bệnh bằng cách nuôi cấy nhiều lần trong phòng thí nghiệm Ngoài ra, hiện

Trang 20

nay các loại vắc-xin khác có tính an toàn và hiệu quả cao và vắc-xin tái tổ hợp, vắc - xin DNA [10]

* Bảo quản vắc- xin: Vắc-xin là một sản phẩm đặc biệt, cần được bảo

quan nghiêm ngặt trong hệ thống dây chuyền lạnh từ khi xuất xưởng cho tới thời điểm tiêm chủng và trong suốt buổi tiêm chủng Nhiệt độ đảm bảo để giữ vắc- xin an toàn là từ +20C đến + 80

C [5]

* Hệ thống dây chuyền lạnh bảo quản vắc-xin trong chương trình TCMR

đã được trang bị từ Trung ương đến xã, Mặc dù tình trạng dây chuyền lạnh cũ

và thiếu ở một số địa phương nhưng nhìn chung các địa phương đều cố gắng khắc phục để bảo quản vắc-xin theo đúng quy định của chương trình TCMR

* Quản lý vắc-xin là một yếu tố quan trọng đảm bảo chất lượng của

công tác tiêm chủng bao gồm vắc-xin đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng Cán bộ quản lý kho vắc-xin cũng đóng vai trò nhất định trong việc bảo quản vắc xin an toàn và đảm bảo chất lượng [2]

* Các vắc xin được triển khai trong chương trình TCMR cho trẻ em dưới 2 tuổi

Từ năm 1985, chương trình TCMR của Việt Nam triển khai tiêm 6 loại kháng nguyên cơ bản cho trẻ em dưới 2 tuổi là lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, sởi Hiện nay, thực hiện theo Thông tư 38 của Bộ Y tế năm 2018 các loại vắc-xin trong chương trình TCMR đó là 10 loại bệnh và vắc-xin bắt buộc phải tiêm đó là: Viêm gan vi rút, lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, Haemophilus Influenzae typs b, sởi, viêm não Nhật Bản B và Rubella [11]

* Lịch tiêm chủng vắc xin cho trẻ em trong chương trình TCMR [6]

- Trẻ sơ sinh (càng sớm càng tốt) cần tiêm vắc-xin BCG (phòng lao)

1 mũi và vắc-xin Viêm gan B là 1 mũi trong thời gian 24 giờ sau sinh

- Trẻ 2 tháng tuổi cần tiêm vắc-xin Bại liệt lần 1; vắc-xin Bạch hầu,

Ho gà Uốn ván, vắc-xin Viêm gan B mũi 1, Hib mũi 1

Trang 21

- Trẻ 3 tháng tuổi cần tiêm vắc-xin Bại liệt lần 2; vắc-xin Bạch hầu,

Ho gà Uốn ván Viêm gan B mũi 2, Hib mũi 2

- Trẻ 4 tháng tuổi cần tiêm vắc-xin Bại liệt lần 3; Bạch hầu, Ho gà Uốn ván, Viêm gan B mũi 3, Hib mũi

- Trẻ 9 tháng tuổi cần tiêm vắc-xin Sởi như sau :

+ Mũi 1 khi trẻ đủ 9 tháng tuổi

+ Mũi 2 khi trẻ đủ 18 tháng tuổi

- Trẻ từ 1 - 5 tuổi cần tiêm vắc-xin Viêm não Nhật Bản (vắc-xin được triển khai ở vùng nguy cơ mắc bệnh cao) mũi 1, mũi 2 (hai tuần sau mũi 1), mũi 3 (một năm sau mũi 2)

- Trẻ từ 2 - 5 tuổi cần uống vắc-xin Tả (vắc xin được triển khai ở vùng nguy cơ mắc bệnh cao) 2 lần uống (lần sau cách lần 1 hai tuần)

- Trẻ từ 3 - 5 tuổi cần tiêm vắc-xin Thương hàn (vắc-xin được triển khai ở vùng nguy cơ mắc bệnh cao) một mũi duy nhất

* Vắc-xin được triển khai ở vùng nguy cơ mắc bệnh cao

Khái niệm về tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 2 tuổi: Một trẻ được tiêm chủng đầy đủ là được nhận đủ 8 loại vắc-xin và đủ liều như sau: Vắc-xin BCG (phòng bệnh lao), 3 mũi vắc-xin DPT, Viêm gan B, Hib (phòng bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B, viêm màng não mủ và viêm phổi), 1 mũi vắc-xin viêm gan B trước 24 giờ sau sinh, 3 lần uống vắc-xin OPV (phòng bệnh bại liệt), vắc-xin sởi Theo WHO, trẻ cần được nhận 10 loại vắc-xin đó là BCG, viêm gan, bại liệt, DTP, haemophilus influenzae, phế cầu, rota

Trang 22

tính khoa học chính thống được bắt đầu cách đây 200 năm sau khám phá của Edward Jenner Tiêm chủng đã góp phần quan trọng làm giảm số mắc và chết các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở trẻ em Tuy nhiên, theo ước tính hàng năm có khoảng 100 triệu trẻ em sinh ra tại các nước đang phát triển cần được tiêm chủng nhưng trong những năm 70 của thế kỷ trước mới có khoảng 20% được tiêm chủng, vì vậy hàng năm ở các nước này vẫn có khoảng 5 triệu trẻ

em khác bị tàn tật, di chứng vì các bệnh truyền nhiễm trẻ em là bạch hầu, ho

gà, uốn ván, sởi, bại liệt, lao Vì vậy năm 1974, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đề xướng và vận động các nước thành viên thực hiện chương trình

có ích trong khuôn khổ các hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu nhằm thực hiện mục tiêu “Sức khỏe cho tất cả mọi người vào năm 2000” Đó là chương

trình tiêm chủng mở rộng (TCMR), viết tắt theo tiếng Anh là EPI (Expanded Programe on Immunization) Mục đích của chương trình tiêm chủng mở rộng,

phát triển công tác tiêm chủng cho toàn thể trẻ em trên thế giới đặc biệt trẻ em

ở các nước đang phát triển Chương trình TCMR đã nhận được sự ủng hộ của tất cả các nước thành viên, các tổ chức trên thế giới [10], [13]

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chương trình TCMR vẫn còn phải đối mặt nhiều khó khăn thách thức: Bệnh bại liệt vẫn còn lưu hành nặng

ở một số nước châu Phi, châu Á Trong tình hình thế giới hiện nay, sự giao lưu giữa các nước trên thế giới sẽ là điều kiện thuận lợi cho dịch xâm nhập trở lại các nước thanh toán Sởi vẫn là bệnh có số mắc và tử vong cao ở trẻ em Viêm gan vi rút B là bệnh mà WHO khuyến cáo sử dụng vắc xin rộng rãi vào đầu thế kỷ thứ XX Ngoài ra hiện nay nhiều bệnh truyền nhiễm mới xuất hiện chưa có vắc xin phòng như: HIV/AIDS, SARS, H1N1, COVID-19, Trước mắt, nhân loại đang tập trung tìm hiểu nguyên nhân gây dịch, chủ động phòng

và dập dịch bằng nhiều biện pháp tổng hợp, song không thể bỏ qua giải pháp toàn diện, triệt để nhất là sử dụng vắc xin [10], [14]

Trang 23

Thế giới xác nhận vào năm 2012, Kế hoạch Hành động về Vắc-xin Toàn cầu 2011-2020 (GVAP) (1) kêu gọi tất cả các quốc gia đạt tỷ lệ bao phủ ≥90% với tất cả các loại vắc-xin trong lịch tiêm chủng quốc gia vào năm 2020 Dựa trên các phân tích trước đó (2) và sử dụng ước tính bảo hiểm tiêm chủng toàn cầu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) tính đến năm 2018, báo cáo này trình bày các ước tính và xu hướng bảo hiểm tiêm chủng toàn cầu, khu vực và quốc gia, bao gồm tỷ lệ bỏ tiêm chủng Theo các ước tính này, phạm vi bảo hiểm toàn cầu với liều đầu tiên của bệnh bạch hầu, uốn ván và vắc-xin chứa bệnh

ho gà (DTP1) vẫn không thay đổi từ năm 2010 (89%) đến năm 2018 (90%) Phạm vi bảo hiểm toàn cầu với liều DTP thứ ba (DTP3) theo xu hướng toàn cầu tương tự như DTP1, vẫn tương đối phù hợp từ năm 2010 (84%) đến 2018 (86%) (3) Trên toàn cầu, 19,4 triệu trẻ em (14%) chưa được tiêm phòng đầy đủ vào năm 2018 và trong số đó, 13,5 triệu (70%) không nhận được bất kỳ liều DTP nào Nhìn chung, tỷ lệ bỏ học từ DTP1 đến DTP3 đã giảm trên toàn cầu từ 6% năm 2010 xuống còn 4% vào năm 2018 Toàn cầu với liều vắc-xin chứa sởi đầu tiên vẫn ở mức từ 84% đến 86% trong giai đoạn 2010-2018, các loại vắc-xin mới cũng ngày càng được nghiên cứu để đối phó với các bệnh nhiễm trùng Ước tính tỷ lệ bao phủ tiêm chủng tính đến năm 2018, bệnh bạch hầu và giải độc tố uốn ván và vắc-xin chứa ho gà (DTP1) không thay đổi từ năm 2010 (89%) đến năm 2018 (90%) Từ 2007 đến 2018 đối với loạt vắc xin Rota hoàn chỉnh, vắc xin liên hợp phế cầu, vắc xin rubella, Haemophilus, vắc xin cúm loại và vắc xin viêm gan B[15]

Thực tế, có hàng loạt các yếu tố góp phần vào sự do dự khi sử dụng vắc- xin của các bà mẹ, bao gồm tính chất của vắc- xin, các yếu tố bất lợi về sức khỏe, nơi sản xuất vắc-xin, một nghiên cứu chỉ ra tại Mỹ, phần lớn các

Trang 24

bậc cha mẹ tiêm chủng cho con cái của họ, nhiều người vẫn trong lo ngại điều này [16]

1.2.2 Tại Việt Nam

Chương trình TCMR bắt đẩu được triển khai ở Việt Nam từ năm 1981 với sự hỗ trợ của WHO và Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc, với mục tiêu phổ cập tiêm chủng cho toàn thể trẻ em dưới 2 tuổi trong cả nước được tiêm chủng đầy

đủ 6 loại kháng nguyên (lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt và sởi) vào năm

1990 Giai đoạn từ năm 1980 - 1985: là thí điểm và mở rộng dần Chương trình TCMR một số địa phương Từ năm, 1986 – 1990: TCMR đã triển khai trên phạm vi cả nước, tiêm chủng thường xuyên thay thế dần tiêm chủng chiến dịch Đạt được mục tiêu phổ cập tiêm chủng cho hơn 80% trẻ em dưới 2 tuổi trong

cả nước Trong giai đoạn từ năm 1991 - 2000: Chương trình TCMR đã không còn để xã trắng về tiêm chủng, tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ 6 bệnh truyền nhiễm phổ biến cho trẻ dưới 2 tuổi liên tục đạt 90% Năm 1997, triển khai 4 vắc xin mới Viêm gan B, tả, thương hàn, viêm não Nhật Bản B Tháng 12 năm 2000 chương trình TCMR hoàn thành mục tiêu thanh toán bại liệt Từ năm 2001 - 2005: Duy trì được những thành quả đã đạt và tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ 6 loại vắc xin cho trẻ em dưới 2 tuổi đạt trên 90%, tiêm đủ liều vắc xin uốn ván cho phụ nữ có thai đạt trên 80% và phụ nữ tuổi sinh đẻ đạt trên 90% ở các huyện có nguy cơ cao Trong năm 2010, Chương trình TCMR triển khai cuộc điều tra

"Đánh giá hiệu quả của tiêm chủng vắc xin viêm gan B giai đoạn 2000-2008" thông qua đó xác định tỷ lệ nhiễm HBsAg ở trẻ em Việt Nam Điều tra được tiến hành tại 51 tỉnh/thành phố với trên 7.000 trẻ sinh ra từ năm 2000 đến năm

2008 Kết quả cho thấy việc có tiêm vắc xin VGB giảm đáng kể tỷ lệ trẻ mang HBsAg (p<0,05) so với nhóm trẻ không được tiêm Ngoài ra việc tiêm vắc-xin

đủ mũi cơ bản (3 mũi) đã hạ thấp đáng kể tỷ lệ trẻ mang HBsAg (p<0,05) so với các nhóm trẻ tiêm chưa đủ mũi (1 hoặc 2 mũi)

Trang 25

Một số nghiên cứu đã chỉ ra vai trò của tiêm chủng đủ mũi cũng như thực trạng tiêm chủng tại Việt Nam trong những năm qua: Nghiên cứu của Trịnh Trung Trực và cộng sự cho biết để làm giảm nguy cơ mắc sởi cần phải tăng tỉ lệ tiêm chủng đầy đủ vắc-xin sởi [17] Nghiên cứu của Đỗ Thị Thắm và cộng sự cho thấy tại 6 xã tỉnh Yên Bái nhằm đánh giá thực trạng và những yếu

tố ảnh hưởng đến tỉ lệ tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch Kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ tiêm chủng đầy đủ là 76,3%; tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ đúng lịch là 74,1% Một số yếu tố ảnh hưởng bất lợi đến tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ đúng lịch gồm khoảng cách tới trạm, dân tộc, số con, và nhiều liều trong lọ vắc xin; riêng yếu

tố tôn giáo là đạo thiên chúa lại có ảnh hưởng có lợi đối với tỷ lệ này [18]

Tác giả Lê Thị Hương và cộng sự khi nghiên cứu mô tả cắt ngang nhằm mô tả thực hành tư vấn về phản ứng sau tiêm chủng cho trẻ dưới 1 tuổi của cán bộ y tế 8 xã/phường tại Tỉnh Thanh Hóa năm 2016, cho thấy tỷ lệ lượt CBYT chỉ định loại vắc xin lần này cho trẻ theo đúng lịch tiêm cao là 100% Tỷ lệ lượt CBYT thông báo về loại vắc xin tiêm cao là 87,3% Tỷ lệ lượt CBYT tư vấn cho trẻ ở lại 30 phút sau tiêm tại trạm y tế và theo dõi trẻ tại nhà lần lượt là 67,6% và 30,0% Tỷ lệ lượt CBYT giải thích các phản ứng thông thường và phản ứng bất thường đạt 56,6% và 26,6% [19]

Tác giả Đặng Cao Khoa và Nguyễn Thị Hường thực hiện nghiên cứu

mô tả cắt ngang được tiến hành từ tháng 4 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018 trên 342 trẻ dưới 2 tuổi và mẹ của 342 trẻ này tại phường Hương Long, thành phố Huế, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trẻ tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch chiếm 67,0%; tỷ lệ trẻ tiêm chủng đầy đủ, không đúng lịch (20,1%) và có 12,9% số trẻ tiêm chủng không đầy đủ, không đúng lịch; Lý do ảnh hưởng đến tiêm chủng không đúng lịch: trẻ ốm nên không đưa trẻ đi tiêm chủng (73,5%);

bà mẹ sợ tai biến sau tiêm chủng (46,0%); gia đình bận không đưa trẻ đi tiêm chủng (23,0%) và một số lý do khác; Có mối liên quan giữa trình độ học vấn

Trang 26

của mẹ; nghề nghiệp của mẹ; tôn giáo của mẹ; số con trong gia đình; bà mẹ biết thông tin về tiêm chủng với tỷ lệ tiêm chủng đúng lịch [20] Tác giảNguyễn Nhật Cảm và cộng sự thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu hồ sơ tiêm chủng được tiến hành trên 1263 trẻ từ 12 đến 23 tháng tuổi tương ứng với 1263 bà mẹ hoặc người chăm sóc trẻ tại Hà Nội năm 2016, kết quả nghiên cứu cho thấy 84,3% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ; tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ đúng lịch là 42,3% Lý do chủ yếu khiến trẻ không được tiêm chủng đúng lịch là do trẻ ốm chiếm 52% và do gia đình chờ đợi để tiêm vắc xin dịch vụ chiếm 21,7% Có mối liên quan giữa các yếu tố tuổi mẹ, học vấn của mẹ, số thứ tự), số lần nằm viện của trẻ trong năm và khu vực sinh sống của trẻ với việc trẻ được tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch [21]

Về an toàn tiêm chủng: Ngay từ giai đoạn mới triển khai chương trình TCMR tại Việt Nam việc thực hiện quy chế chuyên môn kỹ thuật ở các khâu trong dây chuyền sản xuất vắc xin đã được kiểm tra nghiêm ngặt Từ 1986 đến

1990, bơm kim tiêm sử dụng trong tiêm chủng là bơm kim tiêm nhựa hoặc thủy tinh sử dụng nhiều lần Dụng cụ khử trùng bơm kim tiêm là nồi hấp Một

số cơ sở ngại sử dụng nồi hấp hoặc sử dụng sai kỹ thuật khử trùng bơm kim tiêm Giai đoạn 1991-2000 chương trình TCMR đã đưa bơm kim tiêm sử dụng 1 lần vào sử dụng và dùng hộp an toàn để thu gom bơm kim tiêm đã sử dụng Song nguy cơ không đảm bảo vô khuẩn mũi tiêm vẫn còn do: Xuất hiện những bơm kim tiêm sử dụng 1 lần giả, có một nhóm người đã đóng gói lại những bơm kim tiêm đã sử dụng để tung ra thị trường, và trong một số ít trường hợp có thể dùng lại BKT vào cuối buổi tiêm chủng khi số lượng BKT chuẩn bị cho buổi tiêm chủng thiếu Từ năm 2002, chương trình TCMR được

sự hỗ trợ của Liên minh toàn cầu về vắc xin và tiêm chủng (GAVI), các tổ

chức Quốc tế khác và sự nỗ lực sản xuất trong nước chương trình TCMR đã đưa bơm kim tiêm tự khóa vào hộp an toàn vào sử dụng trong tiêm chủng [19] Từ năm 2002 chương trình TCMR và Trung tâm Kiểm định quốc gia

Trang 27

vắc xin và sinh phẩm đã phối hợp và xây dựng triển khai thí điểm công tác giám sát các sự cố sau tiêm chủng Chương trình đã triển khai trong toàn quốc

hệ thống này từ năm 2006 Tháng 2 năm 2002 đến tháng 7 năm 2006 chính phủ Việt Nam với sự trợ giúp của WHO đã đề ra kế hoạch đánh giá công tác

an toàn trong chương trình TCMR mở rộng ở mọi tuyến Cuộc đánh giá được tiến hành trên quy mô toàn quốc Có 8/61 tỉnh thành đại diện cho 4 khu vực Bắc, Trung, Nam và Tây Nguyên được lựa chọn vào nghiên cứu

Trong định hướng phát triển của công tác TCMR giai đoạn từ 2006 đến

2010 và 2015 và giai đoạn 2015-2020, việc tăng cường công tác an toàn tiêm chủng bao gồm vô khuẩn mũi tiêm, xử lý an toàn bơm kim tiêm đã sử dụng và giám sát sự cố sau tiêm chủng vẫn là một trong những mục tiêu cần được quan tâm nhằm nâng cao hiệu quả của việc tiêm chủng [22]

Theo WHO phương pháp giám sát, đánh giá định kỳ thực hành tiêm chủng và công tác giám sát phản ứng sau tiêm chủng rất quan trọng để nhằm phát hiện ngăn nguy cơ để xảy ra những hậu quả đáng tiếc do tiêm chủng không an toàn gây ra cho người được tiêm, nhân viên y tế và cộng đồng Bộ Y

tế cũng đã ra Quyết định 1731 và 1830 về việc hướng dẫn tổ chức một buổi tiêm chủng và điều tra phân tích nguyên nhân phản ứng sau tiêm để đảm bảo

an toàn trong tiêm chủng [7], [8], [23]

Các nghiên cứu về vấn đề này cũng cho thấy hiệu quả đạt được và những tồn tại trong Chương trình TCMR và an toàn trong tiêm chủng Hiện nay, một số địa phương đã quản lý trên hệ thống quản lý Quốc gia Qua nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Minh Thùy và cộng sự về vấn đề này tại tỉnh Sơn La, cho thấy còn nhiều bất cập như điện và internet không ổn định

ở một số cơ sở Máy in và máy đọc mã vạch còn rất thiếu (21,5% và 3%)

Có 87,6% số cán bộ có kỹ năng sử dụng hệ thống tương đối tốt Có 79,7% các cơ sở y tế khi làm báo cáo tiêm chủng hàng tháng chưa thể sử dụng hoàn

Trang 28

toàn số liệu trên hệ thống [24] Nghiên cứu của Phạm Quang Thái và cộng

sự cũng cho biết có 100% cơ sở y tế liên quan đến hoạt động tiêm chủng đã

sử dụng Hệ thống thông tin tiêm chủng Quốc Gia (NIIS); 100% TYT đã triển khai tin nhắn nhắc lịch tiêm chủng cho người dân 100% các cơ sở tiêm chủng chưa sử dụng mã tiêm chủng cá nhân để quản lý đối tượng tiêm chủng Quy trình quản lý thông tin tiêm chủng 4 bước mới được thực hiện tại trạm y tế 84% cơ sở sử dụng NIIS đã được giám sát hỗ trợ 100% cơ sở y

tế có điện, máy tính kết nối mạng internet, tuy nhiên 21% và 5% cơ sở báo cáo tình trạng mạng internet, điện không ổn định 100% các cơ sở tiêm chủng chưa có máy đọc mã vạch 24% cơ sở báo cáo máy tính, máy in của đơn vị được ưu tiên cho hoạt động khác ngoài NIIS 39% tài khoản NIIS chỉ

có duy nhất 1 cán bộ biết sử dụng, 82% cơ sở y tế có nhu cầu đào tạo thêm cán bộ [25]

1.3 Thực trạng kiến thức và thực hành của bà mẹ về tiêm chủng và an toàn tiêm chủng

1.3.1 Trên thế giới

Vắc- xin là một trong những tiến bộ quan trọng nhất trong y học như một công cụ y tế công cộng để kiểm soát của các bệnh không thể phòng tránh được Thỉnh thoảng, phản ứng bất lợi có thể xảy ra Nếu một đứa trẻ có một phản ứng với vắc-xin, nó có khả năng phá vỡ lịch tiêm chủng với những rủi ro cho bản thân và cộng đồng Điều này thiết lập tầm quan trọng chẩn đoán chính xác tình trạng dị ứng có thể xảy ra và xác định hành vi thích hợp Phản ứng dị ứng với vắc- xin có thể do thành phần sinh miễn dịch, phần còn lại protein trong quá trình sản xuất và chất chống vi khuẩn, chất ổn định, chất bảo quản và bất kỳ yếu tố nào khác được sử dụng trong sản xuất Vì vậy, việc trang bị kiến thức cho các bà mẹ và người thân của trẻ về an toàn trong tiêm chủng là vô cùng cần thiết [26], [27]

Trang 29

Nghiên cứu của tác giả Lovríe và cộng sự cho thấy khi nghiên cứu về thái độ và sự tin tưởng của bà mẹ đối với tiêm chủng, kết quả cho thấy có 72,6% bà mẹ rằng việc tiêm chủng ở thời thơ ấu vẫn là bắt buộc; 36,3% cho rằng việc tiêm chủng đồng thời vắc xin có thể có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của con họ Ngoài ra, 38% lo sợ rằng vắc xin có thể gây hại cho con họ Giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn và tình trạng hôn nhân của cha mẹ không liên quan đáng kể đến thái độ tích cực đối với tiêm chủng [28]

1.3.2 Tại Việt Nam

Nghiên cứu của tác giả Lư Lan Vi, Phan Hữu Thọ, Nguyễn Thị Cẩm Hường và cộng sự cho biết kết quả mô tả kiến thức, thái độ, thực hành của

250 người dân có con cháu trong gia đình dưới 5 tuổi tại huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre vào tháng 7 năm 2005 Kết quả: 74,4% người dân biết chương trình tiêm chủng mở rộng; 3/4 có quan tâm đến lịch tiêm chủng 60,4% biết tiêm chủng có gây phản ứng bất lợi Có 83,2% số họ đưa con cháu mình đến trạm

y tế tiêm chủng khi có thông báo của y tế địa phương [29]

Tác giả Huỳnh Giao và cộng sự nghiên cứu cho biết đối với tiêm

chủng mở rộng có 81,3% bà mẹ có kiến thức đúng về sự cần thiết

phải tiêm chủng; có 33,3% bà mẹ có kiến thức về lịch tiêm chủng; 30,8% bà

mẹ có kiến thức đúng về các bệnh cần tiêm chủng [30] Nguyễn Quỳnh Trang, Phạm Hữu Tiệp, Hồ Thị Minh Lý và cộng sự cho biết thấy nghề nghiệp và trình độ học vấn được xác định có liên quan đến kiến thức và thực hành về tiêm chủng của các bà mẹ Cụ thể các bà mẹ là công chức, viên chức

có tỷ lệ có kiến thức và thực hành đạt với tỷ lệ cao hơn số bà mẹ làm các nghề khác; các bà mẹ có trình độ học vấn cao đẳng/đại học có kiến thức và thực hành tốt hơn so với các bà mẹ có trình độ học vấn trung học phổ thông với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Riêng yếu tố tiếp cận thông tin truyền thông có liên quan trực tiếp đến kiến thức về tiêm chủng của các bà mẹ (p<0,01) Tỷ lệ

Trang 30

những bà mẹ thường xuyên tiếp cận các thông tin về tiêm chủng có kiến thức tốt cao gấp 2,3 lần các bà mẹ không thường xuyên tiếp cận thông tin về tiêm chủng Những bà mẹ có kiến thức tốt thì có thực hành tốt cao gấp 1,8 lần những bà mẹ có kiến thức không tốt tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê [31]

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Phúc và cộng sự nhằm đánh giá kiến thức, thực hành của các bà mẹ về tiêm chủng, chăm sóc trẻ, theo dõi phản ứng sau tiêm chủng, kết quả ghi nhận chỉ có 26,6% bà mẹ biết cách chăm sóc trẻ sau tiêm tại nhà và 12,4% có kiến thức đầy đủ; kiến thức và thực hành đầy đủ về tiêm chủng của nhân viên y tế còn thấp dưới 70%; kiến thức, thực hành bảo quản vắc-xin dưới 80% [20]

Trang 31

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa bàn, đối tượng và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Huyện Yên Khánh nằm ở phía Đông Nam tỉnh Ninh Bình Phía Bắc giáp thành phố Ninh Bình, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Yên Mô, phía Nam giáp huyện Kim Sơn, phía Đông và Đông Bắc có sông Đáy bao bọc, là ranh giới tự nhiên với huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định Huyện Yên Khánh có 19 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 18 xã bắt đầu bằng từ Khánh (Khánh An, Khánh Công, Khánh Cư, Khánh Cường, Khánh Hải, Khánh Hòa, Khánh Hội, Khánh Hồng, Khánh Lợi, Khánh Mậu, Khánh Nhạc, Khánh Phú, Khánh Thành, Khánh Thiện, Khánh Thủy, Khánh Tiên, Khánh Trung, Khánh Vân và Thị trấn Yên Ninh

Địa hình của huyện Yên Khánh là đồng bằng tương đối bằng phẳng, không có núi non, mạng lưới sông ngòi phân bố tương đối đều Dòng sông Đáy chảy qua 11 xã phía Đông bắc với tổng chiều dài 37,3km Dòng sông Vạc chảy qua 7 xã phía Tây với chiều dài 14,6km, thuận lợi cho việc tưới tiêu phục vụ sản xuất và đời sống

Diện tích 139,06 km2 Dân số: 137.229 người Mật độ dân số: 987 người/km2

(Số liệu thống kê năm 2013) 20% dân số theo đạo thiên chúa

Số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ của toàn huyện là 35605 người; Số phụ

nữ có con dưới 2 tuổi là 3923 người

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

* Mục tiêu 1:

- Cơ sở vật chất trang thiết bị cho buổi tiêm chủng, số liệu sổ sách cho buổi tiêm chủng

Trang 32

- Các buổi tiêm chủng thường xuyên cho trẻ dưới 2 tuổi tổ chức tại 19 trạm y tế xã, thị trấn huyện Yên Khánh

- Cán bộ y tế tham gia buổi tiêm chủng đó là trạm trưởng và cán bộ chuyên trách tham gia tiêm chủng

* Mục tiêu 2:

- Bà mẹ có con dưới 2 tuổi (tính từ thời điểm bắt đầu điều tra)

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian từ tháng 9 đến tháng 3 năm 2021

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu được thực hiện theo thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính Nghiên cứu định lượng có phân tích để xác định thực trạng công tác tiêm chủng và an toàn trong tiêm chủng; đánh giá kiến thức, thực hành của bà mẹ về an toàn trong tiêm chủng Nghiên cứu định tính phỏng vấn sâu cán bộ y tế về tiêm chủng và

an toàn tiêm chủng tại Trạm y tế

2.2.2 Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu

- Z: là độ tin cậy lấy ở ngưỡng xác suất  =5%, tra bảng ta được z= 1,96

- p: là tỷ lệ bà mẹ có con dưới 2 tuổi có kiến thức đúng về tiêm chủng và ATTC theo nghiên cứu trước là 0,65 [33]

- e: Sai số lấy bằng 0,05

2 2

) 2 / 1 (

1

e

p p Z

 

Trang 33

Tính toán được cỡ mẫu: n = 350 bà mẹ, thực tế chúng tôi đã điều tra đc

là 360

+ Cỡ mẫu cho kiểm thực trạng tiêm chủng, an toàn tiêm chủng: toàn bộ

19 trạm y tế thuộc huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình

* Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính

- Trạm trưởng Trạm Y tế xã là người chịu trách nhiệm tổ chức buổi tiêm chủng: phỏng vấn 03 Trạm trưởng và 3 chuyên trách

- Chuyên trách tiêm chủng của xã là người chịu trách nhiệm chính trong

buổi tiêm chủng (lĩnh vắc xin, lên danh sách đối tượng, thực hiện kỹ thuật, thống kê báo cáo): 04 người

2.2.2.2 Kỹ thuật chọn mẫu

* Chọn chủ đích huyện Yên Khánh của tỉnh Ninh Bình

* Chọn toàn bộ 19 Trạm Y tế của huyện để kiểm toàn bộ cơ sở vật chất

và trang thiết bị tại buổi tiêm chủng, điều tra thực trạng buổi tiêm chủng thường xuyên tại trạm

* Chọn bà mẹ có con dưới 2 tuổi của 4 xã trong 19 xã, sử dụng kỹ thuật chọn ngẫu nhiên bằng cách lên danh sách rồi bốc thăm ra 04 xã để nghiên cứu Thực tế chúng tôi đã điều tra đó là: Thị trấn Yên Ninh, xã Khánh Cư, xã Khánh Hồng và xã Khánh Hội có đặc điểm như sau:

Nội dung Yên Ninh Khánh Cƣ Khánh Hội Khánh Hồng

Trang 34

2.2.3 Các nhóm biến số và chỉ số nghiên cứu

2.2.3.1 Mục tiêu 1: Thực trạng tiêm chủng và an toàn tiêm chủng trong các buổi tiêm chủng

a) Thực trạng tiêm chủng (sổ sách báo cáo của TYT)

- Số trẻ dưới 5 tuổi được tiêm chủng/số trẻ dưới 5 tuổi

- Số trẻ dưới 2 tuổi được tiêm chủng/số trẻ dưới 2 tuổi

- Số mũi vắc-xin được tiêm chủng

- Số trẻ dưới 2 tuổi được tiêm chủng đúng lịch, đầy đủ

- Số trẻ dưới 2 tuổi được tiêm chủng đúng lịch, không đầy đủ

- Số trẻ dưới 2 tuổi được tiêm chủng không đúng lịch, đầy đủ

- Số trẻ dưới 2 tuổi được tiêm chủng không đúng lịch, không đầy đủ b) Thực trạng an toàn tiêm chủng

Thu thập thông tin theo bảng kiểm được thiết kế sẵn thông qua quan sát, đánh giá thực hành buổi tiêm chủng tại trạm y tế xã, thị trấn Các chỉ số

quan sát và ghi nhận được định nghĩa như sau:

* Bảo quản vắc xin:

- Dụng cụ dây chuyền lạnh: Dụng cụ dây chuyền lạnh bao gồm tủ lạnh, phích lạnh, nhiệt kế

- Thực trạng hoạt động của dụng cụ DCL: Dụng cụ DCL hoạt động tốt khi các trang thiết bị trên đang hoạt động tốt, đúng yêu cầu (tủ lạnh có, đang hoạt động, nhiệt độ tủ lạnh trong khoảng từ + 20C đến +80

C)

- Bảo quản vắc-xin: Là việc lưu giữ vắc xin để tránh vắc xin hỏng do nhiệt độ hoặc quá hạn sử dụng Sử dụng tủ lạnh đúng mục đích: Không chứa thức ăn hoặc các hóa dược khác Nhiệt độ tủ lạnh đúng yêu cầu bảo quản vắc xin là trong khoảng từ +20C đến +80C Không để vắc xin quá hạn sử dụng Vắc xin còn nguyên nhãn mác

Trang 35

* Vô khuẩn trong thực hành tiêm chủng

- Sử dụng vắc xin: Sử dụng vắc xin đúng khi pha vắc xin với dung môi cùng hãng sản xuất; khi pha hồi chỉnh dùng hết lượng dung môi có trong lọ; không lưu kim tại lọ vắc xin nhiều liều; không lấy vắc xin sẵn ra BKT

- Sử dụng BKT : Không sử dụng BKT quá hạn sử dụng; trên bao bì có ghi tên hãng rõ ràng; sử dụng một bơm kim tiêm cho 1 mũi tiêm Sử dụng một BKT cho 1 lần pha hồi chỉnh

- Thực hiện vô khuẩn đối với bản thân nhân viên y tế: rửa tay bằng xà phòng trước khi thực hiện thao tác tiêm; đeo găng tay vô trùng khi thực hiện

thao tác tiêm; đeo khẩu trang khi tiêm; mặc trang phục đúng quy định (quần

- Buổi tiêm chủng một chiều: theo quy định buổi tiêm chủng cần được

tổ chức theo nguyên tắc 1 chiều: có cửa ra vào và cửa ra riêng rẽ (nhằm tránh hiện tượng nhầm lẫn, ùn tắc, tránh lây nhiễm chéo các bệnh đường hô hấp)

- Buổi tiêm chủng ùn tắc: là hiện tượng số bà mẹ và trẻ đợi tại một

khâu nào đó trong buổi tiêm chủng đông, không hợp lý (Chờ tại bàn tiếp đón đông trong khi bàn tiêm vắng hoặc ngược lại hoặc cả hai đều đông do các trẻ

ra tiêm cùng 1 thời gian)

* Xử lý BKT sau khi sử dụng:

- Có hộp an toàn: Hộp an toàn là một hộp bằng bìa cứng được gấp kín chỉ hở 1 lỗ nhỏ để bỏ bơm kim tiêm sau khi sử dụng vào đó

Trang 36

- Cách sử dụng hộp an toàn: Hộp an toàn không để hở miệng hoặc thủng rách hộp; hộp an toàn chứa bơm kim tiêm không quá ¾ thể tích hộp

- Xử trí bơm kim tiêm sau khi sử dụng: bơm kim tiêm sau khi sử dụng

bỏ ngay vào hộp an toàn; không đậy nắp kín trước khi bỏ bơm kim tiêm vào hộp

an toàn; không bẻ cong kim trước khi bỏ bơm kim tiêm vào hộp an toàn; nhân viên y tế không bị kim đâm vào tay

* Chỉ định và chống chỉ định trong tiêm chủng:

- Thực hiện khám phân loại trước khi chỉ định tiêm chủng: Việc khám phân loại trẻ trước khi chỉ định tiêm chủng nhằm phát hiện những trẻ đang trong tình trạng hoãn, chống chỉ định tiêm chủng, gồm: Hỏi hoặc khám sức

khỏe hiện tại; hỏi phản ứng sau tiêm chủng mũi trước của trẻ (đối với trẻ đến tiêm mũi tiếp theo)

- Dặn dò theo dõi phản ứng sau tiêm chủng: là việc nhân viên y tế dặn

bà mẹ theo dõi những phản ứng có thể xảy ra sau tiêm chủng và cách xử trí

* Nhóm thông tin chung:

- Nghề nghiệp: công chức, viên chức, công nhân, buôn bán, nội trợ, nghề nghiệp khác

- Trình độ học vấn: đại học, trên đại học, cao đẳng, trung cấp, phổ thông trung học; chưa tốt nghiệp phổ thông, biết đọc biết viết

- Số con hiện có: một con, hai con, ba con trở lên

Trang 37

* Kiến thức về tiêm chủng và an toàn tiêm chủng:

- Tiêm đúng lịch

- Tiêm đầy đủ

- Hướng dẫn của ai

- Biết nơi tiêm chủng

- Bảo quản vắc xin: Biết vắc xin cần bảo quản lạnh

- Phản ứng sau tiêm vắc xin: biết một số phản ứng thường gặp sau tiêm vắc-xin; biết cách xử trí một số phản ứng thường gặp sau tiêm vắc-xin

- Xử trí vết tiêm sau tiêm chủng: biết không nên bôi gì xung quanh vết tiêm sau tiêm chủng

- Quản lý phiếu tiêm chủng của trẻ: biết cần giữ phiếu tiêm chủng và mang phiếu tiêm chủng khi tiêm chủng

* Thực hành an toàn tiêm chủng:

- Chọn nơi tiêm chủng

- Theo dõi phản ứng sau tiêm chủng của con: theo dõi phản ứng sai tiêm chủng của con tốt khi: bà mẹ biết con mình có hay không có phản ứng sau tiêm chủng; bà mẹ xử trí đúng nếu con có phản ứng xảy ra

- Xử lý vết tiêm sau khi tiêm chủng: Xử lý vết tiêm sau khi tiêm chủng đúng khi bà mẹ không bôi gì xung quanh vết tiêm

- Quản lý phiếu tiêm chủng của trẻ: Quản lý phiếu tiêm chủng trẻ em tốt khi: bà mẹ đọc các thông tin ghi trong phiếu tiêm chủng sau khi nhận phiếu tiêm chủng, để biết trẻ vừa được tiêm phòng bệnh gì, để kiểm tra có khớp với thực tế hay không và để biết lịch hẹn tiêm mũi tiếp theo của trẻ; bà

mẹ giữ được phiếu tiêm chủng của trẻ; bà mẹ mang phiếu tiêm chủng khi cho trẻ ra tiêm chủng

Trang 38

2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu

- Thực trạng tiêm chủng được thu thập theo mẫu phiếu từ các báo cáo

tại TYT (phụ lục 1)

- Quan sát việc thực hành an toàn tiêm chủng trong buổi tiêm chủng bằng bảng kiểm được thiết kế và chuẩn bị sẵn Việc quan sát được tiến hành bởi các điều tra viên đã được tập huấn kỹ Tiến hành quan sát buổi TCMR thường xuyên tại các Trạm y tế xã Sử dụng bảng kiểm để đánh giá kết quả thực hành

an toàn tiêm chủng (phụ lục 2)

- Phỏng vấn bà mẹ có con dưới 2 tuổi tính đến thời điểm điều tra về kiến thức, thực hành an toàn tiêm chủng theo bảng hỏi có cấu trúc đã được in

sẵn Sử dụng phiếu điều tra cá nhân (phụ lục 3)

- Công cụ nghiên cứu: Sử dụng các phiếu điều tra được thiết kế sẵn có tham khảo bộ câu hỏi và bảng kiểm của chương trình TCMR quốc gia

2.2.5 Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá

*An toàn tiêm chủng là tiêm chủng không gây nên hậu quả xấu đối với người được tiêm, nhân viên y tế và cộng đồng An toàn tiêm chủng chỉ đạt được khi các thực hành an toàn tiêm chủng được nhân viên y tế và các bà mẹ thực hiện đúng theo qui trình sau:

- Bảo quản, vận chuyển và sử dụng vắc xin đúng yêu cầu

- Đảm bảo vô khuẩn trong tiêm chủng (trước, trong, sau tiêm)

- Sử dụng và hủy bơm kim tiêm đúng qui định

- Thực hiện tiêm đúng kỹ thuật

- Thực hiện đúng chỉ định và chống chỉ định trong tiêm chủng

* Thực hành an toàn tiêm chủng bao gồm nhiều hoạt động trong đó có các hoạt động ở khâu bảo quản, sử dụng vắc xin đến tổ chức thực hiện buổi tiêm chủng, thực hiện mũi tiêm và hủy bơm kim tiêm

Trang 39

Thực hành tiêm chủng có liên quan tới việc tiêm chủng an toàn hay không an toàn là thực hành an toàn tiêm chủng

Trong nghiên cứu này chúng tôi không mô tả thực hành tiêm chủng khác như quản lý đối tượng, thống kê báo cáo, công việc sau buổi tiêm chủng, tuyên truyền các bà mẹ và cộng đồng, giám sát bệnh tiêm chủng,…

- Đánh giá chung về kiến thức và thực hành về ATTC của các bà mẹ như sau: Điểm đạt kiến thức về ATTC đạt (≥7/11điểm); thực hành đạt về ATTC (≥4/7điểm)

tố liên quan bằng OR, CI 95%, giá trị p

2.2.7 Hạn chế của nghiên cứu và biện pháp khắc phục

- Sai số có thể gặp trong nghiên cứu này là sai số thông tin Sai số trong quá trình thiết kế và thu thập thông tin

- Sai số nhớ lại: Sai số này thấp do phần lớn các câu hỏi đề cập ở thời điểm hiện tại hoặc thời gian gần đây của bà mẹ về tiêm chủng cho con

Khắc phục sai số

- Thiết kế bộ câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu

- Các định nghĩa tiêu chuẩn đưa ra thống nhất, rõ ràng

- Tập huấn kỹ cho điều tra viên về bộ câu hỏi nhằm thống nhất nội dung từng câu hỏi

- Hướng dẫn kỹ cách điền phiếu cho đối tượng nghiên cứu

- Phiếu điều tra được giám sát ngay trong ngày điều tra

- Đối tượng được thỏa thuận tự nguyện tham gia nghiên cứu, khi đó thì thông tin sẽ chính xác hơn

Trang 40

2.2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Chỉ phỏng vấn những bà mẹ tự nguyện hợp tác Các đối tượng tham gia trong nghiên cứu sẽ được thông báo rõ mục đích nghiên cứu Đối tượng có quyền từ chối nếu không muốn tham gia nghiên cứu

- Sẵn sàng tư vấn cho các bà mẹ các vấn đề liên quan đến TCMR, đặc biệt là những bà mẹ có kiến thức thực hành có khiếm khuyết

- Những thông tin phỏng vấn NVYT và bà mẹ đều được giữ bí mật

- Mọi kết quả nghiên cứu chỉ nhằm mục đích đánh giá thực trạng về an toàn tiêm chủng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tiêm chủng trên địa bàn huyện

- Đề cương nghiên cứu sẽ được thông qua HĐ khoa học và HĐ Y đức của Trường đại học Y Dược Thái Bình theo Quyết định số 1842/ QĐ-YDTB ngày 21/10/2020 về việc cho phép thực hiện đề tài và phân công cán bộ hướng dẫn luận văn thạc sỹ Y học dự phòng khóa 2

Ngày đăng: 13/07/2023, 15:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Pati R., Shevtsov M., and Sonawane A (2018), Nanoparticle Vaccines Against Infectious Diseases, Front Immunol, 9, p. 2224 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nanoparticle Vaccines Against Infectious Diseases
Tác giả: Pati R., Shevtsov M., Sonawane A
Nhà XB: Front Immunol
Năm: 2018
3. Phạm Vương Ngọc (2019), “Một số yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch 8 loại vắc-xin ở trẻ dưới 1 tuổi tại 3 xã của tỉnh Hà Nam, năm 2016”, Tạp chí khoa học Điều dưỡng, tập 2, số 3, Tr.106-111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch 8 loại vắc-xin ở trẻ dưới 1 tuổi tại 3 xã của tỉnh Hà Nam, năm 2016
Tác giả: Phạm Vương Ngọc
Nhà XB: Tạp chí khoa học Điều dưỡng
Năm: 2019
4. Bộ Y tế (2012), Hướng dẫn tiêm an toàn trong các cơ sở khám chữa bệnh, Quyết định số 3671/QĐ-BYT, ngày 27 tháng 9 năm 2012 của Bộ Y tế) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tiêm an toàn trong các cơ sở khám chữa bệnh
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2012
5. Bộ Y tế (2018), Quy định chi tiết một số điều của NĐ 104/2016 - NĐ- CP về hoạt động tiêm chủng, Thông tư 34/2018-TT-BYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định chi tiết một số điều của NĐ 104/2016 - NĐ- CP về hoạt động tiêm chủng
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Thông tư 34/2018-TT-BYT
Năm: 2018
6. Bộ Y tế (2019), Khám sàng lọc trước tiêm chủng đối với trẻ em, Quyết định số 2470/QĐ-BYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khám sàng lọc trước tiêm chủng đối với trẻ em
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2019
7. Bộ Y tế (2014), Điều tra phân tích nguyên nhân phản ứng sau tiêm chủng, Quyết định 1830/QĐ-BYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra phân tích nguyên nhân phản ứng sau tiêm chủng
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Quyết định 1830/QĐ-BYT
Năm: 2014
9. Nguyễn Trần Hiển (2015), Hướng dẫn tiêm chủng an toàn, Dự án tiêm chủng mở rộng. Tr.1-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tiêm chủng an toàn
Tác giả: Nguyễn Trần Hiển
Nhà XB: Dự án tiêm chủng mở rộng
Năm: 2015
11. Bộ Y tế (2017), Danh mục bệnh truyền nhiễm, phạm vi và đối tượng sử dụng vắc-xin và sinh phẩm y tế, Thông tư 38- TT-BYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục bệnh truyền nhiễm, phạm vi và đối tượng sử dụng vắc-xin và sinh phẩm y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2017
14. Peck M., Gacic-Dobo M., Diallo M.S., et al (2019), “Global Routine Vaccination Coverage, 2018”, MMWR Morb Mortal Wkly Rep, 68(42), p.937-942 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global Routine Vaccination Coverage, 2018
Tác giả: Peck M., Gacic-Dobo M., Diallo M.S., et al
Nhà XB: MMWR Morb Mortal Wkly Rep
Năm: 2019
16. Mc Clure C.C., Cataldi J.R., and O’Leary S.T, (2017), “Vaccine Hesitancy: Where We Are and Where We Are Going”, Clin Ther, 39(8), p. 1550-1562 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vaccine Hesitancy: Where We Are and Where We Are Going
Tác giả: Mc Clure C.C., Cataldi J.R., O’Leary S.T
Nhà XB: Clin Ther
Năm: 2017
17. Trịnh Trung Trực, Võ Ngọc Quang, Trần Quang Trung và CS (2017), “Thực trạng quản lý vắc xin và dây chuyền lạnh tiêm chủng mở rộng tại 20 tỉnh/ thành phía Nam, 2017”, Tạp chí Y học dự phòng, tập 27, số 11, Tr.243 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý vắc xin và dây chuyền lạnh tiêm chủng mở rộng tại 20 tỉnh/ thành phía Nam, 2017
Tác giả: Trịnh Trung Trực, Võ Ngọc Quang, Trần Quang Trung, CS
Nhà XB: Tạp chí Y học dự phòng
Năm: 2017
18. Đỗ Thị Thắm, Trần Mạnh Tùng, Vũ Hải Hà (2018), “Thực trạng tiêm chủng đầy đủ đúng lịch và một số yếu tố ảnh hưởng ở trẻ dưới một tuổi tại huyện Trạm Tấu, Mù Căng Chải tỉnh Yên Bái năm 2017”, Tạp chí Y học dự phòng, tập 28, số 4, Tr.85-87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tiêm chủng đầy đủ đúng lịch và một số yếu tố ảnh hưởng ở trẻ dưới một tuổi tại huyện Trạm Tấu, Mù Căng Chải tỉnh Yên Bái năm 2017
Tác giả: Đỗ Thị Thắm, Trần Mạnh Tùng, Vũ Hải Hà
Nhà XB: Tạp chí Y học dự phòng
Năm: 2018
19. Lê Thị Hương, Nguyễn Huy, Dương Thị Hồng và CS (2017), “Thực hành tư vấn về phản ứng sau tiêm chủng cho trẻ dưới 1 tuổi của cán bộ y tế tại 8 xã/phường tỉnh Thanh Hóa năm 2016”, Tạp chí Y học dự phòng, tập 27, số 13, Tr.42-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành tư vấn về phản ứng sau tiêm chủng cho trẻ dưới 1 tuổi của cán bộ y tế tại 8 xã/phường tỉnh Thanh Hóa năm 2016
Tác giả: Lê Thị Hương, Nguyễn Huy, Dương Thị Hồng, CS
Nhà XB: Tạp chí Y học dự phòng
Năm: 2017
20. Đặng Cao Khoa, Nguyễn Thị Hường (2019), “Tình hình tiêm chủng đúng lịch của trẻ dưới 2 tuổi và một số yếu tố liên quan tại phường Hương Long, thành phố Huế, năm 2017”, Tạp chí Y học dự phòng, tập 29, số 5, Tr.107-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình tiêm chủng đúng lịch của trẻ dưới 2 tuổi và một số yếu tố liên quan tại phường Hương Long, thành phố Huế, năm 2017
Tác giả: Đặng Cao Khoa, Nguyễn Thị Hường
Nhà XB: Tạp chí Y học dự phòng
Năm: 2019
21. Nguyễn Nhật Cảm, Bùi Thị Mỹ Anh, Trần Hữu Bích (2017), “Một số yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch 8 loại vắc xin ở trẻ em dưới 1 tuổi tại Hà Nội, năm 2016”, Tạp chí Y học dự phòng, tập 27, số 6, Tr.99-102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch 8 loại vắc xin ở trẻ em dưới 1 tuổi tại Hà Nội, năm 2016
Tác giả: Nguyễn Nhật Cảm, Bùi Thị Mỹ Anh, Trần Hữu Bích
Nhà XB: Tạp chí Y học dự phòng
Năm: 2017
22. Bộ Y tế (2008), Về việc ban hành Quy định về sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế trong dự phòng và điều trị, Quyết định Số 23/2008/QĐ-BYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc ban hành Quy định về sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế trong dự phòng và điều trị
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2008
24. Hoàng Thị Minh Thùy, Trần Thị Lan Anh, Dương Thị Hồng và CS (2020), “Thực trạng triển khai và chất lượng số liệu trên hệ thống quản lý thông tin tiêm chủng Quốc gia tại địa bàn tỉnh Sơn La, năm 2019”, Tạp chí Y học dự phòng, tập 30, số 3, Tr.72-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng triển khai và chất lượng số liệu trên hệ thống quản lý thông tin tiêm chủng Quốc gia tại địa bàn tỉnh Sơn La, năm 2019
Tác giả: Hoàng Thị Minh Thùy, Trần Thị Lan Anh, Dương Thị Hồng, CS
Nhà XB: Tạp chí Y học dự phòng
Năm: 2020
25. Phạm Quang Thái, Hoàng Quốc Việt, Trần Thị Lan Anh và CS (2019), “Thực trạng triển khai hệ thống thông tin tiêm chủng quốc gia tại tỉnh Hà Nam năm 2019”, Tạp chí Y học dự phòng, tập 29, số 12, Tr.9-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng triển khai hệ thống thông tin tiêm chủng quốc gia tại tỉnh Hà Nam năm 2019
Tác giả: Phạm Quang Thái, Hoàng Quốc Việt, Trần Thị Lan Anh, CS
Nhà XB: Tạp chí Y học dự phòng
Năm: 2019
26. Comité Nacional, Comité Nacional (2018), “Recommendations for safe vaccination in children at the risk of taking allergic reactions to vaccine components”, Arch Argent Pediatr, 116(2), p.34-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Recommendations for safe vaccination in children at the risk of taking allergic reactions to vaccine components
Tác giả: Comité Nacional, Comité Nacional
Nhà XB: Arch Argent Pediatr
Năm: 2018
28. Lovrić Makarić Z., Kolarić B., Tomljenović M., et al (2018), “Attitudes and beliefs related to childhood vaccinations among parents of 6 years old children in Zagreb, Croatia”, Vaccine, 36(49),p.7530-7535 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Attitudes and beliefs related to childhood vaccinations among parents of 6 years old children in Zagreb, Croatia
Tác giả: Lovrić Makarić Z., Kolarić B., Tomljenović M
Nhà XB: Vaccine
Năm: 2018

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w