1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng bệnh răng miệng và kiến thức, thực hành chăm sóc răng miệng của học sinh tại 2 trường trung học cơ sở thành phố thái bình năm 2020

123 19 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng bệnh răng miệng và kiến thức, thực hành chăm sóc răng miệng của học sinh tại 2 trường trung học cơ sở thành phố Thái Bình năm 2020
Tác giả Nguyễn Thị Vân Anh
Người hướng dẫn TS. BSCKII. Vũ Anh Dũng, TS. Lê Đức Cường
Trường học Trường Đại học Y Dược Thái Bình
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y học dự phòng
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thái Bình
Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 3,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số yếu tố liên quan đến tình trạng bệnh răng miệng của học sinh 56 CHƯƠNG 4.. Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh răng miệng của học sinh và một số yếu tố liên quan đến bệnh răng m

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

NGUYỄN THỊ VÂN ANH

THỰC TRẠNG BỆNH RĂNG MIỆNG VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CHĂM SÓC RĂNG MIỆNG CỦA HỌC SINH TẠI 2 TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ

THÁI BÌNH NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC DỰ PHÒNG

THÁI BÌNH – 2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

NGUYỄN THỊ VÂN ANH

THỰC TRẠNG BỆNH RĂNG MIỆNG VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CHĂM SÓC RĂNG MIỆNG CỦA HỌC SINH TẠI 2 TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp và gia đình Nhân dịp này, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới: Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, Khoa Y tế công cộng, Khoa Răng hàm mặt - Trường Đại học Y Dược Thái Bình cùng các thầy cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS BSCKII Vũ Anh Dũng

và TS Lê Đức Cường - những người thầy đã giành nhiều tâm huyết, trách nhiệm của mình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn một cách tốt nhất

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám đốc và các anh chị em Phòng Chỉ đạo tuyến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình đã tạo điều kiện thuận lợi, chia sẻ công việc giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình và bạn bè, đồng nghiệp của tôi - những người đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin gửi lời chào trân trọng!

Thái Bình, tháng 12 năm 2021

Nguyễn Thị Vân Anh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Nguyễn Thị Vân Anh, học viên khóa đào tạo trình độ Thạc sĩ chuyên ngành Y tế dự phòng, của Trường Đại học Y Dược Thái Bình

Xin cam đoan:

1 Đây là luận văn do tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của:

Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về những điều cam đoan trên

Thái Bình, ngày 20 tháng 12 năm 2021

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Vân Anh

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

AFRO Regionnal Office for Africa Văn phòng khu vực châu Phi AMRO Regionnal Office for America Văn phòng khu vực châu Mỹ BMI Body mass Index Chỉ số khối cơ thể

CI-S Simplified Calculus Index Chỉ số cao răng

CPI Community Periodontal Index Chỉ số nha chu cộng đồng

CSSKRM Chăm sóc sức khỏe răng miệng DI-S Dental plaque Index Chỉ số mảng bám răng

EMRO Regional Office for The Eastern

Mediterranean

Văn phòng khu vực Đông Địa Trung Hải

EURO Regional Office for Europe Văn phòng khu vực châu Âu

GI Gingival Index Chỉ số lợi

WHO World Health Organization Tổ chức Y tế Thế giới

WPRO Regional Office for Western Pacific Văn phòng khu vực Tây Thái Bình

Dương

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Khái quát về sức khỏe răng miệng 3

1.1.1.Bệnh sâu răng 3

1.1.2.Bệnh nha chu 8

1.2 Thực trạng bệnh răng miệng ở trẻ em 12

1.2.1.Bệnh sâu răng 12

1.2.2.Bệnh nha chu 19

1.3 Kiến thức, thực hành về chăm sóc răng miệng của học sinh 22

1.4 Yếu tố liên quan đến tình trạng bệnh răng miệng 24

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Địa bàn, đối tượng và thời gian nghiên cứu 26

2.1.1.Địa bàn nghiên cứu 26

2.1.2.Đối tượng nghiên cứu 26

2.1.3.Thời gian nghiên cứu 27

2.2 Phương pháp nghiên cứu 27

2.2.1.Thiết kế nghiên cứu 27

2.2.2.Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 27

2.2.3.Các biến số nghiên cứu và chỉ số đánh giá 29

2.3 Các bước tiến hành 35

2.3.1.Cách tổ chức khám 35

2.3.2.Phỏng vấn 35

2.3.3.Khám lâm sàng cho học sinh tại trường 36

2.4 Xử lý và phân tích số liệu 36

2.5 Sai số và hạn chế sai số 37

2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 37

Trang 7

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

3.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu 393.2 Thực trạng mắc bệnh răng miệng của học sinh trung học cơ sở 413.3 Kiến thức thực hành phòng chống bệnh răng miệng của học sinh trung học cơ sở 483.4 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng bệnh răng miệng của học sinh 56

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 63

4.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu 634.2 Thực trạng mắc bệnh răng miệng của học sinh trung học cơ sở 644.3 Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh răng miệng của học sinh và một số yếu tố liên quan đến bệnh răng miệng 704.3.1.Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh răng miệng của học sinh704.3.2.Các yếu tố liên quan đến bệnh răng miệng 75

KẾT LUẬN 82 KHUYẾN NGHỊ 84 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Trung bình SMT-R ở trẻ 12 tuổi theo khu vực 13

Bảng 3.1 Đối tượng nghiên cứu theo trường và giới tính 39

Bảng 3.2 Mối liên quan giữa tuổi và giới tính 40

Bảng 3.3 Tỷ lệ học sinh mắc bệnh răng miệng 41

Bảng 3.4 Tỷ lệ học sinh bị sâu răng theo giới tính 43

Bảng 3.5 Thực trạng sâu, mất, trám của học sinh 44

Bảng 3.6 Chỉ số SMT của học sinh theo trường, giới tính, tuổi 45

Bảng 3.7 Bệnh răng miệng ở học sinh theo trường, giới tính và nhóm tuổi 46

Bảng 3.8 Mức độ bệnh nha chu theo trường, giới tính, tuổi 47

Bảng 3.9 Mối liên quan giữa SMT – R và OHI – S 48

Bảng 3.10 Tỷ lệ học sinh nghe về bệnh răng miệng theo trường, giới, tuổi 48

Bảng 3.11 Tỷ lệ học sinh biết về tác hại của bệnh răng miệng 51

Bảng 3.12 Kiến thức về phòng chống bệnh răng miệng của học sinh 52

Bảng 3.13 Mô tả giữa phỏng vấn kiến thức và thực hành cách chải răng của học sinh 52

Bảng 3.14 Số lần, thời điểm và thời gian chải răng của học sinh 53

Bảng 3.15 Thói quen ăn, uống đồ ngọt trong ngày của học sinh 54

Bảng 3.16 Tỷ lệ học sinh có kiến thức và thực hành đúng 55

Bảng 3.17 Liên quan giữa bệnh răng miệng và nghề nghiệp của bố mẹ 56

Bảng 3.18 Liên quan giữa tình trạng bệnh sâu răng và các chỉ số 56

Bảng 3.19 Liên quan giữa tình trạng bệnh sâu răng và khám răng 57

Bảng 3.20 Liên quan giữa tình trạng bệnh sâu răng và mức độ thường xuyên ăn đồ ngọt của học sinh 58

Bảng 3.21 Mối liên quan giữa thói quen vệ sinh răng 59

Bảng 3.22 Mối liên hệ giữa các yếu tố liên quan và viêm lợi 61

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Đối tượng nghiên cứu theo trường và khối lớp 39

Biểu đồ 3.2 Đặc điểm nghề nghiệp bố mẹ học sinh và trường 40

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ bệnh răng miệng của học sinh 42

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ học sinh bị sâu răng theo trường 42

Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ học sinh sâu răng theo khối lớp 43

Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ học sinh nhận được các thông tin 49

Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ học sinh biết các dấu hiệu về bệnh răng miệng 50

Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ học sinh biết nguyên nhân gây bệnh răng miệng 50

Biểu đồ 3.9 Số lần đi khám răng trong một năm 54

Biểu đồ 3.10 Lý do đi khám trong năm 55

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Mối liên quan giữa yếu tố bệnh lý và yếu tố bảo vệ sâu răng 4

Hình 1.2 Các yếu tố liên quan đến sự tiến triển sâu răng 5

Hình 1.3 Phương pháp phòng ngừa theo diễn tiến bệnh 8

Hình 1.4 Mô hình các yếu tố nguy cơ bệnh nha chu 9

Hình 1.5 Phần trăm trung bình CPI từ 15 - 19 tuổi theo khu vực của WHO 20

Hình 2.1 Sơ đồ chọn mẫu 28

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh sâu răng và bệnh nha chu đã từ lâu được xem là gánh nặng của ngành y tế và ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người bệnh Theo nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2015, khoảng 3- 5 tỷ người trên toàn thế giới có vấn đề về răng miệng, chủ yếu là bệnh sâu răng, bệnh viêm lợi, viêm quanh răng và hậu quả dẫn đến là mất răng một phần hay toàn bộ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng ăn nhai, thẩm mỹ và sức khỏe toàn thân [1]; chi phí điều trị cho các bệnh răng miệng trên toàn thế giới (cả trực tiếp và gián tiếp) lên tới khoảng 442 tỷ USD hàng năm tương ứng với thiệt hại kinh

tế nằm trong phạm vi 10 nguyên nhân gây tử vong thường xuyên nhất toàn cầu [2]

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), bệnh sâu răng và bệnh nha chu là một vấn đề ưu tiên hàng đầu trong việc chăm sóc sức khỏe răng miệng (CSSKRM) ở hầu hết các nước Tỷ lệ bệnh sâu răng trung bình từ 26% - 60% tùy từng quốc gia và khu vực, trong đó lứa tuổi trẻ em và thanh niên chiếm từ 60% - 90%, chỉ số sâu mất trám (SMT) trung bình là 2,4; tỷ lệ viêm lợi cao từ 70% - 90% và gặp ở mọi lứa tuổi, có nơi gần 100% ở tuổi dậy thì [3] Việt Nam là một nước đang phát triển, đối mặt với tỷ lệ mắc bệnh sâu răng cao Theo kết quả điều tra sức khỏe răng miệng (SKRM) toàn quốc lần thứ 2 của tác giả Trịnh Đình Hải (giai đoạn 2015-2019) cho thấy bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, sâu răng vĩnh viễn tăng lên theo tuổi, tỷ lệ sâu răng nhiều nhất gặp ở nhóm tuổi 18 - 34 tuổi (72,8%), chảy máu lợi ở trẻ em chiếm 35,7% [4] Bệnh răng miệng tăng dần theo nhóm tuổi [4] vì thời gian càng dài thì sự tích lũy của các tác nhân gây bệnh càng nhiều Đối với học sinh trong độ tuổi

12 – 15, đây là độ tuổi bắt đầu hình thành bộ răng vĩnh viễn, mặc dù trẻ em ở lứa tuổi có thể tự chăm sóc răng miệng, nhưng vẫn chịu nhiều ảnh hưởng từ những hành vi của thành viên trong gia đình và môi trường giáo dục nhà

Trang 12

trường Vì vậy nhận thức, thực hành đúng về chăm sóc bệnh răng miệng của học sinh ở độ tuổi này là rất cần thiết để góp phần làm giảm tỷ lệ hiện mắc bệnh răng miệng nói chung

Hiện nay, các chương trình SKRM truyền thống hầu hết chỉ giúp đối tượng cải thiện được kiến thức về vệ sinh răng miệng (VSRM), còn cải thiện thực hành của đối tượng về VSRM thì còn gặp các hạn chế nhất định Vì vậy, việc đánh giá thực trạng bệnh răng miệng hiện nay là cần thiết để có cơ sở đề xuất những biện pháp can thiệp phù hợp cải thiện SKRM

Tỉnh Thái Bình là tỉnh đồng bằng với diện tích đất tự nhiên 1.546.54

km2 Toàn tỉnh gồm có 8 huyện, thành phố, hệ thống y tế của tỉnh nói chung

và chương trình chăm sóc răng miệng học đường nói riêng trong những năm qua rất phát triển Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu khoa học nào khảo sát về tình trạng SKRM và các yếu tố liên quan đến tình trạng SKRM của học sinh

từ 12 - 15 tuổi tại địa bàn tỉnh Thái Bình, từ đó khuyến nghị các giải pháp hiệu quả thực hiện trong chương trình nha học đường nhằm làm giảm tỷ lệ bệnh răng miệng ở lứa tuổi học sinh trung học sơ sở

Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Thực tr ng ệnh răng miệng v iến thứ thự h nh hăm só răng miệng ủa họ sinh t i 2 trường Trung họ ơ sở th nh phố Th i

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Khái quát về sức khỏe răng miệng

Hiện nay, vấn đề SKRM phổ biến trên thế giới là hai bệnh sâu răng và bệnh nha chu Các bệnh này có các đặc tính sau:

- Liên quan chặt chẽ với tuổi tác: tỷ lệ bệnh và mức độ trầm trọng của bệnh gia tăng theo tuổi tác

- Hiện diện ở tất cả các dân tộc và các vùng địa lý

- Sâu răng là bệnh không hoàn nguyên khi đã hình thành xoang sâu

- Mức độ bệnh có thể thay đổi theo tình hình kinh tế - xã hội và điều kiện môi trường

1.1.1 B n sâu r n

1.1.1.1 Khái quát về bệnh sâu răng

Bệnh sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn của tổ chức canxi hóa được đặc trưng bởi sự hủy khoáng của thành phần vô cơ và sự phá hủy thành phần hữu cơ của mô cứng [5] [6] Ban đầu bệnh không có triệu chứng nhưng sau đó bệnh sẽ gây đau khi tiến triển đến tủy răng Sâu răng là bệnh đa yếu tố, các yếu tố tương hỗ nhau theo thời gian Các yếu tố liên quan đến quá trình sâu răng được tác giả Keys giới thiệu vào năm 1960 Sau đó mô hình được sửa đổi, nhưng vẫn dựa trên ý tưởng của tác giả Keys Nguyên nhân sâu răng liên quan một số yếu tố như sự nhạy cảm của răng, vi khuẩn trong mảng bám và chất nền (độ pH) Tất cả các yếu tố này phải giao nhau trong một khoảng thời gian nhất định, diễn ra liên tục thì sâu răng mới tiến triển

Sâu răng là một quá trình năng động của sự mất khoáng và tái khoáng cấu trúc của răng từ các mảng bám trưởng thành và tồn tại trên răng trong một

khoảng thời gian dài [7] Sự cân bằng sâu răng (Hình 1.1) cho thấy quá trình

mất khoáng và tái khoáng xảy ra một cách năng động giữa các yếu tố bệnh lý

và yếu tố bảo vệ Trong trạng thái cân bằng, các yếu tố này cân bằng Quá trình mất khoáng xảy ra chủ yếu khi các yếu tố bệnh lý vượt trội hơn các yếu

tố phòng ngừa Nếu quá trình này liên tục không được kiểm soát, tổn thương

Trang 14

sâu răng có thể hình thành Tương tự, các yếu tố tái khoáng chiếm ưu thế khi các yếu tố phòng ngừa thay thế các yếu tố bệnh lý Các yếu tố bệnh lý được điều chỉnh từ khái niệm Keys ban đầu và gồm tiếp xúc với carbohydrate lên men, giảm lưu lượng nước bọt và sự gia tăng các tác nhân gây bệnh trong miệng Sự suy giảm và sự tiến triển của sâu răng có liên quan đến sự tiếp xúc với đường và các loại carbohydrate khác lên men Lưu lượng nước bọt là điều quan trọng để duy trì việc làm sạch cơ học, là chất đệm trung hòa các axit sinh ra từ vi khuẩn trong mảng bám và tạo thuận lợi cho phản ứng của vật chủ đối với các vi khuẩn gây bệnh trong mảng bám Các vi khuẩn sinh axit gây bệnh đã được xem như là một yếu tố hình thành sâu răng [8] Sự cân bằng giữa các yếu tố bệnh lý và yếu tố phòng ngừa là một quá trình liên tục giữa mất khoáng và tái khoáng Sâu răng là một quá trình hay hiện tượng diễn ra liên tục theo thời gian Chu kỳ mất khoáng và tái khoáng chịu ảnh hưởng của các yếu tố tác động, các vi khuẩn sinh sâu răng, carbohydrate lên men và sự cân bằng với các yếu tố bảo vệ, bao gồm lưu lượng nước bọt, fluor, kiểm soát mảng bám và chế độ ăn uống lành mạnh Theo thời gian, hiện tượng mất khoáng - tái khoáng này có thể dẫn đến hiện tượng hình thành xoang sâu hoặc tổn thương hoàn nguyên hoặc trạng thái không hoạt động [8]

Trang 15

1.1.1.2 Các yếu tố liên quan đến sâu răng

Sâu răng là một bệnh đa yếu tố bắt nguồn từ vi khuẩn tăng sinh trong mảng bám, có thể thay đổi được nhờ vào nước bọt (lưu lượng và thành phần), chế độ ăn uống, tiếp xúc fluor và các chiến lược phòng ngừa Sâu răng là kết quả từ sự tương tác của bốn yếu tố nguy cơ chính: chế độ ăn uống, sự nhạy cảm của răng, vi khuẩn và thời gian Do đó về mặt lý thuyết, can thiệp để thay đổi sự cân bằng của bất kỳ yếu tố nào trong bốn yếu tố này có thể dẫn đến giảm hoặc tăng bệnh sâu răng Sâu răng như là một quá trình bệnh sinh học hành vi, sự cân bằng của các yếu tố này trong miệng dựa vào việc có hay

không có của các yếu tố phòng ngừa và yếu tố điều chỉnh [7] (Hình 1.2)

Hình 1.2 Các yếu tố liên quan đến sự tiến triển sâu răng [7]

Các yếu tố phòng ngừa có ảnh hưởng trực tiếp đến nguy cơ sâu răng bao gồm lưu lượng nước bọt, thành phần và khả năng đệm, chế độ ăn, tiếp xúc với fluor, sealant và các tác nhân kháng khuẩn [7]

Các yếu tố điều chỉnh bao gồm các yếu tố nhân khẩu học như thu nhập, bảo hiểm nha khoa, tình trạng kinh tế - xã hội (KT - XH) và trình độ học vấn

Trang 16

Kiến thức, thái độ và niềm tin liên quan đến sự hiểu biết SKRM và vai trò của

cá nhân có tác động trực tiếp đến sự tiến triển hoặc giảm nguy cơ sâu răng

* Sâu răng liên quan đến tình tr ng kinh tế - xã hội

Một tổng quan hệ thống năm 2018 của tác giả Costa trên 61 nghiên cứu

từ năm 1976 đến năm 2016 đã xác định có mối liên hệ đáng kể giữa tình trạng

KT – XH thấp và sâu răng ở những người trưởng thành [9]

Ở Việt Nam, nghiên cứu xem xét mối liên quan giữa tình trạng KT – XH với sâu răng còn khá ít Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Huy Nam trên 192 học sinh 12 – 15 tuổi cho thấy nhóm trẻ có bố mẹ thu nhập thấp có nguy cơ bị sâu răng gấp 3,9 lần (3,37-3,86) so với trẻ có bố mẹ thu nhập cao trong năm

2018 [10]

* Thói quen vệ sinh răng miệng liên quan đến sâu răng

VSRM và sâu răng có mối tương quan đáng kể Thói quen VSRM tốt giúp ngăn ngừa sự phát triển của sâu răng bằng cách giảm sự tích tụ mảng bám răng Thành phần ở mảng bám răng không chỉ khác nhau ở từng cá nhân

mà còn tùy theo vị trí trong khoang miệng và mặt răng Kiểm soát mảng bám

vi khuẩn bằng việc VSRM đúng cách do cá nhân tự thực hiện và bổ sung can thiệp của chuyên khoa nha khoa (lấy cao răng) là biện pháp phòng ngừa chính

để cải thiện SKRM và phòng bệnh sâu răng [11]

* Thói quen ăn uống liên quan đến sâu răng

Sâu răng là bệnh răng miệng tùy thuộc vào mảng bám – chế độ ăn uống Đường và các chất carbohydrate khác lên men là nguyên nhân quan trọng trong

sự tiến triển sâu răng Chế độ ăn có carbohydrate làm thay đổi thành phần sinh hóa và sinh lý trong mảng bám, vì do các vi khuẩn lên men và làm giảm nhanh

độ pH của mảng bám từ trung tính xuống còn 5,0 hoặc thấp hơn [12]

Theo nguyên tắc chung, vi khuẩn gây bệnh sâu răng chuyển hóa đường

để tạo ra năng lượng cần thiết cho sự tăng trưởng và sinh sản của chúng Các nguồn năng lượng có thể ngoại sinh (từ các nguồn thực phẩm ngay lập tức)

Trang 17

hoặc nội sinh (từ polysaccharide được lưu trữ trong mảng bám) Vi khuẩn gây bệnh có thể chuyển hóa bất kỳ monosaccharide (glucose, fructose và galactose) hoặc disaccharides (sucrose và maltose) tạo năng lượng Tinh bột được nấu chín là một nguồn glucose có sẵn Kết quả của quá trình chuyển hóa đường này là sản xuất các axit hữu cơ trong mảng bám răng, làm giảm độ pH của mảng bám Khi pH giảm xuống còn khoảng 5,2 đến 5,5, môi trường trên răng ngay lập tức không còn bão hòa với các ion canxi và photphat nữa, răng bắt đầu mất khoáng Khi mất canxi đến ranh giới men-ngà, ngà răng bị mất canxi và vi khuẩn xâm nhập vào protein, phân giải protein và phá hủy ngà răng [12]

Cần xem xét về chế độ ăn có các yếu tố bảo vệ trong thực phẩm như canxi, phospho, fluor, protein và chất xơ Dạng thức ăn cũng quan trọng, chẳng hạn như đường trong thức uống có vẻ ít gây sâu răng hơn so với ở dạng rắn (kẹo) Tuy nhiên, tần suất và thời gian tiếp xúc với thức uống có đường cao có liên quan đến pH mảng bám dưới 5,0 [13]

* Sử dụng flour liên quan với sâu răng

Sử dụng florua là một trong những yếu tố chính gây ra sự suy giảm tỷ lệ

và mức độ nghiêm trọng của bệnh sâu răng [14]

Cộng đồng fluor hóa trong nước uống và sử dụng kem đánh răng có flour làm giảm tỷ lệ mắc bệnh sâu răng ở thanh thiếu niên độ tuổi 12 – 15 ở Hoa Kỳ từ 90% (khi nghiên cứu giai đoạn từ năm 1960) xuống còn 60% (nghiên cứu năm 1999-2004) khi flour được sử dụng một cách thích hợp, đảm bảo an toàn và hiệu quả [15]

1.1.1.3 Phòng ngừa sâu răng

Xu hướng hiện tại cho việc giảm sâu răng là chuyển mô hình điều trị phục hồi (thay thế cấu trúc răng bị tổn thương bằng vật liệu trám) sang mô hình chăm sóc sức khỏe ban đầu – tiếp cận dự phòng Tiếp cận phục hồi cổ điển là điều trị bệnh, loại bỏ các mô bệnh lý Tuy nhiên, các nghiên cứu cho

Trang 18

thấy khi răng được điều trị phục hồi, răng sẽ dễ bị tổn thương và bị mất thêm

mô răng Cách tiếp cận dự phòng nhằm xác định các yếu tố liên quan và ngăn ngừa bệnh xảy ra trong suốt cuộc đời của bệnh nhân

Phòng ngừa sâu răng bao gồm các biện pháp phòng ngừa bệnh xuất hiện, ngăn chặn bệnh tiến triển và giảm hậu quả của bệnh khi bệnh xảy ra Phòng ngừa cấp 1 hướng tới ngăn bệnh xuất hiện và duy trì bằng sinh lý

(Hình 1.3) Phòng ngừa cấp 1 cũng tập trung vào việc thay đổi tính nhạy cảm

của cá nhân Phòng ngừa cấp 2 phát hiện sớm và can thiệp sớm để ngăn ngừa

sự tiến triển của bệnh, bao gồm cả điều trị tái khoáng hóa răng Cuối cùng, phòng ngừa cấp 3 đề cập đến việc giảm thiểu mất răng và mất chức năng nhai

do sâu răng Trong SKRM, phòng ngừa cấp 3 tập trung vào phương pháp chữa răng và phục hình răng [16]

Hình 1.3 Phương ph p phòng ngừa theo diễn tiến bệnh

và kiểm soát bệnh [16]

1.1.2 B nh nha chu

1.1.2.1 Khái quát về bệnh nha chu

Bệnh nha chu bao gồm nhóm các bệnh ảnh hưởng đến cấu trúc nâng đỡ của răng: lợi tự do, lợi bám dính, dây chằng quanh răng, cement và xương ổ răng Bệnh nha chu là bệnh viêm mô nâng đỡ răng do vi khuẩn đặc hiệu gây

ra, dẫn đến sự phá hủy dây chằng nha chu và xương ổ răng, đưa đến hình thành túi nha chu, tụt lợi hoặc cả hai [17, 18]

Trang 19

Bệnh nha chu có thể được chia làm hai loại chính: (1) Viêm lợi – Viêm lợi không phá hủy và có thể hoàn nguyên, liên quan đến vi khuẩn không đặc hiệu; (2) Viêm nha chu – viêm phá hủy các mô nâng đỡ răng, liên quan đến một số vi khuẩn đặc hiệu gây bệnh nha chu Viêm lợi có thể được xem là một tình trạng không gây hại trong hầu hết các trường hợp, chủ yếu liên quan với tình trạng VSRM của cá nhân Tuy nhiên, viêm lợi là một tình trạng bệnh lý

và do đó cần được phòng ngừa và điều trị, để tránh bị viêm nha chu có khả năng phá hủy mô nha chu sau này

1.1.2.2 Yếu tố liên quan bệnh nha chu

Viêm nha chu ảnh hưởng đến khoảng 32% người trên 18 tuổi ở Việt Nam và khoảng 6% có mức độ bệnh nặng [19] Các số liệu thống kê này cho thấy không phải ai cũng dễ mắc bệnh nha chu Cá nhân có yếu tố nguy cơ như nhau, nhưng nếu

cá nhân có tính nhạy cảm với bệnh cao hơn thì nguy cơ mắc bệnh cao hơn Các yếu

tố nguy cơ được phân làm 4 loại là yếu tố tại chỗ, môi trường, hệ thống kinh tế

(Hình 1.4) [20] Các chiến lược can thiệp nhằm mục tiêu đến các yếu tố có thể thay

đổi được như thói quen VSRM, tình trạng dinh dưỡng, yếu tố tâm lý

Hình 1.4 Mô hình các yếu tố nguy ơ ệnh nha chu [20]

Trang 20

* Mảng m răng

Mảng bám răng (MBR) là nguyên nhân chính gây hầu hết các bệnh nha chu Có nhiều bằng chứng khoa học cho thấy việc loại bỏ MBR bằng cách VSRM cá nhân và chăm sóc chuyên khoa định kỳ là chiến lược hiệu quả nhất

để chống lại vi khuẩn [20]

MBR là một màng sinh học phức tạp dính vào răng Giai đoạn đầu tiên, màng sinh học là lớp màng mỏng, hình thành ngay trên bề mặt răng sạch tiếp xúc với nước bọt Các vi khuẩn trong miệng bám dính một cách tự nhiên vào màng sinh học và sản xuất polysaccharides làm tăng cường sự tích tụ của vi khuẩn MBR trở lên phức tạp hơn khi các vi khuẩn nhân lên và các loài vi khuẩn khác thay thế các vi khuẩn ban đầu Theo thời gian, khi mảng bám dày lên và trưởng thành hình thành một cấu trúc giống như cộng đồng Các cộng đồng vi khuẩn này làm tăng hiệu quả trao đổi chất, thúc đẩy sự phát triển của

vi khuẩn và bảo vệ các vi khuẩn trong màng sinh học chống lại sự bảo vệ của vật chủ và các chất khoáng khuẩn [21]

Theo nghiên cứu tổng quan hệ thống và phân tích gộp trên 50 nghiên cứu của tác giả Lertpimonchai và cộng sự [22] cho thấy tình trạng VSRM kém tăng nguy cơ viêm nha chu từ 2 đến 5 lần Đồng thời, chải răng thường xuyên

và đi khám răng thì giảm nguy cơ viêm nha chu

* Tình tr ng dinh dƣỡng

Chế độ dinh dưỡng là một yếu tố nguy cơ cho bệnh nha chu, nhất là giai đoạn thanh thiếu niên Mối liên quan giữa sự hiện hiện của những thay đổi nha chu và tình trạng dinh dưỡng (béo phì) ở 559 học sinh từ 15 -19 tuổi tại Brazil năm 2012 cho thấy có 18,6% thừa cân và 98,4% có một số thay đổi nha chu như: chảy máu (34,4%), vôi tăng (38,8%), túi nông (22,9%) và túi sâu (2,3%) [23]

* Các yếu tố sinh học

Tuổi là yếu tố nguy cơ không thể thay đổi trong bệnh nha chu Tỷ lệ và mức độ nghiêm trọng của tỷ lệ nha chu gia tăng theo tuổi Tuy nhiên, nếu chỉ

Trang 21

xét yếu tố tuổi thì tuổi không làm tăng nguy cơ bệnh nha chu Tăng mất bám dính và tiêu xương ổ thường gặp ở những người cao tuổi do việc tiếp xúc thường xuyên với các yếu tố nguy cơ khác trong suốt đời người và ảnh hưởng tích lũy theo thời gian Quá trình lão hóa không làm tăng nguy cơ phát triển bệnh Các yếu tố liên quan đến quá trình lão hóa như bệnh hệ thống, suy giảm thể chất và tinh thần, sử dụng thuốc, giảm miễn dịch và tình trạng dinh dưỡng tương tác với các yếu tố nguy cơ khác làm tăng khả năng bị bệnh nha chu [20] Giới tính có thể được phân loại là một yếu tố không thể thay đổi, đóng một yếu tố nguy cơ liên quan đến khả năng mắc bệnh và sự tiến triển bệnh nha chu [24] Sự khác biệt về giới tính trong nguy cơ mắc bệnh viêm nha chu liên quan đến hành vi sức khỏe và tiếp cận dịch vụ chăm sóc răng miệng [25]

* Yếu tố kinh tế - xã hội

Viêm lợi và VSRM kém có liên quan đến tình trạng KT – XH thấp, do nhận thức về SKRM thấp và hạn chế tiếp cận với dịch vụ nha khoa Các cá nhân có trình độ học vấn cao và tình trạng KT – XH cao có các hành vi phòng ngừa thích hợp và tránh các hành vi “không lành mạnh” như ăn nhiều bánh kẹo, đồ ngọt, chế độ ăn uống không khoa học và VSRM kém Trong một nghiên cứu hệ thống về các nghiên cứu đánh giá tình trạng KT – XH và nguy

cơ mắc bệnh nha chu, tác giả Kling và Norlund xác định rằng tình trạng KT –

XH thấp liên quan đến sức khỏe nha chu kém [26]

1.1.2.3 Dự phòng bệnh nha chu

Bệnh nha chu là kết quả của sự tương tác giữa các tác nhân vi khuẩn và vật chủ nhạy cảm Phản ứng vật chủ qua trung gian của các yếu tố môi trường, hệ thống và tình trạng KT - XH Các phản ứng vật chủ và ảnh hưởng của môi trường miệng là yếu tố quyết định mức độ nghiêm trọng của bệnh Các chiến lược để giảm nguy cơ mắc bệnh nha chu dựa trên những nguyên lý này Việc phòng ngừa các bệnh nha chu bằng các chiến lược dựa trên yếu tố nguy cơ [27]

Trang 22

Kiểm soát mảng bám là mục tiêu chính của phòng ngừa bệnh nha chu Việc loại bỏ thường xuyên mảng bám trên nướu thông qua VSRM cá nhân là phương tiện hiệu quả nhất và kinh tế nhất để đạt được mục tiêu này [27]

Chải răng không hoàn toàn loại bỏ mảng bám vùng kẽ răng Bệnh nha chu thường bị ảnh hưởng từ vùng kẽ răng, việc loại bỏ mảng bám cơ học vùng kẽ răng cần thiết cho các bệnh nhân Chỉ tơ nha khoa là phương tiện làm sạch kẽ răng phổ biến nhất, mặc dù tỷ lệ sử dụng chỉ nha khoa ít hơn nhiều so với dùng bàn chải đánh răng [13]

Khám răng miệng hàng năm hoặc mỗi 6 tháng là một cách về phòng ngừa cấp hai với mục tiêu chẩn đoán và điều trị sớm Thông thường, việc

“kiểm tra” này kết hợp kiểm tra răng và mô nha chu để xác định bệnh nha chu, dấu hiệu viêm nướu và làm sạch răng để loại bỏ mảng bám và vôi răng Kết quả hiệu quả hơn khi loại bỏ mảng bám từ nhà chuyên khoa, bao gồm cả hướng dẫn VSRM và dự đoán nguy cơ bệnh trong tương lai Những người được chăm sóc chuyên khoa thường xuyên có tình trạng SKRM tốt hơn và ít bị mất răng hơn theo thời gian [28]

1.2 Thực tr ng bệnh răng miệng ở trẻ em

1.2.1 B n sâu r n

Sâu răng là bệnh phổ biến nhất trong số các bệnh thời thơ ấu và trong bệnh mãn tính không lây trên toàn thế giới Sâu răng ở trẻ nhỏ là một tình trạng cấp tính, bệnh phát triển rất nhanh, xuất hiện lúc đầu từ 1/3 cổ răng cửa hàm trên, và cuối cùng là phá hủy hoàn toàn thân răng này Khởi phát sớm và tiến triển lâm sàng lan rộng nhanh ở các răng của trẻ Vì vậy, sâu răng ở trẻ nhỏ là vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng [29] Phân tích gánh nặng sâu răng toàn cầu trên trẻ em 12 tuổi ở sáu khu vực theo Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) năm 2015, trung bình SMT-R ở các khu vực Bắc Mỹ, Trung

Mỹ và Nam Mỹ (AMRO) là 2,08; Châu Âu (EURO) là 1,81; Đông Nam Á (SEARO) là 2,97; các khu vực Đông Địa Trung Hải (EMRO) là 1,64; Tây

Trang 23

Thái Bình Dương (WPRO) là 1,05 và Châu Phi (AFRO) là 1,06 Trên toàn cầu, trung bình SMT-R ở trẻ 12 tuổi được ước tính là 1,86 Kết quả này được ghi nhận trong năm 2015 phản ánh sự gia tăng trung bình SMT - R so với

năm 2004 là 1,61 và 2011 là 1,67 [30] (Bảng 1.1) Ở khu vực Đông Địa

Trung Hải và Đông Nam Á có sự gia tăng đáng kể trung bình SMT-R từ năm

2004 đến 2015 Tuy nhiên, trung bình SMT- R giảm đáng kể nhất là ở khu vực châu Âu, với trung bình SMT-R năm 2004 là 2,57 và năm 2015 là 1,81 Điều này chứng tỏ sự gia tăng tỷ lệ sâu răng ở các nước đang phát triển, và giảm sâu răng ở các khu vực các nước phát triển như Châu Âu và Châu Mỹ Hai khu vực có trung bình SMT-R cao nhất thế giới là khu vực Châu Mỹ và

“Nguồn: World Health Organization ,2015”[30]

Dữ liệu từ năm 2015 đã xác nhận rằng sâu răng không được điều trị trên răng vĩnh viễn vẫn phổ biến nhất trên toàn cầu (34,1%) Tỷ lệ mắc bệnh sâu răng không điều trị phổ biến ở nhóm tuổi từ 15 đến 19 tuổi [1] Theo báo cáo gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2017, chỉ giảm 4% số ca bệnh sâu răng

Trang 24

vĩnh viễn không được điều trị trên toàn cầu từ năm 1990 đến 2017 [1] Do đó,

về tổng thể, gánh nặng toàn cầu của sâu răng không được điều trị vẫn không thay đổi trong 30 năm qua

Theo tác giả Helen Schill và cộng sự nghiên cứu sự phân bố và phân cực sâu răng trong dân số vị thành niên trên 2875 trẻ trong độ tuổi tử 10-15 cho thấy: tình trạng không sâu răng tổng thể là 58,6% đối với răng sữa và 83,9% ở răng vĩnh viễn; 61,5% (12 tuổi) và 64,6% (15 tuổi) Tỷ lệ trẻ 12 và

15 tuổi có ít nhất bốn răng SMT lần lượt là 9,4% và 8,3% Ngoài ra, tám trẻ

15 tuổi có chỉ số SMT  8 (0,6%) đã được đăng ký Chỉ số SMT trung bình ở 1% đối tượng trên và 4,2 (trẻ 10 tuổi); 8,5 (12 tuổi) và 8,5 (15 tuổi) [31] Do

đó, sâu răng không được phân bổ đều khắp tuổi vị thành niên, những người bị sâu răng nặng là rất hiếm Tuy nhiên, nghiên cứu liên ngành xa hơn dường như rất cần thiết để làm rõ các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn

Để đánh giá mức độ phổ biến của sâu răng ở trẻ em 12-15 tuổi ở thành phố Nizamabad bang Telangana, năm 2021 Sai Krishna H.V.N và cộng sự đã nghiên cứu cắt ngang trên 2487 trẻ em tử 12-15 tuổi theo học tại các trường khác nhau ở thành phố Nizamabad, Ấn Độ : 20 trường đã được chọn ngẫu nhiên và tình trạng sâu răng được ghi lại bằng cách sử dụng chỉ số răng SMT Kết quả cho thấy tỷ lệ sâu răng trong nhóm nghiên cứu là 65,6% (n=1641)

Tỷ lệ sâu răng ở nữ cao hơn đáng kể so với ở nam nhưng không có ý nghĩa thống kê đáng kể (p=0,57) [32]

Năm 2016, Arthi Veerasamy và cộng sự đã công bố báo cáo khoa học

về vấn đề dịch tễ học sâu răng ở thanh thiếu niên ở Tamil Nadu, Ấn Độ Nghiên cứu này thực hiện trên 974 học sinh vị thành niên (12-15 tuổi) từ cả nông thôn và thành thị của Tamil Nadu, Ấn Độ Chỉ số SMT của những học sinh này được đo bằng phương pháp khảo sát sức khỏe răng miệng của WHO Cuộc khảo sát này đã chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh sâu răng ở thanh thiếu niên các vùng nông thôn và thành thị của Tamil Nadu là 61,4%, với chỉ số

Trang 25

SMT trung bình là 2,03 Nhiều phân tích hồi quy chỉ ra các yếu tố như giới, trình độ học vấn của mẹ, loại trường học và địa vị là những yếu tố dự báo quan trọng về sâu răng [33]

Năm 2018, để so sánh thông tin về sự tự nhận thức tình trạng sâu răng được chẩn đoán lâm sàng của trẻ em Indonesia từ 12-15 tuổi, Diah Ayu Maharani đã nghiên cứu cắt ngang trên 494 trẻ em từ 12-15 tuổi tại 6 trường trung học cơ sở ở Jakarta, Indonesia Kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ em bị sâu răng

và hậu quả lâm sàng của sâu răng không được điều trị trong nghiên cứu này lần lượt là 69,4% và 1,6%, với chỉ số SMT là 2,4 [34]

Năm 2021, để đánh giá sức khỏe răng miệng và các yếu tố có liên quan đến sâu răng, viêm lợi ở thanh thiếu niên từ 12-15 tuổi ở Sơn Đông, Trung Quốc, Meng Zhang và cộng sự đã làm một cuộc khảo sát cắt ngang về sức khỏe răng miệng trên 3868 sinh viên (50,2% nam) Trong đó 39,9% người tham gia bị sâu răng; 81,7% và 31,3% có vôi răng và chảy máu lợi tương ứng Tần suất đánh răng thấp và tiêu thụ nhiều đường và không dùng chỉ nha khoa có liên quan nhiều hơn tới sự hình thành vôi răng và chảy máu lợi (p<0,008) [35] Cùng năm, Malak và cộng sự đã nghiên cứu tình trạng sức khỏe răng miệng của học sinh Lebanon Nghiên cứu này thu thập thông tin sức khỏe răng miệng của 7902 học sinh từ 12-15 tuổi từ 6 chính quyền của lebanon đã cho kết quả: trung bình số răng bị sâu, mất, trám lại lần lượt là 3,01% (2927); 0,05% (0,245) và 2,14 (2071), và chỉ số SMT trung bình là 5,2% Trong toàn bộ học sinh được kiểm tra, tỷ lệ mắc sâu răng là 89,5% và chỉ 10,5% trẻ em không bị sâu răng Tuổi, vị trí địa lý và khu vực trường học

là những yếu tố nguy cơ đáng kể nhất đối với tỷ lệ mắc bệnh sâu răng [36]

Năm 2019, N Obregón-Rodríguez và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu

tỷ lệ mắc và các yếu tố nguy cơ liên quan đến sâu răng ở học sinh 12-15 tuổi Nghiên cứu được thực hiện cắt ngang trên 1843 học sinh tuổi 12-15 ở Galicia Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng chỉ số SMT cho cả răng vĩnh viễn và tạm thời

là 0,89 và 1,38; tỷ lệ mắc sâu răng lần lượt là 39,6% và 51,7% [37]

Trang 26

Năm 2021, nghiên cứu về sự tăng trưởng chiều rộng của cung răng ở các giai đoạn của trẻ em Mường từ 12-14 tuổi, tác giả Vũ Văn Xiêm và cộng

sự đã thực hiện nghiên cứu trên 678 mẫu thạch cao cung răng được lấy từ 226 đối tượng (107 nam, 119 nữ) là trẻ em Mường 12 tuổi trong 3 năm, mỗi năm

1 lần Các đối tượng này không có dị tật bẩm sinh, đủ 28 răng vĩnh viễn, không bị mất kích thước răng, chưa điều trị chỉnh hình răng hay phẫu thuật hàm mặt Kết quả cho thấy giai đoạn 12 đến 14 tuổi, tất cả chiều rộng của cung răng hàm trên của nam và nữ đều tăng, sự thay đổi từ 0,23mm đến 1,34mm, sự thay đổi này có ý nghĩa thống kê [38] Cung răng càng phát triển thì diện tích tiếp xúc, lưu trữ mảng bám vi khuẩn càng nhiều, tăng khả năng sâu răng và bệnh nha chu

Năm 2019, Lê Thị Thùy Dung và cộng sự nghiên cứu SKRM của 254 trẻ em 2 – 5 tuổi tại tỉnh Cao Bằng cho thấy tỷ lệ sâu răng sữa chiếm 78,0%

và 100% trẻ bị sâu chưa được điều trị, tình hình bệnh sâu răng tại địa phương này rất nghiêm trọng [39] Cùng độ tuổi, nghiên cứu cắt ngang tiến hành trên

419 học sinh của Mai Thị Giang Thanh tại Hà Nội cho thấy tỷ lệ sâu răng cũng khá cao (51,8%), sâu răng ở trẻ nam (54,5%) cao hơn trẻ nữ (49%); tỷ lệ học sinh sâu răng tăng dần theo tuổi, thấp nhất ở học sinh 2 tuổi (27,7%) và cao nhất

ở học sinh 5 tuổi (63,6%) Số lượng răng sâu trung bình là 2,5 răng [40]

Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 330 học sinh tiểu học Lê Văn Tám, Hải Phòng năm 2018 cho biết những học sinh trong nhóm tuổi từ 9 -

11 tuổi có khả năng mắc sâu răng sữa và sâu răng vĩnh viễn cao hơn những học sinh trong nhóm tuổi từ 7 – 8 tuổi [41] Năm 2017, học sinh 6 tuổi tại Cần Thơ theo nghiên cứu của Bùi Ngọc Vĩnh Lộc và cộng sự cho thấy tỷ lệ sâu răng cao chiếm 89,1%, chỉ số SMT – R là 7,61 ± 4,94, một con số đáng báo động [42]

Năm 2017, Trần Tấn Tài nghiên cứu trên một số trường tiểu học Thừa Thiên Huế và đưa ra tỷ lệ sâu răng rất cao (77,6%), trong đó sâu răng sữa là 67,2%, sâu răng vĩnh viễn là 45,2% [43]

Trang 27

Nhằm nghiên cứu tình trạng sâu răng vĩnh viễn ở trẻ em Việt Nam năm

2019, tác giả Nguyễn Thị Hồng Minh và Trịnh Đình Hải đã tiến hành nghiên cứu cắt ngang với cỡ mẫu 8053 trẻ em chia làm bốn lứa tuổi (6-8, 9-11, 12-

14, 15-17 tuổi) được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng nhiều giai đoạn từ 14 tỉnh thành đại diện cho cả nước theo các vùng địa lý Kết quả nghiên cứu cho thấy, sâu răng vĩnh viễn xuất hiện sớm và tăng nhanh theo tuổi Tỷ lệ sâu răng cao nhất ở nhóm tuổi 12 - 15 (43,7%), đây là nhóm tuổi bắt đầu hình thành bộ răng vĩnh viễn, khả năng tự CSRM chưa tốt Trung bình mỗi trẻ có một đến hai răng sâu không được hàn, tỷ lệ răng được điều trị rất thấp [44] Cùng năm, Nguyễn Anh Sơn cũng nghiên cứu về tình trạng SKRM của học sinh lớp 6 một số trường THCS tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy tỷ lệ sâu răng còn cao (63,6%), chỉ số SMT – R là 1,64 [45]

Năm 2018, Lê Hoàng Hạnh và cộng sự nghiên cứu trên 2921 học sinh

12 tuổi tại 24 trường Trung học cơ sở từ Tiền Giang nhằm đánh giá tình hình bệnh sâu răng, nha chu ở học sinh 12 tuổi tại tỉnh Tiền Giang đã cho thấy tỷ lệ bệnh sâu răng là 68,2%; mất răng 2,2%; trám răng 3,6% [46]

Nhằm nghiên cứu tỷ lệ bệnh sâu răng của học sinh dân tộc trường Trung học cơ sở tại huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Hải Đăng

và cộng sự đã nghiên cứu trên 992 học sinh là người dân tộc THCS thuộc huyện miền núi của các tỉnh Tuyên Quang Kết quả bệnh răng miệng có tỷ lệ cao chiếm 72,4% ở học sinh là người dân tộc trường trung học cơ sở, trong đó

tỷ lệ học sinh mắc bệnh sâu răng là 72,6%; nhóm tuổi 12, 13, 14 có tỷ lệ nữ mắc bệnh răng miệng cao hơn so với nam giới; tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số

ít người có tỷ lệ sâu răng (57,6%) cao hơn số học sinh dân tộc Tày (49,8%), dân tộc Dao (47,4%) [47]

Năm 2017, Đào Đức Long và cộng sự đã nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 1992 học sinh tại sáu trường trung học cơ sở tỉnh Gia Lai cho thấy tỷ lệ học sinh bị sâu răng là 71,18% Hình thái tổn thương ở răng rất đa dạng, tỷ lệ

Trang 28

học sinh bị sâu ngà nông (S2) 73,95%, còn chân răng 35,04%; sâu ngà sâu (S3) 58,94% Chỉ số răng sâu bị mất ở học sinh có răng vĩnh viễn cao hơn răng sữa (2,61 so với 1,47) [48]

Năm 2015, Trần Đình Tuyên và cộng sự nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên 280 học sinh độ tuổi 12 ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên,

áp dụng hệ thống khám ICDAS II có kết hợp với laze huỳnh quang DIAGNOdent Kết quả cho thấy tỷ lệ lưu hành bệnh sâu răng rất cao (95,7%) với chỉ số sâu, mất, trám là 2,97 (theo tiêu chuẩn của WHO là 70%) Giá trị của chỉ số sâu mất trám ở mức trung bình Như vậy, đánh giá sâu răng tại cộng đồng theo tiêu chuẩn của ICDAS II sẽ phản ánh được tảng băng chìm của bệnh sâu răng [49] Cùng năm, Vũ Thị Sao Chi nghiên cứu 390 học sinh

độ tuổi 12 -15 tuổi cho thấy tỷ lệ sâu răng khá cao 63,3% [50]

Năm 2014, Phan Thị Trường Xuân và cộng sự nghiên cứu cắt ngang

mô tả bao gồm 1400 học sinh (727 HS 12 tuổi và 673 HS 15 tuổi) ở các trường trung học cơ sở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cho thấy tỷ lệ bệnh sâu răng ở học sinh 12 và 15 tuổi lần lượt là 55,6% và 68,9%; SMT-R là 1,4 và 2,34 Trung bình mỗi HS 12 tuổi có 1,38 răng cần điều trị, mỗi HS 15 tuổi có 2,24 răng cần điều trị Nhu cầu điều trị khẩn ở HS 12 tuổi là 23% và

15 tuổi là 35,9% [51]

Năm 2014, Đỗ Quốc Tiệp và cộng sự nghiên cứu tại 4 trường THCS thành phố Đồng Hới cho thấy: Tỷ lệ sâu răng chung cao (64,7%), tỷ lệ sâu răng của nữ (90,5%) cao hơn so với học sinh nam (34,3%) Tình trạng sâu răng của học sinh THCS có khuynh hướng tăng theo tuổi Tỷ lệ sâu răng có biến chứng là 15,1% Chỉ số SMT – R là 1,9 và có xu hướng tăng dần theo tuổi [52]

Năm 2012, sau khi sát nhập các trường phổ thông cơ sở tại Hà Nội, Đào Thị Dung đã khám và nghiên cứu toàn bộ 4463 học sinh từ độ tuổi 12 -15 tuổi cho thấy: Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn chung là 17,04%, của học sinh 12 tuổi

là 15,31% Chỉ số SMT – R chung là 0,47, chỉ số SMT – R tăng dần theo tuổi:

Trang 29

12 tuổi là 0,4; 14 tuổi là 0,58; chỉ số SMT ở học sinh 14 tuổi cao gấp 1,5 lần học sinh 12 tuổi Số răng sâu cao nhưng số răng được hàn rất thấp ở tất cả các lứa tuổi, học sinh 12 tuổi chỉ số răng sâu cao gấp 22 lần chỉ số hàn Trong tổng số các răng bị sâu của học sinh có 11,5% số răng có biến chứng viêm tủy [53] Cùng năm tại Hà Nội, cũng nghiên cứu trên đối tượng 12 – 15 tuổi, Nguyễn Thị Thịnh cho thấy tỷ lệ sâu răng (14,95%) thấp hơn của Đào Thị Dung (17,04%), chỉ số SMT – R là 0,28 [54]

1.2.2 B nh nha chu

Bệnh nha chu là một trong hai bệnh răng miệng chính ảnh hưởng đến nhiều người trên toàn cầu với tỷ lệ hiện mắc khá cao [1] Tỷ lệ và mức độ nghiêm trọng của bệnh nha chu đã được khảo sát trong các cuộc điều tra dân

số ở một số nước phát triển và đang phát triển Chỉ số nha chu cộng đồng (CPI) được TCYTTG giới thiệu để cung cấp dữ liệu về tình trạng SKRM ở các quốc gia và giúp các nước lập kế hoạch các chương trình can thiệp kiểm soát bệnh nha chu đạt hiệu quả [3]

Theo ngân hàng dữ liệu SKRM toàn cầu của TCYTTG, tình trạng mô nha chu lứa tuổi từ 15-19 ở các quốc gia năm 2003, được tóm tắt trong hình 1.4 Dữ liệu CPI được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm trung bình của những người theo điểm số CPI Cá nhân có CPI 4 (túi nha chu >6mm) chiếm tỷ lệ cao ở khu vực Châu Mỹ Điểm số phổ biến nhất trong tất cả các vùng là chỉ số CPI 2 (chảy máu nướu và vôi răng), trong đó các nước khu vực Đông Nam Á

có tỷ lệ CPI 2 cao nhất, điều này phản ánh tình trạng VSRM còn kém ở các nước này [3]

Trang 30

Hình 1.5 Phần trăm trung nh CPI từ 15 - 19 tuổi theo khu vực

của WHO

“Nguồn: World Health Organization, 2003”[3]

Năm 2021, Malak và cộng sự đã nghiên cứu tình trạng sức khỏe răng miệng của học sinh Lebanon Nghiên cứu này thu thập thông tin sức khỏe răng miệng của 7902 học sinh từ 12-15 tuổi từ 6 chính quyền của lebanon đã cho kết quả: Bệnh nha chu gặp ở 7633 người tham gia (96,6%) Trái ngược với túi nha chu nông có tỷ lệ phổ biến thấp, vôi răng là tình trạng nha chu được phát hiện thường xuyên nhất ở cả 3 lứa tuổi (30,9% ở 12 tuổi và 50,2%

ở 15 tuổi) Tuổi tác, giới tính, trường học và tình trạng hút thuốc có liên quan đáng kể tới sự xuất hiện của bệnh nha chu [36]

Theo tác giả Nguyễn Hữu Thiện, tình trạng viêm lợi của học sinh hai trường tiểu học thành phố Thái Bình là 4,1%; tỷ lệ VSRM theo OHI-S chung

là 2,6% trong đó tỷ lệ mảng bám răng (80,9%); cao răng (22,5%) [55]

Năm 2021, đánh giá tình trạng viêm lợi ở thanh thiếu niên từ 12-15 tuổi

ở Sơn Đông, Trung Quốc cho thấy: 31,3% có vôi răng và chảy máu lợi [35]

Trang 31

Năm 2015, nghiên cứu trên 810 trẻ em tại quận Panchkula, Haryana độ tuổi 12 -15 tuổi có chỉ số vệ sinh răng miệng đơn giản hóa khá và kém (OHI-S) cho thấy nguy cơ phát triển sâu răng lần lượt là 3,920 và 4,297 lần so với

vệ sinh răng miệng tốt [56]

Năm 2021, Võ Trương Như Ngọc đã nghiên cứu trên 5294 học sinh tại một số tỉnh của Việt Nam để đánh giá mối liên quan giữa thực trạng kém khoáng men răng (MIH) và chấn thương răng sữa, răng sữa mất sớm ở học sinh 12-15 tuổi Kết quả cho thấy tỷ lệ MIH chung của nhóm học sinh là 20,1% trong đó MIH Tỷ lệ MIH nặng là 4,9% Tỷ lệ nhiễm MIH ở răng hàm lớn và răng cửa lần lượt là 10,6% và 11,4% Các học sinh có tiền sử chấn thương răng sữa, răng sữa mất sớm có nguy cơ mắc MIH cao hơn 1,12 lần và 1,26 lần [57]

Năm 2018, Lê Hoàn Hạnh nghiên cứu trên 2921 học sinh 12 tuổi cho thấy: Tỷ lệ bệnh nha chu là 46,2% (chảy máu nướu 19,7%; vôi răng 26,5%) Nhu cầu điều trị nha chu mức độ 0: 53,8%; 1: 19,7%; 2: 26,5% Mảng bám răng mức độ 0: 39,8%; 1: 31,3%, 2: 11,9%, 3: 17% Vôi răng mức độ 0: 73,5%; 1: 18%; 2: 6,5%; 3: 2,1% Trung vị nhu cầu điều trị nha chu: 0(0-0,17); Mảng bám răng: 0,33(0-1); Vôi răng: 0(0-0,17); Vệ sinh răng miệng: 0,33(0-1,33) [46]

Năm 2017, trong 1992 học sinh THCS được nghiên cứu tại 6 trường tỉnh Gia Lai, cho thấy tỷ lệ viêm lợi cao (66,72%), bệnh quanh răng cao (66,62%) [48] Năm 2015, Vũ Thị Sao Chi cho biết tỷ lệ viêm lợi là 48,5% khi nghiên cứu cắt ngang 390 học sinh độ tuổi 12 -15 tại Hải Dương [50]

Năm 2014, Phan Thị Trường Xuân và cộng sự nghiên cứu cắt ngang

mô tả bao gồm 1400 học sinh (727 HS 12 tuổi và 673 HS 15 tuổi) ở các trường trung học cơ sở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cho thấy: Tỉ lệ học sinh 12 tuổi mắc bệnh nha chu là 55,8% (9,0% chảy máu nướu và 46,8%

có vôi răng) và HS 15 tuổi là 71% (9,2% chảy máu nướu và 61,8% có vôi

Trang 32

răng); số trung bình sextants cần lấy vôi răng ở mỗi HS 12 và 15 tuổi lần lượt

là 1,71 và 2,36 [51] Cùng năm, Đỗ Quốc Tiệp nghiên cứu tại Đồng Hới cho

tỷ lệ viêm lợi chung là 12,4%, trong đó viêm lợi nữ (16,5%) cao hơn ở học sinh nam (7,6%) [52]

1.3 Kiến thức, thực hành về hăm só răng miệng của học sinh

Trên toàn thế giới có rất nhiều nghiên cứu cho thấy học sinh thiếu kiến thức, thực hành phòng chống bệnh răng miệng có nguy cơ mắc bệnh răng miệng cao hơn nhiều nhóm được trang bị đủ kiến thức và thực hành chăm sóc răng miệng tốt

Nghiên cứu của tác giả Rothen và cộng sự trên 1.400 bệnh nhân sau 24 tháng theo dõi cho thấy những bệnh nhân từ 9 – 17 tuổi chải răng với kem đánh răng có fluor một lần mỗi ngày trở lên có tỷ lệ sâu răng thấp hơn 50% so với chải răng ít hơn một lần mỗi ngày Đối với bệnh nhân từ 18 – 64 tuổi, chải răng với kem đánh răng có fluor từ hai lần trở lên mỗi ngày có tỷ lệ sâu răng thấp hơn 40% so với bệnh nhân chải răng ít hơn hai lần mỗi ngày [58]

Nghiên cứu của tác giả Khannal S và cộng sự năm 2014 trên 252 học sinh ở độ tuổi 12 -15 tại Jorpati, Kathmandu cho thấy phần lớn trẻ em được sử dụng bàn chải đánh răng (89,7%) và kem đánh răng (97,6%); có thói quen đánh răng hàng ngày (84,1%) nhưng chỉ có 36,9% chải răng hai lần mỗi ngày nên tỷ lên sâu răng còn rất cao (67,8%) [59]

Năm 2021, tác giả Shizaee và cộng sự nghiên cứu cắt ngang trên 2045 học sinh trung học từ 13 – 15 tuổi từ các khu vực thành thị của Zahedan ở phía Đông Nam Iran cho thấy chỉ 18% người tham gia đánh răng ít nhất hai lần một ngày Tỷ lệ đánh răng liên quan đến giới tính (OR = 2,38, 95%CI 1,84-3,08), trình độ học vấn của mẹ (OR=2,27, 95%CI 1,62-3,18), công việc của cha (OR = 2,24, 95%CI 1,20-4,19) [60]

Năm 2019, N Obregón-Rodríguez nghiên cứu ở nhóm tuổi 12, những học sinh thỉnh thoảng hoặc không bao giờ đánh răng có giá trị sâu răng cao

Trang 33

hơn Ngoài ra sự hiện diện của mảng bám trên hơn 1/3 nướu có liên quan thống kê với sự gia tăng sâu răng, và sống ở môi trường nông thôn là một yếu

tố nguy cơ Ở nhóm 15 tuổi, nguy cơ sâu răng cao hơn khi đánh răng mỗi ngày 1 lần [37]

Năm 2021, Meng Zhang và cộng sự đã làm một cuộc khảo sát cắt ngang về sức khỏe răng miệng trên 3868 thanh thiếu niên từ 12-15 tuổi ở Sơn Đông, Trung Quốc cho thấy tần suất đánh răng thấp và tiêu thụ nhiều đường

và không dùng chỉ nha khoa có liên quan nhiều hơn tới sự hình thành vôi răng

và chảy máu lợi (p<0,008) [35]

Tại Việt Nam, năm 2019 với mục tiêu đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc răng miệng của học sinh tại trường Trung học cơ sở Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, Bùi Thị Thu Hiền và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 827 học sinh từ tháng mười đến tháng mười một năm 2019 Kết quả cho thấy có 436 (52,7 %) là học sinh nam Nghiên cứu cho thấy 516 học sinh (62,4%) có kiến thức đạt về chăm sóc răng miệng nhưng chỉ có 328 học sinh (39,7%) có thái độ tích cực và 353 học sinh (43,7 %) có thực hành đạt về chăm sóc răng miệng [61]

Năm 2015, nghiên cứu trên 280 học sinh 12 -15 tuổi tại Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên cho thấy: Đa số học sinh có thái độ về vệ sinh răng miệng rất tốt, tuy nhiên kiến thức và hành vi của học sinh đều không tốt, ở nhóm sâu răng theo tiêu chuẩn của WHO và ICDAS II, số có kiến thức không tốt lần lượt chiếm 88,8% và 89,2%; số có hành vi không tốt lần lượt là 98,5% và 97,8% [49] Vũ Thị Sao Chi cũng cho biết tỷ lệ kiến thức đạt, thái độ tốt và thực hành đạt của học sinh về phòng chống sâu răng, viêm lợi là 61,5%; 61% khi nghiên cứu tại thành phố Hải Dương [50]

Nghiên cứu của tác giả Trần Đình Tuyên và cộng sự năm 2015 trên 280 học sinh ở độ tuổi 12 ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ sâu răng rất cao (95,7%) do 98,5% học sinh có hành vi thói quen vệ sinh không tốt [49]

Trang 34

Năm 2012, Nguyễn Thị Thịnh và cộng sự đã nghiên cứu trên 408 đối tượng học sinh độ tuổi từ 12 – 15 tuổi cho thấy: Nhóm học sinh có kiến thức phòng chống sâu răng chưa đạt có nguy cơ mắc bệnh sâu răng cao gấp 1,98 lần so với nhóm học sinh có kiến thức đạt Nhóm học sinh thực hành phòng chống sâu răng chưa đạt có nguy cơ mắc bệnh sâu răng cao gấp 2,47 lần so với nhóm học sinh có thực hành phòng chống sâu răng đạt yêu cầu Nhóm học sinh có thời gian chải răng dưới 3 phút có nguy cơ mắc bệnh sâu răng cao gấp 4,8 lần so với nhóm học sinh có thời gian chải răng trên 3 phút [54]

1.4 Yếu tố liên quan đến tình tr ng bệnh răng miệng

Năm 2016, Arthi Veerasamy và cộng sự nghiên cứu trên đối tượng 12 –

15 tuổi chỉ ra các yếu tố như giới, trình độ học vấn của mẹ, loại trường học và địa vị là những yếu tố dự báo quan trọng về sâu răng [33]

Năm 2015, Amandeep Chopra và cộng sự đã nghiên cứu trên 810 trẻ

em 12-15 tuổi ở quận Panchkula, Haryana để tìm ra mối tương quan giữa chỉ

số khối cơ thể (BMI), chế độ ăn uống và tình trạng sâu răng Kết quả: chỉ số SMT là 1,72 với răng sâu, mất, được trám lần lượt là 1,22; 0,04; 0,44 Khi mẫu được đánh giá dựa trên loại chế độ ăn, người ta thấy rằng những người

ăn chay có chỉ số SMT trung bình cao hơn (1,72) so với trẻ em có chế độ ăn hỗn hợp Trẻ thừa cân có chỉ số SMT cao nhất (3,21), tiếp theo là trẻ nhẹ cân (2,31) và trẻ béo phì (2,33) Phụ nữ có nguy cơ bị sâu răng cao gấp 1,293 lần

so với nam giới [56]

Năm 2019, Alghalban và cộng sự nghiên cứu trên 1283 trẻ em (651 nam và 632 nữ) ở Menoufia Govenorate, quận Shebin El-Kom cho thấy tuổi trung bình là 13,05±0,84 tuổi; 60% trẻ em được coi là có trình độ kinh tế xã hội trung bình; tỷ lệ sâu răng là 62,8%, với chỉ số SMT là 1,3±1,32; và tỷ lệ trẻ em chỉ bị sâu răng, chỉ điều trị răng và điều trị sâu lần lượt là 37,4%; 7,8%

và 17,8% Không có sự khác biệt có ý nghĩa và tỷ lệ mắc sâu răng giữa nam

và nữ (p>0,05) và giữa trẻ em nông thôn và thành thị (p> 0,05) Tỷ lệ mắc sâu răng ở gia đình lớn cao hơn gia đình có kích thước nhỏ Sâu răng cao hơn đáng kể ở trẻ em có bố làm lao động chân tay và chuyên nghiệp hơn Tỷ lệ

Trang 35

sâu răng cao hơn đáng kể ở trẻ có tiêu chuẩn kinh tế xã hội cao và tiêu chuẩn kinh tế xã hội thấp so với nhóm trung bình (p<0,05), và không có sự khác biệt đáng kể về công việc hoặc trình độ học vấn của người mẹ Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa sâu răng xảy ra ở trẻ không đánh răng theo thói quen và trẻ thường xuyên đánh răng Sâu răng ít phổ biến hơn ở trẻ em đánh răng nhiều hơn một lần mỗi ngày và những trẻ ăn các sản phẩm từ sữa hằng ngay và thịt đỏ thường xuyên (hằng tuần), và tỷ lệ này cao hơn đáng kể ở trẻ

em tiêu thụ soda và nước ngọt có đường hằng ngày thường xuyên Tỷ lệ sâu răng thay đổi có ý nghĩa (p<0,05) với BMI, vì tỷ lệ này cao hơn ở trẻ em thừa cân và béo phì [62]

Năm 2017, tại Cần Thơ, theo nghiên cứu của Bùi Ngọc Vĩnh Lộc và cộng sự cho thấy các yếu tố nguy cơ như tình trạng vệ sinh răng miệng, pH nước bọt không kích thích, chế độ ăn có đường giữa các bữa chính, kiến thức của cha mẹ về bệnh sâu răng và số lần đi khám răng của trẻ có mối liên quan

có ý nghĩa thống kê với tình trạng đa sâu răng [42]

Trang 36

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa n đối tượng và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại hai trường trung học cơ sở (THCS) tại thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình Bao gồm: Trường THCS Kỳ Bá và trường THCS Phú Xuân

- Trường THCS Kỳ Bá: Là trường THCS ở trung tâm thành phố Thái Bình với tổng diện tích 7.300m2; bao gồm 59 cán bộ và giáo viên; với 24 phòng lớp học, 3 phòng bộ môn, 1 phòng ứng dụng công nghệ thông tin, 1 phòng truyền thống, 8 phòng chức năng và phòng làm việc của các tổ chức đoàn thể; 100% được kiên cố hóa Hệ thống nước sạch, sân chơi bãi tập, công trình vệ sinh được trang bị đầy đủ, đáp ứng yêu cầu giảng dạy, học tập, nghiên cứu của thầy cô giáo và học sinh Học sinh tại trường hầu hết là con cán bộ công chức nhà nước, có mức sống tương đối cao, thói quen sinh hoạt của từng gia đình rất đa dạng Điều kiện kinh tế cao, khả năng tiếp cận với các thông tin văn hóa, xã hội và sức khỏe đầy đủ Trường gồm có 4 khối (6, 7, 8

và 9), mỗi khối có 5 lớp, trung bình mỗi lớp từ 55 đến 65 học sinh

- Trường THCS Phú Xuân: Là trường THCS ở vùng ven của thành phố với diện tích 4.700m2; bao gồm 34 cán bộ và giáo viên; với 15 phòng học và 7 phòng bộ môn, chức năng; cơ sở vật chất còn thiếu đáp ứng tối thiểu cho dạy

và học Trường nằm ở khu vực dân cư đông đúc nhưng điều kiện kinh tế của các hộ gia đình ở đây chủ yếu là làm nông nghiệp, đời sống kinh tế còn khó khăn, thói quen sinh hoạt cũng như tiếp xúc các thông tin văn hóa, xã hội còn nhiều hạn chế Trường cũng bao gồm 4 khối (6, 7, 8, 9), mỗi khối có 4 lớp, trung bình mỗi lớp từ 40 đến 50 học sinh

2.1.2 Đ t ợng nghiên cứu

+ Nghiên cứu định lượng:

Học sinh của hai trường THCS tại địa bàn nghiên cứu

Trang 37

* Tiêu chuẩn lựa chọn:

Tất cả học sinh của hai trường trong năm học 2020 - 2021 có mặt tại thời điểm nghiên cứu và tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu

* Tiêu chuẩn loại trừ:

Học sinh đang sốt hay mắc các bệnh tuyền nhiễm hoặc không trả lời đầy

đủ các thông tin quan trọng của bảng câu hỏi

2.1.3 Th i gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10/2020 đến tháng 04/2021

2.2 Phương ph p nghiên ứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

2.2.2 Cỡ mẫu v p ơn p p n mẫu

a Cỡ mẫu nghiên cứu

Trong đó:

n: tổng số đối tượng cần điều tra

Z(1- α/2): Giá trị Z thu được tương ứng với α = 0,05; Z(1- α/2) =1,96

d : độ sai lệch mong muốn giữa giá trị của mẫu và giá trị thực của quần thể, chọn d = 0,05

p = 0,64 là tỷ lệ mắc bệnh sâu răng của học sinh tại trường THCS huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2019 tương ứng là 63,6% [45]

Với các dữ kiện trên, thay vào công thức chúng tôi tính được cỡ mẫu là

Trang 38

b Phương pháp chọn mẫu

Hình 2.1 Sơ đồ chọn mẫu

Trong 19 trường THCS tại thành phố Thái Bình có 10 trường thuộc phường và 9 trường thuộc xã Để có mẫu nghiên cứu bao gồm học sinh ở khu vực phường và xã, chúng tôi bốc thăm ngẫu nhiên trong 10 trường thuộc phường chọn 01 trường; trong 9 trường thuộc xã chọn ngẫu nhiên 01 trường tham gia nghiên cứu Trong các khối tại mỗi trường nghiên cứu, bốc thăm ngẫu nhiên mỗi lớp thuộc 1 khối, 4 khối 6,7,8,9 tương ứng sẽ có 4 lớp tham gia nghiên cứu Kết quả các trường tham gia nghiên cứu và số học sinh tương ứng là: Trường THCS Kỳ Bá thuộc phường Kỳ Bá (249 HS) với số học sinh các khối 6, 7, 8, 9 lần lượt là 67, 59, 56, 67 học sinh; trường THCS Phú Xuân thuộc xã Phú Xuân (175 HS) với số học sinh các khối 6, 7, 8, 9 lần lượt là 46,

42, 42, 45 học sinh Để đảm bảo vấn đề đạo đức trong nghiên cứu, chúng tôi lựa chọn tất cả 424 học sinh của cả hai trường như trên để nghiên cứu

Trang 39

Tiến hành phỏng vấn: kiến thức, thực hành của HS của trường

Khám đánh giá: khám răng miệng các em HS thuộc đối tượng nghiên cứu

2.2.3 Các biến s nghiên cứu và chỉ s đ n

2.2.3.1 Các nhóm biến số nghiên cứu

- Tình trạng sâu răng và bệnh nha chu: Tỷ lệ sâu răng, chỉ số SMT – R, chỉ số lợi (GI), chỉ số răng miệng vệ sinh đơn giản (OHI-S) thu thập bằng phương pháp khám lâm sàng

- Kiến thức của học sinh liên quan đến bệnh răng miệng: Dấu hiệu, triệu chứng, cách phòng bệnh, cách xử trí sâu răng, viêm lợi; hiểu biết về cách chải răng,… thu thập bằng phương pháp phỏng vấn

- Thực hành của học sinh liên quan đến bệnh răng miệng: Cách chải răng, cách xử lý khi bị bệnh răng miệng, cách phòng bệnh, những thói quen sinh hoạt hàng ngày…thu thập bằng phương pháp phỏng vấn

- Các yếu tố liên quan đến bệnh răng miệng: Tuổi, giới tính, nghề nghiệp

bố mẹ, thói quen vệ sinh răng miệng, tần suất khám răng định kỳ….thu thập bằng phương pháp phỏng vấn

2.2.3.2 Các chỉ số đánh giá

Một s quy ớc sử dụng trong nghiên cứu

* Quy ƣớ trong h m răng

Mất răng

do sâu răng

Mất răng

lý do khác

Trang 40

đốm nhiễm sắc hay xù xì; hố rãnh có màu ở mặt men làm mắc thám châm nhưng không có đáy hay vách mềm; vùng men lỗ rỗ sẫm màu, bong hoặc cứng trên một răng có dấu hiệu nhiễm fluor trung bình hay nặng Phải ghi mã

số răng tốt cho tất cả các tổn thương nghi ngờ

1: Sâu răng: là lỗ sâu ở bất kỳ chỗ nào của răng (mặt ngoài, mặt trong, mặt nhai, mặt gần, mặt xa) thám châm thăm khám mắc trên răng Nguyên tắc lâm sàng: Người khác phải đánh giá về lâm sàng để xác định các tổn thương sâu nghi ngờ; nếu nghi ngờ thì sử dụng các tiêu chuẩn như đáy mềm hoặc răng có tổn thương ở hố rãnh Trên các mặt tiếp xúc người khám phải chắc chắn thám châm đã lọt vào lỗ sâu và chưa tới tủy

2: Hàn và sâu răng: Răng có một hoặc nhiều miếng hàn vĩnh viễn và có một hoặc nhiều chỗ bị sâu, không phân biệt sâu nguyên phát hay thứ phát, liên hệ hay không liên hệ với miếng hàn

3: Hàn và không sâu răng: Răng có một hoặc nhiều miếng hàn vĩnh viễn

và không có lỗ sâu ở bất kỳ chỗ nào khác

4: Mất răng do sâu răng: Răng bị mất do bị sâu răng

5: Mất răng lý do khác: Lý do khác như chỉnh nha, bệnh nha chu, chấn thương…hay không có răng bẩm sinh

* Quy ƣớ trong h m quanh răng

- Đánh giá chỉ số lợi: GI (để xác định tỷ lệ hiện mắc bệnh viêm lợi và mức độ trầm trọng của tình trạng lợi trong các chương trình điều tra sức khỏe răng miệng)

+ 0 điểm: lợi lành mạnh, không có dấu hiệu bất thường

+ 1 điểm: lợi sưng nhẹ, lợi đổi màu, sưng nhẹ trên lợi, không chảy máu khi thăm khám

+ 2 điểm: lợi viêm trung bình, có dấu hiệu đỏ lợi, sưng loét, chảy máu lợi khi thăm khám

+ 3 điểm: lợi viêm nặng, có dấu hiệu lợi đỏ sưng nề, loét Mật độ lợi bở, chảy máu tự phát

Ngày đăng: 13/07/2023, 15:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Kassebaum N. J, Smith A. G. C, Bernabé E el at (2017), "Global, Regional, and National Prevalence, Incidence, and Disability-Adjusted Life Years for Oral Conditions for 195 Countries, 1990-2015: A Systematic Analysis for the Global Burden of Diseases, Injuries, and Risk Factors", Journal of dental research. 96(4), 380-387 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global, Regional, and National Prevalence, Incidence, and Disability-Adjusted Life Years for Oral Conditions for 195 Countries, 1990-2015: A Systematic Analysis for the Global Burden of Diseases, Injuries, and Risk Factors
Tác giả: Kassebaum N. J, Smith A. G. C, Bernabé E
Nhà XB: Journal of dental research
Năm: 2017
2. Listl S, Galloway J, Mossey P. A el at (2015), "Global Economic Impact of Dental Diseases", J Dent Res. 94(10), 1355-1361 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global Economic Impact of Dental Diseases
Tác giả: Listl S, Galloway J, Mossey P
Nhà XB: J Dent Res
Năm: 2015
4. Trịnh Đình Hải (2019), Nghiên cứu thực trạng sức khỏe răng miệng ở Việt Nam giai đoạn 2015-2019, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng sức khỏe răng miệng ở Việt Nam giai đoạn 2015-2019
Tác giả: Trịnh Đình Hải
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2019
7. Robert H. Selwitz, Amid I. Ismail,Nigel B. Pitts (2007), "Dental caries", The Lancet. 369(9555), 51-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dental caries
Tác giả: Robert H. Selwitz, Amid I. Ismail, Nigel B. Pitts
Nhà XB: The Lancet
Năm: 2007
8. J. D. Featherstone (2006), "Caries prevention and reversal based on the caries balance", Pediatr Dent. 28(2), 128-132; discussion 192-128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Caries prevention and reversal based on the caries balance
Tác giả: J. D. Featherstone
Nhà XB: Pediatr Dent.
Năm: 2006
9. S. M. Costa, C. C. Martins, M. Q. C. Pinto el at (2018), "Socioeconomic Factors and Caries in People between 19 and 60 Years of Age: An Update of a Systematic Review and Meta-Analysis of Observational Studies", Int J Environ Res Public Health. 15(8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Socioeconomic Factors and Caries in People between 19 and 60 Years of Age: An Update of a Systematic Review and Meta-Analysis of Observational Studies
Tác giả: S. M. Costa, C. C. Martins, M. Q. C. Pinto
Nhà XB: Int J Environ Res Public Health
Năm: 2018
10. Nguyễn Huy Nam, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thị Lương (2018), Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống bệnh sâu răng của học sinh trường trung học cơ sở Tiền Phong, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, TP Hà Nội, năm 2018 và một số yếu tố liên quan, Trung tâm Y tế Mê Linh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống bệnh sâu răng của học sinh trường trung học cơ sở Tiền Phong, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, TP Hà Nội, năm 2018 và một số yếu tố liên quan
Tác giả: Nguyễn Huy Nam, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thị Lương
Nhà XB: Trung tâm Y tế Mê Linh
Năm: 2018
11. Heidi Halonen, Paula Pesonen, Liisa Seppọ el at (2013), "Outcome of a Community-Based Oral Health Promotion Project on Primary Schoolchildren's Oral Hygiene Habits", International journal of dentistry. 2013, 485741 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Outcome of a Community-Based Oral Health Promotion Project on Primary Schoolchildren's Oral Hygiene Habits
Tác giả: Heidi Halonen, Paula Pesonen, Liisa Seppö
Nhà XB: International journal of dentistry
Năm: 2013
12. A.F. Paes Leme, H. Koo, C.M. Bellato el at (2006), "The Role of Sucrose in Cariogenic Dental Biofilm Formation - New Insight", J Dent Res( 85(10)), 878–887 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Role of Sucrose in Cariogenic Dental Biofilm Formation - New Insight
Tác giả: A.F. Paes Leme, H. Koo, C.M. Bellato
Nhà XB: J Dent Res
Năm: 2006
13. Fontana Margherita, Zero Domenick T (2006), "Assessing patients' caries risk", The Journal of the American Dental Association. 137(9), 1231-1239 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessing patients' caries risk
Tác giả: Fontana Margherita, Zero Domenick T
Nhà XB: The Journal of the American Dental Association
Năm: 2006
14. G. Thornton-Evans, M. L. Junger, M. Lin el at (2019), "Use of Toothpaste and Toothbrushing Patterns Among Children and Adolescents - United States, 2013-2016", MMWR Morb Mortal Wkly Rep. 68(4), 87-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Use of Toothpaste and Toothbrushing Patterns Among Children and Adolescents - United States, 2013-2016
Tác giả: G. Thornton-Evans, M. L. Junger, M. Lin
Nhà XB: MMWR Morb Mortal Wkly Rep
Năm: 2019
15. American Academy of Pediatric Dentistry Council on Clinical Affairs (2018), "American Academy of Pediatric Dentistry Council on Clinical Affairs&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Academy of Pediatric Dentistry Council on Clinical Affairs
Tác giả: American Academy of Pediatric Dentistry Council on Clinical Affairs
Năm: 2018
16. Fejerskov O. (2004), "Changing Paradigms in Concepts on Dental Caries: Consequences for Oral Health Care", Caries Res 2004. 38, pp 182-191 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Changing Paradigms in Concepts on Dental Caries: Consequences for Oral Health Care
Tác giả: Fejerskov O
Nhà XB: Caries Research
Năm: 2004
18. Wikipedia (2020), Bệnh quanh răng, truy cập ngày 26/7/2020, tại trang web https://vi.wikipedia.org/wiki/Viêm_quanh_răng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh quanh răng
Tác giả: Wikipedia
Nhà XB: Wikipedia
Năm: 2020
19. Loc Giang Do, A. J. Spencer, K. F. Roberts-Thomson el at (2011), "Oral health status of Vietnamese adults: findings from the National Oral Health Survey of Vietnam", Asia Pac J Public Health. 23(2), 228- 236 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oral health status of Vietnamese adults: findings from the National Oral Health Survey of Vietnam
Tác giả: Loc Giang Do, A. J. Spencer, K. F. Roberts-Thomson
Nhà XB: Asia Pac J Public Health
Năm: 2011
20. David P. Cappelli,Connnie Chenevert Mobly (2008), Prevention in clinical oral health care, Periodontal diseases associated risk factors, chapter 5, Julie Eddy, 56-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevention in clinical oral health care
Tác giả: David P. Cappelli, Connnie Chenevert Mobly
Nhà XB: Julie Eddy
Năm: 2008
21. P. D. Marsh (2005), "Dental plaque: biological significance of a biofilm and community life-style", J Clin Periodontol. 32 Suppl 6, 7-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dental plaque: biological significance of a biofilm and community life-style
Tác giả: P. D. Marsh
Nhà XB: J Clin Periodontol
Năm: 2005
22. A. Lertpimonchai, S. Rattanasiri, S. Arj-Ong Vallibhakara el at (2017), "The association between oral hygiene and periodontitis: a systematic review and meta-analysis", Int Dent J. 67(6), 332-343 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The association between oral hygiene and periodontitis: a systematic review and meta-analysis
Tác giả: A. Lertpimonchai, S. Rattanasiri, S. Arj-Ong Vallibhakara
Nhà XB: Int Dent J
Năm: 2017
23. Alessandro L. Cavalcanti, Ianny A. Ramos, Andreia M. R. Cardoso el at (2016), "Association between Periodontal Condition and Nutritional Status of Brazilian Adolescents: A Population-based Study", Iranian journal of public health. 45(12), 1586-1594 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Association between Periodontal Condition and Nutritional Status of Brazilian Adolescents: A Population-based Study
Tác giả: Alessandro L. Cavalcanti, Ianny A. Ramos, Andreia M. R. Cardoso
Nhà XB: Iranian journal of public health
Năm: 2016
24. Ghosh-Dastidar R, Gillam DG,Islam SS (2016), "Socio-Demographic and Oral Health Related Risk Factors for Periodontal Disease in Inner North East London (INEL) Adults: A Secondary Analysis of the INEL Data", International Journal of Dentistry and Oral Health. 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Socio-Demographic and Oral Health Related Risk Factors for Periodontal Disease in Inner North East London (INEL) Adults: A Secondary Analysis of the INEL Data
Tác giả: Ghosh-Dastidar R, Gillam DG, Islam SS
Nhà XB: International Journal of Dentistry and Oral Health
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w