1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh ho gà và kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 5 tuổi về phòng chống bệnh ho gà tại tỉnh nam định năm 2020

109 11 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh ho gà và kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 5 tuổi về phòng chống bệnh ho gà tại tỉnh Nam Định năm 2020
Tác giả Đỗ Văn Đồng
Người hướng dẫn TS. Đặng Bích Thuỷ, TS. Bùi Thị Huyền Diệu
Trường học Trường Đại học Y Dược Thái Bình
Chuyên ngành Y học dự phòng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y học dự phòng
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thái Bình
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với lý do này, nhằm mục đích mô tả dịch tễ học và tìm hiểu kiến thức, thực hành phòng chống bệnh ho gà, từ đó xây dựng các giải pháp nhằm giảm số mắc bệnh ho gà tại Nam Định, đặc biệt đố

Trang 3

Phòng Quản lý Đào tạo Sau Đại học, Khoa Y tế Công cộng Trường Đại học Y Dược Thái Bình và các thầy giáo, cô giáo trong Trường đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Đặng Bích Thuỷ và TS Bùi Thị Huyền Diệu, là những người cô đã tận tình hướng dẫn, động viên và hỗ trợ cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Nam Định, Trung tâm Y tế các huyện/thành phố, Trạm Y tế các xã, thị trấn cùng Quý đồng nghiệp đã nhiệt tình tham gia giúp đỡ tôi thu thập số liệu điều tra thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn những người dân đã đồng ý tham gia công trình nghiên cứu này

Một phần không nhỏ của thành công luận văn là nhờ sự giúp đỡ động viên của người thân trong gia đình, bạn bè, anh chị em lớp Cao học Y học dự phòng đã luôn động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập

và hoàn thành luận văn

Xin gửi đến tất cả mọi người lòng biết ơn sâu sắc./

Thái Bình, ngày 20 tháng 12 năm 2021

Tác giả

Đỗ Văn Đồng

Trang 4

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Đặng Bích Thuỷ và TS Bùi Thị Huyền Diệu trên cơ sở nghiên cứu thực trạng, kiến thức, thực hành và khảo sát tình hình thực tiễn tại tỉnh Nam Định

Các số liệu thu thập và kết quả trong luận văn là trung thực, khách quan

và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết này

Thái Bình, ngày 20 tháng 12 năm 2021

Tác giả

Đỗ Văn Đồng

Trang 5

CDC Center for Disease Control and Prevention

(Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ) COPD Obstructive pulmonary disease

(Bệnh phổi tắc nghẽn) DPT Diphtheria – Pertussis - Tetanus

(Bạch hầu - Ho gà - Uốn ván) ECDC European Center for Disease Control and Prevention

(Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật Châu Âu EUVAC-NET European surveillance network for vaccine

preventable disease (Mạng lưới Giám sát các bệnh có thể phòng ngừa được bằng vắc xin)

Hib Haemophilus influenza

KP Knowledge - Practice

(Kiến thức thực hành) PCR Polymerase Chain Reaction

(Phản ứng tổng hợp chuỗi polymerase)

TCMR Tiêm chủng mở rộng

TTYT Trung tâm y tế

WHO World Health Organization

(Tổ chức Y tế Thế Giới)

Trang 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Khái niệm bệnh ho gà 3

1.2 Đặc điểm dịch tễ học của bệnh ho gà 3

1.3 Các nghiên cứu dịch tễ học bệnh ho gà trên thế giới và tại Việt Nam 8

1.4 Kiến thức, thực hành về phòng chống bệnh ho gà của các bà mẹ 17

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 21

2.2 Phương pháp nghiên cứu 23

2.3 Biến số và các chỉ số trong nghiên cứu 25

2.4 Công cụ và các phương pháp thu thập thông tin 28

2.5 Các biện pháp hạn chế sai số: 30

2.6 Phân tích số liệu: 30

2.7 Các hạn chế trong nghiên cứu 31

2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 31

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

3.1 Dịch tễ học bệnh ho gà tại địa bàn nghiên cứu 32

3.2 Kiến thức, thực hành phòng chống ho gà của bà mẹ có con dưới 5 tuổi và các yếu tố liên quan 48

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 60

4.1 Đặc điểm dịch tễ học bệnh ho gà tại Nam Định từ năm 2017-2020 60

4.2 Kiến thức và thực hành phòng chống ho gà của bà mẹ có con dưới 5 tuổi 69 KẾT LUẬN 78

KHUYẾN NGHỊ 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Bảng 3.1 Phân bố trường hợp ho gà tại tỉnh Nam Định từ 2017-2020 32

Bảng 3.2 Tỷ lệ mắc/100.000 dân do ho gà qua các năm 2017- 2020 34

Bảng 3.3 Phân bố mắc ho gà theo giới tính từ năm 2017-2020 34

Bảng 3.4 Đặc điểm về tuổi của các trường hợp mắc ho gà 35

Bảng 3.5 Tỷ lệ trẻ được tiêm phòng và số mũi vắc xin đã nhận 36

Bảng 3.6 Phân bố tỷ lệ tiêm vắc xin theo nhóm tuổi và giới tính 37

Bảng 3.7 Các phương pháp điều trị và nơi điều trị 38

Bảng 3.8 Kỹ thuật xét nghiệm và kết quả chẩn đoán 39

Bảng 3.9 Các triệu chứng của các trường hợp mắc ho gà 39

Bảng 3.10 Tỷ lệ các triệu chứng theo tháng tuổi 40

Bảng 3.11 Tỷ lệ các triệu chứng theo giới tính 40

Bảng 3.12 Tỷ lệ các triệu chứng theo mũi tiêm phòng ho gà 41

Bảng 3.13 Các biến chứng của các trường hợp mắc ho gà 41

Bảng 3.14 Tỷ lệ các biến chứng theo nhóm tuổi 42

Bảng 3.15 Tỷ lệ các biến chứng theo giới tính 42

Bảng 3.16 Tỷ lệ các biến chứng theo số các mũi tiêm phòng 43

Bảng 3.17 Phân bố nhóm tuổi, nghề nghiệp và trình độ học vấn của bà mẹ 48 Bảng 3.18 Tỷ lệ bà mẹ biết thông tin về bệnh ho gà trong địa phương 49

Bảng 3.19 Kiến thức của bà mẹ về nguyên nhân của ho gà 50

Bảng 3.20 Kiến thức về triệu chứng, biến chứng và nguy cơ của ho gà 50

Bảng 3.21 Kiến thức về cách chăm sóc trẻ khi bị bệnh 51

Bảng 3.22 Phân bố tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đạt về phòng bệnh ho gà 53

Bảng 3.23 Hồi quy logistic đa biến các yếu tố liên quan tới không đạt kiến thức phòng bệnh ho gà của bà mẹ 54

Trang 8

Bảng 3.26 Thực hành về phòng chống ho gà 56 Bảng 3.27 Phân bố tỷ lệ bà mẹ có thực hành đạt về phòng bệnh ho gà 58 Bảng 3.28 Hồi quy logistic đa biến các yếu tố liên quan tới không đạt thực

hành phòng bệnh ho gà của bà mẹ 59

Trang 9

Biểu đồ 3.1 Phân bố trường hợp mắc ho gà theo năm 33

Biểu đồ 3.2 Phân bố trường hợp mắc ho gà theo tháng từ 2017-2020 35

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ mắc ho gà theo tháng tuổi 36

Biểu đồ 3.4 Phân bố thời gian từ lúc khởi bệnh tới lúc nhập viện 38

Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ tử vong các trường hợp ho gà 43

Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ số con của bà mẹ 49

Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đạt về bệnh ho gà 52

Trang 10

Hộp 3.1 Lý giải cho số ca mắc giảm 33

Hộp 3.2 Thực trạng tiêm phòng của trẻ mắc ho gà 37

Hộp 3.3 Kiến thức của cán bộ phụ trách phòng dịch của địa phương về bệnh 44

Hộp 3.4 Thực trạng tiêm chủng của trẻ tại các địa phương 45

Hộp 3.5 Nhận định về tình trạng mắc ho gà tại huyện 45

Hộp 3.6 Triển khai công tác phòng bệnh ho gà tại các địa phương 46

Hộp 3.7 Những vấn đề còn tồn tại trong công tác phòng bệnh 47

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh ho gà là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp rất dễ lây lan do vi

khuẩn Bordetella pertussis gây ra Mặc dù bệnh đã có vắc xin dự phòng

nhưng bệnh vẫn chưa hoàn toàn được kiểm soát và có thể gây tử vong Tổ chức y tế thế giới (WHO) ước tính, hàng năm vẫn có 24 triệu ca mắc ho gà trên toàn thế giới và gây nên khoảng 160.700 ca tử vong, phần lớn trong số đó

là trẻ dưới 5 tuổi [1] Ngay cả ở các nước có độ bao phủ vắc xin cao, bệnh ho

gà vẫn là một vấn đề y tế công cộng quan trọng Số liệu của WHO gần đây cho thấy trong năm 2018 vẫn còn 151.074 trường hợp mắc ho gà trên toàn thế giới được báo cáo; năm 2019 tỷ lệ bao phủ vắc xin bạch hầu-ho gà-uốn ván (DPT) mũi 3 mới chỉ đạt 85% [2]

Trong những năm gần đây một số quốc gia trên thế giới ghi nhận sự gia tăng của các vụ dịch ho gà, bệnh ảnh hưởng đến không những trẻ em không được tiêm vắc xin mà còn ảnh hưởng tới cả nhóm thanh niên và người lớn đã

bị mất miễn dịch [3], [4] Mỗi năm, trên toàn cầu ước tính có khoảng 50 triệu trường hợp mắc mới và có khoảng 300.000 trẻ em đã chết vì căn bệnh này [5] Năm 2016, số mắc ho gà của Ecija (Seville, Tây Ban Nha) là 148,51 trường hợp/100.000 dân [6] Cũng trong năm 2016, vụ dịch tại Ba Lan có 6.828 trường hợp mắc bệnh ho gà được phát hiện, tỷ lệ mắc bệnh là 17,77 trên 100.000 dân [4] Tại Mỹ theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) năm 2018 ghi nhận 15.609 trường hợp ho gà, năm

2019 ghi nhận 15.662 ca bệnh [7]

Tại Việt Nam, Dự án tiêm chủng mở rộng (TCMR) quốc gia được triển khai từ năm 1981, và nhờ việc sử dụng vắc xin phối hợp DPT chứa thành phần ho gà, tỷ lệ mắc và chết của bệnh ho gà đã giảm rõ rệt Theo báo cáo, trong 10 tháng đầu năm 2017, cả nước ghi nhận 218 trẻ mắc ho gà, 1 trường

Trang 12

hợp tử vong vì bệnh này; tại Hà Nội ghi nhận 75 ca mắc ho gà, tăng gấp đôi

so với cùng kỳ năm 2016 Trong số mắc ho gà có 28 trẻ từ 2-4 tháng tuổi thuộc độ tuổi phải tiêm vắc xin ho gà nhưng hầu hết số này chưa được tiêm chủng Có 68 số mắc là trẻ trên 4 tháng tuổi, 2/3 số trẻ này chưa được tiêm hoặc chưa tiêm đủ mũi vắc xin ho gà [8]

Tại tỉnh Nam Định, trong những năm gần đây ghi nhận sự gia tăng các trường hợp mắc ho gà, sau nhiều năm liên tục không có ca tử vong do ho gà, năm 2017 tỉnh Nam Định ghi nhận một trường hợp tử vong do ho gà và điều đặc biệt nhiều trường hợp mắc là trẻ dưới 2 tháng tuổi – lứa tuổi chưa được tiêm vắc xin phòng bệnh ho gà chủ động, đặc hiệu Với lý do này, nhằm mục đích mô tả dịch tễ học và tìm hiểu kiến thức, thực hành phòng chống bệnh ho

gà, từ đó xây dựng các giải pháp nhằm giảm số mắc bệnh ho gà tại Nam Định,

đặc biệt đối với trẻ dưới 5 tuổi chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Một số đặc

điểm dịch tễ học của bệnh ho gà và kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 5 tuổi về phòng chống bệnh ho gà tại tỉnh Nam Định năm 2020” với 2

mục tiêu:

1 Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh ho gà tại tỉnh Nam Định từ năm 2017-2020 và thực trạng công tác phòng chống bệnh ho gà tại địa bàn nghiên cứu năm 2020

2 Đánh giá kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 5 tuổi về phòng chống bệnh ho gà tại 3 xã có số mắc ho gà cao nhất tỉnh Nam Định năm 2020

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm bệnh ho gà

Ho gà là một bệnh truyền nhiễm cấp tính đường hô hấp, thường xảy ra ở trẻ nhỏ Khởi đầu của bệnh có thể không sốt hoặc sốt nhẹ, có viêm long đường hô hấp trên, mệt mỏi, chán ăn và ho Cơn ho ngày càng nặng và trở thành cơn ho kịch phát trong 1-2 tuần, kéo dài 1-2 tháng hoặc lâu hơn Cơn ho

gà rất đặc trưng, thể hiện trẻ ho rũ rượi không thể kìm hãm được, sau đó là giai đoạn thở rít như tiếng gà gáy Cuối cơn ho thường chảy nhiều đờm dãi

trong suốt và sau đó là nôn [9]

17 - 20°C và độ ẩm tương đối là 60 - 65% trong 19 - 20 giờ Trực khuẩn vẫn còn tồn khoảng 5 ngày khi phun trên vải, 2 ngày trên giấy, và khoảng 6 ngày trên kính ở nhiệt độ 17 - 21°C và độ ẩm tương đối 55 - 65% [10] Hai loài khác trong chi Bordetella là Bordetella parapertussis và Bordetella

Trang 14

bronchiseptica Bordetella parapertussis cũng có khả năng gây bệnh trên người nhưng ở mức độ nhẹ hơn bệnh ho gà Bordetella bronchiseptica gây bệnh đường hô hấp ở động vật hoang dại, chim nuôi và động vật có vú Bordetella avium và Bordetella hinzii gây bệnh hô hấp ở gia cầm và có thể gây viêm khớp ở người, nhưng rất hiếm Trong tất cả các loài Bordetella, chỉ B.pertussis có khả năng sinh độc tố

Trong quá trình nhiễm trùng B.pertussis bám vào tế bào biểu mô hô hấp nhân lên nhanh chóng trên màng nhày, sản sinh hàng loạt các yếu tố gây độc giúp cho vi khuẩn phát triển Các yếu tố gây độc bao gồm các protein

bề mặt có vai trò bám dính và các ngoại độc tố có khả năng gây ức chế sự

đề kháng của vật chủ và làm tổn thương các mô thực quản và gây bệnh ở người khỏe mạnh

Cơ chế bệnh sinh

Bệnh xảy ra do khả năng xâm nhập nhanh, đa dạng của vi khuẩn lên màng nhầy của hệ thống đường hô hấp trên, nhưng thường không gây nhiễm trùng sâu Bệnh lây truyền từ các cơn ho của người bệnh và sự tiếp xúc của người mang mầm bệnh với cá thể không miễn dịch Trong quá trình gây bệnh, vi khuẩn bám vào phần trên của đường hô hấp nhờ các long, diềm, nhanh chóng nhân lên trên bề mặt tế bào biểu mô hô hấp

Vi khuẩn bám dính vào đám long của hệ thống lông mao của tế bào màng nhầy đường hô hấp Quá trình này bị ảnh hưởng bởi sự phối hợp độc tố

pertussis và yếu tố bám dính FHA, tạo nên hàng tỷ cầu nối giữa vi khuẩn và

các cảm thụ hệ thống lông mao tế bào màng nhầy gây nên các triệu chứng ho, khó chịu và sốt (giai đoạn ủ bệnh thông thường từ 7 đến 20 ngày), đây chính

là thời điểm dễ phân lập vi khuẩn nhất Sau khi vi khuẩn xâm nhập, bám dính, chúng tiếp tục sản sinh các độc tố khác gây tổn thương với biểu hiện có các cơn ho liên tục, có tiếng rít điển hình (giai đoạn phát bệnh vào ngày thứ 21)

Trang 15

Nguồn bệnh

Ổ chứa: Người là vật chủ duy nhất Nguồn truyền bệnh là người bệnh, không có nguồn lây truyền ở người lành mang trùng hoặc người bệnh trong thời kỳ lại sức

Đường lây nhiễm

Ho gà là một bệnh rất dễ lây từ người sang người Những người bị ho gà thường lây bệnh cho người khác khi ho hoặc hắt hơi hoặc khi ở gần nhau, nơi

có chung không gian thở [11] Nhiều trẻ sơ sinh bị ho gà do anh chị em lớn tuổi, cha mẹ hoặc người chăm sóc có thể không biết mình mắc bệnh Những người bị nhiễm dễ lây lan nhất trong khoảng 2 tuần sau khi bắt đầu ho Trong khi vắc xin ho gà là công cụ hiệu quả nhất để ngăn ngừa bệnh này, tuy nhiên vẫn có thể mắc bệnh mặc dù đã được tiêm chủng đầy đủ nhưng tình trạng nhiễm trùng thường không nặng

Triệu chứng lâm sàng của bệnh

Thời kỳ ủ bệnh: từ 7 đến 20 ngày, trong giai đoạn này người bệnh đã nhiễm vi khuẩn ho gà nhưng không có các biểu hiện triệu chứng trên lâm sàng

Thời kỳ biểu hiện lâm sàng: đối với người bệnh điển hình giai đoạn này

trải qua 3 giai đoạn như sau:

+ Giai đoạn viêm long: Kéo dài từ 4-21 ngày; các triệu chứng sổ mũi, sốt nhẹ, ho húng hắng không điển hình, dễ bị nhầm lẫn với các cảm cúm thông thường khác

+ Giai đoạn toàn phát: kéo dài từ 1-6 tuần, một số trường hợp kéo dài tới

10 tuần; điển hình bởi các cơn ho kịch phát, ho rũ rượi, hít vào khó, tím tái trong cơn ho và nôn sau cơn ho Các cơn ho tăng dần trong 2 tuần đầu, đạt đỉnh vào tuần thứ 2 và duy trì trong khoảng 3 tuần tiếp theo, sau đó từ từ giảm dần Các cơn ho có thể đạt tần suất 15 cơn/24 giờ

Trang 16

+ Giai đoạn hồi phục: có thể kéo dài từ 4-21 ngày, trung bình 7-10 ngày; giai đoạn này sức khoẻ của người bệnh sẽ từ từ hồi phục, các cơn ho sẽ thưa dần và hết sau từ 2-3 tuần; tuy nhiên người bệnh ho gà thường mắc phải các bội nhiễm vi khuẩn kèm theo

Biến chứng của bệnh [12] [13]

Ho gà có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng và đôi khi gây tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, đặc biệt là những trẻ chưa được tiêm tất cả các loại vắc xin ho gà được khuyến cáo

+ 23% bị viêm phổi (nhiễm trùng phổi)

+ 1,1% sẽ bị co giật (rung lắc dữ dội, không kiểm soát)

tử vong ở trẻ nhũ nhi tại các nước phát triển ước tính là 4% [2]

Bệnh ho gà cũng là một bệnh lưu hành địa phương trong cộng đồng dân

cư đô thị và là một bệnh xảy ra dịch có tính chu kỳ khoảng từ 3-5 năm tùy theo từng nước Bệnh ho gà không liên quan đến mùa hay thời tiết Tuy nhiên,

ở nước ta, bệnh ho gà thường xuất hiện nhiều vào mùa hè - thu Đặc điểm bệnh ho gà theo mùa không rõ ràng Sự thay đổi về đặc điểm theo mùa của ho

gà được ghi nhận trong một báo cáo đợt dịch năm 2000 ở British Columbia, Canada Số báo cáo dịch về ho gà bắt đầu tăng lên trong tháng 3, đạt đỉnh vào tháng 6 và giảm rõ rệt vào tháng 7 Tuy nhiên, khoảng 10 năm trước đó, trong thời kỳ có dịch hoặc không có dịch, số báo cáo dịch về ho gà bắt đầu tăng từ tháng 6, đạt đỉnh vào cuối tháng 8 và tháng 11

Trang 17

Mật độ dân số cao, điều kiện kinh tế thấp kém cũng làm tăng nguy cơ dịch bệnh

Giới và nghề nghiệp không ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh

Trong vòng 10 năm qua, số người bị ho gà lại tăng trên khắp thế giới Lý

do của sự gia tăng có thể do báo cáo đầy đủ hơn, chẩn đoán xác định có độ nhậy cao hơn, bác sĩ lưu ý đến bệnh nhiều hơn và cũng có thể vì sự tiêm phòng ho gà tại các nước phát triển giảm đi (trừ Mỹ) Mặc dù trẻ em đã được tiêm phòng nhiều thập kỷ qua nhưng bệnh vẫn tái xuất hiện ở các nước phát triển và là nguyên nhân gây ra tỷ lệ chết và mắc ở những đứa trẻ không được tiêm phòng đầy đủ, dưới 6 tháng tuổi Hầu hết các vụ dịch mô tả đều thấy ở lứa tuổi thanh niên và người trưởng thành do kháng thể yếu sau khi tiêm phòng (cả vắc xin vô bào và toàn tế bào) và việc giảm miễn dịch tự nhiên Kết quả là người lớn vẫn có thể bị ho gà dù rằng 60 đã được chủng ngừa và

33 đã mắc bệnh khi còn nhỏ

Do còn kháng thể tồn dư do miễn dịch trước đây, họ thường bị bệnh nhẹ, không có biểu hiện lâm sàng, đó là nguồn lây truyền vi khuẩn ho gà chủ yếu cho trẻ em

Phòng bệnh ho gà

Cách tốt nhất để ngăn ngừa ho gà ở trẻ sơ sinh, trẻ em, thanh thiếu niên, phụ nữ có thai và người lớn là tiêm phòng Ngoài ra, giữ trẻ sơ sinh và những người khác có nguy cơ cao bị ho gà tránh xa những người bị nhiễm bệnh Vì khả năng miễn dịch mất dần và không mang lại sự bảo vệ suốt đời, nên mẹ và các thành viên khác trong gia đình nên tiêm phòng vắc xin ho gà nhắc lại Phòng bệnh đặc hiệu: tiêm đủ 3 mũi vắc xin bạch hầu – ho gà – uốn ván (DPT) hoặc vắc xin DPT-VGB-Hib cho trẻ dưới 1 tuổi Tiêm nhắc lại DPT cho trẻ từ 18 tháng

Trang 18

Giống như nhiều bệnh đường hô hấp khác, ho gà lây lan khi ho và hắt hơi khi tiếp xúc gần với người khác Thực hành vệ sinh tốt là biện pháp ngăn ngừa lây lan các bệnh đường hô hấp:

+ Che miệng và mũi bằng khăn giấy khi ho hoặc hắt hơi

+ Bỏ khăn giấy đã sử dụng vào giỏ rác

+ Ho hoặc hắt hơi vào ống tay áo trên hoặc khuỷu tay nếu không có khăn giấy

+ Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng và nước trong ít nhất 20 giây + Sử dụng nước tay có cồn nếu không có xà phòng và nước

1.3 Các nghiên cứu dịch tễ học bệnh ho gà trên thế giới và tại Việt Nam

Trên thế giới

Mặc dù có nhiều bằng chứng cho thấy lịch sử lâu hơn của bệnh ho gà, tuy nhiên vụ dịch ho gà lần đầu tiên được Guillaume de Baillou mô tả một cách chi tiết xảy ra tại Paris (Pháp) năm 1578 Năm 1906, tác nhân gây bệnh ho gà

có tên là Bordetella pertussis, là một trực khuẩn có sức đề kháng yếu, bắt màu gram âm, được Jules Bordet và Octave Gengou phân lập lần đầu tiên [14] Trên thế giới, trước khi vắc xin được phát minh, ho gà luôn là một trong số những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ nhỏ Bệnh xuất hiện ở mọi nơi trên thế giới, lứa tuổi hay gặp nhất là trẻ nhỏ Dịch ho gà diễn ra có tính chu

kỳ với đỉnh dịch thường xảy ra từ 2-5 năm Cùng với sự phát hiện của sulphonamides trong việc hỗ trợ điều trị sởi, ho gà trở thành nguyên nhân gây

tử vong nhiều nhất ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

Tại Hoa Kỳ, năm 1934, hơn 265.000 trường hợp ho gà đã được báo cáo,

tỷ lệ tử vong xấp xỉ 10 , cao hơn so với tỷ lệ tử vong của bệnh bại liệt và bệnh sởi cộng lại; trong khoảng thời gian 6 năm từ 1940 đến 1945, hơn 1 triệu trường hợp mắc bệnh ho gà đã được ghi nhận, trung bình 175.000 trường hợp mỗi năm (tỷ lệ mắc khoảng 150 trường hợp trên 100.000 dân) [15] Ở Anh và

Trang 19

xứ Wales trong thời kỳ thịnh hành, tỷ lệ mắc bệnh ho gà trung bình hàng năm được báo cáo là 230 trường hợp trên 100.000 dân Trong thời kỳ này, ho gà là một căn bệnh thường xuyên xuất hiện và những đợt dịch thường xuất hiện từ

2 đến 5 năm một lần (trung bình khoảng 3 năm một lần)

Với sự ra đời và sử dụng rộng rãi của vắc xin ho gà vào những năm 1940

và đầu những năm 1950, tỷ lệ mắc bệnh ho gà được báo cáo đã giảm khoảng

150 lần Mặc dù tiêm chủng giúp giảm đáng kể các bệnh truyền nhiễm trong

đó có bệnh ho gà, tuy vậy nó vẫn còn là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng đối trẻ em tại các nước đang phát triển; nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang đối mặt với sự quay trở lại của bệnh ho gà thể hiện ở việc ghi nhận sự gia tăng số lượng mắc hàng năm, kể cả ở các nước phát triển với tỷ lệ tiêm chủng cao Trong khoảng thời gian 7 năm từ năm 1976 đến năm 1982, tỷ lệ mắc bệnh ho gà được báo cáo ở Hoa Kỳ vẫn nằm trong khoảng 0,5 đến 1,0 trường hợp trên 100.000 dân Trong những năm 1980, các báo cáo về bệnh ho

gà bắt đầu tăng dần và đến năm 2018, hơn 15.000 trường hợp đã được báo cáo trên toàn quốc [16]

Số trường hợp mắc bệnh ho gà ở Hoa Kỳ từ năm 1922 đến năm 2018

107473,0

166914,0 183866,0

120718,0

14809,0

4249,0 1730,0 4570,0 7867,0

27550,0 15609,0

2018

Trang 20

Ở Ba Lan, tỷ lệ mắc bệnh ho gà cao đã được duy trì trong nhiều năm - tỷ

lệ mắc trung bình các năm 2005-2009 và 2010-2014 là 5,2 và 5,5 trên 100.000 dân Năm 2015 ghi nhận dịch bệnh tăng một cách đáng kể (tăng 136%), tỷ lệ mắc bệnh lên đến 12,89 trên 100.000 dân số Năm 2016, tỷ lệ mắc bệnh tiếp tục tăng (38 ) lên đến 17,77 trên 100.000 dân Các tỷ lệ mắc ở Canada ở mức trung bình khoảng 160 trường hợp/ 100.000 người trong giai đoạn từ năm 1934-1943 và đến giai đoạn 1974-1983 đạt 11 trường hợp mắc/100.000 dân [17] Tại Brazil, từ năm 2007 đến năm 2011 trung bình hàng năm các trường hợp xác nhận mắc ho gà là 1226 trường hợp; từ năm

2012 đến năm 2014 có 6161 trường hợp mắc mỗi năm [18]

Tại Lào, tỷ lệ mắc hàng năm dao động trong khoảng 0,0961-6,42 trên 100.000 dân Nhìn chung, tỷ lệ mắc bệnh đã giảm đáng kể sau năm 2006 nhưng

sự gia tăng mạnh đã được phát hiện trong các năm 2012, 2015 và 2017 [19] Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) phân tích các trường hợp mắc ho gà được báo cáo cho thấy tỷ lệ mắc chủ yếu ở trẻ

em dưới 5 tuổi Tuy nhiên, đặc điểm dịch tễ học đã thay đổi trong những năm gần đây có xu hướng tăng ở nhóm trẻ đã được tiêm chủng và nhóm thanh thiếu niên Tại Mỹ, trong thời gian từ năm 2001 đến năm 2003 tỷ lệ trung bình mắc ho gà của trẻ dưới 1 tuổi hàng năm cao nhất (55,2 trường hợp trên 100.000 dân), và đặc biệt là ở trẻ em dưới 6 tháng tuổi (98,2 trên 100.000 dân) Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở trẻ sơ sinh dưới 6 tháng và thấp nhất ở người lớn từ 19 tuổi trở lên Số ca mắc tương đối cao được quan sát thấy ở trẻ lớn hơn và thanh thiếu niên được tiêm chủng đầy đủ, với đỉnh điểm là ở độ tuổi

10 tuổi Mười trường hợp tử vong đã được báo cáo, tất cả đều ở trẻ sơ sinh Chín trẻ trước đây là trẻ sơ sinh khỏe mạnh dưới 2 tháng khi khởi phát bệnh chưa được chủng ngừa ho gà; 7 trẻ trong số này dưới 6 tuần Trường hợp tử vong còn lại là một trẻ sơ sinh 2 tháng tuổi sinh non ở tuổi thai 28 tuần

đã được tiêm liều vắc xin bạch hầu, uốn ván và ho gà (DTaP) đầu tiên 15

Trang 21

ngày trước khi bệnh khởi phát [20] Tại Ba Lan, năm 2016 tỷ lệ mắc bệnh ho

gà cao nhất xảy ra ở những người từ 10-14 tuổi (88,1) và cao ở trẻ em 0 và 3 tuổi, 76,7 và 77,0 trên 100.000 dân [1] Tại Ý, từ năm 1974 đến 1994 tỷ lệ mắc bệnh ho gà cao nhất ở trẻ em <1 tuổi (khoảng: 108,7-618,6/100.000 dân)

và ở trẻ 1-4 tuổi (khoảng: 93,6-639,9 /100.000) [4] Từ năm 1998 đến 2004,

tỷ lệ mắc bệnh cao hơn ở trẻ em từ 5-9 tuổi (khoảng: 12,1-116,4/100, 000 dân) so với trẻ em từ 1-4 tuổi (khoảng: 10,5-81,8/100.000) Kể từ năm 2003,

tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ 10-14 tuổi (khoảng: 2,5-13,6/100.000 dân số) vượt quá tỷ

lệ mắc bệnh ở 1-4 tuổi (khoảng: 1,6-11,2/100.000) và trẻ em 5-9 tuổi (khoảng: 1,3-12/100.000) [21]

Một nghiên cứu của Scott A Halperin và các cộng sự về đặc điểm dịch

tễ học của bệnh ho gà ở người bệnh dưới 2 tuổi nhập viện ở Canada cho thấy, trong tổng số 1.082 trường hợp ho gà cần nhập viện được báo cáo từ ngày 1 tháng 1 năm 1991 đến 30 tháng 11 năm 1997, hầu hết các trường hợp (91,9%)

là ở trẻ em 1 tuổi và 79,1% ở trẻ 6 tháng tuổi; tuổi trung bình là 19,1 tuần 8 trong số 10 trường hợp tử vong xảy ra ở trẻ sơ sinh 2 tháng tuổi; tất cả các trường hợp tử vong đều ở trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi Nghiên cứu của Scott

A Halperin cũng cho thấy, trong tổng số trẻ em nhập viện do ho gà, có đến 49,8% trẻ không được tiêm liều vắc xin ho gà nào, có 39,3 trường hợp tiêm

ít hơn ba liều vắc xin ho gà và chỉ có 10,9 các trường hợp được báo cáo đã tiêm đủ vắc xin ho gà [22]

Ở một số quốc gia Trung và Đông Âu và Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 1945 đến năm 2005 Trong thời kỳ tiền vắc xin, tỷ lệ mắc bệnh ho gà cao (180-651/100.000) với hầu hết các trường hợp xảy ra ở trẻ em trước tuổi đi học Trong giai đoạn 1995-2005, khi tỷ lệ bao phủ tiêm chủng cao (80-98%),

tỷ lệ mắc bệnh giảm mạnh (<3/100.000) Tỷ lệ mắc bệnh cụ thể theo độ tuổi

đã được ghi nhận ở trẻ em 5-14 tuổi ở một số quốc gia (ví dụ: Ba Lan, Estonia, Cộng hòa Séc) tăng lên trong khi tỷ lệ mắc ở đối tượng <1 tuổi không thay đổi

Trang 22

Tại Châu Âu, các báo cáo từ Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát Dịch bệnh Châu Âu (ECDC) và từ Mạng lưới Giám sát các bệnh có thể phòng ngừa được bằng vắc xin (EUVAC-NET) đã chỉ ra rằng, trong năm 2014, có 40.727 trường hợp ho gà được báo cáo bởi 29 quốc gia EU/EEA, tỷ lệ là 9,1 trên 100.000 dân 46 trường hợp mắc bệnh từ 30 tuổi trở lên, và thêm 20% ở nhóm tuổi 15-29 Nhóm tuổi bị ảnh hưởng nhiều nhất là trẻ sơ sinh dưới một tuổi, với tỷ lệ thông báo là 51,6 trường hợp trên 100.000 dân [23]

Tại Thái Lan, nghiên cứu của Piyarat Suntarattiwong trên 143 người bệnh

ho gà tại một bệnh viện trẻ em ở Bangkok, Thái Lan Kết quả: có 15 trường hợp (10,5 ) dưới 2 tháng tuổi, 44 trường hợp (30,8%) từ 2 đến 5 tháng, 26 trường hợp (18,2%) từ 6 đến 12 tháng, 43 trường hợp (30,1%) giữa 1 đến 5 năm và 15 trường hợp (10,5%) từ 6 đến 18 năm [24]

Về tình trạng tiêm chủng, nghiên cứu tại 1 bệnh viện nhi ở Peru cho thấy, tất cả các trường hợp được xác định mắc ho gà đều không tiêm đủ 3 mũi vắc xin ho gà, 75% số ca nhiễm không được tiêm bất kỳ liều nào, 14,29% chỉ tiêm

1 liều, và 3,57 được tiêm 2 liều [25]

Một trong những đặc điểm đáng chú ý của bệnh ho gà được báo cáo là tỷ

lệ nữ cao hơn ở nam Tại Châu Âu, phân tích của ECDC và EUVAC-NET trong năm 2014 cho thấy, tỷ lệ nữ mắc ho gà thường cao hơn nam ở tất cả các nhóm tuổi, với tỷ lệ nam - nữ là 0,8:1 (10,5 trường hợp/100.000 dân so với 8,2 trường hợp/100.000 dân) [23] Dữ liệu gần đây từ năm 1999 đến năm

2002 tại Hoa Kỳ cũng ghi nhận nhiều trường hợp ở nữ cao hơn nam Tỷ lệ nam/nữ của các trường hợp mắc ho gà được báo cáo trong 4 năm này là 0,85 [26] Trong các báo cáo tổng thể về bệnh ho gà vào năm 2000 ở Cannada,

51 trường hợp mắc bệnh là ở nữ giới, nhưng giới tính của người bệnh thay đổi đáng kể theo tuổi, ở nhóm tuổi 20 - 44, 66 trường hợp là phụ nữ [27]

Ho gà được báo cáo được ghi nhận ở tất cả các khu vực đông dân cư trên thế giới và thông thường hoạt động của bệnh ho gà không có mô hình theo

Trang 23

mùa rõ rệt, nhưng số ca mắc bệnh có thể tăng vào mùa hè và mùa thu Trong năm 2014, số ca mắc thấp nhất được báo cáo vào tháng 1 đến tháng 2; con số

sau đó tăng dần, đạt mức cao vào tháng Bảy [23] Dữ liệu hàng tháng từ hệ

thống giám sát trọng điểm trẻ em từ năm 2000 đến năm 2009 ở Ý cho thấy sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ mắc bệnh theo mùa; tỷ lệ mắc bệnh ho gà hàng năm phát triển mạnh và đạt đỉnh điểm giữa tháng 3 và tháng 8 (mùa xuân/mùa hè), trong khi tỷ lệ mắc bệnh tối thiểu được quan sát thấy giữa tháng 9 và tháng 2 (mùa thu/đông) Trong một nghiên cứu ở British Columbia cho thấy có sự thay đổi về phân bố tuổi cũng đi kèm với sự thay đổi về tính thời vụ của các ca ho gà được báo cáo, bệnh ho gà bắt đầu tăng vào tháng 7, đạt đỉnh vào giữa tháng 8 và tháng 11 và giảm đáng kể vào tháng Giêng Tuy nhiên, trong đợt bùng phát năm

2000, các báo cáo về bệnh ho gà bắt đầu tăng vào tháng 3, đạt đỉnh vào tháng 6, giảm rõ rệt vào tháng 7 và thấp hơn nhiều vào tháng 10 [28]

Các triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất của các người bệnh mắc ho gà

là các cơn ho kịch phát, tiếng rít, ho dai dẳng hơn 2 tuần và nôn sau khi ho Trong nghiên cứu của Pamela tại Peru các triệu chứng thường gặp là ho (96,43%), ho cơn đỏ mặt (96,43%), tiếp theo là ho kịch phát (92,86%) và tím tái kèm theo ho (78,57%) Đáng chú ý, 89,29 trường hợp được xác nhận cũng có dấu hiệu của bệnh phổi tắc nghẽn (OPD), và tất cả những người có biểu hiện suy hô hấp (35,71 ) đều dưới 5 tháng Trong thời gian nhập viện, 96,43% trong số các trường hợp được xác nhận cần được bổ sung oxy, trong

đó 96,3 trẻ dưới 6 tháng và 72,92 chưa tiêm DTP [25] Kết quả cũng tương tự nghiên cứu ở tỉnh Cordoba, Argentina; các dấu hiệu và triệu chứng được phân bố như sau: ho (84,6 : 2.216/2.618), ho kịch phát (49,6%: 1.298/2.617), triệu chứng catarrhal (69,2%: 1.812/2.618), ngừng thở (15,5%: 408/2.618), tím tái (41,5%: 1.086/2.617), nôn (29,2%: 766/2.616) và choáng váng (11%: 288/2.618) [29]

Trang 24

Biến chứng phổ biến nhất và là nguyên nhân của hầu hết các trường hợp tử vong liên quan đến ho gà là viêm phổi do vi khuẩn thứ phát Tại Mỹ, các biến chứng ở trẻ bao gồm viêm phổi (22%), co giật (2%), bệnh não (dưới 0,5%),

và tử vong Số liệu từ 1997 - cho thấy viêm phổi xảy ra ở 5,2% của tất cả các trường hợp ho gà được báo cáo [20] Một nghiên cứu khác ở đảo Gran Canaria trong giai đoạn 2008 - 2016, trong tổng số các ca có biến chứng thì

59 trường hợp là viêm phổi [30]

Tại Việt Nam

Ở Việt Nam, bệnh ho gà lưu hành ở mọi nơi trong cả nước Khi chưa thực hiện Chương trình Tiêm chủng mở rộng, bệnh ho gà thường xảy ra và phát triển thành dịch ở nhiều địa phương, đặc biệt nghiêm trọng ở miền núi là nơi

có trình độ kinh tế-xã hội phát triển thấp Trong vụ dịch, bệnh thường diễn biến nặng, dễ tử vong do bị bội nhiễm, gây biến chứng viêm phổi, viêm phế quản-phổi, nhất là ở trẻ dưới 5 tuổi và trẻ suy dinh dưỡng Dịch có tính chu kỳ khoảng 3-5 năm Từ năm 1986, Chương trình TCMR được phát triển rộng khắp trong cả nước Tất cả trẻ dưới 1 tuổi được phổ cập gây miễn dịch cơ bản bằng 3 liều vắc xin bạch hầu- ho gà- uốn ván (DTP) Sau nhiều năm tiêm vắc xin DPT, tỷ lệ mắc và chết của bệnh ho gà đã giảm rất rõ rệt Tỷ lệ mắc hàng năm dao động từ 0,059-1,78 trên 100.000 dân Sau khi giảm vào năm 2004,

số ca mắc đã được báo cáo ngày càng tăng kể từ năm 2015 Tích lũy năm

2019, cả nước ghi nhận 1.227 trường hợp mắc ho gà , 01 trường hợp tử vong

So với năm 2018 tỷ lệ mắc là 0,43/100.000 dân (676 trường hợp mắc, 02

tử vong), số mắc tăng 81,5 [19] [31] [32]

Trang 25

Số trường hợp mắc bệnh ho gà ở Việt Nam từ năm 1980 đến năm 2019

Nghiên cứu của Nhâm Hải Hoàng thực hiện từ năm 2015 đến năm 2017

mô tả đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị các trường hợp bệnh ho gà trẻ em tại bệnh viện Nhi Đồng 1 Thống kê có 76 ca ho gà dương tính được đưa vào nghiên cứu từ 01/05/2015 đến 31/07/2017, bệnh thường gặp dưới 3 tháng tuổi (46,1%), không có sự khác biệt về giới tính (tỷ lệ nam/nữ là 1,17) Bệnh xảy ra tập trung từ tháng 5 đến tháng 8, xảy ra đều khắp các tỉnh phía Nam Đa phần các trẻ không được tiêm chủng đầy đủ hoặc chưa đến tuổi tiêm chủng (90,8%) Nguồn lây truyền bệnh cho trẻ thường là

ba mẹ và các anh chị em sống chung Các triệu chứng lâm sàng thường gặp là

ho kéo dài trên 2 tuần (42,1 ), ho cơn kịch phát điển hình (100 ), ho cơn đỏ mặt (100 ), ho cơn tím tái (65,8 ), tiếng thở rít sau cơn ho (27,7 ), ho nhiều về đêm (90,8 ), ói sau ho (73,6 ), sổ mũi (80,3 ), cơn ngưng thở (6,6 ), trong đó triệu chứng cơn ngưng thở gặp ở trẻ dưới 3 tháng tuổi Biến chứng viêm phổi thường gặp nhất (93,4%), suy hô hấp (61,8%), co giật chiếm (2,6%) Phần lớn người bệnh khỏi bệnh và xuất viện, có 1 trường hợp tử vong (1,3%) do biến chứng viêm phổi nặng, viêm não do bệnh ho gà gây ra [33]

Trang 26

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Khánh Linh mô tả đặc điểm dịch tễ học và yếu tố nguy cơ của bệnh ho gà tại Hà Nội năm 2015-2016 cho thấy, hầu hết các trường hợp nhỏ hơn 6 tháng tuổi (86,5 %), tỷ lệ ho gà nam giới cao hơn

nữ giới với tỷ lệ tương ứng là 53,3% và 46,7% Báo cáo cho thấy tất cả các tháng trong năm đều ghi nhận có người bệnh nhập viện điều trị Tuy nhiên, nhiều trường hợp xảy ra từ mùa xuân đến mùa hè, bắt đầu từ tháng Một đến tháng Bảy với trung bình 21 trường hợp mỗi tháng năm 2015, 8 trường hợp mỗi tháng năm 2016 Các trường hợp mắc ho gà tập trung nhiều ở nhóm chưa tới tuổi tiêm chủng (35,3%) Trong số các trường hợp mắc ho gà có tới 74,3% chưa được tiêm vắc xin (trong đó bao gồm cả những trẻ chưa đến tuổi tiêm chủng (< 2 tháng) và những trẻ đã đến tuổi tiêm chủng (2 tháng) nhưng chưa được tiêm, chiếm tỷ lệ cao nhất 80,5%), chỉ có 4,3% trẻ được tiêm đủ 3 mũi

và không có trường hợp nào được tiêm mũi bổ sung (mũi thứ 4 ở thời điểm 18 tháng tuổi) Các triệu chứng phổ biến nhất ở người bệnh là cơn ho kịch phát (91,4%); tiếp theo là ho kéo dài trên 2 tuần (69,7%), tiếng rít (52%) và nôn ngay sau ho (37,3%) Biến chứng phổ biến nhất là viêm phổi với chiếm 52%; tiếp theo là trường hợp suy hô hấp; các trường hợp biến chứng còn lại là viêm tai giữa, viêm não, co giật chiếm tỷ lệ nhỏ dưới 2% [34]

Tham khảo nghiên cứu của Nguyễn Thị Dinh và các cộng sự thực hiện tại Bệnh viện Nhi Trung ương trong thời gian từ ngày 01/01/2017 đến ngày 31/12/2017, nghiên cứu trên 183 trẻ ho gà nhập viện điều trị, nhóm trẻ 0-3 tháng tuổi có tỷ lệ cao nhất 74,3%, nhóm trẻ 4 tháng-9 tuổi là 25,7%, tuổi nhỏ nhất là 22 ngày, lớn nhất là 9 tuổi Tỷ lệ trẻ nam là 47%, nữ là 53%, không có

sự khác biệt về giới trong mẫu nghiên cứu (p > 0,05) Số ca mắc ho gà nhập viện phân bố rải rác quanh năm, có tăng lên vào mùa xuân - hè từ tháng 2 đến tháng 7 Tỷ lệ các triệu chứng như: ho cơn kịch phát: 92,4%, ho có tím: 82%, nôn sau ho: 75,4%, thở rít: 41,5 , ho có cơn ngừng thở: 23,5%, số ca có biểu

Trang 27

hiện sốt là 32,8% Biến chứng viêm phổi 69,4%, suy hô hấp 21,9 , tăng áp động mạch phổi 11,5%, xuất huyết 7,6% (4,9% xuất huyết da, 2,7% xuất huyết kết mạc), co giật là 2,7%, tử vong là 3,8% [35]

Những con số dưới đây cho chúng ta thấy có sự thay đổi trong tỷ lệ mắc bệnh ho gà hàng năm tất cả các nước trên thế giới trong hai thập kỷ qua

Tỷ lệ mắc ho gà giảm đáng kể, tuy nhiên đã có sự trở lại của bệnh ở các nước

1.4 Kiến thức, thực hành về phòng chống bệnh ho gà của các bà mẹ

1.4.1 Trên thế giới

Kiến thức, thực hành (KP) về phòng chống bệnh ho gà là một trong những yếu tố có liên quan chặt chẽ đến dự phòng bệnh ho gà, đặc biệt cho trẻ nhỏ Tuy nhiên trên thực tế, không phải toàn bộ cha/mẹ/người chăm sóc chính đều có KP tốt về vấn đề này Một cuộc điều tra cắt ngang của 253 gia đình có con sinh ra trong quý đầu tiên của năm 2010 cư trú tại khu vực đô thị và nông thôn ở Victoria, Australia đã được tiến hành Kết quả trong nghiên cứu cho thấy mức độ hiểu biết và kiến thức cao về bệnh ho gà của các bậc cha mẹ;

93 đã nghe nói về bệnh ho gà, 96 đồng ý hoặc đồng ý rằng ho gà có thể gây ra bệnh nghiêm trọng ở trẻ sơ sinh và 82 cho rằng trẻ sơ sinh có nguy

cơ mắc bệnh ho gà 70% các bà mẹ và 53% các ông bố đã được chủng ngừa

ho gà sau khi sinh đứa con gần đây nhất của họ Không có sự khác biệt về tình trạng quan hệ, thu nhập hộ gia đình hàng năm hoặc trình độ học vấn cao nhất được tìm thấy giữa cha mẹ đã tiêm phòng và chưa tiêm phòng Có sự khác biệt đáng kể về tiêm chủng của các bà mẹ giữa thành thị (64%) và nông thôn (80%), tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p = 0,08) Ngược lại, sự khác biệt về mức độ tiêm chủng của các ông bố giữa nơi

cư trú ở thành thị (40 ) và nông thôn (73 ) là có ý nghĩa thống kê (p = 0,002) [36]

Trang 28

Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) về bệnh ho gà và tiêm vắc xin của các bà mẹ ở Lusaka, Zambia cho kết quả: Kiến thức về bệnh ho

gà còn hạn chế; nhiều người đã có thể liệt kê các triệu chứng bệnh, bao gồm

ho và thở khò khè, nhưng các mối liên hệ khác với căn bệnh này bị hạn chế ở các khái niệm về mức độ nghiêm trọng của bệnh hơn là hiểu biết về nguyên nhân của nó Một số bà mẹ biết rằng căn bệnh này được truyền qua không khí

và có thể truyền từ mẹ sang con Tuy nhiên, những người khác nghĩ rằng không khí hoặc môi trường bị ô nhiễm có thể khiến trẻ mắc bệnh Một người phụ nữ nhận xét, trong cộng đồng chúng ta sống, những ngôi nhà quá gần và nhà vệ sinh quá gần nhau nên khi thở, chúng ta hít thở không khí đó từ nhà vệ sinh và sau đó mẹ bạn bị bệnh và bạn truyền nó cho em bé Phần lớn các bà

mẹ xem ho gà là mối đe dọa đáng kể đối với sức khỏe trẻ em, đặc biệt lưu ý đến mức độ nghiêm trọng của bệnh Mặc dù kiến thức hạn chế về nguyên nhân gây ra bệnh ho gà, các bà mẹ đã thể hiện sự hiểu biết tốt về mối nguy hiểm mà nó gây ra cho sức khỏe của con cái họ [37]

Một nghiên cứu liên quan kiến thức và khả năng chấp nhận về tiêm chủng ho gà cho người lớn ở phụ nữ Hàn Quốc trong độ tuổi sinh đẻ cho thấy, chỉ có 3,9% phụ nữ trả lời rằng họ đã được tiêm vắc xin Tdap hoặc không biết liệu họ có được tiêm hay không Lý do phổ biến nhất khiến họ không tiêm vắc xin Tdap trước, trong hoặc sau khi mang thai là họ không biết sự cần thiết phải tiêm vắc xin Tdap Hầu hết phụ nữ trả lời rằng họ chưa nhận được thông tin từ bác sĩ về Tdap Kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng phụ

nữ trong độ tuổi sinh đẻ không có đủ kiến thức về bệnh ho gà và các khuyến cáo liên quan đến chủng ngừa và do đó đã được chủng ngừa dưới mức độ miễn dịch [38]

Trang 29

1.4.2 Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, chúng tôi tìm thấy rất ít các nghiên cứu cùng loại về đánh giá kiến thức, thực hành của người dân về phòng chống bệnh ho gà Chỉ

có một số nghiên về kiến thức, thực hành của các bà mẹ về tiêm chủng cho trẻ trong chương trình tiêm chủng mở rộng để phòng chống bệnh truyền nhiễm nói chung

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hương và các cộng sự được thực hiện vào năm 2015 mô tả Thực trạng kiến thức, thực hành tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tuổi của các bà mẹ và một số yếu tố liên quan tại Móng cái, Quảng Ninh cho thấy: hiểu biết của các bà mẹ về các bệnh phòng được nhờ tiêm chủng mở rộng còn hạn chế, chỉ có 78% các bà mẹ hiểu được bệnh ho gà

có thể phòng được bằng tiêm vắc xin Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ tiêm DPT1 là 97,6% và DPT3 là 70% từ đó cho thấy tỷ lệ bỏ mũi tiêm giữa mũi đầu tiên và mũi thứ 3 là 27,6% [39]

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Khánh Linh chỉ ra rằng: tỉ lệ mắc bệnh của trẻ không song hành với trình độ học vấn của mẹ Cụ thể, với nhóm

bà mẹ có trình độ học vấn sau đại học, tỉ lệ mắc bệnh của trẻ là 6,8%, những

bà mẹ thuộc nhóm Cao đẳng – Đại học tỉ lệ mắc bệnh là 50% Tỉ lệ mắc bệnh thấp nhất ở nhóm bà mẹ có trình độ Trung học phổ thông (4,5 ), nhưng trẻ

có mẹ trình độ Tiểu học và Trung học cơ sở là 38,7% Trẻ trong nhóm các bà

mẹ có trình độ học vấn ở mức Đại học – Cao đẳng có tỉ lệ mắc ho gà cao nhất, với giả thuyết đấy là nhóm đối tượng nền, kết quả tính toán nguy cơ mắc bệnh

ở các nhóm còn lại đều có xu hướng giảm hơn đặc biệt với nhóm các trẻ có

mẹ có trình độ học vấn trung học phổ thông nguy cơ này chỉ còn bằng 0,006

so với nhóm trẻ có bà mẹ có trình độ học vấn cao đẳng, đại học Lý giải cho điều này, có thể do thời điểm nghiên cứu có xảy ra một số biến cố về tiêm

chủng vắc xin, những bà mẹ có trình độ học vấn cao dễ dàng tiếp cận với truyền thông, đài báo nhiều nên e ngại việc cho trẻ tiêm chủng dẫn đến bỏ

Trang 30

tiêm, tiêm không đúng lịch dẫn đến mắc bệnh Do vậy, việc tăng cường truyền thông cho bà mẹ thật kỹ lưỡng về lợi ích, an toàn tiêm chủng, tư vấn về phản ứng sau tiêm chủng cần luôn được thực hiện cùng với tư vấn phát hiện sớm các phản ứng, dấu hiệu bất thường để trẻ được xử lý kịp thời, tránh những rủi ro đáng tiếc là việc nên làm, chắc chắn sẽ có hiệu quả lớn trong việc giảm nguy cơ mắc bệnh này ở trẻ [34]

* Tóm lại:

Bệnh ho gà là bệnh truyền nhiễm đang có xu hướng gia tăng, mặc dù tiêm chủng giúp giảm đáng kể các bệnh truyền nhiễm trong đó có bệnh ho gà, nó vẫn còn là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng đối trẻ em tại các nước đang phát triển; nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang đối mặt với sự quay trở lại của bệnh ho gà như Mỹ, Úc, và Ba Lan … Tại Việt Nam, trước đây bệnh lưu hành khá phổ biến ở hầu hết các địa phương trên cả nước; từ khi vắc xin phòng bệnh ho gà được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng, bệnh đã được khống chế và chỉ ghi nhận rải rác các trường hợp mắc Mặc dù vậy dịch bệnh chưa được thanh toán hoặc loại trừ trên thế giới cũng như ở Việt Nam, nên nguy cơ có thể có những ổ dịch nếu không làm tốt công tác phòng ngừa như: duy trì tiêm vắc xin đạt tỷ lệ cao (đặc biệt vùng sâu, vùng xa, vùng đi lại khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống .), không thực hiện tốt vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường… Để phòng chống bệnh ho gà thì việc hiểu biết và thực hiện tốt của người dân nói chung và của các bà

mẹ nói riêng về phòng chống bệnh ho gà sẽ góp phần rất lớn trong công tác phòng chống dịch

Trang 31

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Mục tiêu 1: Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh ho gà được thực hiện trên địa bàn toàn tỉnh Nam Định, nghiên cứu định tính trên đối tượng lãnh đạo Trung tâm y tế (TTYT) và cán bộ phụ trách phòng chống dịch được thực hiện tại 3 huyện Nam Trực, Nghĩa Hưng, Xuân Trường của tỉnh Nam Định,

Mục tiêu 2: Nghiên cứu kiến thức, thực hành của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi về bệnh ho gà được triển khai tại 3 xã có các ca mắc ho gà lớn nhất của tỉnh Nam Định, bao gồm: Nam Giang (Nam Trực), Nghĩa Sơn (Nghĩa Hưng), Xuân Ninh (Xuân Trường)

Một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu

Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Nam Định

Trang 32

Huyện Nam Trực có 20 đơn vị hành chính gồm 1 thị trấn và 19 xã Xã được chọn nghiên cứu mục tiêu 2 là thị trấn Nam Giang với 18.000 dân

Huyện Nghĩa Hưng có 24 đơn vị hành chính gồm 3 thị trấn và 21 xã

Xã được chọn nghiên cứu mục tiêu 2 là xã Nghĩa Sơn với 14.800 dân

Huyện Xuân Trường có 20 đơn vị hành chính gồm 1 thị trấn và 19 xã

Xã được chọn nghiên cứu mục tiêu 2 là xã Xuân Ninh với 14.000 dân

2.1.2 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu phục vụ mục tiêu 1:

+ 66 trường hợp mắc ho gà trên địa bàn nghiên cứu được báo cáo từ 1/1/2017-31/12/2020

+ Cán bộ y tế: là lãnh đạo các Trung tâm y tế 3 huyện nghiên cứu và cán

bộ phụ trách phòng chống dịch tại các Trạm y tế được chọn vào nghiên cứu

* Tiêu chuẩn chọn cán bộ y tế để phỏng vấn sâu:

- Là Giám đốc/Phó Giám đốc TTYT huyện có ca mắc ho gà

- Là trưởng Trạm y tế xã/thị trấn hoặc nhân viên y tế được phân công phụ trách về bệnh truyền nhiễm

- Có thâm niên công tác tại địa bàn ít nhất từ 12 tháng trở lên

- Hợp tác, tình nguyện tham gia nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu phục vụ mục tiêu 2:

- Bà mẹ đang nuôi con dưới 5 tuổi

* Tiêu chuẩn chọn bà mẹ để phỏng vấn:

- Bà mẹ hiện đang nuôi con dưới 5 tuổi tại 3 xã/thị trấn được lựa chọn tại tỉnh Nam Định

- Bà mẹ hợp tác, đồng ý tham gia nghiên cứu

- Không phỏng vấn bà mẹ có biểu hiện rối loạn tâm thần, điếc…

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 09 năm 2020 đến tháng 12 năm 2021

Trang 33

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Mục tiêu 1: Nghiên cứu dịch tễ học mô tả hồi cứu kết hợp nghiên cứu

định tính

Mục tiêu 2: Nghiên cứu dịch tễ học mô tả với cuộc điều tra cắt ngang

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

- n: cỡ mẫu tối thiểu

- Z: hệ số tin cậy = 1.96, với độ tin cậy =0,05

- p = 0,5 (ước tính tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về phòng chống ho gà

do chưa có nghiên cứu về kiến thức thực hành của bà mẹ về phòng chống ho gà)

- d: hệ số tin cậy mong muốn, chọn d= 0,05

Theo tính toán, cỡ mẫu là 384 bà mẹ

Trang 34

* Chọn mẫu:

Sơ đồ chọn mẫu

- Nghiên cứu hồi cứu toàn bộ phiếu điều tra của các trường hợp mắc ho gà của tỉnh Nam Định nhằm tìm hiểu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh Tổng số có 66 ca bệnh được đưa vào nghiên cứu

- Từ phiếu điều tra các trường hợp mắc trong toàn tỉnh, chọn chủ đích 3

xã có số mắc cao nhất, bao gồm thị trấn Nam Giang huyện Nam Trực, xã Nghĩa Sơn huyện Nghĩa Hưng và xã Xuân Ninh huyện Xuân Trường

- Từ các xã được chọn, tiến hành phỏng vấn sâu 01 cán bộ y tế xã và 01 lãnh đạo Trung tâm y tế của huyện mà xã đó trực thuộc Tổng số 03 cán bộ y

tế xã và 03 lãnh đạo Trung tâm y tế huyện tham gia nghiên cứu

- Chọn bà mẹ của trẻ: Tại mỗi xã được chọn, tiến hành lập danh sách các

bà mẹ đang nuôi con dưới 5 tuổi Tiến hành chọn mẫu theo phương pháp cổng liền cổng đến khi đủ cỡ mẫu thì dừng lại Hộ đầu tiên được chọn là hộ bên tay phải tính từ cổng ủy ban nhân dân các xã

66 ca bệnh ho gà từ 2017-2020 tại Nam Định

3 xã có số mắc cao nhất

Trang 35

2.3 Biến số và các chỉ số trong nghiên cứu

ho gà

Tỷ lệ ca bệnh ho gà theo

giới

Tỷ lệ phần trăm số trẻ nam/nữ bị ho gà trên tổng

số ca mắc

Số trẻ mắc ho gà theo từng giới tính, tổng số trẻ mắc

Tỷ lệ trẻ đƣợc tiêm phòng

ho gà

Tỷ lệ phần trăm số trẻ đã đƣợc tiêm phòng ho gà trên tổng số trẻ mắc bệnh

Số trẻ đã đƣợc tiêm vắc xin

ho gà; số trẻ mắc bệnh Thời gian từ lúc khởi phát

tới khi nhập viện

Khoảng thời gian từ lúc trẻ

có triệu chứng bệnh tới khi trẻ đƣợc đƣa tới viện

Số ngày từ lúc khởi bệnh tới lúc nhập viện

Tỷ lệ tử vong do ho gà

Tỷ lệ phần trăm số trẻ tử vong do bệnh ho gà trên tổng sổ trẻ mắc bệnh

Số trẻ tử vong do ho gà, số trẻ mắc bệnh ho gà

Tỷ lệ các triệu chứng

bệnh

Tỷ lệ phần trăm các ca mắc

có các triệu chứng bệnh trên tổng số ca mắc

Số trẻ có các triệu chứng bệnh, số trẻ mắc ho gà

Tỷ lệ biến chứng của ca

bệnh ho gà

Tỷ lệ phần trăm các ca mắc

có các biến chứng của bệnh trên tổng số ca mắc

Số trẻ có các biến chứng của bệnh, số trẻ mắc ho gà

Trang 36

Số bà mẹ có kiến thức đúng về tác nhân gây bệnh; số bà mẹ NC

Tỷ lệ phần trăm bà mẹ có

kiến thức đúng về nguồn lây

bệnh ho gà

Tỷ lệ phần trăm bà mẹ có kiến thức đúng về nguồn lây bệnh trên tổng số bà mẹ NC

Số bà mẹ có kiến thức đúng về tác nhân gây bệnh; số bà mẹ NC

Tỷ lệ phần trăm bà mẹ có

kiến thức đúng về đường lây

bệnh ho gà

Tỷ lệ phần trăm bà mẹ có kiến thức đúng về đường lây bệnh trên tổng số bà mẹ NC

Số bà mẹ có kiến thức đúng về tác nhân gây bệnh; số bà mẹ NC

Tỷ lệ phần trăm bà mẹ có

kiến thức đúng về các biểu

hiện của bệnh ho gà

Tỷ lệ phần trăm bà mẹ có kiến thức đúng về các biểu hiện của bệnh trên tổng số bà mẹ

Số bà mẹ có kiến thức đúng về tác nhân gây bệnh; số bà mẹ NC

Tỷ lệ phần trăm bà mẹ có

kiến thức đúng về các biến

chứng của bệnh ho gà

Tỷ lệ phần trăm bà mẹ có kiến thức đúng về biến chứng của bệnh trên tổng số bà mẹ NC

Số bà mẹ có kiến thức đúng về tác nhân gây bệnh; số bà mẹ NC

Tỷ lệ phần trăm bà mẹ có

kiến thức đúng về các biện

pháp phòng ho gà

Tỷ lệ phần trăm bà mẹ có kiến thức đúng về các biện pháp phòng bệnh trên tổng số bà mẹ

Số bà mẹ có kiến thức đúng về tác nhân gây bệnh; số bà mẹ NC

Tỷ lệ phần trăm bà mẹ có

kiến thức đúng về cách chăm

sóc trẻ khi bị mắc ho gà

Tỷ lệ phần trăm bà mẹ có kiến thức đúng về cách chăm sóc trẻ trên tổng số bà mẹ NC

Số bà mẹ có kiến thức đúng về tác nhân gây bệnh; số bà mẹ NC

Tỷ lệ phần trăm bà mẹ có

kiến thức đúng về phòng

chống ho gà

Tỷ lệ phần trăm bà mẹ có kiến thức đúng về phòng chống bệnh ho gà trên tổng số bà mẹ

Số bà mẹ có kiến thức đúng 21/35 câu kiến thức; số bà mẹ NC

Tỷ lệ bà mẹ có thực hành

đúng về tiêm phòng cho trẻ

Tỷ lệ phần trăm bà mẹ đưa con

đi tiêm đúng lịch trên tổng số

Số bà mẹ có thực hành đúng 7/11 câu thực hành; số bà mẹ NC

Trang 37

Các biến số trong nghiên cứu:

- Các biến về trẻ mắc bệnh: tuổi, giới, nơi ở, thời gian mắc bệnh, triệu chứng bệnh, biến chứng bệnh, tiêm phòng vắc xin

- Các biến số về bà mẹ có con dưới 5 tuổi: tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi ở, số con, tiếp cận thông tin truyền thông, kiến thức về phòng bệnh ho gà, thực hành về phòng bệnh ho gà

* Tiêu chí đánh giá:

- Tiêu chí chuẩn đoán trẻ mắc ho gà: Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị

bệnh Hô hấp, ban hành kèm theo Quyết định số 4235/QĐ-BYT ngày 31/12/2012 của Bộ Y tế [40]:

+ Có nguồn lây rõ ràng Lâm sàng chứng kiến cơn ho điển hình của ho gà + Bạch cầu tăng cao trong máu ngoại vi và dòng lympho chiếm ưu thế

Số lượng bạch cầu trong máu cao (> 10g/L)

+ Làm kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reaction): xác định ADN của vi khuẩn ho gà lấy từ dịch mũi họng

Tất cả các mẫu bệnh phẩm các trường hợp nghi mắc ho gà đều được chuyển lên Bệnh viện Nhi Trung ương để làm kỹ thuật PCR

- Tiêu chí đánh giá Tiêm chủng đầy đủ (TCĐĐ) (Căn cứ theo quyết định số 845/QĐ-BYT ngày 17/03/2010 - Bộ Y tế); Tình trạng tiêm chủng vắc xin ho

gà của trẻ: Là tình trạng tiêm vắc xin ho gà của trẻ tính tới thời điểm trẻ khởi phát bệnh hoặc thời điểm khởi phát bệnh của trẻ mắc bệnh tương ứng đối với trường hợp trẻ không mắc bệnh:

 Chưa tới tuổi tiêm chủng: là các trường hợp trẻ chưa đủ 2 tháng tuổi

 Tiêm chủng chưa đầy đủ: là các trường hợp trẻ lớn hơn 2 tháng tuổi nhưng chưa tiêm đủ 3 mũi vắc xin có chứa thành phần ho gà

 Tiêm chủng đầy đủ: Là các trường hợp trẻ đã tiêm đủ 3 mũi vắc xin chứa thành phần ho gà

Trang 38

+ Tiêm chủng không xác định: Là trường hợp trẻ lớn hơn 2 tháng tuổi

và không xác định rõ tiền sử tiêm chủng đối với vắc xin ho gà

+ Tiêu chuẩn chấm điểm và phân loại mức độ KP:

+ Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức: phần kiến thức về bệnh có 14 câu hỏi trong đó có 35 ý trả lời (nhiều câu hỏi có nhiều lựa chọn), bà mẹ được đánh giá đạt về kiến thức khi trả lời đúng 21/35 ý đúng (60 các đáp án đúng)

+ Tiêu chuẩn đánh giá thực hành: phần thực hành về bệnh có 11 câu hỏi bà mẹ được đánh giá đạt về thực hành khi trả lời đúng 7/11 câu hỏi (60% các câu hỏi)

2.4 Công cụ và các phương pháp thu thập thông tin

2.4.1 Công cụ nghiên cứu

- Sổ sách theo dõi ca bệnh ho gà tại trạm y tế xã/thị trấn

- Phiếu điều tra ca bệnh ho gà (phụ lục 1)

- Sổ lưu kết quả tiêm chủng tại Trạm y tế xã/thị trấn

- Báo cáo kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh ho gà

- Bộ câu hỏi phỏng vấn bà mẹ (phụ lục 2)

- Phiếu phỏng Giám đốc/Phó Giám đốc TTYT huyện (phụ lục 3)

- Phiếu phỏng vấn cán bộ y tế xã/thị trấn (phụ lục 4)

- Điện thoại để ghi âm cuộc phỏng vấn sâu

- Các báo cáo về tình hình bệnh ho gà của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Nam Định và Trung tâm Y tế các huyện, thành phố

2.4.2 Phương pháp thu thập thông tin

* Phương pháp thu thập thông tin:

- Mục tiêu 1: Hồi cứu thông tin từ các báo cáo bệnh truyền nhiễm, sổ theo dõi người bệnh ho gà, phiếu điều tra ca mắc ho gà (từ 1/1/2017 đến 31/12/2020) theo mẫu của Trung tâm y tế huyện và phỏng vấn trực tiếp cán

bộ y tế xã và lãnh đạo TYTT huyện theo bộ câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn

Trang 39

Nội dung phỏng vấn cán bộ y tế gồm có: tình hình dịch bệnh ho gà tại địa phương, nguyên nhân của sự thay đổi số lượng các ca mắc trong những năm gần đây, các công việc đã triển khai để đáp ứng phòng chống bệnh, nhân lực tham gia, trang thiết bị phục vụ công tác phòng chống bệnh

- Mục tiêu 2: Phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ có con dưới 5 tuổi về kiến thức, thực hành phòng chống bệnh ho gà cho trẻ em theo bộ câu hỏi đã được chuẩn bị trước

Bộ câu hỏi phỏng vấn gồm có 3 phần: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu; kiến thức về phòng, chống bệnh ho gà; thực hành phòng, chống bệnh ho gà

* Tổ chức thử nghiệm phiếu điều tra thu thập số liệu

- Tiến hành thử nghiệm 10 bộ phiếu phỏng vấn bà mẹ có con dưới 5 tuổi

về kiến thức và thực hành phòng chống bệnh ho gà, sau đó chỉnh sửa bộ phiếu sao cho phù hợp

- Tổ chức tập huấn cho cán bộ tham gia nghiên cứu, đảm bảo thống nhất phương pháp chọn đối tượng và phương pháp thu thập thông tin giữa các cán

bộ tham gia điều tra

- Thành lập 3 đoàn điều tra, mỗi đoàn gồm 4 người, mỗi đoàn được chia

theo khu vực để điều tra

- Các bà mẹ đã được cán bộ y tế xã đặt lịch hẹn trước khi cán bộ điều tra xuống địa bàn Cuộc phỏng vấn sẽ được tiến hành tại nhà của các bà mẹ

- Với các cuộc phỏng vấn định tính: Điều tra viên sẽ đặt lịch hẹn với các đối tượng cần phỏng vấn, giới thiệu bản thân và mục đích của cuộc phỏng vấn, tiến hành ghi âm cuộc phỏng vấn dưới sự cho phép của đối tượng nghiên cứu

- Sau mỗi ngày điều tra, cán bộ điều tra kiểm tra lại phiếu, đảm bảo thu thập đầy đủ các thông tin trong phiếu Giám sát viên gặp người điều tra để thu

và kiểm tra phiếu điều tra

Trang 40

2.5 Các biện pháp hạn chế sai số:

- Sai số do điều tra viên không hiểu rõ bộ câu hỏi, hoặc hỏi dưới dạng gợi

ý Cách khắc phục là chuẩn bị bộ công cụ với những câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu Tập huấn kỹ lưỡng cho điều tra viên, nhấn mạnh những chỗ cần lưu ý, ghi rõ chú thích dưới từng câu hỏi là có đọc rõ tình huống trả lời cho người được phỏng vấn hay không Có thực hành điều tra thử trước khi điều tra chính thức

- Sai số do người được phỏng vấn trả lời không chính xác vì chưa hiểu rõ câu hỏi hoặc trả lời không trung thực Cách khắc phục là điều tra viên phải đọc

rõ ràng, chậm rãi từng câu hỏi, giải thích cho đối tượng biết rõ mục đích của nghiên cứu

- Để khắc phục các sai số trên, giám sát viên cần phải kiểm tra chặt chẽ quá trình thu thập số liệu của các điều tra viên Hàng ngày điều tra viên nộp lại phiếu đã phỏng vấn cho giám sát viên kiểm tra thông tin điền trong phiếu có hợp lệ không Giám sát viên rút thăm ngẫu nhiên 10% số phiếu để điều tra lại

- Hồi quy logistic đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan tới kiến thức và thực hành của bà mẹ về phòng chống ho gà

- Kết quả nghiên cứu được trình bày bằng bảng tỷ lệ %, biểu đồ

- Phân tích định tính sử dụng phương pháp phân tích content analysis- phân tích theo nội dung, chủ đề

Ngày đăng: 13/07/2023, 15:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Karene Hoi Ting Yeung, Philippe Duclos , E Anthony S Nelson. et al (2017).An update of the global burden of pertussis in children younger than 5 years: a modelling study. Lancet Infect Dis, 17(9), 974–980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An update of the global burden of pertussis in children younger than 5 years: a modelling study
Tác giả: Karene Hoi Ting Yeung, Philippe Duclos, E Anthony S Nelson
Nhà XB: Lancet Infect Dis
Năm: 2017
3. Phadke V.K., Bednarczyk R.A., Salmon D.A. et al (2016). Association Between Vaccine Refusal and Vaccine-Preventable Diseases in the United States. JAMA, 315(11), 1149–1158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Association Between Vaccine Refusal and Vaccine-Preventable Diseases in the United States
Tác giả: Phadke V.K., Bednarczyk R.A., Salmon D.A
Nhà XB: JAMA
Năm: 2016
4. Rumik A., Paradowska-Stankiewicz I., Rudowska J. et al(2018). Pertussis in Poland in 2016. Przegl Epidemiol, 72(3), 259–265 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pertussis in Poland in 2016
Tác giả: Rumik A., Paradowska-Stankiewicz I., Rudowska J
Nhà XB: Przegl Epidemiol
Năm: 2018
5. Libster R. Edwards K.M (2012). Re-emergence of pertussis: what are the solutions?. Expert Rev Vaccines, 11(11), 1331–1346 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Re-emergence of pertussis: what are the solutions
Tác giả: R. Libster, K.M. Edwards
Nhà XB: Expert Rev Vaccines
Năm: 2012
6. Porras-Povedano M., Roldán-Garrido A., Santacruz-Hamer V (2017). Outbreak of Whooping cough in 2016.Écija, Seville, Spain. Rev Esp Salud Publica, 91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Outbreak of Whooping cough in 2016
Tác giả: Porras-Povedano M., Roldán-Garrido A., Santacruz-Hamer V
Nhà XB: Rev Esp Salud Publica
Năm: 2017
8. Dự án Tiêm chủng mở rộng. Bệnh Ho gà gia tăng, phòng bệnh cho trẻ bằng cách nào?. &lt;/vi/content/benh-ho-ga-gia-tang-phong-benh-cho-tre-bang-cach-nao.html&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh Ho gà gia tăng, phòng bệnh cho trẻ bằng cách nào
9. Trungtâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Kom Tum (2018). Cẩm nang phòng, chống bệnh truyền nhiễm. Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Kon Tum,&lt;https://cdckontum.vn/thu-vien-tu-lieu/cam-nang-suc-khoe/cam-nang-phong-chong-benh-truyen-nhiem-10.html&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang phòng, chống bệnh truyền nhiễm
Tác giả: Trungtâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Kom Tum
Nhà XB: Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Kon Tum
Năm: 2018
11. CDC (2021). Signs and Symptoms of Whooping Cough (Pertussis). &lt;https://www.cdc.gov/pertussis/about/signs-symptoms.html&gt;, accessed:11/04/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Signs and Symptoms of Whooping Cough (Pertussis)
Tác giả: CDC
Năm: 2021
12. Jia J., Yuan L., Gao W. et a l(2019). Complications of pertussis. Chinese Journal of Contemporary Pediatrics, 21(7), 713–717 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Complications of pertussis
Tác giả: Jia J., Yuan L., Gao W
Nhà XB: Chinese Journal of Contemporary Pediatrics
Năm: 2019
13. CDC (2021). Complications of Whooping Cough (Pertussis). &lt;https://www.cdc.gov/pertussis/about/complications.html&gt;, accessed:19/04/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Complications of Whooping Cough (Pertussis)
Tác giả: CDC
Năm: 2021
15. Esposito S; Principi N. (2018). Prevention of pertussis: An unresolved problem. Hum Vaccin Immunother, 14(10), 2452–2459 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevention of pertussis: An unresolved problem
Tác giả: Esposito S, Principi N
Nhà XB: Hum Vaccin Immunother
Năm: 2018
16. CDC (2021). Pertussis Surveillance: Cases by Year | CDC. &lt;https://www.cdc.gov/pertussis/surv-reporting/cases-by-year.html&gt;, accessed: 19/04/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pertussis Surveillance: Cases by Year
Tác giả: CDC
Nhà XB: CDC
Năm: 2021
17. P.Varughese (1985). Incidence of pertussis in Canada. Can Med Assoc J, 132(9), 1041–1042 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Incidence of pertussis in Canada
Tác giả: P. Varughese
Nhà XB: Can Med Assoc J
Năm: 1985
18. Guimarães L.M., Carneiro E.L.N. da C., Carvalho-Costa F.A. (2015). Increasing incidence of pertussis in Brazil: a retrospective study using surveillance data. BMC Infect Dis, 15, 442 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Increasing incidence of pertussis in Brazil: a retrospective study using surveillance data
Tác giả: Guimarães L.M., Carneiro E.L.N. da C., Carvalho-Costa F.A
Nhà XB: BMC Infect Dis
Năm: 2015
19. Thisyakorn U., Tantawichien T., Thisyakorn C. et al. (2019). Pertussis in the Association of Southeast Asian Nations: epidemiology and challenges. International Journal of Infectious Diseases, 87, 75–83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pertussis in the Association of Southeast Asian Nations: epidemiology and challenges
Tác giả: Thisyakorn U., Tantawichien T., Thisyakorn C
Nhà XB: International Journal of Infectious Diseases
Năm: 2019
21. Brosio F. (2020). Impact of Pertussis on the Italian population: Analysis of hospital discharge records in the period 20012014. International Journal of Infectious Diseases, 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of Pertussis on the Italian population: Analysis of hospital discharge records in the period 20012014
Tác giả: Brosio F
Nhà XB: International Journal of Infectious Diseases
Năm: 2020
22. Abu-Raya B., Bettinger J.A., Vanderkooi O.G. et al. (2020). Burden of Children Hospitalized With Pertussis in Canada in the Acellular Pertussis Vaccine Era, 1999-2015. J Pediatric Infect Dis Soc, 9(2), 118–127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Burden of Children Hospitalized With Pertussis in Canada in the Acellular Pertussis Vaccine Era, 1999-2015
Tác giả: Abu-Raya B., Bettinger J.A., Vanderkooi O.G
Nhà XB: J Pediatric Infect Dis Soc
Năm: 2020
23. ECDC (2016). Pertussis - Annual Epidemiological Report 2016 [2014 data]. European Centre for Disease Prevention and Control,&lt;https://www.ecdc.europa.eu/en/publications-data/pertussis-annual-epidemiological-report-2016-2014-data&gt;, accessed: 19/04/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pertussis - Annual Epidemiological Report 2016 [2014 data]
Tác giả: ECDC
Nhà XB: European Centre for Disease Prevention and Control
Năm: 2016
24. Suntarattiwong P., Kanjanabura K., Laopipattana T. et al. (2019). Pertussis surveillance in a children hospital in Bangkok, Thailand.International Journal of Infectious Diseases, 81, 43–45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pertussis surveillance in a children hospital in Bangkok, Thailand
Tác giả: Suntarattiwong P., Kanjanabura K., Laopipattana T
Nhà XB: International Journal of Infectious Diseases
Năm: 2019
25. Yesquen P., Herrera-Perez E., Escalante-Kanashiro R. et al. (2019). Clinical and epidemiological characteristics of whooping cough in hospitalized patients of a tertiary care hospital in Peru. Revista Brasileira de Terapia Intensiva, 31(2), 129–137 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical and epidemiological characteristics of whooping cough in hospitalized patients of a tertiary care hospital in Peru
Tác giả: Yesquen P., Herrera-Perez E., Escalante-Kanashiro R
Nhà XB: Revista Brasileira de Terapia Intensiva
Năm: 2019

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w