ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu 1: đề tài thực hiện theo thiết kế nghiên cứu dịch tễ học mô tả Tiến hành hồi cứu các ca bệnh SXHD, các chỉ số véc tơ từ các hồ sơ lưu trữ (phiếu điều tra ca bệnh SXHD, sổ sách, phiếu giám sát véc tơ truyền bệnh SXHD) tại Khoa Kiểm soát bệnh truyền nhiễm - Trung tâm Y tế dự phòng Hải Phòng từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 12 năm 2020 Tập hợp các ca bệnh được chẩn đoán là SXHD trong 6 năm theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế, sau đó xửa lý, tính toán các chỉ số để mô tả một số đặc điểm dịch tễ học của SXHD tại Hải Phòng Để đạt được mục tiêu 2: đề tài tiến hành nghiên cứu dịch tễ học mô tả với cuộc điều tra cắt ngang về kiến thức, thực hành của các đối tượng là những nhân viên y tế công tác tại các trạm y tế xã, phường, thị trấn trên địa bàn Hải Phòng
2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu của nghiên cứu
+ Cỡ mẫu để mô tả một số đặc điểm dịch tễ bệnh SXHD:
Từ ngày 1/1/2015 đến 31/12/2020, chúng tôi đã chọn mẫu toàn bộ hồ sơ của các trường hợp sản xuất hàng hóa (SXHD) tại Hải Phòng, với đầy đủ thông tin theo phiếu điều tra ca bệnh Tổng số bệnh nhân trong mẫu là 2.800 trường hợp.
Là toàn bộ hồ sơ về các chỉ số loăng quăng, bọ gậy và muỗi muỗi
Aedes, số dụng cụ chứa nước, số dụng cụ có bọ gậy, số nhà đi giám sát có tại
Trung tâm Y tế các quận huyện và Trung tâm Y tế dự phòng Hải Phòng từ năm 2015 đến năm 2020
+ Cỡ mẫu đánh giá kiến thức, thực hành của nhân viên y tế xã: được tính theo công thức cỡ mẫu cho cuộc điều tra xác định một tỷ lệ:
- n = Cỡ mẫu nghiên cứu (số cán bộ y tế)
- độ tin cậy lấy ở ngưỡng xác suất α, với α=0,05 Z=1,96
- p: tỷ lệ NVYT có kiến thức đúng về phòng chống SXHD, p được lấy là 0,78 (từ nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Phương (2018) tại Gia Lâm Hà Nội) [36]
- : là sai số tuyệt đối (sai lệch mong muốn giữa giá trị điều tra từ mẫu và giá trị thực của quần thể), được lấy là 0,06 (6%)
- Thay các giá trị vào công thức ta có n = 185 (người)
Trong cuộc điều tra tại 4 quận huyện Ngô Quyền, Lê Chân, Vĩnh Bảo và Thủy Nguyên, tổng số người được khảo sát là 282 Tuy nhiên, thực tế chỉ có 252 đối tượng đáp ứng đủ tiêu chuẩn nghiên cứu đã được xác định.
* Đối với mẫu mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng bệnh nhân SXHD là sổ sách, phiếu điều tra của tất cả các bệnh nhân SXHD:
Tất cả hồ sơ và sổ sách quản lý tình hình bệnh SXHD trong toàn thành phố từ ngày 01/01/2015 đến 31/12/2020 đã được chọn Các số liệu này được thống kê và cung cấp bởi khoa Kiểm soát bệnh truyền nhiễm, Trung tâm.
Y tế dự phòng Hải Phòng
Chọn tất cả các phiếu điều tra bệnh nhân SXHD từ ngày 01/01/2015 đến 31/12/2020, đảm bảo rằng các thông tin được điền đầy đủ Những phiếu không có thông tin đầy đủ sẽ không được sử dụng.
Đối với NVYT, cần chọn toàn bộ số NVYT đủ tiêu chuẩn theo mục 2.1.1 từ 4 quận/huyện: Ngô Quyền, Lê Chân, Vĩnh Bảo, và Thủy Nguyên thuộc Thành phố Hải Phòng.
Các biến số, chỉ số trong nghiên cứu
Các biến số, chỉ số về đặc điểm dịch tễ học bệnh SXHD từ năm 2015 đến 2020
- Tuổi: tính theo năm sinh dương lịch, phân nhóm trẻ em và trưởng thành
- Nghề nghiệp: mang giá trị từ 1 – 4 (Y tế, giáo dục, làm nông, khác)
- Nơi sinh sống: Nơi bệnh nhân cư trú khi bị bệnh (phân theo quận, huyện, thành phố)
- Ngày, tháng, năm bệnh nhân mắc bệnh: Ngày, tháng, năm bệnh nhân bắt đầu có triệu chứng đầu tiên
- Ngày lấy mẫu: là ngày bệnh nhân được lấy mẫu làm xét nghiệm
- Phân loại chẩn đoán: SXHD, SXHD có dấu hiệu cảnh báo, SXHD nặng, Không phải SXHD, Không rõ
- Phân tuyến điều trị bệnh SXHD
+ Bệnh viện truyến trung ương
- Số mắc trung bình: là số mắc trung bình 6 năm 2015-2020
- Số mắc trung bình trên 100.000 dân: số mắc trung bình 6 năm 2015-2020 Các chỉ số về vector truyền bệnh:
Giám sát muỗi trưởng thành được thực hiện bằng phương pháp soi bắt muỗi đậu nghỉ trong nhà bằng ống tuýp hoặc máy hút cầm tay Quá trình này tập trung vào việc soi bắt muỗi cái đậu nghỉ trên quần áo, chăn màn và các đồ vật trong nhà vào ban ngày, với thời gian soi bắt mỗi nhà là 15 phút Mỗi điểm điều tra sẽ khảo sát 30 nhà và thực hiện 1 lần mỗi tháng.
Giám sát ổ lăng quăng và bọ gậy cần được thực hiện thường xuyên, ít nhất một lần mỗi tháng, cùng với việc giám sát muỗi trưởng thành Sau khi bắt muỗi, cần tiến hành điều tra bọ gậy thông qua quan sát, thu thập, ghi nhận và phân loại tại tất cả các dụng cụ chứa nước trong và xung quanh nhà Đối với các xã điểm, điều tra nên được thực hiện hai lần mỗi năm, với mỗi lần khảo sát 100 hộ gia đình.
+ Chỉ số mật độ (CSMĐ) muỗi là số muỗi cái Aedes trung bình trong một gia đình điều tra
CSMĐ (con/nhà) = Số muỗi cái Aedes bắt được
+ Chỉ số nhà có muỗi (CSNCM) là tỷ lệ phần trăm nhà có muỗi cái Aedes trưởng thành
CSNCM (%) = Số nhà có muỗi cái Aedes x 100
+ Chỉ số nhà có lăng quăng/bọ gậy (CSNBG) là tỷ lệ phần trăm nhà có bọ gậy Aedes:
CSNBG (%) = Số nhà có lăng quăng/bọ gậy Aedes x 100
+ Chỉ số dụng cụ chứa nước có lăng quăng/bọ gậy (CSDCBG) là tỷ lệ phần trăm dụng cụ chứa nước có lăng quăng/bọ gậy Aedes:
CSDCBG (%) = Số DCCN có lăng quăng/bọ gậy Aedes x 100
+ Chỉ số Breteau (BI) là số DCCN có lăng quăng/bọ gậy Aedes trong 100 nhà điều tra Tối thiểu điều tra 30 nhà, vì vậy BI được tính như sau:
BI = Số DCCN có lăng quăng/bọ gậy Aedes x 100
Chỉ số mật độ lăng quăng/bọ gậy (CSMĐBG) thể hiện số lượng lăng quăng/bọ gậy trung bình mà một nhà điều tra ghi nhận Chỉ số này chỉ áp dụng trong quá trình điều tra ổ lăng quăng/bọ gậy nguồn.
CSMĐBG (con/nhà) = Số lăng quăng/bọ gậy Aedes thu được
Số nhà điều tra Các biến số về đánh giá kiến thức, thực hành của cán bộ y tế tuyến xã về phòng, chống SXHD
- Kiến thức của NVYT về giám sát, phòng, chống bệnh SXHD
+ Kiến thức về nguyên nhân gây bệnh SXHD
+ Kiến thức về đường lây truyền SXHD
+ Kiến thức về Véc tơ truyền bệnh của bệnh SXHD
+ Kiến thức về tiêu chuẩn ca giám sát SXHD
+ Kiến thức về ổ dịch SXHD
+ Kiến thức về cách phòng, chống SXHD
- Thực hành của NVYT về giám sát, phòng, chống bệnh SXHD
+ Thực hành của NVYT về giám sát ca bệnh tại cộng đồng
+ Thực hành của NVYT về giám sát véc tơ truyền bệnh SXHD
+ Thực hành của NVYT về các biện pháp chống dịch SXHD
Phương pháp thu thập số liệu
Để mô tả đặc điểm dịch tễ bệnh SXHD từ năm 2015 đến năm 2020:
Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán mắc SXHD bởi các thầy thuốc lâm sàng đều được điều tra và ghi thông tin vào phiếu điều tra ca bệnh.
Dựa theo tiêu chuẩn chẩn đoán ca bệnh SXHD của Bộ Y tế, việc chẩn đoán bao gồm hai loại: ca bệnh lâm sàng và ca bệnh xác định thông qua các xét nghiệm Ns1Ag và Mac-Elisa.
Thông tin được thu thập qua điều tra hồi cứu ca bệnh xác định mắc SXHD, bao gồm các yếu tố như tuổi, giới tính, địa điểm cư trú, triệu chứng lâm sàng và nơi điều trị, đã được ghi nhận thông qua phiếu điều tra ca bệnh ngay từ khi phát hiện ca bệnh.
Để đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của nhân viên y tế (NVYT) xã về bệnh sốt xuất huyết (SXHD), chúng tôi đã thu thập báo cáo về chỉ số véc tơ truyền bệnh và phiếu giám sát véc tơ tại cộng đồng Tiến hành phỏng vấn NVYT bằng bộ câu hỏi được chuẩn bị trước, dựa trên nội dung nghiên cứu và tham khảo từ các phiếu điều tra của các nghiên cứu trước đó Bộ câu hỏi này đã được các chuyên gia về dịch tễ học và quản lý y tế xem xét và góp ý Sau khi hoàn thiện, bộ câu hỏi sẽ được thử nghiệm để chỉnh sửa và hoàn thiện hơn.
Phần 1 là các thông tin chung về đối tượng (tên, tuổi, địa chỉ,.v.v.)
Phần 2 là các câu hỏi về kiến thức về bệnh SXHD và các kiến thức về phòng chống SXHD
Phần 3 là các câu hỏi về thực hành phòng chống SXHD của NVYT Mỗi câu hỏi kiến thức và thực hành có giá trị cao nhất là 1 điểm Đối với câu hỏi 1 đáp án thì người trả lời sai sẽ không được điểm, trả lời đúng được 1 điểm, đối với câu hỏi nhiều câu trả lời nếu chọn đáp án sai sẽ không được điểm, nếu không chọn đáp án sai nào sẽ được tính điểm theo công thức: Điểm Số đáp án đã chọn
Số điểm tối đa cho câu hỏi Đánh giá về kiến thức là 15 điểm Các mức độ đánh giá kiến thức của NVYT được quy định rõ ràng.
Loại Trung bình khá: 9,00 - 11,24 điểm
Loại Giỏi yêu cầu đạt từ 12 điểm trở lên Đánh giá về thực hành có số điểm tối đa là 8 điểm Các mức độ đánh giá thực hành của NVYT được quy định rõ ràng.
Loại Trung bình khá: 4,80 - 5,99 điểm
Vật liệu, công cụ nghiên cứu
- Phiếu điều tra bệnh nhân SXHD (theo mẫu phiếu điều tra ca bệnh SXHD của Bộ Y tế) – Phụ lục 1
- Sổ sách lưu trữ danh sách bệnh nhân SXHD của Trung tâm YTDP Hải Phòng năm 2015-2020
- Dân số các năm từ 2015 đến 2020 lấy từ Niên giám thống kê (tóm tắt thống kê Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, Tổng cục DS – KHHGĐ)
Sổ sách giám sát véc tơ truyền bệnh SXHD được thực hiện tại các tuyến xã, huyện và tỉnh Các phiếu điều tra cộng đồng về véc tơ truyền bệnh SXHD được sử dụng theo mẫu phiếu điều tra của Bộ Y tế, được trình bày trong Phụ lục 2.
- Phiếu phỏng vấn NVYT (Phụ lục 3)
2.6 Phương pháp xử lý số liệu
- Phiếu điều tra ca bệnh được làm sạch số liệu trước khi nhập liệu vào máy tính bằng chương trình Epidata 3.1
- Phiếu phỏng vấn NVYT được kiểm tra và làm sạch tại Trung tâm YTDP Hải Phòng trước khi nhập liệu vào máy tính bằng chương trình Epidata 3.1
Tất cả các phiếu được nhập vào máy tính hai lần để đảm bảo tính chính xác, sau đó chương trình sẽ kiểm tra và sửa các sai sót do quá trình nhập số liệu.
Phân tích và xử lý số liệu được thực hiện bằng phần mềm SPSS 20.0, áp dụng các kiểm định thống kê để xác định sự khác biệt giữa các tỷ lệ Mức ý nghĩa thống kê được xác định với giá trị p0,05 con/nhà
Bảng 3.10 Chỉ số mật độ muỗi tại các quận/huyện qua các năm
Trong 6 năm nghiên cứu muỗi Aedes tại Hải Phòng, muỗi đã xuất hiện ở 14/15 quận/huyện Từ 2015 đến 2018, các khu vực có mật độ muỗi cao nhất là Cát Hải, An Dương và An Lão, với chỉ số mật độ trung bình trong 4 năm vượt quá 0,04 Đến năm 2019, Ngô Quyền ghi nhận chỉ số cao nhất là 0,09, tiếp theo là Lê Chân với 0,08 và Cát Hải với 0,07.
Bảng 3.11 Chỉ số nhà có lăng quăng/bọ gậy phân bố theo tháng
Bảng 3.11 cho thấy các năm 2015-2018 và năm 2020 chỉ số nhà có lăng quăng/bọ gậy đều bắt đầu tăng cao từ tháng 6, và cao nhất vào tháng 9, tháng
Vào tháng 10, chỉ số này đạt đỉnh và sau đó giảm dần vào tháng 12 Đặc biệt, trong năm 2019, chỉ số bắt đầu tăng mạnh từ tháng 6, duy trì ở mức cao từ tháng 7 đến tháng 10, rồi giảm dần trong các tháng tiếp theo.
Biểu đồ 3.6 Chỉ số Breteau trung bình phân bổ theo quận, huyện
Chỉ số Breteau tại các quận huyện của Hải Phòng được ghi nhận cao, với trung bình khoảng 10 dụng cụ chứa nước có bọ gậy Ae Aegypti trong 100 nhà điều tra Đặc biệt, các quận Cát Hải, Hải An, Lê Chân và Ngô Quyền có chỉ số này tăng cao trong các năm 2017 và 2019.
Kiến thức, thực hành của cán bộ y tế tuyến xã về bệnh SXHD và phòng chống SXHD
Bảng 3.12 Kiến thức của NVYT về nguyên nhân gây bệnh SXHD
Trả lời đúng tác nhân gây bệnh của SXHD là
Kiến thức về tác nhân gây bệnh của nhân viên y tế (NVYT) tại các phường nội thành cao hơn so với nhóm NVYT ở các xã ngoại thành, với giá trị p = 0,049, nhỏ hơn 0,05, cho thấy chỉ số này có ý nghĩa thống kê.
Bảng 3.13 Kiến thức của NVYT về đường lây truyền của SXHD
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
Trả lời đúng đường lây truyền là từ người sang người qua vết muỗi đốt
Nhóm NVYT ở các phường nội thành có tỷ lệ trả lời đúng cao hơn so với các xã ngoại thành, nhưng sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Bảng 3.14 Kiến thức của NVYT về véc tơ truyền bệnh SXHD
Số câu p có điểm Điểm
Số câu có điểm Điểm
Kiến thức về loài muỗi nào là véc tơ lây truyền bệnh SHXD 155 0,92 82 1,00 0,01
Kiến thức về tên dân gian của muỗi truyền bệnh SXHD 166 0,98 82 1,00 0,228
Kiến thức về vòng đời của muỗi
Kiến thức về nơi muỗi Aedes thường đẻ trứng 58 0,30 31 0,50