Nhận thức được nguy cơ tai nạn xảy ra sẽ gây ra nhiều thiệt hại đếntính mạng, tình trạng sức khỏe, ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinhdoanh của người điều khiển phương tiện xe cơ giới
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Đi lại từ lâu đã là một nhu cầu thiết yếu của con người, nhu cầu nàyngày càng có xu hướng tăng lên cùng với sự phát triển của xã hội Sự pháttriển mạnh mẽ về số lượng cũng như chủng loại các phương tiện vận tải cơgiới đã đem lại cho con người một phương thức vận chuyển nhanh gọn vàthuận tiện
Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng dẫn đến tình trạng giaothông đường bộ ngày càng phức tạp, sự phát triển bất hợp lí giữa phươngtiện cơ giới với cơ sở hạ tầng làm cho tai nạn giao thông trở thành mộtthảm họa đối với xã hội
Nhận thức được nguy cơ tai nạn xảy ra sẽ gây ra nhiều thiệt hại đếntính mạng, tình trạng sức khỏe, ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinhdoanh của người điều khiển phương tiện xe cơ giới cũng như người bị hạingay từ những năm đất nước mới hòa bình, độc lập, khi bảo hiểm ra đời,các công ty bảo hiểm trong nước đã tiến hành triển khai nghiệp vụBHTNDS ( Bảo hiểm trách nhiệm dân sự ) của chủ xe cơ giới đối vớingười thứ ba
Hiện nay, cũng như các công ty bảo hiểm phi nhân thọ khác, PJICOcũng đang tiến hành triển khai rầm rộ nghiệp vụ này Qua quá trình thựctập tại công ty, được sự giúp đỡ của cán bộ nhân viên Phòng bảo hiểm số V
và sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Nguyễn Thị Hải Đường, em đã mạnh
dạn chọn đề tài “Nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba- Kiến nghị nhằm thực hiện tốt nghiệp vụ theo nghị định 15/2003/NĐ-CP của Chính phủ tại PJICO giai đoạn 1998- 2002” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
Đề tài này ngoài lời mở đầu và kết luận bao gồm 3 chương:
Trang 2Chương I: Một số vấn đề lí luận về BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
Chương II: Thực trạng triển khai nghiệp vụ BHTNDS của chủ xe
cơ giới đối với người thứ ba tại PJICO
Chương III: Kiến nghị nhằm thực hiện tốt hơn nghị định 15/2003/NĐ-CP của Chính phủ đối với việc thực hiện nghiệp vụ BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại PJICO
Do thời gian thực tập còn ít, nhận thức thực tiễn nghiệp vụ chưa sâusắc nên luận văn đề còn nhiều hạn chế Rất mong các thầy cô giáo và cácbạn đóng góp ý kiến Qua đây em xin chân thành cảm ơn tới các thầy côgiáo trong bộ môn bảo hiểm, đặc biệt cô giáo hạc sỹ Nguyễn Thị HảiĐường, cùng các cán bộ nhân viên Phòng bảo hiểm khu vực V đã giúp đỡ
em hoàn thành đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 3
CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN
SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA
I SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN VÀ TÁC DỤNG CỦA BHTNDS CỦA
CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA
1 Tình hình tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam và vai trò của BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.
Tốc độ gia tăng phương tiện vận tải là rất lớn, mọi thành phần kinh tế
và từng người dân đều có thể bỏ vốn đầu tư phương tiện và mua sắm phươngtiện vận tải Với sự tăng lên đột biến về phương tiện vận tải thì tỉ lệ giaothông tăng lên và nó đang là thách thức của các quốc gia trên thế giới và củaViệt Nam An toàn giao thông là vấn đề bức xúc không chỉ ở hiện tại mà cảtrong tương lai
Theo tổng hợp của UB ATGT, trong 7 tháng đầu năm 2000 cả nướcxảy ra 13.521 vụ tai nạn có 4.540 người chết, 14.872 người bị thương tăng4,6% số vụ, 9,03% số người chết và 2,02% số người bị thương so với cùng kìnăm trước Trong đó tai nạn giao thông đường bộ xảy ra có số người chết và
bị thương là lớn nhất chiếm khoảng 96% vụ, 95% số người chết và 98% sốngười bị thương Chính vì vậy phải tập trung mọi nỗ lực, tìm các giải phápngăn chặn và kiềm chế tai nạn giao thông nói chung và tai nạn giao thôngđường bộ nói riêng
Nói riêng về tai nạn giao thông đường bộ - theo báo cáo của cục cảnhsát giao thông đường bộ - đường sắt - 6 tháng đầu năm 2000, toàn quốc xảy ra11.560 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 3.685 người, bị thương12.999 người so với 6 tháng đầu năm 1999 tăng 7,5% về số vụ, tăng 7,2% sốngười chết, tăng 5,8% số người bị thương Đặc biệt đã xảy ra 77 vụ tai nạngiao thông rất nghiêm trọng (tăng 54% so với cùng kỳ năm 1999) làm chết
Trang 4179 người (tăng 21,7%), bị thương 395 người (tăng 11%) So sánh tỷ lệ tăngcủa tai nạn giao thông đường bộ vẫn thấp hơn tỷ lệ gia tăng của phương tiệngiao thông cơ giới: ô tô, xe máy
Tháng 7/2000, tuy số lượng tai nạn giao thông đường bộ giảm nhưngtính chất nghiêm trọng tăng: Xảy ra 1.523 vụ, chết 592 người, bị thương1.613 người Ngày 16/7/2000 cũng tại địa bàn này xảy ra vụ xe khách79N.0475 chở 53 người có cả lái xe phụ – bị bốc cháy làm chết 16 người, bịthương 17 người
Năm 2001 – cả nước xảy ra 25.040 vụ tai nạn giao thông, làm 10.477người bị chết, 29.188 người bị thương, số người chết so với năm 2000 là30% Theo UB ATGTQG chỉ trong 8 tháng đầu năm 2002 cả nước xảy ra18.876 vụ làm chết 8.604 người (36 người/ ngày), chấn thương 21.288 người,60% liên quan đến xe máy (10 triệu xe) Tai nạn giao thông đường bộ xảy ramột cách trầm trọng như vậy là do các nguyên nhân sau:
* Nguyên nhân khách quan: Cơ sở hạ tầng nước ta còn thấp, số đường rải bêtông còn ít, số đèo dốc nguy hiểm nhiều
* Nguyên nhân chủ quan:
- Xuất phát từ người tham gia giao thông 4.569 vụ – 76,7% - trong đó dochạy qúa tốc độ quy định là 2.039 vụ (34,2%), do tránh vượt sai quy định1.600 vụ (26,8%), do người điều khiển phương tiện say rượu bia 337 vụ(5,6%), do thiếu quan sát 425 vụ (7,1%), do người đi bộ 168 vụ (2,8%), thiết
bị không đảm bảo an toàn phương tiện 112 vụ ( 1,9%), do cầu đường 12 vụ(0,2%) và do các nguyên nhân khác 1263 vụ (21,2%)
- Số lượng đầu xe tăng nhanh do nhu cầu vận chuyển đi lại và do giá thànhphương tiện hạ làm cho số lượng đầu xe tăng lên một cách đột biến
- Tuổi của phương tiện tham gia giao thông quá cao
- Hệ thống cơ sở bảo dưỡng, sửa chữa, thay thế phụ tùng của nước ta chưa
có quy hoạch, tổ chức và quản lý chặt chẽ
Trang 5- Nhận thức và trách nhiệm của chủ phương tiện trong việc duy trì tìnhtrạng an toàn kỷ luật của phương tiện theo tiêu chuẩn quy định khi tham giagiao thông còn rất hạn chế như thay đổi tổng thành, linh kiện, phụ kiện xe cơgiới, coi thường các quy định của nhà chế tạo do thiếu hiểu biết
Sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện cơ giới một mặt manglại cho con người một hình thức vận chuyển thuận tiện, nhanh chóng kịp thời
và giá rẻ phù hợp với đại đa số người dân Việt Nam Các khu công nghệ sảnxuất xe ô tô, xe máy trên thế giới và cả trong nước phát triển rầm rộ
Chỉ tính riêng Việt Nam trong vòng hơn 10 năm qua, các phương tiện
xe cơ giới đã có mức tăng trưởng khá cao, đặc biệt là mô tô, hiện nay số xemáy đang lưu hành là hơn 10 triệu chiếc Từ năm 1999 đến năm 2002 bìnhquân hàng năm phương tiện xe cơ giới tăng 25,15% Đối lập với tốc độ giatăng một cách đột biến về phương tiện xe cơ giới, tốc độ phát triển của cơ sở
hạ tầng giao thông đường bộ còn nhiều hạn chế Theo số liệu thống kê chothấy năm 1990 có 112.700 km đường bộ thì chỉ có 19,8% rải nhựa và bê tông.Năm 2001 có 127.000 km thì chỉ có 38% đường rải nhựa và bê tông, mặc dù
tỷ lệ đường nhựa và bê tông có tăng nhưng chất lượng kém và đang có nguy
cơ ngày càng xuống cấp trầm trọng Chính vì sự bất hợp lý này nên tình trạngtai nạn giao thông nói chung và giao thông đường bộ nói riêng ngày càng giatăng và mức độ ngày càng trầm trọng
Theo số liệu của cảnh sát giao thông thì trung bình mỗi ngày xảy ra 33
vụ tai nạn xe cơ giới làm chết 20 người và bị thương 35 người chưa kể thiệthại về vật chất và tinh thần Số vụ tai nạn năm sau cao hơn năm trước là22,5%, số người chết và bị thương trong năm cao hơn năm trước là 27,7% và30,6% Số vụ tai nạn nghiêm trọng ngày càng tăng, trong đó tai nạn xe cơ giớiluôn chiếm tỷ lệ cao nhất – chiếm 93,7% về số vụ, 94,13% về số người chết,98,8% số người bị thương
Với tình hình tai nạn ngày càng gia tăng một cách đáng báo động nhưvậy, Nhà nước ta đã đưa ra nhiều biện pháp để làm giảm bớt tai nạn giao
Trang 6thông và mức độ nghiêm trọng của nó Như xử lý vi phạm luật lệ giao thông,hướng dẫn học luật an toàn giao thông, bắt buộc đội mũ bảo hiểm Tuy nhiênvới sự cố gắng của bản thân con người cũng như sự hỗ trợ của khoa học kỹthuật và công nghệ, chúng ta vẫn chưa thể loại bỏ được tai nạn giao thông xảy
ra với mức độ và nhịp độ ngày càng lớn Khi tai nạn xảy ra không chỉ có bảnthân nạn nhân và gia đình họ bị thiệt hại về tính mạng, thu nhập, sức khoẻ mà
cả người gây ra tai nạn cũng như xã hội đều bị ảnh hưởng, bởi lẽ những ngườitham gia giao thông là những người trụ cột, là người lao động chính của giađình, của doanh nghiệp Luật pháp đã quy định khi xảy ra tai nạn chủ phươngtiện phải bồi thường Tuy nhiên trên thực tế việc bồi thường còn gặp nhiềukhó khăn, phức tạp, nhiều khi chủ phương tiện gây ra tai nạn sau đó bỏ trốn,gây thiệt hại cho nạn nhân và ức chế cho gia đình nạn nhân Nhiều khi lái xecũng bị chết nên việc bồi thường cũng phức tạp, ngoài ra nhiều khi chủ xekhông đủ tài chính nên việc bồi thường cho nạn nhân không thực hiệnđược Tất cả những điều này dẫn đến gây ra sự ức chế và mâu thuẫn giữa giađình nạn nhân với lái xe hoặc chủ xe, gây ra mất trật tự an toàn xã hội
Để bù đắp những tổn thất về người và của, ổn định sản xuất kinhdoanh, tâm lý của chủ xe cũng như mọi đối tượng, bảo hiểm xe cơ giới nóichung và bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba nói riêng rađời là biện pháp hữu hiệu nhất hiện nay Do đó nghiệp vụ Bảo hiểm tráchnhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba ra đời là cần thiết kháchquan Ngay từ khi mới ra đời theo Nghị định số 30/HĐBT - đã mang tính chấtbắt buộc, Nghị định 115/1997/NĐ - CP 17/12/1997 thay nghị định cũ nhằmnâng cao tính bắt buộc của người điều khiển xe cơ giới, nhưng số người thamgia còn quá ít so với dân số, so với người bị nạn Chủ xe chỉ mua bảo hiểmkhi đăng ký xe, hết hạn không thực hiện nghĩa vụ tiếp theo là tái tục Do đóngày 19/02/2003 Chính phủ ban hành Nghị định số 15/2003/NĐ-CP về “Quychế xử phạt vi phạm hành chính về giao thông đường bộ” – Theo mục 3 điều
25 – Chương V của Nghị định quy định: “Phạt tiền từ 50000-100000 nghìn
Trang 7đồng đối với người điều khiển mô tô vi phạm không có giấy chứng nhận bảohiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực”- Như vậy tính bắtbuộc của nghiệp vụ sẽ tăng lên.
2 Tác dụng của bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba rađời là cần thiết khách quan và nó có tác dụng rất lớn đối với cả chủ xe, cảngười thứ ba và còn có tác dụng đối với xã hội
2.1 Đối với chủ xe
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba là tấm lá chắn vữngchắc và cuối cùng cho các chủ xe, tạo ra tâm lý yên tâm, thoải mái, tự tin chongười điều khiển xe cũng như chủ xe Góp phần ổn định tài chính, ổn địnhsản xuất kinh doanh cho các chủ xe vì xe cơ giới là một loại tài sản có giá trịlớn đối với mỗi chủ xe, khi không may xảy ra tai nạn, thiệt hại về người và tàisản sẽ mất đi cơ hội kinh doanh, không đủ tài chính bồi thường
Tích cực góp phần ngăn ngừa và đề phòng tai nạn giao thông, dựa trên
cơ sở ý thức của mỗi chủ xe
Góp phần xoa dịu bớt sự căng thẳng giữa chủ xe và gia đình nạn nhânkhi xảy ra tai nạn, bằng cách nhà bảo hiểm có mặt kịp thời để bồi thường vàgiải quyết mâu thuẫn Trên cơ sở đó tạo thêm niềm tin và nâng cao uy tín củacông ty bảo hiểm
2.2 Đối với người thứ ba
Khi không may xảy ra tai nạn, là nạn nhân, người thứ ba sẽ được công
ty bảo hiểm đứng ra thay thế chủ xe bồi thường kịp thời, đảm bảo khả năngtài chính kịp thời, làm giảm bớt sự lo âu, giúp người thứ ba ổn định tinh thần,
ổn định sản xuất kinh doanh
3.3 Đối với xã hội:
Trang 8Nghiệp vụ này ra đời còn góp phần tăng thu Ngân sách cho Nhà nướcthông qua thuế, để từ đó có điều kiện đầu tư trở lại nâng cấp và xây dựng mới
cơ sở hạ tầng giao thông, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động
3 Đặc trưng của bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.
Là một nghiệp vụ trong số rất nhiều nghiệp vụ của loại hình bảo hiểmtrách nhiệm dân sự, đặc trưng của bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơgiới đối với người thứ ba mang đặc trưng của loại hình bảo hiểm trách nhiệmdân sự như sau:
3.1 Đối tượng bảo hiểm mang tính trừu tượng
Đối tượng bảo hiểm của các hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự làphần trách nhiệm hay nghĩa vụ bồi thường các thiệt hại, do đó rất trừu tượng.Hơn nữa trách nhiệm là bao nhiêu cũng không xác định được ngay lúc thamgia bảo hiểm
Đối tượng nghiệp vụ này mang tính bắt buộc, thông thường tráchnhiệm pháp lý phát sinh khi có đủ ba điều kiện:
- Xe phải có lỗi
- Người thứ ba phải có thiệt hại thực tế
- Có quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của người điều khiển
xe đối với người thứ ba
Mức độ thiệt hại do trách nhiệm pháp lý phát sinh bao nhiêu là hoàn toàn
do sự phán xử của toà án, thông thường thiệt hại này được tính dựa trên mức
độ lỗi của người điều khiển xe cơ giới gây ra cho người thứ ba
3.2 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba được thực hiện dưới hình thức bắt buộc.
Bảo hiểm trách nhiệm ngoài việc nhằm đảm bảo ổn định tài chính chongười được bảo hiểm còn có mục đích khác là bảo vệ quyền lợi cho phía nạnnhân, đảm bảo tính công bằng trong xã hội và đảm bảo quyền lợi của mọi
Trang 9công dân Mặt khác nghiệp vụ này có quan hệ trực tiếp với một số bộ luật củaquốc gia mà luật pháp thì mọi công dân phải có nghĩa vụ thực hiện Ngoài rathực hiện bắt buộc nhằm góp phần cùng với cơ quan chức năng quản lý tốtcác loại đầu xe cơ giới.
Trang 103.3 Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới có áp dụng giới hạn trách nhiệm
Bởi vì thiệt hại trách nhiệm dân sự phát sinh chưa thể xác định đượcngay tại thời điểm tham gia bảo hiểm và thiệt hại đó có thể là rất lớn, bởi vậy
để nâng cao trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm các công ty bảo hiểmthường đưa ra giới hạn trách nhiệm, tức là các mức bồi thường tối đa của bảohiểm (STBH) Nói cách khác, thiệt hại trách nhiệm dân sự có thể phát sinh rấtlớn nhưng công ty bảo hiểm không bồi thường toàn bộ thiệt hại trách nhiệmdân sự phát sinh đó mà chỉ khống chế trong phạm vi STBH
Trang 11II NỘI DUNG BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE
CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA
1 Khái niệm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới với người thứ ba.
Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm phát sinh do vi phạm nghĩa vụ dân
sự trong đó nghĩa vụ dân sự chính là việc mà theo qui định của pháp luật thìmột hoặc nhiều chủ thể không được làm hoặc bắt buộc làm một hành độngnào đó đối với một hoặc nhiều chủ thể khác Người chịu trách nhiệm dân sự
mà không thực hiện đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đó thì phảichịu trách nhiệm trước người bị hại và trước pháp luật Nhìn chung tráchnhiệm dân sự là trách nhiệm bồi thường về vật chất và tinh thần trong đótrách nhiệm bồi thường về vất chất và tinh thần là trách nhiệm bồi thườngnhững tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm nghĩa vụdân sự gây ra bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí ngăn ngừa thiệt hại, thunhập thực tế bị giảm sút
Trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba:
Là phần trách nhiệm được xác định bằng tiền theo qui định của luậtpháp và sự phán quyết của toà án quyết định chủ xe phải gánh chịu do sự lưuhành xe của mình gây ra
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ baphải chịu chi phí cho các rủi ro, cụ thể là phải bồi thường cho các nạn nhângặp rủi ro trên đường phố được trả thông qua phí bảo hiểm mà những chủphương tiện giao thông của cả xã hội đóng góp
2 Đối tượng bảo hiểm
Người tham gia bảo hiểm thông thường là chủ xe, có thể là cá nhân hayđại diện cho một tập thể Người bảo hiểm chỉ nhận bảo hiểm cho phần tráchnhiệm dân sự của chủ xe phát sinh do sự hoạt động và điều khiển xe cơ giới
Trang 12Như vậy đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giớiđối với người thứ ba Trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với ngườithứ ba là trách nhiệm hay nghĩa vụ bồi thường ngoài hợp đồng của chủ xe haylái xe cho người thứ ba do việc lưu hành xe gây tai nạn.
Người thứ ba trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới lànhững người bị thiệt hại về thân thể và tài sản do xe cơ giới gây ra nhưng loạitrừ hành khách, người trên xe, phụ xe, người làm công cho chủ xe, nhữngngười lái xe phải nuôi dưỡng như cha, mẹ, vợ, chồng, con cái
Đối tượng được bảo hiểm không được xác định trước Chỉ khi nào việclưu hành xe gây ra tai nạn có phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe đối vớingười thứ ba thì đối tượng này mới được xác định cụ thể
Các điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe đối với ngườithứ ba bao gồm:
- Có thiệt hại về tài sản, tính mạng hoặc sức khoẻ của bên thứ ba
- Chủ xe (lái xe) phải có hành vi trái pháp luật Có thể do vô tình hay cố
ý mà lái xe vi phạm luật giao thông đường bộ, hoặc vi phạm các qui địnhkhác của nhà nước
- Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của chủ xe,lái xe với những thiệt hại của người thứ ba
- Chủ xe, lái xe phải có lỗi
Thực tế chỉ cần đồng thời xảy ra ba điều kiện đầu là phát sinh trách nhiệmdân sự đối với người thứ ba của chủ xe (lái xe) Nếu thiếu một trong ba điềukiện trên trách nhiệm dân sự của chủ xe sẽ không phát sinh, và do đó khôngphát sinh trách nhiệm của bảo hiểm Điều kiện cuối có thể có hoặc không vìnhiều khi tai nạn xảy ra là do tính nguy hiểm cao độ của xe cơ giới mà khônghoàn toàn do lỗi của chủ xe, lái xe Ví dụ: xe đang chạy bị nổ lốp, lái xe mấtkhả năng điều khiển nên gây tai nạn, trong trường hợp này trách nhiệm dân sựvẫn có thể phát sinh nếu có đủ ba điều kiện đầu tiên
Trang 133 Phạm vi bảo hiểm
Người bảo hiểm nhận bảo đảm cho các rủi ro bất ngờ không lườngtrước được gây ra tai nạn và làm phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe Cụthể các thiệt hại nằm trong phạm vi trách nhiệm của ngưới bảo hiểm bao gồm:
- Thiệt hại về tính mạng và tình trạng sức khoẻ của bên thứ ba
- Thiệt hại về tài sản, hàng hoá của bên thứ ba
- Thiệt hại tài sản làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh hoặc thu nhập
- Các chi phí cần thiết và hợp lý để thực hiện các biện pháp ngăn ngừahạn chế thiệt hại, các chi phí thực hiện biện pháp đề xuất của cơ quan bảohiểm (kể cả biện pháp không mang lại hiệu quả)
- Những thiệt hại về tính mạng, tình trạng sức khoẻ của những ngườitham gia cứu chữa, ngăn ngừa tai nạn, chi phí cấp cứu và chăm sóc nạn nhân
Rủi ro loại trừ.
Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các vụ tainạn, mặc dù có phát sinh trách nhiệm dân sự trong các trường hợp sau:
- Hành động cố ý của chủ xe, lái xe và người bị thiệt hại
- Xe không đủ điều kiện kỹ thuật và thiết bị an toàn để tham gia giaothông theo qui định của điều lệ trật tự an toàn giao thông vận tải đường bộ
- Chủ xe hoặc lái xe vi phạm nghiêm trọng trật tự an toàn giao thôngđường bộ như:
+ Xe không có giấy phép lưu hành, giấy chứng nhận kiểm định an toàn
kỹ thuật và môi trường
+ Lái xe không có bằng lái hoặc bằng bị tịch thu, bằngkhông hợp lệ.+ Lái xe bị ảnh hưởng của chất kích thích như rượu bia
Trang 14+ Xe không có hệ thống lái bên phải.
+ Thiệt hại do chiến tranh, bạo động
+ Thiệt hại gián tiếp do tai nạn như giảm giá trị thương mại, làm đình trệsản xuất kinh doanh
+ Thiệt hại đối với tài sản bị cướp, bị mất cắp trong tai nạn
+ Tai nạn xảy ra ngoài lãnh thổ quốc gia trừ khi có thoả thuận khác.Ngoài ra người bảo hiểm cũng không chịu trách nhiệm đối với tài sảnđặc biệt như vàng, bạc, đá quí, tiền, đồ cổ, tranh ảnh quí hiếm, thi hài, hàicốt,
4 Phí bảo hiểm và phương pháp tính phí
Như vậy, phí bảo hiểm là khoản tiền mà chủ xe cơ giới phải nộp chongười bảo hiểm để hình thành quỹ tiền tệ độc lập tập trung đủ lớn để bồithường thiệt hại xảy ra trong năm nghiệp vụ theo phạm vi bảo hiểm và hạnmức trách nhiệm mà người tham gia đã ký với nhà bảo hiểm trong hợp đồngbảo hiểm
Phí bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ
ba và biểu phí do bộ tài chính qui định, ngoài ra các công ty bảo hiểm có thểthoả thuận với các chủ xe cơ giới theo số lượng đầu xe, các công ty bảo hiểmtrên cơ sở cạnh tranh lành mạnh có thể giảm phí cho khách hàng tham gia với
số lượng lớn hoặc khách hàng thường xuyên tái tục, hoặc cũng có thể giảm
Trang 15phí cho những khách hàng tham gia với giá trị lớn trong nhiều năm liên tụcnhưng không xảy ra rủi ro
Việc xác định mức phí bảo hiểm nhìn chung là rất khó khăn, bởi vì phíbảo hiểm là nguồn thu chủ yếu của các công ty bảo hiểm nên mức phí tốithiểu phải thoả mãn nhu cầu thanh toán bồi thường và công tác đề phòng hạnchế tổn thất đồng thời phải đảm bảo cho công ty có được khoản lợi nhất định.Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường bảo hiểm ngày càng có nhiềucác công ty bảo hiểm gia nhập làm cho thị trường ngày càng cạnh tranh gaygắt Chính vì vậy việc đưa ra một mức phí thích hợp là một vấn đề không dễdàng đối với các công ty bảo hiểm
Phí bảo hiểm phải là một mức phí cạnh tranh, không quá cao, khôngquá thấp so với mức phí của Bộ Tài Chính qui định, theo qui luật định giá thìđịnh giá cao sẽ bán được giá cao và định giá thấp sẽ bán với giá thấp, tuynhiên sản phẩm bảo hiểm lại vô hình nên nếu phí quá cao cũng bị hạn chế sốngười tham gia, mặt khác phí thấp quá cũng gây ra những tiêu cực trongkhách hàng Do đó khi định giá phải đảm bảo được nguyên tắc số đông bù số
ít và đảm bảo được sự cân đối thu- chi trong hoạt động kinh doanh của công
ty bảo hiểm
4.2 Phương pháp tính phí
Tính phí phải đảm bảo có cơ sở khoa học, phản ánh đầy đủ các yếu tốảnh hưởng có liên quan và mức phí phải phù hợp với khả năng tài chính củacác chủ phương tiện
Trang 16Phí thuần được xác định theo công thức sau: f =
Ti: Số tiền bồi thường bình quân một vụ tai nạn trong năm i
Ci: Số đầu phương tiện tham gia bảo hiểm trong năm i
n: Số năm thống kê, thường từ 3 – 5 năm
số tháng xe không hoạt động
Phoàn lại = Pnăm *
12 tháng
Trang 17Nộp phí bảo hiểm là trách nhiệm của chủ phương tiện Tuỳ theo sốlượng phương tiện, người bảo hiểm sẽ quy định thời gian, số lần nộp và mứcphí tương ứng có xét giảm phí theo tỷ lệ tổn thất và giảm phí theo số lượngphương tiện tham gia bảo hiểm (tối đa giảm 20%) Nếu không thực hiện đúngquy định sẽ bị phạt Ví dụ:
- Chậm từ 01 ngày đến 02 tháng phải nộp thêm 100% mức phí cơ bản
- Chậm từ 02 đến 04 tháng nộp thêm 200% mức phí cơ bản
- Chậm 04 tháng trở lên nộp thêm 300% mức phí cơ bản
- Hoặc huỷ hợp đồng bảo hiểm
Trong quá trình tính phí bảo hiểm phải lưu ý các yếu tố làm tăng phí
* Yếu tố làm tăng phí thuần như:
- Số phương tiện tham gia bảo hiểm trong năm thấp
- Tăng số vụ tai nạn xảy ra có phát sinh trách nhiệm dân sự
- Số vụ bồi thường bình quân một vụ trong năm lớn
* Yếu tố làm tăng phụ phí như:
- Chí phí quản lý tăng
- Chi phí khai thác, giám định bồi thường tăng
- Chi phí hạn chế và đề phòng tổn thất tăng
Trang 18Bảng1: Biểu phí BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
(Ban hành kèm theo Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC) Đơn vị: VND
Xe chở người ( phí phụ thuộc vào
số chỗ ngồi trên xe) Ví dụ:
340.000 670.000 930.000 470.000
20.000 40.000 64.000 92.000
34.000 67.000 93.000 47.000
220.000 440.000 704.000 1.012.000
374.000 737.000 1.023.000 517.000
Xe chở người (phí phụ thuộc vào
số chỗ ngồi trên xe) Ví dụ:
380.000 740.000 1.020.000
35.000 43.000 50.000
38.000 74.000 102.000
385.000 473.000 550.000
418.000 814.000 1.122.000
- < 6 chỗ: Phí bảo hiểm bằng 150% phí của xe kinh doanh chở người < 6 chỗ ngồi
- > 6 chỗ: Phí bảo hiểm bằng với phí của xe kinh doanh chở người cùng số chỗ ngồi
Trang 196 Xe Buýt: Phí bảo hiểm bằng với phí của xe ôtô không kinh doanh cùng số chỗ ngồi
III HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM
- Thời hạn bảo hiểm (12 tháng)
- Các thông tin giúp người tham gia hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ
- Địa chỉ liên hệ khi xảy ra rủi ro, sự cố
Về hạn mức trách nhiệm thì có nhiều mức khác nhau, mức trách nhiệm củanhà bảo hiểm sẽ khác nhau do đó khi ký hợp đồng, nhà bảo hiểm và ngườitham gia bảo hiểm thoả thuận với nhau để bảo hiểm theo mức phí và mứctrách nhiệm hợp lý nhất
2 Hiệu lực bảo hiểm.
Hiệu lực bảo hiểm bắt đầu và kết thúc theo quy định ghi trên giấy chứngnhận bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ cấp giấy chứng nhận bảo hiểmkhi chủ xe cơ giới đã đóng đủ phí bảo hiểm trừ khi có thoả thuận khác
3 Chuyển quyền sở hữu.
Trang 20Trong thời hạn còn hiệu lực ghi trong giấy chứng nhận bảo hiểm, nếu
có sự chuyển quyền sở hữu xe mà chủ xe cơ giới không có yêu cầu huỷ bỏhợp đồng bảo hiểm thì mọi quyền lợi bảo hiểm liên quan đến chiếc xe đượcbảo hiểm vẫn còn hiệu lực với chủ xe cơ giới mới
4 Hủy bỏ hợp đồng.
Trường hợp có yêu cầu hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm, chủ xe cơ giới phảithông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm biết trước 15 ngày Trongvòng 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo huỷ bỏ, nếu doanh nghiệp bảohiểm không có ý kiến thì hợp đồng bảo hiểm mặc nhiên bị huỷ bỏ, doanhnghiệp bảo hiểm phải hoàn lại cho chủ xe 80% phí bảo hiểm của thời gianhuỷ bỏ, trừ trường hợp trong thời hạn hợp đồng bảo hiểm đang có hiệu lực đãxảy ra sự kiện bảo hiểm liên quan đến chiếc xe có yêu cầu huỷ bỏ hợp đồngbảo hiểm
5 Trách nhiệm và quyền lợi của các bên trong hợp đồng bảo hiểm.
5.1 Trách nhiệm và quyền lợi của chủ xe cơ giới
5.1.1 Trách nhiệm của chủ xe cơ giới
Khi yêu cầu bảo hiểm, chủ xe cơ giới phải kê khai đầy đủ và trung thựcnhững nội dung trong giấy yêu cầu bảo hiểm
Khi tai nạn giao thông xảy ra, chủ xe cơ giới phải có trách nhiệm:
- Cứu chữa hạn chế thiệt hại về người và tài sản, bảo vệ hiện trường tainạn, báo ngay cho cảnh sát giao thông nơi gần nhất để phối hợp giải quyết tainạn Trừ khi có lý do chính đáng, trong vòng 5 ngày kể từ ngày xảy ra tai nạn,chủ xe cơ giới phải gửi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông báo tai nạn
- Không được di chuyển, tháo gỡ hoặc sửa chữa tài sản khi chưa có ýkiến của doanh nghiệp bảo hiểm, trừ trường hợp làm như vậy là cần thiết đểđảm bảo an toàn cho người và tài sản hoặc phải thi hành theo yêu cầu của cơquan có thẩm quyền
Trang 21- Bảo lưu quyền khiếu nại và chuyển quyền đòi bồi thường cho doanhnghiệp bảo hiểm trong phạm vi số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm đã bồithường kèm theo toàn bộ chứng từ cần thiết có liên quan trong trường hợp vụtai nạn có liên quan đến trách nhiệm của người thứ ba.
- Chủ xe cơ giới phải trung thực trong việc thu thập và cung cấp các tàiliệu, chứng từ trong hồ sơ yêu cầu bồi thường và tạo điều kiện thuận lợi chodoanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình xác minh tính chân thực của các tàiliệu chứng từ đó
Trường hợp thay đổi mục đích sử dụng xe, chủ xe cơ giới mới phải thôngbáo ngay cho doanh nghiệp bảo hiểm biết để điều chỉnh lại tỷ lệ phí bảo hiểmcho phù hợp
Nếu chủ xe cơ giới không thực hiện đầy đủ các trách nhiệm quy định trênthì doanh nghiệp bảo hiểm có thể từ chối một phần hoặc toàn bộ số tiền bồithường tương ứng với thiệt hại do lỗi của chủ xe cơ giới gây ra
5.1.2 Quyền lợi của chủ xe cơ giới
Chủ xe cơ giới có quyền hưởng bồi thường khi có tai nạn mà phát sinhtrách nhiệm dân sự thuộc phạm vi bảo hiểm trong thời hạn bảo hiểm Số tiềnbồi thường bị giới hạn bởi số tiền bảo hiểm
Chủ xe có quyền yêu cầu nhà bảo hiểm sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợpđồng bảo hiểm
5.2 Trách nhiệm và quyền lợi của doanh nghiệp bảo hiểm
5.2.1 Trách nhiêm của doanh nghiệp bảo hiểm
- Cung cấp cho chủ xe cơ giới quy tắc, biểu phí và mức trách nhiệm liênquan tới TNDS của chủ xe cơ giới
- Hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho chủ xe cơ giới tham gia bảohiểm
- Khi hồ bồi thường đầy đủ và hợp lệ, doanh nghiệp bảo hiểm phải tiếnhành xét và giải quyết bồi thường trong thời hạn giải quyết bồi thường
Trang 22- Khi tai nạn xảy ra, để yêu cầu người bảo hiểm bồi thường, chủ xe, lái
xe phải gửi hồ sơ khiếu lại bồi thường cho người bảo hiểm Đối với những vụtai nạn đặc biệt nghiêm trọng (tai nạn gây chết người hoặc bị thương nhiềungươì hoặc bị thiệt hại về tài sản từ 20.000.000 đồng trở lên), doanh nghiệpbảo hiểm phải phối hợp chặt chẽ với chủ xe cơ giới và các cơ quan chức năngngay từ đầu để giải quyết tai nạn Trong một số trường hợp doanh nghiệp bảohiểm phải tạm ứng ngay những chi phí cần thiết và hợp lý trong phạm vi tráchnhiệm bảo hiểm nhằm khắc phục một cách tốt nhất hậu quả của tai nạn
- Phải có trách nhiệm thực hiện các biện pháp đề phòng và hạn chế tổnthất
- Phải hoàn phí cho chủ xe khi có sự thay đổi chủ sở hữu cũng như khi
xe không hoạt động
5.2.2 Quyền lợi của doanh nghiệp bảo hiểm
- Thu phí bảo hiểm
- Yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin liênquan
- Có quyền từ chối bồi thường một phần hoặc toàn bộ nếu bên mua bảohiểm vi phạm hợp đồng
IV GIÁM ĐỊNH TỔN THẤT VÀ GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG
1 Giám định tổn thất
Công tác giám định tổn thất nhằm xác định mức độ thiệt hại của bên thứ
ba và mức độ lỗi của các chủ phương tiện, đồng thời xác định xem nguyênnhân xảy ra tai nạn thuộc phạm vi bảo hiểm hay không được bảo hiểm
Trong công tác giám định phải có sự chứng kiến của bên chủ xe, bên thứ
ba hoặc đại diện của bên thứ ba, bên bảo hiểm và công an Nếu chủ xe khôngthống nhất về mức độ thiệt hại do doanh nghiệp bảo hiểm xác định, hai bên sẽthoả thuận chọn giám định viên kỹ thuật chuyên nghiệp Quyết định của giámđịnh viên kỹ thuật được coi là quyết định cuối cùng Trường hợp kết luận của
Trang 23giám định viên kỹ thuật khác với kết luận của giám định viên bảo hiểm,doanh nghiệp bảo hiểm phải chịu chi phí giám định Trường hợp kết kuận củagiám định viên kỹ thuật và của giám định viên bảo hiểm trùng nhau thì chủ xe
cơ giới phải chịu chi phí giám định
Trong trường hợp đặc biệt, nếu doanh nghiệp bảo hiểm không thể thựchiện được việc lập biên bản giám định thì có thể căn cứ vào các biên bản, kếtluận của cơ quan chức năng có thẩm quyền và các hiện vật thu được (ảnhchụp, lời khai của các bên có liên quan ) để xác định mức độ thiệt hại
Mọi tổn thất được khách hàng thông báo đều phải được giám định mộtcách nhanh chóng để các tang vật và nhân chứng không bị phân tán
Nếu tai nạn xảy ra có liên quan đến bên thứ ba thì giám định viên phảihướng dẫn bên thứ ba tiến hành các thủ tục và cùng đứng ra giám định để giảiquyết trách nhiệm của các bên
Sau khi giám định có đủ mặt các bên liên quan cần thiết, phải tiến hành lậpbiên bản giám định, căn cứ vào biên bản giám định nhà bảo hiểm sẽ tiến hànhxét giải quyết bồi thường cho chủ xe
2 Bồi thường
2.1 Hồ sơ yêu cầu bồi thường
Khi tai nạn xảy ra, để yêu cầu người bảo hiểm bồi thường chủ xe (láixe) phải gửi hồ sơ khiếu nại bồi thường cho người bảo hiểm
Hồ sơ bao gồm các giấy tờ sau:
- Thông báo tai nạn, giấy yêu cầu bồi thường của chủ xe
- Bản sao giấy chứng nhận bảo hiểm
- Bản sao giấy phép lái xe
- Bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe
- Bản sao gấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và môi trường
- Bản sao giấy đăng ký kinh doanh vận chuyển hành khách trong trườnghợp yêu cầu bồi thường hành khách bị thiệt hại về tính mạng và sức khoẻ
Trang 24Bản kết luận điều tra tai nạn của công an hoặc bản sao bộ hồ sơ tai nạn (cócác nhận của công an nơi thụ lý hồ sơ tai nạn) bao gồm:
- Sơ đồ hiện trường tai nạn giao thông
- Biên bản khám nghiệm hiện trường
- Biên bản khám nghiệm xe liên quan đến tai nạn giao thông
- Biên bản giải quyết tai nạn giao thông
- Quyết định của toà án (nếu có)
- Các giấy tờ liên quan tới trách nhiệm của bên thứ ba (nếu có)
- Biên bản giám định thiệt hại (nếu có)
2.2 Thủ tục yêu cầu bồi thường
Khi yêu cầu bồi thường chủ xe cơ giới có trách nhiệm chuyển chodoanh nghiệp bảo hiểm hồ sơ bồi thường theo quy định bao gồm các giấy tờsau:
* Đối với thiệt hại về người:
+Trường hợp bị thương: Các giấy tờ của cơ quan y tế có thẩm quyềnxác nhận tình trạng thương tật của nạn nhân do tai nạn giao thông gây ra nhưgiấy chứng thương của cá nhân, giấy ra viện, phiếu mổ và các giấy tờ có liênquan đến các chi phí chăm sóc cứu chữa
+ Trường hợp chết: Giấy chứng tử của nạn nhân
* Đối với thiệt hại về tài sản: Các bằng chứng chứng minh thiệt hại như hoáđơn sửa chữa, thay mới tài sản bị thiệt hại do tai nạn
Các giấy tờ chứng minh các chi phí cần thiết và hợp lý mà chủ xe đãchi ra để giảm thiểu tổn thất hay để thực hiện chỉ dẫn của doanh nghiệp bảohiểm
Xác định số tiền bồi thường
Sau khi nhận được hồ sơ khiếu nại bồi thường, nhà bảo hiểm sẽ xácđịnh số tiền bồi thường sau khi đã tiến hành giám định Số tiền bồi thườngđược tính như sau:
STBT = L * M (1)
Trang 25STBT = ( L1 + L2 + L3 + +Ln) * M (2)Trong đó: L: Mức độ lỗi của chủ xe.
M: Mức độ thiệt hại thực tế của người thứ ba
Nếu có nhiều xe cùng có lỗi thì xác định STBT theo công thức (2).Thiệt hại thực tế của người thứ ba (M) bao gồm:
* M1: Thiệt hại về tình trạng sức khỏe, tính mạng của người thứ ba.Thiệt hại này rất khó lượng hoá ra bằng tiền vì tính mạng là vô giá, nhưngbằng mọi cách phải lượng hoá ra bằng tiền để bồi thường.Vì vậy khi bồithường nhà bảo hiểm căn cứ vào: Chi phí hợp lý cho công việc cứu chữa, bồidưỡng phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất hoặc giảm sút như: Chi phí cấpcứu, tiền hao phí vật chất và các chi phí y tế khác (thuốc men, dịch truyền, chiphí chụp chiếu X – Quang )
Chi phí hợp lý và phần thu nhập của người chăm sóc bệnh nhân vàkhoản tiền cấp dưỡng cho người mà bệnh nhân có nghĩa vụ nuôi dưỡng
Khoản thu nhập bị mất hoặc giảm sút của người đó
Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần
Các chi phí hợp lý cho việc chăm sóc, cứu chữa người thứ ba trước khichết
Chi phí hợp lý cho việc mai táng người thứ ba
Tiền trợ cấp cho những người mà người thứ ba phải nuôi dưỡng (vợ,chồng, con cái đặc biệt trong trường hợp mà người thứ ba là lao động chínhtrong gia đình)
* M2: Mức độ thiệt hại thực tế về tài sản của người thứ ba, bao gồm tàisản bị mất, bị hư hỏng hoặc bị huỷ hoại, thiệt hại liên quan đến việc sử dụngtài sản và các chi phí hợp lý để ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục thiệt hại.Thiệt hại này căn cứ vào giá cả thị trường nơi xảy ra tai nạn, có trừ khấu hao
Giá trị thiệt hại = Nguyên giá - khấu hao
Trang 26* M3: Mức độ thiệt hại thực tế về kinh doanh của người thứ ba Căn cứvào tình hình thực tế của người thứ ba, ngành nghề kinh doanh của họ, doanhthu tháng, thuế phải nộp
Như vậy mức độ thiệt hại về kinh doanh của người thứ ba đôi khi rấtlớn và không ai lường trước được cho nên hầu hết các công ty bảo hiểm trênthế giới đều khống chế mức trách nhiệm của mình
Mức bắt buộc: 12 triệu/người / vụ_30 triệu/ vụ / tài sản
Mức tự nguyện: 15 triệu/ người/vụ_80 triệu/ vụ/ tài sản; 30 triệu/ vụ/người_80 triệu/ vụ/ tài sản
Trong luật pháp của Việt Nam cũng quy định khi xảy ra tai nạn phátsinh trách nhiệm dân sự nhà bảo hiểm bồi thường trực tiếp cho chủ xe, sau đóchủ xe bồi thường cho người thứ ba Nhưng có thể có trường hợp vẫn chophép nhà bảo hiểm bồi thường trực tiếp cho người thứ ba nếu như chủ xe vìmột lý do nào đó không thể thực hiện được trách nhiệm của mình
V GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
1 Thời hạn yêu cầu, thanh toán và khiếu nại bồi thường
Thời hạn yêu cầu bồi thường của chủ xe cơ giới: 6 tháng kể từ ngày xảy
ra tai nạn, trừ trường hợp chậm trễ do nguyên nhân khách quan và bất khảkháng theo quy định của pháp luật
Thời hạn thanh toán bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm: 15 ngày
kể từ khi nhận được hồ sơ bồi thường đầy đủ và hợp lệ, không kéo dài quá 30ngày trong trường hợp phải tiến hành xác minh hồ sơ Trong trường hợp từchối bồi thường, doanh nghiệp phải thông báo cho chủ xe cơ giới bằng vănbản về lý do từ chối bồi thường
Thời hạn khiếu nại bồi thường của chủ xe cơ giới: 3 tháng kể từ ngàydoanh nghiệp bảo hiểm thanh toán bồi thường hoặc từ chối bồi thường Quáthời hạn này mọi khiếu nại không còn giá trị
Trang 27Trường hợp người thứ ba hay hành khách theo hợp đồng vận chuyển bịthiệt hại về người và tài sản do xe cơ giới đã tham gia bảo hiểm gây ra khiếunại trực tiếp đòi doanh nghiệp bảo hiểm đó bồi thường, doanh nghiệp bảohiểm có trách nhiệm liên hệ với chủ xe cơ giới để giải quyết bồi thường thoảđáng theo đúng các quy định.
2 Giải quyết tranh chấp
Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm nếu không giải quyếtđược bằng thương lượng giữa các bên liên quan sẽ được đưa ra toà án ViệtNam giải quyết
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM
PETROLIMEX GIAI ĐOẠN 1998-2002
I VÀI NÉT VỀ CÔNG TY BẢO HIỂM PETROLIMEX(PJICO)
Trang 28đến nay PJICO đã có một đội ngũ cán bộ trẻ nhiệt tình, có trình độ và nhiềucán bộ có kinh nghiệm trong lĩnh vực bảo hiểmvà không chỉ được đào tạo ởtrong nước mà còn cả ở ngoài nước.
PJICO luôn tự hào là một công ty trẻ nhưng đã đạt được những thành íchđáng khích lệ Từ chỗ khách hàng của công ty là các cổ đông, đến nay hàngnghìn khách hàng thuộc tất cả các ngành nghề, lĩnh vực, các thành phần kinh
tế đã tham gia bảo hiểm tại PJICO Nhiều khách hàng, công trình lớn nhưkhách sạn Hà Nội Daewoo, Cao ốc HITC tại Hà Nội, Diamon Plaza tạiTPHCM, nhiều gói thầu cầu, đường trên Quốc lộ 1, Quốc lộ 5, đường xuyên
á, nhà máy thuỷ điện Sông Hinh, các tàu dầu lớn của Petrolimex, VOSCO đềuliên tục tham gia bảo hiểm tại PJICO
Ngay từ khi ra đời, PJICO đã nhanh chóng triển khai kinh doanh cácnghiệp vụ bảo hiểm cả về chiều sâu và trên diện rộng Số lượng nghiệp vụ bảohiểm triển khai ngày càng tăng thêm và đa dạng hoá Tới nay công ty đã thựchiện trên 40 nghiệp vụ bảo hiểm, đáp ứng nhu cầu bảo hiểm đa dạng củakhách hàng như: nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải, nghiệp vụ bảo hiểm phi hànghải, nghiệp vụ bảo hiểm kĩ thuật và tài sản Tổng doanh thu phí bảo hiểmtrong 5 năm đầu của công ty đạt trên 400 tỷ đồng, tỷ lệ tăng trưởng doanh thuphí bình quân đạt 39% năm Tính dến năm 2000 Công ty đã bảo toàn và tíchluỹ vốn hoạt động lên 115 tỷ đồng gấp 4 lần số vốn góp ban đầu của các cổđông, không kể thuế nộp Ngân sách và đã chia lãi cổ tức được 77% trên vốngóp cho các cổ đông, đóng góp cho Ngân sách Nhà nước được trên 35 tỷđồng
Mạng lưới kinh doanh của công ty không ngừng được mở rộng Để phục
vụ khách hàng ngày càng tốt hơn, Công ty PJICO không còn chỉ tập trung ở
Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, các thành phố lớn mà còn triển khai từ Bắc vàoNam, từ thành phố tới nông thôn dọc theo chiều dài đất nước Hiện nay công
ty đã có 20 chi nhánh, 24 văn phòng đại diện, hàng trăm đại lí và cộng tácviên bảo hiểm
Trang 29Với cơ chế năng động của một công ty cổ phần, và phương châm hoạtđộng: “tất cả vì khách hàng, vì chữ tín của PJICO” Sau 7 năm ra đời và hoạtđộng, công ty đã được nhiều bạn hàng gần xa tín nhiệm trao gửi niềm tin.PJICO luôn quan tâm để tăng cường sự hợp tác, ủng hộ, giúp đỡ của các công
ty bảo hiểm, công ty tái bảo hiểm trong và ngoài nước như: Bảo Việt, BảoMinh, Vinare, MunichRe, West of England và đã chính thức tham gia Hiệphội bảo hiểm Việt Nam Được sự ủng hộ và tín nhiệm của khách hàng, bạnhàng cùng với những lợi thế và uy tín của các cổ đông, vận hành dưới môhình cổ phần năng động, PJICO sẽ còn tiếp tục phát triển hơn nữa để xứngđáng là lá chắn, giá đỡ của mọi khách hàng
2 Các nghiệp vụ bảo hiểm công ty đang triển khai
2.1 Nghiệp vụ bảo hiểm Hàng hải
2.2 Nghiệp vụ bảo hiểm Phi hàng hải
2.3 Nghiệp vụ bảo hiểm Kỹ thuật và Tài sản
2.4 Nghiệp vụ Tái bảo hiểm
2.5 Các hoạt động khác
3 Cơ cấu tổ chức của công ty
Công ty PJICO được thành lập dưới hình thức là công ty cổ phần bảohiểm Cơ cấu tổ chức bao gồm:
- Đại hội đồng cổ đông
- Hội đồng quản trị
- Tổng giám đốc
- Bộ máy giúp việc
- Ban kiểm soát
Các cổ đông sáng lập Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex bao gồm: Tên Tỷ lệ góp vốn (%)
Trang 30Tổng công ty xăng dầu Việt nam(Petrolimex) 51
Ngân hàng ngoại thương Việt Nam(Vietcombank) 10
Công ty tái bảo hiểm quốc gia(Vinare) 8
Tổng công ty thép Việt Nam(VSC) 6
Công ty vật tư và thiết bị toàn bộ(Matexim) 3
Sơ đồ tổ chức bộ máy hoạt động công ty PJICO
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ TỔNG GIÁM ĐỐC
Chi nhánh Hà Tây
Phòng BH Bắc Giang
Phòng BH Lạng Sơn
Chi nhánh TháiNguyên
Phòng BH Nam Định
Phòng Đầu
tư & TTCK tra Pháp chếBan Thanh Quản lí nghiệpPhòng TT và
vụ
Phòng BH Hàng Hải
Phòng Tái BH
Chi nhánh Đà Nãng
Chi nhánh Quảng Nam
Chi nhánh Quảng Ngãi
Chi nhánh Khánh Hoà
Chi nhánh Sài Gòn
Chi nhánh Cần Thơ Phòng Bồi
Thường
Trang 314 Tình hình kinh doanh của PJICO giai đoạn 1998-2002
Hoạt động kinh doanh của PJICO cũng giống như các công ty bảo hiểmkhác Đó là ngoài việc triển khai hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảohiểm, PJICO còn tham gia một số lĩnh vực hoạt động đầu tư khác được Nhànước cho phép như: kinh doanh bất động sản, cho vay, mua trái phiếu…
4.1 Kinh doanh bảo hiểm
Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động chủ đạo của PJICO Công ty triểnkhai các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ, cung cấp các sản phẩm bảo hiểmđến các khách hàng có nhu cầu tham gia với mục tiêu giúp khách hàng có thểnhanh chóng ổn định tình hình tài chính nếu không may rủi ro xảy ra, tránhnhững xáo trộn lớn trong cuộc sống hành ngày Thông qua đó góp phần ổnđịnh tình hình xã hội , ngoài ra còn đem lại doanh thu cho doanh nghiệp Trên
cơ sở nguồn vốn nhàn rỗi này, doanh nghiệp mới có thể tiến hành các hoạtđộng đầu tư Thu nhập từ hoạt động này để duay trì tính ổn định trong kinhdoanh của công ty, đảm bảo khả năng chi trả, hơn thế nữa nó còn là nhân tốgiúp làm giảm mức phí của khách hàng
Phòng BH Đắc Chi nhánh
Trang 32PJICO là công ty bảo hiểm còn rất trẻ, mới chỉ được thành lập từ năm
1995 nhưng từ đó đến nay công ty luôn đạt được kết quae khả quan trong hoạtđộng kinh doanh bảo hiểm gốc, ngày càng củng cố được vị trí và uy tín củamình trên thị trường bảo hiểm, có sức cạnh tranh đáng kể so với các bậc đànanh đi trước đã có nhiều kinh nghiệm kinh doanh như Bảo Việt, Bảo Minh.Tình hình doanh thu phí của PJICO như sau
Bảng2: Doanh thu phí bảo hiểm gốc của PJICO 1998-2002
DT phí BH gốc Trđ 96.353 96.400 123.655 146.538 175.800 Tốc độ tăng trưởng
liên hoàn
Lần
1,20 1,00 1,28 1,185 1,20 Tốc độ phát triển Lần 0,20 1,00 0,28 0,185 0,20
Nguồn: Báo cáo tổng hợp của PJICO
Từ năm 1998 khi hoạt động kinh doanh đã đi vào ổn định, công ty vẫngiữ được mức tăng doanh thu phí đều đặn Năm 1998 đạt 96.353 triệu đồng;năm 1999 là 96.400 triệu đồng; năm 2001 là 146.538 triệu đồng và năm 2002
là 175.800 triệu đồng Năm 2002 tốc độ tăng trưởng là 1,2 lần, tăng 12,46 lần
so với năm 1995
Đây là một kết quả rất đáng khích lệ đối với một công ty bảo hiểm còn ítkinh nghiệm hoạt động, đặc biệt đây lại là một công ty cổ phần bảo hiểm đầutiên và còn mới mẻ ở Việt Nam PJICO là công ty cổ phần mới ra đời, khôngnhận được bất cứ một sự ưu đãi nào từ phía Nhà nước như: Miễn thuế trongmột thời gian hoạt động nhất định, cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, miễn thuếnhập khẩu máy móc thiết bị…Đây là những khó khăn thiệt thòi lớn Do vậy
từ những kết quả mà PJICO đã đạt được, công ty cần có quyền tự hào vàkhẳng định trong sự phát triển đi lên của mình
Doanh thu phí của toàn công ty tăng lên là do một số nguyên nhân sau:
Trang 33- Số lượng các chi nhánh và tốc độ tăng doanh thu của từng chi nhánh vàtừng nghiệp vụ trong toàn quốc tăng lên về số lượng một cách đáng kể.
- Được sự quan tâm của HĐQT, cán bộ nhân viên được đi học nghiệp vụbảo hiểm nâng cao trình độ và khả năng khai thác cho công ty…
Với tốc độ tăng về doanh thu phí của PJICO như vậy là rất đáng khích lệ,đặc biệt đối với một công ty còn non trẻ
So sánh với doanh thu phí của Bảo Việt ta thấy như sau:
- Năm 1998 doanh thu của Bảo Việt là 79.068 triệu đồng, trong khi đó củaPJICO là 96.353 triệu đồng
- Năm 1999 doanh thu phí của Bảo Việt là 87.635 triệu đồng tăng 110,8%
so với năm 1998
- Năm 2000 là 74.887 triệu đồng thấp hơn năm 1999 và thấp hơn so vớidoanh thu phí của PJICO
- Năm 2001 doanh thu phí của Bảo Việt đạt được là 75.800 và năm 2002
là 81.143 triệu đồng, trong khi đó của PJICO là 175.800 triệu đồng Như vậy
so với một công ty lớn như Bảo Việt thì doanh thu phí mà PJICO đã đạt được
là điều rất đáng mừng
Mặc dù từ khi hoạt động đến nay có nhiều biến động thăng trầm nhưngchỉ sau 1 năm hoạt động tốc độ phát triển đã đạt 270%, tức tăng trưởng 2,7lần Các năm sau đó tốc độ phát triển giảm dần và từ năm 2000 tốc độ nàyxấp xỉ 20% Sự giảm sút này là do nhiều nguyên nhân tác động trong đó mộtnguyên nhân cơ bản đó là: PJICO gặp phải nhiều sự cạnh tranh của các công
ty bảo hiểm trong nước lớn mạnh như: Bảo Việt, Bảo Minh và các công tybảo hiểm liên doanh, các công ty bảo hiểm nước ngoài hoạt động tại ViệtNam
Về thị phần: PJICO ngày một phát triển và có sức cạnh tranh tốt, thịphần của công ty cũng ngày một lớn hơn
Trước năm 1995 thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam chỉ có 3công ty là Bảo Việt, Bảo Minh và Bảo Long chia nhau nắm giữ 100% thị
Trang 34trường Trong đó Bảo Việt là công ty chiếm thị phần rất lớn ~ 83% Năm
1995 PJICO ra đời và đi vào hoạt động Sau một năm thị phần của PJICO đãđạt 4,08% và ngày càng tăng
Tuy nhiên sự cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ vô cùnggay gắt, PJICO cần phải có nhiều biện pháp để thị phần của mình đạt đượccao hơn nữa và không chỉ cạnh tranh được với các công ty trong nước mà cònvới cả các công ty bảo hiểm liên doanh và nước ngoài
Mặc dù năm 2002 doanh thu phí toàn công ty đạt ~ 176 tỷ đồng, đứngsau Bảo Việt, Bảo Minh, PV nhưng công ty đã hoàn thành 111,1% kế hoạchđược giao, tăng 27,1% so với năm 2001
4.2 Kinh doanh tái bảo hiểm
Hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm là một lĩnh vực quan trọng khôngkém so với hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc, nhất là đối với các nghiệp vụ
có giá trị lớn như: Bảo hiểm xuất nhập khẩu hàng hóa, bảo hiểm xây dựng lắpđặt, bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt…Hoạt động tái bảo hiểm giúp chocông ty ổn định hoạt động, tăng cường khả năng chi trả, nâng cao uy tín chocông ty Thông qua tái bảo hiểm công ty vẫn có khả năng kí kết hợp đồng vàchi trả bồi thường nếu rủi ro không may xảy ra Ngoài ra công ty bảo hiểmcòn có thu nhập từ việc nhận tái bảo hiểm cho các công ty khác từ phí nhậntái bảo hiểm Như vậy thông qua hoạt động tái bảo hiểm, công ty có thể nhậnđược hoa hồng nhượng tái và phí nhận tái bảo hiểm
Nhìn chung hoạt động tái bảo hiểm của PJICO từ khi thành lập cho đếnnay cũng đạt được nhiều kết quả tốt
Khi mới thành lập, phí nhận TBH của PJICO chỉ đạt 47,568 triệu đồngnhưng các năm tiếp sau (1996-1999) phí nhận tái đã tăng lên một cách đángkể
Năm 2001 phí nhận TBH là 4.003 triệu đồng, gấp 84,15 lần so với năm
1995 Hoa hồng TBH thu được là 12.340 triệu đồng
Trang 35Năm 2002 doanh thu phí nhận TBH đạt 13.800 triệu đồng, tăng trưởng244,7% Hoa hồng TBH đạt 12.700 triệu đồng, tăng trưởng 2,9% so với năm2001.
Doanh thu hoạt độngTBH của PJICO rất đáng kể, công ty đã rất chú ýđến hoạt động này và đã thiết lập được nhiều mối quan hệ với các công ty táibảo hiểm trong và ngoài nước Ngoài công ty tái bảo hiểm quốc gia (Vinare),công ty còn có mối quan hệ với Munichre, Loy’ds… Đến nay PJICO đãchính thức gia nhập Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, thông quan mối quan hệnày công ty đã tăng khả năng nhận TBH cho các khách hàng lớn, nhiều côngtrình có giá trị từ 1.000 tỷ đồng đến 2.000 tỷ đồng như: Trung tâm thương mạiDeaha với giá trị bảo hiểm là 125 triệu USD, Posconama cũng tham gia bảohiểm tại PJICO với giá trị 67 triệu USD một phần khu công nghiệp đèn hìnhHanel bảo hiểm với giá trị 165 triệu USD…
Hơn thế nữa qua các mối quan hệ với các công ty bảo hiểm, công ty táibảo hiểm giàu kinh nghiệm trong và ngoài nước, PJICO sẽ học hỏi đượcnhiều kinh nghiệm, tranh thủ được sự hỗ trợ đào tạo chuyên môn nghiệp vụ
4.3 Hoạt động đầu tư
Đầu tư là một trong số mảng hoạt động lớn của công ty bảo hiểm Nó cóvai trò quan trọng tác động đến hoạt động kinh doanh của công ty Đầu tưđảm bảo thực hiện tốt cam kết chi trả với khách hàng Thực hiện tốt hoạt độngđầu tư sẽ mang lại cho công ty doanh thu lớn, làm cơ sở giảm phí bảo hiểm vànâng cao uy tín cho công ty
Khách hàng khi tham gia bảo hiểm phải đóng một khoản phí nhất định,khoản tiền này lập thành quỹ và được xem là khoản phải trả cho khách hàng
Số tiền trong quỹ này rất lớn và được công ty bảo hiểm đem đi đầu tư ở mứccho phép vào các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Nhà nước.Khi đưa tiền tạm thời nhàn rỗi này đi đầu tư phải tuân thủ theo các nguyên tắcđầu tư Đặc biệt đối với hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ, thời gian bảo hiểmngắn do đó khi PJICO đầu tư phải đảm bảo nguyên tắc đầu tư và các khoản
Trang 36mục có tính thanh khoản cao Thu nhập từ hoạt động đầu tư giúp cho công tyduy trì khả năng tài chính, chi trả cho các khoản chi về quản lí, chi cho việcthiết kế sản phẩm, quan hệ khách hàng…
Từ khi thành lập đến nay, hoạt động đầu tư của PJICO được thực hiệnkhá tốt, nguồn vốn được bổ sung từ đầu tư là khá nhiều Cụ thể như sau:
số lĩnh vực có tiềm năng khác
Trang 3760 lượt cán bộ được đào tạo ở nước ngoài Cho đến nay tất cả cán bộ nhânviên đều được kí hợp đồng lao động, được thực hiện đầy đủ chế độ BHXHtheo đúng quy định của Nhà nước Hàng năm PJICO còn tổ chức cho cán bộnhân viên đi du lịch, nghỉ mát…tạo thêm điều kiện gắn bố hơn với công ty.PJICO cũng rất chú ý đến việc bồi dưỡng chính trị cho nhân viên, đã cónhiều khóa học bồi dưỡng đối tượng Đảng được tổ chức cho những người laođộng xuất sắc.
Ngoài ra PJICO cũng tiến hành các hoạt động như đại lí giám định, đại líbồi thường…và các hoạt động này đều mang lại cho công ty thu nhập khôngnhỏ
Năm 2002 là năm thực sự đáng nhớ đối với PJICO Mặc dù có sự thayđổi về người điều hành nhưng trong 6 tháng cuối năm đã có sự tăng trưởngvượt bậc và đã hoàn thành kế hoạch do HĐQT giao trước ngày 31/12/2002.tốc độ tăng doanh thu không chỉ do phát triển mạng lưới như những nămtrước mà chính các chi nhánh sẵn có đã đạt được vực dậy và có tốc độ tăngtrưởng tốt như: Văn phòng công ty, PJICO Sài Gòn…
4.5 Công tác bồi thường
Mặc dù mới đi vào hoạt động trong 8 năm, PJICO đã đạt được những kếtquả đáng khích lệ và doanh thu ngày càng tăng lên, tuy nhiên công ty vẫn
Trang 38phải đối mặt với những khó khăn và thách thức không nhỏ Điều đó đòi hỏicông ty phải có những biện pháp nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm Mộttrong số đó là phải thực hiện tốt công tác giám định bồi thường.
Giám định bồi thường là công việc dịch vụ sau bán hàng, có tác động lớnđến uy tín của công ty Do tầm quan trọng của công tác này nên việc giámđịnh bồi thường luôn được ban giám đốc đặc biệt quan tâm Thực tế cho thấyPJICO thực hiện rất tốt khâu bồi thường, giải quyết nhanh gọn vì vậy tạothêm nhiều niềm tin cho khách hàng Do đó chắc chắn PJICO sẽ ngày càngphát triển Tuy nhiên bồi thường nhanh chưa phải là hữu hiệu cho công ty vìthời gian bồi thường nhanh chóng, thủ tục bồi thường đơn giản sẽ dễ tạo điềukiện cho khách hàng có hành vi trục lợi Nếu bị trục lợi sẽ gây nhiều hậu quảcho cả công ty và xã hội
Tình hình bồi thường của PJICO thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3: Tình hình bồi thường của PJICO 1998-2002
Tỷ lệ bồi thường (%)
Nguồn: Báo cáo tổng hợp của PJICO
Cũng như doanh thu, chi bồi thường của công ty trong 5 năm qua cũng
có những biến động thất thường Năm 1999 là năm có tỷ lệ bồi thường caonhất 48,66% Năm 2000 có tỷ lệ bồi thường thấp nhất 39,73% Tỷ lệ bồi
Trang 39thường biến động lên xuống, năm 2002 là 43,74% tức là 76.900 triệu đồng.Đây là tỷ lệ nói chung có thể chấp nhận được.
Sự biến động về tỷ lệ bồi thường qua các năm là do một số nguyên nhân
cơ bản sau:
- Tỷ lệ bồi thường của các văn phòng cũng như các chi nhánh của công ty
có biến động
- Tỷ lệ bồi thường của các nghiệp vụ cũng có nhiều biến động
Năm 2002 các nghiệp vụ có tỷ lệ bồi thường cao như: Bảo hiểm conngười phi nhân thọ, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm học sinh Riêng bảo hiểm
xe cơ giới có tỷ lệ bồi thường cao là do: Số xe máy lưu hành tăng lên mộtcách đột biến, cơ sở hạ tầng đường bộ chưa được cải tiến, tai nạn giao thôngxảy ra ngày càng nhiều và trầm trọng
Trong năm 2002, các chi nhánh có tỷ lệ bồi thường thấp như văn phòngcông ty (38,4%), PJICO Đà Nẵng (30,2%) Các chi nhánh có tỷ kệ bồi thườngcao như: PJICO Nghệ An (53,9%), PJICO Khánh Hòa (66,2%)…
Như vậy tỷ lệ bồi thường từng văn phòng, từng chi nhánh biến động làmcho tỷ lệ bồi thường toàn công ty cũng có biến động theo Nhìn chung năm
2002 tỷ lệ bồi thường có giảm so với trước tuy nhiên tỷ lệ này còn cao so vớimột số công ty bảo hiểm khác trong nước
So sánh tỷ lệ bồi thường với Bảo Việt ta thấy rõ được điều này:
- Năm 1998 số tiền bồi thường của Bảo Việt là 29.107 triệu đồng, tỷ lệbồi thường là 33,21%
- Năm 1999 số tiền bồi thường là 23.700 triệu đồng với tỷ lệ bồi thường31,65%
- Năm 2000 số tiền bồi thường là 28.286 triệu đồng, tỷ lệ bồi thường37,32%
Trang 40- Năm 2001 số tiền bồi thường là 32.250 triệu đồng, tỷ lệ bồi thường38,32%.
- Năm 2002 số tiền bồi thường của Bảo Việt là 34.350 triệu đồng với tỷ
lệ bồi thường 40,42%
Như vậy tỷ lệ bồi thường của Bảo Việt thấp hơn nhiều so với của PJICO.Yêu cầu đặt ra cho công ty PJICO trong thời gian tới đó là phải thực hiện tốthơn nữa, phát hiện và xử lí các vụ trục lợi bảo hiểm để giảm chi phí bồithường sai
4.6 Kết quả kinh doanh toàn công ty giai đoạn 1998- 2002
Bảng4: Lợi nhuận kinh doanh của PJICO 1998-2002
Đơn vị: Triệu đồng
Lợi nhuận trước thuế 11.800 7.700 8.900 9.200 12000
Thuế 5.100 2.300 2.700 2.900 3.600
Lợi nhuận sau thuế 6.700 5.400 6.200 6.300 8.400
Nguồn: Báo cáo tổng hợp của PJICO
Lợi nhuận sau thuế của công ty ngày càng tăng, năm 1995 do công tymới đi vào hoạt động nên chỉ đạt 2 tỷ đồng Lợi nhuận tăng dần và năm 2002
đã đạt 12 tỷ đồng trước thuế, nộp Ngân sách 3,6 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuếđạt 8,4 tỷ đồng Đây là một kết quả khả quan đối với một công ty vừa mới đivào hoạt động được 8 năm PJICO đang cố gắng phấn đấu để đưa vị trí củamình vào tiềm thức khách hàng
Công ty đạt được kết quả như vậy là do mọt số nguyên nhân cơ bản sau:
- Thúc đẩy các chính sách Marketing, thực hiện quảng cáosâu rộng, đưa sản phẩm của công ty đến với khách hàng
- Mở rộng các văn phòng, chi nhánh ở các tỉnh, thành phố
và trong cả nước