1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ứng dụng hoa văn trang trí thời lý (1009 1225) trong thiết kế nội thất

64 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Ứng dụng Hoa Văn Trang Trí Thời Lý (1009-1225) Trong Thiết Kế Nội Thất
Tác giả Vũ Văn Tiên
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Hương Giang, TS. Nguyễn Thị Vĩnh Khánh
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Mỹ Thuật Ứng Dụng
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Mỹ Thuật Ứng Dụng
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 2,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (9)
    • 1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước (9)
    • 1.2. Nghiên cứu ngoài nước (10)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (14)
    • 2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu (14)
      • 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu (14)
      • 2.1.2. Phạm vi nghiên cứu (14)
    • 2.2. Mục tiêu Nghiên cứu (14)
      • 2.2.1. Mục tiêu tổng quát (14)
      • 2.2.2. Mục tiêu cụ thể (14)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (14)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (15)
  • Chương 3. ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA THỜI LÝ GIAI ĐOẠN 1009-1225 (18)
    • 3.1. Tôn giáo, tín ngưỡng (18)
    • 3.2. Văn hóa (20)
      • 3.2.1. Văn hóa vật thể (20)
      • 3.2.2. Văn hóa phi vật thể (21)
    • 3.3. Giáo dục, khoa cử (21)
  • Chương 4. NGHIÊN CỨU ĐẶC TRƯNG CỦA ĐỒ NỘI THẤT THỜI LÝ (23)
    • 4.1. Đặc trưng trang trí của đồ nội thất thời Lý (23)
      • 4.1.1. Điêu khắc gỗ (23)
      • 4.1.2. Sơn ta (27)
    • 4.2. Đặc trưng tạo hình của đồ nội thất thời Lý (27)
      • 4.2.1. Đường nét (27)
      • 4.2.2. Hình khối (28)
  • Chương 5. NGHIÊN CỨU ĐẶC TRƯNG CỦA KIẾN TRÚC THỜI LÝ (29)
    • 5.1. Đặc trưng trang trí của kiến trúc thời Lý (29)
      • 5.1.1. Điêu khắc gỗ (29)
      • 5.1.2. Điêu khắc đá (30)
      • 5.1.3. Gạch đất nung (31)
    • 5.2. Đặc trưng tạo hình của kiến trúc thời Lý (33)
      • 5.2.1. Đường nét (33)
      • 5.2.2. Mảng, khối (35)
  • Chương 6. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOA VĂN TRANG TRÍ (37)
    • 6.1. Đặc trưng xã hội ảnh hưởng đến hoa văn trang trí (37)
      • 6.1.1. Sóng nước (hay còn gọi hoa văn Thủy ba) (37)
      • 6.1.2. Hoa lá (39)
    • 6.2. Phật Giáo ảnh hưởng đến hoa văn trang trí (40)
      • 6.2.1. Rồng (40)
      • 6.2.2. Hoa (45)
      • 6.2.3. Lá Đề (50)
      • 6.2.4. Phượng (51)
      • 6.2.5. Con Trâu, con Ngựa (53)
      • 6.2.6. Sư tử (54)
    • 6.3. Ấn Độ giáo ảnh hưởng đến hoa văn trang trí thời Lý (55)
      • 6.3.1. Nhạc công thiên thần (Gandharva) (55)
      • 6.3.2. Nữ thần đầu người mình chim (56)
      • 6.3.3. Đầu tượng tiên nữ (57)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (63)

Nội dung

Với mục đích tạo cơ sở dữ liệu và làm tài liệu tham khảo cho giá trị nhằm bảo tồn và phát triển hoa văn trang trí thời Lý của Việt Nam, đồng thời đưa ra những luận cứ khoa học phục vụ đà

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Tình hình nghiên cứu trong nước

Triều Lý (1009 - 1225) là một trong những triều đại vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam, đánh dấu giai đoạn oanh liệt của thời trung đại khi dân tộc ta mạnh mẽ trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Sau một ngàn năm Bắc thuộc, nghệ thuật Việt Nam đã được hồi sinh và phát triển thành nghệ thuật cổ điển vững chắc, đặc biệt trong thời kỳ Lý với những thành tựu trang trí độc đáo Mặc dù nhiều công trình nghệ thuật bị hư hại do chiến tranh, nhưng chúng vẫn để lại di sản quý báu, trở thành tư liệu giá trị cho nghiên cứu lịch sử mỹ thuật nước nhà.

Qua các thế kỷ, nghệ thuật trang trí thời Lý đã phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực chạm khắc, gốm, và trang trí trên bia đá, cột, với nhiều đề tài sinh động và đa dạng Tuy nhiên, do thời gian và chiến tranh, nhiều dấu tích nghệ thuật đã bị tàn phá, để lại chỉ những dấu ấn ít ỏi Điêu khắc, một loại hình nghệ thuật đặc biệt, sử dụng các chất liệu như gỗ, đá, đồng, đất, và thạch cao để tạo ra các tác phẩm nghệ thuật có thể tồn tại và chiếm lĩnh không gian thực thông qua các kỹ thuật tạc, đục, nặn, và gò.

Hoa văn đặc trưng trong trang trí kiến trúc thời Lý đã được các nhà nghiên cứu và phân tích khá chi tiết

Nhiều tác giả đã nghiên cứu hoa văn Thủy ba trong mỹ thuật cổ Việt Nam và ứng dụng của nó trong sản phẩm mỹ thuật hiện đại Bên cạnh hoa văn Thủy ba, các nhóm tác giả khác cũng đã tìm hiểu về các hoa văn trang trí khác, đặc biệt là hoa văn Rồng thời Lý, cùng với ý nghĩa và các yếu tố ảnh hưởng đến việc tạo hình hoa văn trang trí trong thời kỳ này.

Các nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào hoa văn trang trí trong kiến trúc và tượng, phân tích ảnh hưởng của yếu tố Phật giáo Tuy nhiên, vẫn còn thiếu sót trong việc nghiên cứu hoa văn trang trí sản phẩm nội thất và nội thất, với số lượng nghiên cứu còn hạn chế và chưa sâu sắc.

Nghiên cứu ngoài nước

Nghiên cứu hoa văn trang trí trong kiến trúc và nội thất chủ yếu tập trung vào hoa văn rồng và phượng hoàng Ở các nước phương Đông, hoa văn này chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Phật Giáo, Nho Giáo và Đạo Giáo, thể hiện rõ nét văn hóa và phong tục tập quán của con người.

Rồng xuất hiện ở hầu hết các khu vực trên thế giới và có thể được phân loại theo hình dáng thành rồng bò sát, rồng chim, rồng thú, hoặc sự kết hợp của các loại này Về tính cách, rồng có thể được chia thành rồng cá, rồng thiện và rồng trung tính.

Nhà dân tộc học D.V.Deopik (1993) cho rằng hình tượng con Rồng là đặc trưng chung của các dân tộc Việt và đã ảnh hưởng đến văn hóa Trung Hoa N.I.Niculin, nhà Việt Nam học, nhận xét rằng Rồng, một sinh vật tưởng tượng, là biểu tượng quan trọng trong văn hóa truyền thống Việt Nam, gắn liền với nghề trồng lúa nước và đánh cá Nhiều nghiên cứu gần đây ở Trung Hoa đã chỉ ra rằng hình tượng Rồng có thể có nguồn gốc từ các loài như rắn, cá sấu, và thậm chí là cá, hổ, sấm sét, cầu vồng, trâu, ngựa, lợn, và cây từng Mặc dù có nhiều giả thuyết khác nhau về nguồn gốc của Rồng, nhưng quan điểm cho rằng nguyên mẫu của Rồng là rắn vẫn được chấp nhận rộng rãi nhất.

Rồng ở châu Mỹ chủ yếu là biểu tượng của sự thiện lành, được coi là các vị thần của cư dân địa phương Rồng Chac của người Maya có hình dáng giống người, với tai hươu và đầu quỷ hoặc cá sấu Chúng phát ra tiếng kêu lớn và dài, được cho là tạo ra sấm sét và mang đến mưa.

Rồng Quetzacoatl, biểu tượng của nhiều tộc người Trung và Nam Mỹ, có cánh nhưng không có chân, với thân hình phủ đầy lông vũ nhiều màu sắc Rồng này đại diện cho thần sáng tạo, thần mưa, thần lửa và là vị thần bảo hộ nghệ thuật Sau khi thất bại trong cuộc chiến chống lại thần chiến tranh, Rồng Quetzacoatl đã rời bỏ nơi này trên một bè gỗ do rắn thần kéo về phía mặt trời mọc.

Rồng châu Âu rất đa dạng, thường có hình dáng của các loài động vật bốn chân như ngựa, cừu, sói, gấu và rắn, với cánh, thân ngắn và khả năng phun lửa Tính cách của chúng cũng phong phú, bao gồm cả Rồng thiện và Rồng ác Rồng thiện như Akhekhu, với thân dài và bốn chân, mang lương thực cho con người và bảo vệ các Pharaoh ở thế giới bên kia; Rồng Wadjet, có cánh và sức mạnh vạn năng, là biểu tượng của vương quyền Ngược lại, Rồng ác như Ammut, với đầu cá sấu, luôn tìm cách bắt linh hồn những kẻ phạm tội; Rồng Apep, biểu trưng cho sự tha hóa, từ thiện trở thành ác; và Rồng Denwen, đe dọa các thần và bị nguyền rủa bởi con người.

Khu vực miền tây và nam của Đông Nam Á thuộc vùng văn hóa Rắn, nơi Rồng thân rắn, cánh rộng, có khả năng bay, giúp xua đuổi tà ma và bảo vệ giấc ngủ của trẻ em Rồng này có thể là sự kết hợp giữa chim thần Garuda và rắn thần Naga trong thần thoại Ấn Độ Tại Nam Thái Bình Dương, như Australia và New Zealand, có nhiều loài Rồng, chủ yếu thuộc họ thằn lằn, với cả Rồng thiện và Rồng ác Ở Đông Bắc Á, người Hàn Quốc và Nhật Bản tin rằng tổ tiên họ là những người sáng tạo ra Rồng Rồng Korea có hình dáng tương tự Rồng Trung Hoa, với bốn ngón chân, và theo truyền thuyết, khi di chuyển từ bán đảo Korea sang Nhật Bản, Rồng mất một ngón, còn sang phía tây thì mọc thêm một ngón, trở thành Rồng Trung Hoa Rồng ở Korea được gọi là yong và được chia thành ba loại chính.

Rồng là sinh vật quyền lực nhất, có khả năng quản lý bầu trời Trong số đó, Yo là loại rồng không sừng, sinh sống chủ yếu ở đại dương, trong khi Gyo cư trú ở vùng núi và bảo vệ sự bình yên của mặt đất.

Rồng Nhật Bản có hình dáng tương tự như Rồng Trung Hoa, nhưng thân dài và giống rắn hơn, với chân thường có ba ngón Người Nhật tin rằng Rồng xuất phát từ Nhật Bản với ba ngón, và khi được truyền sang phương Tây, số ngón tăng lên: bốn ngón ở Hàn Quốc và năm ngón ở Trung Quốc Rồng phổ biến nhất ở Nhật Bản là Rồng Ryo, xuất hiện sớm trong Thần đạo, là Long vương sống dưới biển sâu Rồng thứ hai là Sei Ryu (thanh long), thần bảo vệ phương Đông, trong khi Rồng thứ ba, Ryu, cai quản mây mưa và thuộc nhóm tứ linh, xuất hiện cùng với Phật giáo tại Nhật Bản.

Phượng Hoàng là một con chim lửa huyền thoại thiêng liêng xuất hiện trong nhiều câu chuyện thần thoại của các nền văn hóa như Ai Cập, Ả Rập, Ba Tư, Hy Lạp, La Mã, Trung Quốc, Ấn Độ giáo, và các nền văn minh khác Hình ảnh và ý nghĩa của phượng hoàng đã được nghiên cứu và phân tích bởi nhiều học giả trên toàn thế giới.

Trong thần thoại Ai Cập cổ đại, Phượng Hoàng được miêu tả là một chim lửa linh thiêng với bộ lông rực rỡ màu đỏ và vàng Nó là biểu tượng cho sự bất tử, bất khả chiến bại, lửa và sự thần thánh.

Trong thần thoại Trung Quốc, chim phượng hoàng tượng trưng cho âm và dương, thể hiện mối quan hệ chính thức giữa nam và nữ, đồng thời biểu thị cho hạnh phúc, may mắn và sức mạnh bền vững.

Tại Nhật Bản, Phượng Hoàng được xem là biểu tượng của Hoàng gia, đặc biệt là Nữ hoàng, tương tự như ở Trung Quốc Loài chim thần thoại này đại diện cho lửa, mặt trời, công lý, sự phục tùng, trung thành, và các chòm sao phía Nam.

Trong thần thoại Cơ Đốc giáo, phượng hoàng tượng trưng cho Chúa Jesus, biểu thị cho sự phục sinh, bất tử và cuộc sống sau khi chết của Ngài Ngoài ra, các nền văn hóa Aztec, Maya và Toltec ở khu vực trung bộ châu Mỹ cũng có những hình ảnh tương tự liên quan đến phượng hoàng.

Mỹ đều có khái niệm về chim Phượng Hoàng, nó đại diện cho mặt trời, phước lành, sự phục sinh và hạnh phúc [crystalinks.com]

Các nghiên cứu hiện nay chủ yếu tập trung vào nguồn gốc và ý nghĩa của các hoa văn, trong khi việc tìm hiểu về đặc điểm và sự khác biệt của chúng trong kiến trúc và nội thất lại ít được đề cập.

ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Hoa văn trang trí thời Lý ứng dụng trong thiết kế nội thất

- Đối tượng khảo sát: Hoa văn trang trí thời Lý

- Lĩnh vực nghiên cứu: Hoa văn trang trí và đặc trưng tạo hình trang trí hoa văn thời Lý trong các sản phẩm nội thất, kiến trúc.

Mục tiêu Nghiên cứu

Nghiên cứu đặc trưng văn hóa và ảnh hưởng của nó đến hoa văn trang trí trong đồ nội thất và kiến trúc thời Lý (1009-1225) nhằm xây dựng bộ sưu tập hoa văn thời Lý, từ đó hỗ trợ công tác bảo tồn và trùng tu các công trình kiến trúc và nội thất cổ.

- Tìm hiểu được đặc trưng văn hóa thời Lý giai đoạn 1009-1225;

- Đưa rađược các đặc trưng trang trí và tạo hình của đồ nội thất và kiến trúc thời Lý giai đoạn 1009-1225;

Văn hóa và phong tục tập quán có ảnh hưởng sâu sắc đến đặc trưng trang trí và tạo hình của đồ nội thất và kiến trúc thời Lý (1009-1225) Sự kết hợp giữa các yếu tố văn hóa truyền thống và phong cách nghệ thuật đã tạo nên những sản phẩm nội thất độc đáo, phản ánh bản sắc dân tộc Kiến trúc thời kỳ này cũng thể hiện sự giao thoa giữa các yếu tố văn hóa, tạo nên những công trình mang đậm dấu ấn lịch sử và nghệ thuật.

Nội dung nghiên cứu

- Tìm hiểu văn hóa thời Lý giai đoạn 1009-1225;

- Đặc trưng trang trí và tạo hình của đồ nội thất thời Lý giai đoạn 1009-1225;

- Đặc trưng trang trí và tạo hình của kiến trúc thời Lý giai đoạn 1009-1225;

Các yếu tố ảnh hưởng đến đặc trưng trang trí và tạo hình của đồ nội thất và kiến trúc thời Lý (1009-1225) bao gồm văn hóa, tôn giáo, và sự giao thoa với các nền văn minh khác Thời kỳ này chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của nghệ thuật, với các họa tiết tinh xảo và hình khối độc đáo, phản ánh sự sáng tạo và tay nghề cao của các nghệ nhân Kiến trúc thời Lý cũng thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa chức năng và thẩm mỹ, tạo nên những công trình mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc.

Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được những nội dung và mục tiêu nghiên cứu đề ra, đề tài sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

TT Nội dụng nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu

1 Tìm hiểu văn hóa thời Lý giai đoạn 1009-1225

- Phương pháp kế thừa: Tìm hiểu tài liệu có sẵn qua sách, báo, website vềvăn hóa thời Lý giai đoạn 1009-1225;

Phương pháp điều tra khảo sát bao gồm việc chụp ảnh các hoa văn trang trí thời Lý từ giai đoạn 1009-1225 tại đền vua Đinh - Lê ở Ninh Bình, cũng như tại Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Lịch sử ở Hà Nội.

- Phương pháp đồ họa vi tính: Sử dụng các phần mềm đồ họa vi tính (Corel Draw, Photoshop, Cad, ) để vẽ lại các hoa văn trang trí thời Lý

2 Đặc trưng trang trí và tạo hình của đồ nội thất thời

- Phương pháp điều tra khảo sát: Điều tra khảo sátcác hoa văn trang trí và tạo hình của đồ nội thất thời Lý giai đoạn 1009-

1225 đền vua Đinh – Lê (Ninh Bình), tại Bảo tàng dân tộc học và bảo tàng lịch sử (Hà Nội),

Phương pháp đồ họa vi tính sử dụng các phần mềm như Corel Draw, Photoshop và Cad để tái hiện các hoa văn trang trí đồ nội thất thời Lý từ năm 1009 đến 1225.

Chụp ảnh các hoa văn trang trí và hình dáng của đồ nội thất thời Lý (1009-1225) tại đền vua Đinh – Lê ở Ninh Bình, cũng như tại Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Lịch sử ở Hà Nội, là một hoạt động quan trọng nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lịch sử của thời kỳ này.

Phương pháp kế thừa là việc nghiên cứu tài liệu có sẵn từ sách, báo và website để tìm hiểu về các đặc trưng tạo hình và trang trí của đồ nội thất thời Lý trong giai đoạn 1009-1225.

- Phương pháp phân tích: Phân tích các đặc trưng tạo hình, đặc trưng trang trí của đồ nội thất thời Lý giai đoạn 1009 -1225

3 Đặc trưng trang trí và tạo hình của kiến trúc thời

- Phương pháp điều tra khảo sát: Điều tra khảo sát các hoa văn trang trí và tạo hình thời của kiến trúc thời Lý giai đoạn 1009-

1225 đền vua Đinh – Lê (Ninh Bình), tại Bảo tàng dân tộc học và bảo tàng lịch sử (Hà Nội),

Phương pháp đồ họa vi tính sử dụng các phần mềm như Corel Draw, Photoshop và Cad để tái hiện các hoa văn trang trí kiến trúc thời Lý từ giai đoạn 1009.

Chụp ảnh hoa văn trang trí của đồ nội thất thời Lý (1009-1225) tại đền vua Đinh – Lê ở Ninh Bình, cũng như tại Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Lịch sử ở Hà Nội, giúp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lịch sử của thời kỳ này.

Phương pháp kế thừa là việc nghiên cứu tài liệu có sẵn từ sách, báo và website để tìm hiểu về các đặc trưng tạo hình và trang trí của kiến trúc thời Lý trong giai đoạn 1009-1225.

- Phương pháp phân tích: Phân tích các đặc trưng tạo hình, đặc trưng trang trí của kiến trúc thời Lý giai đoạn 1009-1225

Các yếu tố ảnh hưởng đến đặc trưng trang trí và tạo hình của đồ nội thất và kiến trúc thời Lý giai đoạn 1009-1225

Phương pháp phân tích tập trung vào việc xem xét các yếu tố văn hóa và phong tục tập quán ảnh hưởng đến đặc trưng tạo hình và trang trí của đồ nội thất và kiến trúc thời Lý từ năm 1009 đến 1225 Những yếu tố này không chỉ định hình phong cách nghệ thuật mà còn phản ánh bản sắc văn hóa của thời kỳ lịch sử này Việc nghiên cứu sâu sắc các yếu tố này giúp hiểu rõ hơn về sự phát triển và biến đổi trong thiết kế nội thất và kiến trúc của thời kỳ Lý.

ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA THỜI LÝ GIAI ĐOẠN 1009-1225

Tôn giáo, tín ngưỡng

Thời nhà Lý đã chủ trương một chính sách khoan dung hòa hợp và chung sống hòa bình giữa các tín ngưỡng tôn giáo như tín ngưỡng dân gian,

Phật, Đạo, Nho là hiện tượng Tam giáo đồng nguyên và Tam giáo tịnh tồn Thời Lý, cả chính đạo lẫn dị đoan đều được tôn trọng mà không có sự phân biệt.

Các tín ngưỡng dân gian cổ truyền, bao gồm tín ngưỡng thần linh và vật linh, đã được khuyến khích phát triển tự do, đặc biệt là sự kết hợp với Đạo giáo Trong thời Lý, các đạo sĩ Đạo giáo đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh Đồng thời, Đạo học, Phật học và Nho học cũng được đưa vào nội dung các kỳ thi.

Đạo Phật là tôn giáo phát triển mạnh mẽ nhất trong xã hội thời Lý, được xem như Quốc giáo Các vua Lý đều tôn sùng Phật, cho xây dựng chùa tháp, đúc chuông, dịch kinh và soạn sách Phật Nhiều chùa nổi tiếng đã được xây dựng trong thời kỳ này, như chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Dạm (Bắc Ninh), chùa Long Đọi (Hà Nam) và chùa Diên Hựu.

Trong thời kỳ Lý, các nhà sư tham gia vào triều chính nhưng với ảnh hưởng giảm hơn so với thời Đinh – Lê Họ chủ yếu đảm nhận vai trò giáo hóa và giảng kinh Tuy nhiên, trong lĩnh vực tín ngưỡng và kỹ thuật, các vị cao tăng vẫn được tôn trọng và xem như bậc thầy bởi vua, hoàng tộc và quan văn võ.

Từ thời Lý Thần Tông, các vua thường qua đời sớm, dẫn đến việc các vị vua kế nhiệm còn nhỏ tuổi và thái hậu phải nắm quyền Sự sùng đạo Phật trong giai đoạn này bị coi là mối dị đoan, kết hợp với Đạo giáo và tín ngưỡng cổ truyền Mặc dù những mối dị đoan này không ảnh hưởng trực tiếp đến chính trị, nhưng chúng phản ánh sự rối loạn trong lòng dân, khiến nhà chức trách lãng phí thời gian vào những điều hão huyền và việc thưởng phạt trong triều đình dựa trên những căn cứ không chính đáng.

Nho giáo thời Lý đã có sự phát triển nhưng chưa đạt được mức độ mạnh mẽ như các triều đại sau Đạo giáo cũng để lại ảnh hưởng nhất định, đặc biệt trong chế độ thi cử, khi yêu cầu các thí sinh phải có kiến thức về cả ba tôn giáo.

Tam giáo gồm Phật, Đạo và Nho đã tạo nên nền tảng cho việc thi cử thời Lý, phản ánh sự đồng nguyên của chúng Nho giáo đóng vai trò quản lý xã hội, Phật giáo được xem là quốc giáo, trong khi Đạo giáo có ảnh hưởng nhất định đến các tầng lớp dân cư.

Văn hóa

Sự phát triển của nền văn hóa dân tộc đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nghệ thuật kiến trúc và tạo hình, đặc biệt là trong thời kỳ Lý với nhiều công trình kiến trúc đặc sắc.

Thời kỳ này nổi bật với các công trình kiến trúc như kinh thành, cung điện, dinh thự của quan lại, lăng mộ vua chúa, cùng với những ngôi chùa và đền miếu đặc sắc.

Sau khi lên ngôi, Lý Thái Tổ đã cho xây dựng kinh thành và các cung điện, bao gồm điện Càn Nguyên ở phía trước để coi chầu, điện Tập Hiền bên trái, và điện Giảng Võ bên phải Ông cũng mở cửa Phi Long thông với cung Nghênh Xuân và cửa Đan Phượng thông với cửa Uy Viễn Hướng chính nam, điện Cao Minh được xây dựng với ba thềm rồng, mỗi thềm rồng có hành lang dẫn ra bốn phía.

Nhà Lý đã xây dựng 36 cung và 49 điện tại khu trung tâm Cấm thành Thăng Long, tạo nên công trình Hoàng thành Thăng Long với những đặc điểm nổi bật như vẻ đẹp, sự công phu, phong phú và quy mô rộng lớn Công trình này được trang trí tinh xảo, có quy hoạch thống nhất và cân xứng, đánh dấu bước chuyển biến vượt bậc trong nghệ thuật kiến trúc và quy hoạch kinh thành Thăng Long.

Thời kỳ Lý chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của Phật giáo, dẫn đến sự xuất hiện của nhiều chùa chiền, được phân chia thành ba hạng: Đại, Trung và Tiểu danh lam Trong số đó, chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Dạm (Bắc Ninh) và chùa Long Đọi (Hà Nam) là những ngôi chùa nổi tiếng nhất.

Diên Hựu (chùa Một Cột)

Các chùa thường có tháp lớn như tháp Báo Thiên, tháp Phổ Minh, tháp Chiêu Ân, tháp Phật Tích, tháp Sùng Thiện Diên Linh, tháp Vạn Phong

Thành Thiện Ngoài chùa, nhà Lý còn xây dựng nhiều công trình khác như đền Đồng Cổ, lầu gác trên núi Cung vua, Văn Miếu - Quốc Tử Giám [18]

3.2.2 Văn hóa phi vật thể Đến cuối thế kỷ XV, văn hóa Việt Nam đã trải qua hai cuộc đại hội tụ

Cả hai cuộc đại hội tụ đã ghi dấu ấn sâu sắc và đặc sắc trong lịch sử văn hóa Việt Nam, tạo nên niềm tự hào lớn lao cho dân tộc.

Cuộc đại hội tụ lần thứ nhất đã khai sinh ra văn minh sông Hồng, hay còn gọi là văn minh Văn Lang, với bản chất là liên kết và mở rộng để xây dựng một bản sắc văn hóa riêng Cuộc đại hội tụ lần thứ hai gắn liền với kỷ nguyên độc lập và tự chủ của đất nước, phục sinh những giá trị lớn của văn minh Sông Hồng và sáng tạo ra những giá trị mới, thể hiện tư thế, tầm vóc, năng lực và bản lĩnh mới của cộng đồng cư dân người Việt.

Giáo dục, khoa cử

Nhà Lý là triều đại phong kiến đầu tiên ở Việt Nam thiết lập hệ thống giáo dục khoa cử có tổ chức Trong giai đoạn đầu, số lượng trường học còn hạn chế Sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Phật giáo và một phần của Đạo giáo đã khiến Nho giáo chưa chiếm ưu thế như sau này.

Trường Bái Ân của Lý Công Ân là trường học tư đầu tiên được xác nhận, do một tông thất nhà Lý không tham gia quan trường mà ở nhà dạy học Tại đây, học sinh được tiếp cận nhiều kiến thức về Phật giáo và Đạo giáo, trong khi chữ Hán vẫn là chữ viết chính thức trong giáo dục, tiếp nối truyền thống từ các đời trước.

Năm 1070, Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu ở kinh thành Thăng

Vào năm 1076, vua Lý Nhân Tông đã thành lập Quốc Tử Giám, được coi là trường học công đầu tiên do triều đình tổ chức, thể hiện sự quan tâm đến giáo dục của hoàng tộc Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cho rằng các trường học tư đã xuất hiện trước đó, cho thấy sự phát triển của nền giáo dục trong xã hội.

Vào tháng 2 năm 1075, dưới triều đại vua Lý Nhân Tông, nhà Lý đã tổ chức khoa thi đầu tiên chính thức nhằm tuyển chọn những người theo Nho giáo làm quan, đánh dấu sự chuyển biến từ việc ưu tiên kiến thức Phật giáo sang việc công nhận giá trị của Nho giáo trong bộ máy nhà nước.

Các kỳ thi yêu cầu thí sinh phải nắm vững kiến thức về ba đạo: Nho, Phật và Lão để có thể đạt được thành tích Thi Tam giáo (Phật, Nho, Đạo) được tổ chức chính thức vào năm 1195 dưới triều đại vua Lý Cao Tông.

Văn hóa thời Lý đánh dấu giai đoạn thịnh vượng của văn hóa Đại Việt, khôi phục các yếu tố văn hóa cổ truyền và tích hợp những ảnh hưởng văn hóa ngoại sinh Sự kết hợp này tạo ra một phong cách văn hóa độc đáo, thể hiện sự hòa quyện giữa văn hóa dân gian và văn hóa cung đình, cũng như giữa các yếu tố bình dân và bác học, cùng với sự giao thoa giữa Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo.

NGHIÊN CỨU ĐẶC TRƯNG CỦA ĐỒ NỘI THẤT THỜI LÝ

Đặc trưng trang trí của đồ nội thất thời Lý

Đồ nội thất thời Lý chủ yếu được trang trí bằng ba phương pháp chính: điêu khắc, chạm khảm và sơn, với việc sử dụng chủ yếu các kỹ thuật thủ công Văn hóa thời Lý có ảnh hưởng sâu sắc đến đặc trưng trang trí của đồ nội thất trong giai đoạn này.

4.1.1 Điêu khắc gỗ Điêu khắc gỗ thời Lý vô cùng nổi tiếng với các sản phẩm tiêu biểu như Ngai, khám, hương án, bát biểu, hòm sắc… Được điêu khắc công phu

Phương pháp điêu khắc chủ yếu gồm 2 loại chính là điêu khắc đường và điêu khắc âm dương

Nghệ thuật điêu khắc gỗ, một nghề truyền thống đặc sắc của thời Lý, nổi bật với việc sử dụng công cụ đơn giản và công nghệ sản xuất thủ công Những sản phẩm được tạo ra từ nghệ thuật này mang tính nghệ thuật tinh xảo và độc đáo.

Hoa văn trên sản phẩm điêu khắc chủ yếu như Tùng, Cúc, Trúc, Mai,

Cuốn thư, Nghiên mực, cung tên, Hổ phù

Quá trình điêu khắc gỗ thời Lý bao gồm các bước chính như vẽ đồ án hoa văn, đục và khắc rỗng Điêu khắc dạng đường chủ yếu được áp dụng cho phần khung gỗ và các bộ phận chịu lực như chân Đồ án hoa văn không chỉ mang tính trang trí mà còn có tính kết cấu Có hai loại điêu khắc đường chính: điêu khắc đường âm (chìm) và điêu khắc đường dương (nổi) Hoa văn từ điêu khắc đường âm, như cánh Hoa Sen và Rồng cỏ, thể hiện vẻ đẹp tự nhiên và tỷ lệ hoàn hảo giữa đường nét lõm và bề mặt sản phẩm Điêu khắc đường chủ yếu được sử dụng cho chi tiết cấu trúc khung và chân gỗ, nhằm tăng cường hiệu quả thị giác và mang lại cảm giác xúc giác phong phú.

Hình 4.1: Quá trình điêu khắc gỗ (a) Vẽ đồ án; (b) Đục; (c) Khắc rỗng

Hình 4.2: Chạm khắc đường dạng cánh Hoa Sen và Rồng

Hình 4.3: Chạm khắc đường dạng Hồi Văn

Điêu khắc âm dương chủ yếu được áp dụng ở các phần trên bề mặt sản phẩm, tạo ra những đồ án tinh xảo và có tính trang sức cao Phương pháp này bao gồm việc loại bỏ mặt âm và mặt dương theo đường khung của hoa văn, từ đó hình thành các họa tiết độc đáo Sau khi hoàn thiện, bề mặt lồi được phun sơn màu vàng và dát vàng để tăng cường vẻ đẹp, làm cho hoa văn trở nên phong phú hơn Điêu khắc âm dương thường thể hiện rõ nét ở các họa tiết động vật và thực vật, và vị trí khắc chủ yếu nằm ở những phần không chịu lực, góp phần tạo nên sự tinh tế và mạnh mẽ cho sản phẩm.

Hình 4.4: Chạm khắc âm dương hoa văn Phượng

Hình 4.5: Chạm khắc âm dương hoa văn Rồng cỏ

Thời Lý, nghệ thuật sơn được gọi là Sơn ta Vào những năm 30 của thế kỷ XX, một số sinh viên Việt Nam đầu tiên tại trường Mỹ thuật Đông Dương như Nguyễn Gia Trí, Phạm Hậu, Nguyễn Khang, Trần Văn Cẩn và nghệ nhân Đinh Văn Thành đã dũng cảm thử nghiệm kỹ thuật sơn ta trong việc tạo ra tranh Sơn mài.

Năm 1010, Lý Công Uẩn đã quyết định chuyển đô về Thăng Long, đầu tư 20.000 quan tiền để xây dựng 8 ngôi chùa, tạc hơn 1.000 pho tượng Phật và vẽ hơn 1.000 bức tranh Phật Sự phát triển của kinh đô và các công trình chùa tháp lộng lẫy đã thúc đẩy nghề sơn, đồng thời tăng cường đội ngũ thợ sơn vẽ.

Sơn Ta được sử dụng để trang trí kiệu, long đình trong các đền thờ, chùa tháp, cũng như khay tráp, mâm bồng và giường tủ trong các lễ hội Sơn sống được pha với dầu trẩu tạo thành sơn quang dầu, giúp tăng độ bóng, chống bụi và chống mưa cho các vật dụng.

Pha chế sơn ta là một công đoạn quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm Do đó, người thợ sơn cần có kinh nghiệm từ việc nấu sơn, cô sơn đặc cho đến thử nghiệm sơn chín để đảm bảo thành công.

Công dụng Sơn Ta là phủ lên đồ vật như cái khay, cái tráp, đôi guốc, đồ thờ nhằm tôn vẻ lộng lẫy.

Đặc trưng tạo hình của đồ nội thất thời Lý

Các yếu tố tạo hình trong điêu khắc gồm có: đường nét, mảng, hình khối

Và được ứng dụng trong hầu hết các sản phẩm nội thất

4.2.1 Đường nét Đường nét trong điêu khắc không giống với cách vẽ đường nét trong tranh Ở đây sự kết hợp giữa các khối hình cũng đồng nghĩa với việc tạo nên đường nét cho tác phẩm Trong điêu khắc thời Lý, từ tượng tròn đến phù điêu, đều sử dụng đường cong, nét uốn lượn mềm mại, uyển chuyển nhịp nhàng, hầu như không xuất hiện đường thẳng, nét thẳng

Điêu khắc thể hiện qua các dạng khối như khối lồi, khối lõm, khối đóng, khối mở, khối mềm và khối cứng Mỗi phương pháp tạo khối mang đến những cảm giác khác nhau.

Có nhiều cách biểu hiện khác nhau về khối và hình trong từng giai đoạn khác nhau của thời Lý, đặc biệt chú ý đến cách tạo hình giống thực

Hình khối trong điêu khắc thường được thể hiện qua các khối tròn, chắc chắn và kín đáo, tạo nên những tác phẩm mang tính hiện thực.

NGHIÊN CỨU ĐẶC TRƯNG CỦA KIẾN TRÚC THỜI LÝ

Đặc trưng trang trí của kiến trúc thời Lý

Nghề chạm gỗ trong kiến trúc đã có từ thời Lý, với những tác phẩm nổi bật như bức chạm ở thượng điện chùa Thái Lạc và cánh cửa chùa Phổ Minh (Hà Nam), thể hiện tài năng điêu khắc xuất sắc của nghệ nhân thời kỳ này.

Bộ cửa chùa Phổ Minh được chế tác từ gỗ lim dày và chắc chắn, với các họa tiết chạm khắc tinh xảo như rồng, sóng nước, hoa lá và các hình hoa văn hình học Đặc biệt, hai cánh giữa của cửa chạm khắc hình đôi rồng lớn đang chầu Mặt Trời trong khuôn hình lá đề Hình ảnh rồng không chỉ xuất hiện trên cửa mà còn được sử dụng trong điêu khắc đầu dư của kiến trúc, tạo nên sự hài hòa và trang trọng cho không gian chùa.

Hình 5.1: Rồng chạm khắc gỗ trên cửa chùa Phổ Minh

Nguồn: Tác giả chụp, Hoa văn Đại Việt

Hình 5.2: Rồng chạm đầu dư, chùa Long đọi

Hình 5.3: Rồng trang trí trên cửa, chùa Dạm (chùa Bà Tấm)

Nghệ thuật điêu khắc gỗ trong các kiến trúc đình chùa vô cùng tinh tế và tỉ mỉ

5.1.2 Điêu khắc đá Điêu khắc thời Lý tinh vi và cân đối, mang cái trung dũng tĩnh tại và cái

Điêu khắc Phật giáo thời Lý thể hiện sự ảnh hưởng của văn hóa Chăm và đặc trưng độc đáo qua các tác phẩm trên gốm và đá Nổi bật trong thời kỳ này là những bức chạm nổi trên đá, không chỉ có chức năng trang trí cho các bệ tượng và bia đá mà còn gắn liền với kiến trúc, trang trí các bộ phận như mặt ngoài của Tháp, lan can, thành bậc, cửa, và chân tảng kê cột.

Hoa văn điêu khắc bao gồm các hình ảnh như sóng, hoa lá, rồng mây, chim và hình người Những đề tài này rất phổ biến và thường xuyên xuất hiện trên nhiều di vật thuộc các di tích khác nhau, cả về thời gian lẫn không gian.

Hình 5.4: Hoa văn Thủy Ba hình nấm ở chân tháp Phổ Minh

Hình 5.5: Hoa văn Thủy Ba hình nấm trên bệ tượng Phật Adiđà chùa Phật Tích

Nguồn: Tác giả chụp 5.1.3 Gạch đất nung

Gạch khắc hình rồng được sử dụng nhiều trong kiến trúc thời Lý a) Gạch hình vuông, hình chữ nhật

Gạch có hình dạng gần vuông và chữ nhật, với một mặt in nổi hai dòng chữ Hán trong ô chữ nhật lõm Dòng chữ ghi “Lý gia đệ tam Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo” cho biết gạch được chế tạo vào năm Long Thụy Thái Bình thứ 4, đời thứ 3 nhà Lý Màu sắc gạch đỏ tươi, chắc chắn, và chữ trên bề mặt vẫn còn sắc nét.

Hình 5.6: Gạch nung hình gần vuông (hoàng thành Thăng Long)

Nguồn: Tác giả chụp b) Gạch hình lục giác

Gạch hình lục giác với 2 góc vát, có mặt in nổi 2 con rồng cuốn trong ô hình lá đề, màu đỏ tươi, được phát hiện tại Quần Ngựa, thành Thăng Long.

Hình 5.7: Gạch hình lục giác (Bảo tàng lịch sử)

Nguồn: Tác giả chụp b) Gạch hình tam giác

Gạch hình tam giác thời Lý có 2 loại là hình tam giác lệch và hình tam giác cân

Gạch hình tam giác lệch có màu đỏ tươi, dễ mủn và thường có số lượng ít Bề mặt gạch được trang trí với hình rồng cuộn trong khung tròn, xung quanh là các hoa văn xoắn móc và cúc dây Khi ghép hai viên gạch lại, chúng tạo thành một viên gạch hình vuông.

Hình 5.8: Gạch hình tam giác lệch (Bảo tàng lịch sử)

Gạch hình tam giác cân, thường được sử dụng để lát nền, có kích thước nhỏ và màu đỏ sẫm Bề mặt gạch được trang trí với họa tiết 1/4 bông hoa cúc, cùng với các móc xoắn uốn lượn mềm mại ở góc Ngoài ra, một số viên gạch khác chỉ có các họa tiết móc xoắn dài uốn lượn trên bề mặt.

Đặc trưng tạo hình của kiến trúc thời Lý

Phong cách biểu hiện của hoa văn trang trí kiến trúc có sự thay đổi nhưng vẫn giữ được sự thống nhất, chủ yếu sử dụng đường nét cong thanh thoát và hình khối tròn chắc chắn Các tác phẩm chạm khắc được thực hiện tỉ mỉ, tinh tế và điêu luyện, với nhiều đường lượn trang trí trên các mặt phẳng, tạo nên sự cân đối nhịp nhàng và nguyên tắc chặt chẽ Sự ổn định của đời sống xã hội đã góp phần vào sự ổn định của nghệ thuật, khiến mọi hình tượng mỹ thuật trở thành chuẩn mực có ý nghĩa Dù cùng một đề tài, nhưng các di tích khác nhau về thời gian và không gian vẫn mang nét chung thanh tú, tinh tế, tươi mát và mềm mại Đặc biệt, đường cong được sử dụng phổ biến trong kiến trúc, nhất là trong tạo hình mái nhà.

Hình 5.9: Phượng trang trí mái nhà

Nguồn: Hoa Văn Đại Việt

Hình tròn cũng được dùng khá phổ biến kết hợp với các loại hoa văn dạng hoa bên trong (hình 5.10)

Hình 5.10: Hình tròn trang trí đầu ngói ống

Nguồn: Hoa Văn Đại Việt

Tạo hình khối sử dụng đa dạng các hình khối hình học, bao gồm hình tròn như mặt trang trí Tháp Chương Sơn, hình vuông chéo thành hình thoi ở sườn bia Tháp Chùa Đọi, cùng với hình tam giác và hình lục giác từ gạch nung tại hoàng thành Thăng Long.

Tạo hình dạng mảng sử dụng nhiều như mảng hình chữ nhật (bệ tượng Phật Tháp Chương Sơn, bệ tượng Phật Chùa Phật Tích hình 5.12)

Hình 5.11: Bệ đá hình tròn Tháp Chương Sơn

Sử dụng hình khối hữu cơ như cánh hoa sen và lá đề trong thiết kế, như thể hiện ở chân cột Chùa Phật Tích và trang trí Tháp các Chùa Phật Tích và Chương Sơn.

Hình 5.12: Bệ đá hình chữ nhật chùa Phật Tích

Hình 5.13: Hình cánh sen ở chân cột chùa Phật Tích

Hình 5.14: Hình lá đề trang trí rồng, chùa Phật Tích

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOA VĂN TRANG TRÍ

Đặc trưng xã hội ảnh hưởng đến hoa văn trang trí

Do đặc trưng về xã hội nên các di tích mỹ thuật thời Lý hầu như là nhà nước tổ chức xây dựng bằng công quỹ quốc gia

Thời Lý là một thời kỳ nông nghiệp lúa nước, nơi nguồn nước đóng vai trò quan trọng cho sự sống Do đó, hoa văn trong kiến trúc thời Lý chủ yếu thể hiện các đường cong sóng nước và hình sin, với hoa văn đặc trưng nhất là sóng nước, hay còn gọi là Thủy ba.

6.1.1 Sóng nước (hay còn gọi hoa văn Thủy ba)

Hoa văn sóng, hay còn gọi là hoa văn Thủy ba, mang ý nghĩa sâu sắc trong văn hóa Trong tiếng Hán Việt, "thủy" có nghĩa là nước và "ba" là sóng, tạo thành khái niệm "sóng nước" Hơn nữa, thủy ba không chỉ đơn thuần là sóng nước mà còn biểu trưng cho khởi nguồn của sự sống và mọi nguồn năng lượng, phản ánh sự luân chuyển không ngừng của sự sống.

Hình tượng nước và sóng đã ăn sâu vào tiềm thức và quan niệm của người dân Việt Nam, được xem như biểu tượng quan trọng và được gìn giữ qua nhiều hình thức khác nhau.

Triết học phương Đông nhấn mạnh sự thống nhất giữa con người và vũ trụ, cho thấy rằng thiên nhiên và con người không tách biệt Tư tưởng “thiên nhân hợp nhất” khẳng định con người là một tiểu vũ trụ, và đây là nền tảng của triết học phương Đông, quyết định những đặc điểm riêng biệt của nó Hình tượng thủy ba trong nghệ thuật tạo hình phương Đông cũng phản ánh ảnh hưởng của nền văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước.

Nước là nguồn sống thiết yếu cho tất cả sinh vật, bao gồm cả con người Nó được coi là một thực thể linh thiêng, với nhiều dấu tích thờ cúng như đền Tam Giang, đền Lảnh Giang và đền Diềm Các lễ hội như lễ rước nước và lễ mộc dục thể hiện nét văn hóa tâm linh đặc sắc của cộng đồng cư dân lúa nước.

Trong quá trình hình thành và phát triển của hoa văn thủy ba, thủy ba hình nấm, hình núi và hình sin đã đạt được sự phát triển rực rỡ nhất dưới triều đại Lý.

Hoa văn thủy ba thường được chạm khắc ở phần dưới cùng của bệ tượng, trụ rồng, và đế bia, tạo thành những dải ngang kéo dài viền dưới các đồ án tại nhiều địa điểm như chân tảng cột Chùa Phật Tích (Hà Bắc) và lan can bậc cửa của Chùa Bà Tấm (Hà Nội) Ngoài ra, hoa văn này còn xuất hiện ở diềm chân các mảng trang trí mặt ngoài Tháp Chương Sơn và Tháp Chùa Đọi (Hà Nam Ninh), thường được xếp chồng chất thành nhiều đợt dàn ngang Chúng phủ kín nửa dưới bệ tượng Phật tại Chùa Phật Tích và trụ rồng Thăng Long (Hà Nội), cũng như mặt ngoài lan can Tháp Chương Sơn Đặc biệt, hoa văn có thể được chạm rất sâu, tạo thành những hình lớn xếp vây quanh các khu đất vuông và tròn ở Chùa Giạm (Hà Bắc).

Thủy ba hình nấm thời Lý được thiết kế theo một khuôn mẫu nhất định, với phần sóng lừng gồm ba đường chạy ngang song song, uốn lượn hình sin kéo dài Các sóng lệch pha ngắt quãng được xen kẽ, tạo nên sự độc đáo Phần nấm nhô cao, uốn lượn hài hòa, khi các dải được xếp hàng song song nhau, như ở bệ tượng chùa Phật Tích, tạo nên vẻ đẹp lộng lẫy và choáng ngợp.

Hoa văn thủy ba không chỉ mang ý nghĩa văn hóa và triết học sâu sắc, mà còn ảnh hưởng đến tiềm thức con người Điều này thể hiện rõ trong các sáng tác mỹ thuật đương đại, nơi những tác phẩm vừa giữ được tính truyền thống vừa toát lên vẻ đẹp hiện đại.

Hình 6.1: Thủy ba trên bệ tượng chùa Phật Tích

Hoa Sen, hoa Cúc và hoa Mai thường được chạm khắc xen kẽ, tạo nên sự tươi mát và cân bằng giữa hai yếu tố khác biệt, thể hiện sự hòa hợp trong cuộc sống Những loại hoa này không chỉ mang ý nghĩa cầu phúc cho con người mà còn được sử dụng để trang trí trên đồ mộc và gạch đất nung, làm nổi bật vẻ đẹp của không gian.

Hoa văn thực vật trên đồ nội thất và kiến trúc thời Lý như hình 6.2, 6.3

Hình 6.2: Cúc, Sen, Ngọc ở tháp Chương Sơn, Nam Định

Nguồn: Hoa văn Đại Việt

Hình 6.3: Hoa Mai và lá Cúc ở bệ đá chùa Thầy

Nguồn: Hoa văn Đại Việt

Phật Giáo ảnh hưởng đến hoa văn trang trí

Thích Ca Mâu Ni, người sáng lập ra Phật giáo, sinh vào khoảng 565 - 485 TCN, theo Phật giáo Nam truyền thì Ngài sinh khoảng 624 - 544 TCN hoặc 623 - 543 TCN Tên thật của Ngài là Tất Đạt Đa, thuộc dòng họ Kiều Đạt Ma, dòng họ Sát Đế Lợi Truyền thuyết kể rằng, khi Ngài ra đời, có 9 con rồng phun nước để tắm cho Ngài, và Ngài đã bước lên 7 đóa sen, biểu tượng của Phật giáo.

Hoa văn Rồng là hình nghệ thuật phổ biến trong thời Lý, xuất hiện nhiều tại các Chùa Tháp lớn Mặc dù có mặt ở nhiều nơi, mỗi đồ án thường chỉ có một hoặc hai con rồng Các con rồng thời Lý trong các đồ án thể hiện sự đa dạng về kích thước và thuộc về nhiều di tích khác nhau.

Lý xây không cùng thời gian và không gian, tuy nhiên đều rất thống nhất ở kết cấu tạo hình

Trong kiến trúc đình chùa thời Lý, hình tượng con rồng xuất hiện đa dạng ở nhiều vị trí như nóc, kèo cột và cầu thang, với mỗi thời kỳ mang một phong cách riêng biệt.

Chùa Diên Hựu, một ngôi chùa tiêu biểu của Việt Nam, được xây dựng dưới triều vua Lý Thánh Tông, gắn liền với giấc mộng gặp Quan Âm trên tòa sen Ngôi chùa được thiết kế theo hình bông sen nở, tượng trưng cho tòa sen của Quan Âm Trên nóc chùa, hình tượng con rồng mang đặc trưng của triều đại Lý, tương tự như hình ảnh lưỡng long tranh châu ở chùa Phật Tích Trong khi đó, chùa Một Cột hiện nay có hình rồng thời Nguyễn sau nhiều lần tu sửa, với kiểu dáng song long triều nguyệt.

Hình 6.4: Lưỡng long tranh châu chùa Phật Tích

Con rồng thời Lý có mối liên hệ chặt chẽ với Phật giáo, thể hiện qua các đặc điểm nổi bật như đầu rồng, thân rồng và chân rồng.

Rồng đầu nhỏ có miệng mở, thường lộ ra hai hàm răng khi ngậm hoặc vờn một viên ngọc hay tinh tú đang xoay Đầu Rồng ngước cao với đôi mắt to tròn và hơi lồi, lông mày và trán kết xoắn, hàm trên kéo dài và uốn, xung quanh có đao lửa.

Mào, mũi và bờm là những bộ phận được cấu tạo rất sinh động bằng những đường nét rất tự nhiên

Mào chùm lấy toàn bộ môi trên và quyện với răng nanh xoắn hình đám mây bồng bềnh đang bay

Túm râu con rồng mềm mại, kết xoắn uốn lượn như làn sóng hướng về phía trước thu nhỏ lại

Hình 6.5: Đầu rồng trang trí mái nhà thời Lý

Nguồn: Hoa văn Đại Việt

Râu và mào rồng tạo nên hình ảnh giống chiếc lá, với răng nanh kéo dài xoắn cùng môi trên, tạo thành đường sống của chiếc mào có viền lăn xoăn như ngọn lửa Hàm trên kéo dài giống như vòi rồng, trong khi đao lửa thực chất là đao nước và khí Hàm dưới uốn cong hình sin và tai rất nhỏ.

Dải bờm nhiều tua uốn lượn vút ra sau, nằm hai bên dưới tai, tạo nên vẻ đẹp mềm mại Bờm tỏa ra từ sau gáy, hướng về phía lưng, phấp phới như đang đón gió.

Mũi rồng là những đường cong xếp chồng nhau tạo ấn tượng về nguồn nước, được kéo dài thành hình vòi

Trên mắt của con rồng Lý, có những họa tiết cuộn lại giống như số 3 và hình chữ S, xung quanh mép là những lông măng Từ đó, một mảng kéo dài lên tạo thành bờm tóc Đặc biệt, đầu rồng không có sừng như rắn mà có mào giống ngọn lửa, với các văn xoắn tựa số 3 và chữ S, biểu trưng cho sấm chớp, cùng với viên ngọc hoặc tinh tú, tất cả đều mang tính dương.

Thân Rồng có hình dáng liền mảng, với đuôi thon tròn và kéo dài, tạo nên nhịp uốn lượn mềm mại Nếu không chú ý đến vị trí của hai chân sau, sẽ khó phân biệt được đặc điểm này.

Thân rồng Lý nổi bật với hình dáng tròn lẳn, da trơn và kích thước to từ cổ nhỏ dần đến đuôi, không có vảy Thân rồng thường được chia thành 11 đến 13 khúc, mỗi khúc có cung độ đều nhau và uốn lượn theo hình thắt miệng túi, với đáy tròn và miệng thắt nhỏ hơn.

Hình 6.6: Thân rồng ổ ở tháp Chương Sơn thời Lý

Nguồn: Hoa văn Đại Việt

Thân rồng trong tư thế mềm mại tự nhiên như đang bay, có lẽ do nguồn gốc xuất thân đã quy định đến đặc điểm này của con rồng

Hình dáng thân Rồng được thể hiện qua lối nhìn nghiêng, với những đường uốn lượn mềm mại giống như hình giun đất Các khúc uốn lượn phình to và co lại, tạo thành hình túi phình đáy, liên tục thu dần về phía đuôi Mình Rồng tròn và trơn, chỉ có vẩy lớn, khiến cho thân hình trông mượt mà Toàn bộ thân Rồng nở rộng ở phần đầu và thu nhọn về phía đuôi, quy gọn vào hình dạng nửa lá Đề Thân Rồng giống như thân rắn mang tính âm, thường nằm dưới đất giữa những hoa lá.

Rồng có 4 chân, trong đó chân rồng thời Lý được chia thành 2 loại: loại 3 móng vuốt và loại 5 móng vuốt Mỗi chân của loại rồng 4 chân có khuỷu và đều có 3 móng, biểu trưng cho một xứ phiên thuộc.

Dù có 3 hay 5 móng vuốt, chúng đều nhỏ nhắn, có 3 đốt và sở hữu móng vuốt sắc như móng chim Khuỷu chân có cụm lông mềm mại hình chỏm mây bay về phía sau.

Hình 6.7: Rồng 4 chân, 3 móng vuốt thời Lý

Bốn chân nhỏ thanh với móng cong nhọn như móng chim luôn tạo cảm giác như đang bơi trong không gian Hai chân trước mọc so le, trong khi hai chân sau lại mọc cùng một chỗ, thường có một chân sau vắt qua thân trong các hình dạng tròn hoặc hình thoi.

Ấn Độ giáo ảnh hưởng đến hoa văn trang trí thời Lý

6.3.1 Nhạc công thiên thần (Gandharva)

Nhạc công thiên thần (Gandharva), chịu ảnh hưởng từ Ấn Độ giáo của người Chăm, được sử dụng trong trang trí kiến trúc thời Lý, thể hiện hình ảnh đoàn nhạc công tấu nhạc mừng Đức Phật đản sinh Hình ảnh các nhạc công này được chạm khắc ở bốn cạnh bên của một số tảng đá kê chân cột tại chùa Phật Tích.

Dàn nhạc gồm 10 nhạc công được chia thành hai nhóm, đứng đối diện nhau với lá đề lớn biểu tượng cho nhà Phật ở giữa Lá đề được viền quanh bằng các hoa văn dấu hỏi, với ba bông hoa cúc ở trung tâm và một đài sen nâng đỡ phía dưới Các tiên nữ nhạc công được chạm khắc theo lối nhìn nghiêng, được điểm tô bằng những đao lửa cuộn xoắn như dải lụa mềm mại, trong khi phía dưới là các hoa văn sóng nước.

Nửa bên trái của dàn nhạc có người cầm dùi đánh trống da với hai vòng đai chắc chắn Tiếp theo là người kéo nhị với cần kéo dài và uốn cong ở phía trên Sau đó là người khảy đàn tranh, và cuối cùng là người biểu diễn sênh.

Hình 6.24: Nhạc công thiên thần trang trí tại chùa Phật Tích

Nửa bên phải của dàn nhạc có một người đang dập phách, tiếp theo là một nghệ sĩ đang chơi đàn tỳ bà một cách điêu luyện Một người thứ ba thổi sáo dọc (tiêu), trong khi người thứ tư gảy đàn nguyệt bằng tay trái Cuối cùng, một nhạc công đang vỗ trống thắt eo, được các nhạc sĩ gọi là

“phong yêu cổ” Trống này treo ngang ngực và hai tay vỗ hai mặt

6.3.2 Nữ thần đầu người mình chim

Chịu ảnh hưởng Ấn Độ giáo của người Chăm, có thể gặp ở những dạng tượng người chim chùa Phật Tích, chùa Long Đọi

Tượng nữ thần đầu người mình chim có đặc điểm nổi bật với nửa thân trên là người và nửa dưới là chim, thường ở tư thế đậu với hai cánh xòe xuôi Khuôn mặt tròn, tóc búi cao, và đôi mắt nhìn thẳng Chân tượng có móng chắc khỏe, với hai chân mập và có lông vũ Bộ đuôi to khỏe cong lượn, chạm vào búi tóc trên đỉnh đầu Hai tay của tượng đang biểu diễn các nhạc cụ như đàn, trống Phong Yêu, chũm chọe và ống tiêu.

Hình 6.25: Nữ thần đầu người mình chim chùa Phật Tích

Hình tượng nữ thần đầu người mình chim, giống như một tiểu thiên thần, thể hiện sự phát triển rực rỡ của nghệ thuật Phật giáo thời Lý, đạt đến đỉnh cao trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam Nó không chỉ hướng con người về cõi Tây phương cực lạc mà còn phản ánh vai trò quan trọng của Phật giáo trong đời sống xã hội, cùng với sự tiếp thu và giao lưu văn hóa Việt – Champa trong thời kỳ này.

6.3.3 Đầu tượng tiên nữ Đầu tượng tiên nữ (hình 6.26) có khuôn mặt bầu tròn, phúc hậu Đôi mắt dài với khuôn lông mày nhỏ uốn cong, chiếc mũi thanh tú Cặp môi mỏng, như nhoẻn miệng cười Tóc búi cao thành bầu tròn lên đỉnh đầu, được trang trí những bông hoa cúc nở

Hình 6.26: Đầu tượng tiên nữ chùa Phật Tích

Hình ảnh các tiên nữ Apsara rất phổ biến ở Ấn Độ và Đông Nam Á, đóng vai trò ca hát trên cung trời của Đế Thích, một vị thần lớn trong thần thoại Ấn Độ Các tiên nữ này gắn liền với nhiều sự kiện trong cuộc đời của Đức Phật, từ lúc đầu thai, giáng sinh, giảng đạo cho đến khi viên tịch nhập Niết Bàn Nghiên cứu hoa văn trang trí kiến trúc và nội thất thời Lý (1009-1225) cho thấy các hoa văn thường gặp như Rồng, Phượng, hoa Sen, hoa Cúc, hoa Mai, Lá đề, con Trâu, con Ngựa, Sư tử, nhạc công thiên thần, nữ thần đầu người mình chim và tiên nữ, được thể hiện rõ trong bảng 6.1.

Bảng tổng hợp các hoa văn trang trí phổ biến trong kiến trúc và nội thất thời Lý đã được xử lý số liệu và biểu diễn tần suất xuất hiện của các hoa văn này qua biểu đồ như hình 6.25.

Bảng 6.1: Hoa văn trang trí kiến trúc và nội thất thời Lý

Kiến trúc Đồ nội thất bệ tượng Trụ gạch lát tượng kết cấu kiến trúc bia đá đồ dùng hàng ngày đồ mộc

Nữ thần đầu người mình chim x x

Văn hóa, phong tục tập quán và Phật giáo đã có ảnh hưởng sâu sắc đến hoa văn trang trí trong kiến trúc và nội thất.

Biểu đồ hình 6.25 chỉ ra rằng các hoa văn phổ biến nhất trong văn hóa và Phật giáo thời Lý bao gồm rồng, phượng, hoa sen, hoa cúc, hoa mai và hoa mẫu đơn Những hoa văn này xuất hiện nhiều hơn trong nội thất (chiếm 100%) so với kiến trúc (chiếm từ 33,33% đến 83,33%).

Bảng 6.1 và hình 6.25 cho thấy hoa văn sóng nước chiếm 50% trong kiến trúc thời Lý, phản ánh nền văn minh lúa nước nhưng chủ yếu chỉ xuất hiện trên bệ tường và bệ trụ Các con vật như Sư tử, Trâu, Ngựa chỉ chiếm 16,67% trong trang trí kiến trúc, không thấy trong nội thất và đồ mộc Hoa văn lá đề và hồi văn xuất hiện trong kiến trúc (lá đề 66,67%, hồi văn 50%) và nội thất (cả hai loại 50%), cho thấy lá đề được sử dụng nhiều hơn trong kiến trúc, chịu ảnh hưởng của Phật giáo Các hoa văn nhạc công thiên thần, nữ thần đầu người mình chim và tiên nữ, chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo, chỉ xuất hiện trong kiến trúc với tỷ lệ lần lượt là 16,67%, 33,33% và 33,33%, cho thấy ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đến xã hội thời Lý là không nhiều.

Hình 6.27: Tần suất xuất hiện hoa văn (%)

KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ Kết luận

Sau một thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài “Nghiên cứu ứng dụng hoa văn trang trí thời Lý (1009-1225) trong thiết kế nội thất”, luận văn đã hoàn thiện và đạt được những kết quả đáng kể.

- Đã tìm hiểu được đặc trưng văn hóa thời Lý giai đoạn 1009-1225;

- Đã đưa ra được các đặc trưng trang trí và tạo hình của đồ nội thất và kiến trúc thời Lý giai đoạn 1009-1225;

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng văn hóa và phong tục tập quán có ảnh hưởng sâu sắc đến đặc trưng trang trí và tạo hình của đồ nội thất cũng như kiến trúc thời Lý trong giai đoạn 1009-1225.

- Đã tìm hiểu, chụp ảnh và vẽ lại các hoa văn thường thấy trong kiến trúc và trang trí nội thất thời Lý giai đoạn 1009-1225

Mặc dù thời gian có hạn, luận văn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót Để đạt được kết quả tốt nhất và hoàn thiện hơn, cần thiết phải có các hướng nghiên cứu tiếp theo.

Ngày đăng: 13/07/2023, 15:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Thị Ngọc Anh (2017), “Hình tượng văn Thủy ba trong mỹ thuật cổ Việt Nam và các ứng dụng trên sản phẩm mỹ thuật tạo hình hiện đại” [J], Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Thái Nguyên, tập 167, số 07: 31 – 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng văn Thủy ba trong mỹ thuật cổ Việt Nam và các ứng dụng trên sản phẩm mỹ thuật tạo hình hiện đại
Tác giả: Phạm Thị Ngọc Anh
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Thái Nguyên
Năm: 2017
2. Thái Dị An, (1998), Long phụng đồ điển, NXB Mỹ thuật Hà Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Long phụng đồ điển
Tác giả: Thái Dị An
Nhà XB: NXB Mỹ thuật Hà Nam
Năm: 1998
3. Nguyễn Du Chi (2003), Hoa văn Việt Nam [M], NXB Mỹ thuật Việt Nam:192 – 193 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa văn Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Du Chi
Nhà XB: NXB Mỹ thuật Việt Nam
Năm: 2003
4. Trần Tiểu Lâm, Phạm Thị Chỉnh (2008), Giáo trình Mỹ thuật học [M], NXB Đại học Sư phạm: 21-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Mỹ thuật học
Tác giả: Trần Tiểu Lâm, Phạm Thị Chỉnh
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2008
5. Trần Đức Cường (2017), Lịch sử Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam
Tác giả: Trần Đức Cường
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2017
6. chu[13] Phan Huy Chú (1973), Lịch triều hiến chương loại chí [M], NXB Bộ văn hóa giáo dục và thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: NXB Bộ văn hóa giáo dục và thanh niên
Năm: 1973
7. Deopik 1993: Деопик Д. В. Вьетнам как часть Юго-восточной Азии Sách, tạp chí
Tiêu đề: Вьетнам как часть Юго-восточной Азии
Tác giả: Д. В. Деопик
Năm: 1993
8. Ngô Văn Doanh, Về hình tượng Rồng ở chùa Giạm[J], Tạp chí Xưa và nay, Hà Nội, số 72, 2000: tr 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về hình tượng Rồng ở chùa Giạm
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Nhà XB: Tạp chí Xưa và nay
Năm: 2000
9. Vương Duy Đề, (2000), Long phụng văn hóa, NXB Cổ tịch Thượng Hải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Long phụng văn hóa
Tác giả: Vương Duy Đề
Nhà XB: NXB Cổ tịch Thượng Hải
Năm: 2000
10. Nguyễn Thị Hương Giang (2009), “Ảnh hưởng của Văn hóa đến đồ mộc thờ cúng truyền thống Việt Nam”[D], Luận văn thạc sĩ, Đại học Lâm nghiệp Nam Kinh, Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của Văn hóa đến đồ mộc thờ cúng truyền thống Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hương Giang
Nhà XB: Đại học Lâm nghiệp Nam Kinh
Năm: 2009
11. Hoàng Xuân Hãn (1996), Lý Thường Kiệt lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý, NXB Hà Nội, trang 418-421 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý Thường Kiệt lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý
Tác giả: Hoàng Xuân Hãn
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1996
12. Nguyễn Văn Hiệu,Từ hình tượng thực của con rồng Việt Nam đến tên Lạc Long Quân trong tiếng Việt[J], Tạp chí Khảo cổ học, Số 2, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ hình tượng thực của con rồng Việt Nam đến tên Lạc Long Quân trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệu
Nhà XB: Tạp chí Khảo cổ học
Năm: 1983
13. Tiêu Hồng, (1984) Long dữ viễn cổ đồ đằng, Học báo Đại học Hà Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Long dữ viễn cổ đồ đằng
Tác giả: Tiêu Hồng
Nhà XB: Học báo Đại học Hà Nam
Năm: 1984
14. Mai Hồng (1989), Các trạng nguyên nước ta, Nhà Xuất bản Giáo dục, trang 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các trạng nguyên nước ta
Tác giả: Mai Hồng
Nhà XB: Nhà Xuất bản Giáo dục
Năm: 1989
15. Vương Đại Hữu (1988), Long phụng văn hóa nguyên lưu, NXB Mỹ thuật Công nghệ Bắc Kinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Long phụng văn hóa nguyên lưu
Tác giả: Vương Đại Hữu
Nhà XB: NXB Mỹ thuật Công nghệ Bắc Kinh
Năm: 1988
16. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, Kỷ nhà Lý, Thái Tổ Hoàng đế, NXB Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt Sử ký Toàn thư
Tác giả: Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 1993
17. Hoàng Văn Khoán (2013, Nguồn gốc con rồng[J], Thông báo Khoa học, Số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc con rồng
Tác giả: Hoàng Văn Khoán
Nhà XB: Thông báo Khoa học
Năm: 2013
18. Nhiều tác giả (2009), Kỷ yếu Hội thảo khoa học “1000 năm vương triều Lý và kinh đô Thăng Long”, Nhà xuất bản Thế giới trang 592, 597-598, 649, 651 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học “1000 năm vương triều Lý và kinh đô Thăng Long”
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
Năm: 2009
19. Ngụy Á Nam (1986), Long phụng đích lai nguyên, Bắc Kinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Long phụng đích lai nguyên
Tác giả: Ngụy Á Nam
Nhà XB: Bắc Kinh
Năm: 1986
28. Dragonsempire.com: Clasiification of dragons (Phân loại Rồng). - http://www.dragonsempire.com/info/classify/specieslist.asp Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w