1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài Giảng Luật So Sánh Thời Lượng 45 Tiết

131 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Giảng Luật So Sánh Thời Lượng 45 Tiết
Tác giả Michael Bogdan, Rene David
Trường học Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật So Sánh
Thể loại Bài giảng
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 233,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng Luật so sánh Thời lượng 45 tiết Mục lục Chương 1 Nhập môn luật so sánh 2 1 Khái niệm luật so sánh 2 2 Định nghĩa luật so sánh 2 3 Đối tượng nghiên cứu của luật so sánh 3 4 Phương pháp nghiên[.]

Trang 1

Bài giảng Luật so sánh Thời lượng: 45 tiết

Mục lục

Chương 1: Nhập môn luật so sánh 2

1 Khái niệm luật so sánh 2

2 Định nghĩa luật so sánh 2

3 Đối tượng nghiên cứu của luật so sánh 3

4 Phương pháp nghiên cứu của luật so sánh 4

5 Sự hình thành và phát triển của luật so sánh 6

6 Sự hình thành và phát triển của luật so sánh trên thế giới 6

7 Sự phát triển của luật so sánh ở VN 8

III Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luật so sánh 8

1 Sự phân nhóm các hệ thống PL trên thế giới 9

Chương 2: Dòng họ pháp luật châu Âu lục địa 10

1 Sự hình thành và phát triển của dòng họ Civil law 11

2 Sự hình thành và phát triển của dòng họ civil law ở châu Âu lục địa 11

3 Sự mở rộng của dòng họ civil law sang châu Âu lục địa 15

4 Cấu trúc pháp luật của dòng họ Civil law 16

5 Cách phân chia pháp luật 16

6 Quy phạm pháp luật và giải thích quy phạm pháp luật 17

7 Điểm yếu trong công pháp 18

III Nguồn của các hệ thống PL thuộc dòng họ Civil law 18

1 Pháp luật thành văn 18

2 Tập quán pháp 19

Trang 2

3 Các nguyên tắc chung của PL 19

4 Phán quyết của tòa án 20

5 Các học thuyết pháp lý 20

6 Hệ thống pháp luật một số nước thuộc dòng họ civil law 20

7 Hệ thống pháp luật Pháp 20

8 Hệ thống pháp luật Đức 25

Chương 3: Dòng họ common law 32

1 Sự hình thành và phát triển của dòng họ common law 32

2 Sự hình thành hệ thống common law ở Anh 32

3 Sự mở rộng của common law từ Anh ra các quốc gia khác 36

4 Một số hệ thống PL điển hình thuộc dòng họ common law 36

5 Hệ thống pháp luật vương quốc Anh 36

6 Hệ thống pháp luật Mỹ 43

Chương 5: Pháp luật Hồi giáo 49

1 Luật Hồi giáo 49

2 Khái niệm 49

3 Sự hình thành và phát triển của luật Hồi giáo 50

4 Nguồn của luật Hồi giáo 51

5 Sự thích ứng của luật hồi giáo với thế giới hiện đại 52

6 Pháp luật các quốc gia Hồi giáo 53

 

 Giáo trình Luật so sánh – ĐH Luật Hà Nội

 Luật So sánh của Michael Bogdan

 Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại của Rene David

Chương 1: Nhập môn luật so sánh

I Khái niệm luật so sánh

1 Định nghĩa luật so sánh

a Luật so sánh là gì

– Luật so sánh : Comparative law

Trang 3

+ việc sử dụng thuật ngữ “Luật so sánh” vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi trong khoa học pháp lý

+ nếu đúng bản chất thì phải sử dụng thuật ngữ “so sánh luật” (Legal Comparison), tuy nhiên do “thói quen” sử dụng luật ngữ

“luật so sánh” nên các học giả vẫn chủ yếu sử dụng thuật ngữ

“luật so sánh”

– Có nhiều học giả đưa ra định nghĩa về luật so sánh:

+ “luật so sánh là so sánh các hệ thống pháp luật khác nhau trên

thế giới”

+ “luật so sánh là nghiên cứu có hệ thống các truyền thống Pháp

luật và các quy phạm pháp luật nào đó trên cơ sở so sánh”

– ĐN luật so sánh theo 1 học giả VN: “Luật so sánh là phương

pháp để xem xét, nghiên cứu, tiếp cận pháp luật trên bình diện của sự giao lưu quốc tế.”

Nhận xét về định nghĩa: ưu điểm là ngắn gọn; nhược điểm là cụm

từ cuối “bình diện của sự giao lưu quốc tế” khó hiểu, đi ngược lại

với quan điểm của các học giả trên thế giới

– ĐN luật so sánh theo Michael Bogdan: “Luật so sánh bao gồm:

   + So sánh các hệ thống pháp luật khác nhau để xác định

những điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng;

   + Nghiên cứu những điểm tương đồng và khác biệt đã được xác định, chẳng hạn, giải thích nguồn gốc của chúng, đánh giá những giải pháp được sử dụng trong các hệ thống pháp luật khác nhau, phân nhóm các hệ thống pháp luật thành các dòng họ

pháp luật hoặc tìm kiếm những điểm cốt lõi chung của các hệ thống pháp luật;

   + Làm rõ những vấn đề mang tính phương pháp luận nảy sinh

có liên quan đến các nhiệm vụ trên, bao gồm cả những vấn đề có tính phương pháp luận liên quan đến việc nghiên cứu pháp luật nước ngoài.”

Trang 4

Nhận xét về định nghĩa: ưu điểm là nêu được đầy đủ các nội dung của luật so sánh; nhược điểm là dài, phức tạp, mặc dù liệt

kê chi tiết nội dung nhưng không nêu rõ được bản chất của luật

so sánh

b Đặc điểm của luật so sánh

– Luật so sánh không phải là 1 ngành luật hay lĩnh vực pháp

luật thực định trong hệ thống pháp luật quốc gia: tức là luật so

sánh không phải 1 hệ thống các quy phạm PL điều chỉnh 1 lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội như luật dân sự, luật hình sự, luật hôn nhân gia đình

– Luật so sánh là 1 ngành khoa học độc lập: đây là bản

chất của luật so sánh, dựa trên các lập luận sau:

+ việc thường xuyên so sánh các hệ thống pháp luật với nhau đã

tạo ra một hệ thống tri thức độc lập với hệ thống tri thức của

+ các học giả đã chứng minh được “luật so sánh” và “phương pháp so sánh luật” là hoàn toàn khác nhau ==> không thể coi luật

so sánh là 1 phương pháp nghiên cứu mà phải coi đó là 1 ngành khoa học độc lập

– Phạm vi nghiên cứu của luật so sánh rất rộng: căn cứ vào

định nghĩa luật so sánh của Micheal Bogdan:

+ So sánh các hệ thống pháp luật khác nhau để xác định những

điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng: hiện nay trên thế giới

có hàng trăm hệ thống pháp luật (mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ đều có ít nhất 1 hệ thống pháp luật, ở các quốc gia liên bang thì

mỗi bang lại có 1 hệ thống PL riêng như Hoa Kỳ, Đức, Nga), mà

Trang 5

không có 2 hệ thống pháp luật nào trùng hoàn toàn với nhau ==>

số lượng đối tượng nghiên cứu là rất lớn

+ Nghiên cứu những điểm tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống PL: trong mỗi hệ thống PL đều có rất nhiều các chế định, các nguyên tắc, các quy phạm ==> có rất nhiều nội dung để luật

so sánh nghiên cứu

2 Đối tượng nghiên cứu của luật so sánh

– Mặc dù còn tranh luận về bản chất của luật so sánh nhưng các

học giả đều thừa nhận: “việc so sánh các hệ thống PL khác nhau

nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt của chúng” là

nội dung cơ bản, chủ đạo của các công trình luật so sánh

a Khái quát các đối tượng nghiên cứu

– Hệ thống pháp luật (legal system): có 3 cách hiểu (cách sử dụng):

+ tổng thể các quy phạm PL của 1 quốc gia / vùng lãnh thổ: VD tổng thể các quy phạm PL của Trung Quốc

+ tổng thể quy phạm PL và thiết chế PL của 1 quốc gia / vùng lãnh thổ: ngoài các quy phạm PL còn có các vấn đề khác như môhình tổ chức tòa án của quốc gia đó, về hoạt động nghề nghiệp của luật sư, thẩm phán, công chứng viên, công tố viên, …, về hoạt động đào tạo luật và đào tạo nghề luật

+ PL của 1 nhóm quốc gia / vùng lãnh thổ mà trong đó PL có điểm chung nhất định: VD nhóm hệ thống PL các nước XHCN, nhóm hệ thống PL các nước châu Âu lục địa

==> trong môn học này, sẽ hiểu Hệ thống PL theo cách hiểu thứ

2, tức là Hệ thống PL là tổng thể quy phạm PL và thiết chế PL của 1 quốc gia / vùng lãnh thổ

Trang 6

– Dòng họ PL (legal family): là hệ thống PL của 1 nhóm quốc gia /vùng lãnh thổ mà có những điểm chung nhất định VD dòng họ

PL common law, dòng họ PL các nước XHCN, …

+ thuật ngữ “dòng họ PL” do Montesquier sáng tạo ra khi nghiên cứu các hệ thống PL, sau đó Rene David sử dụng rất nhiều trong các tác phẩm của mình (nhiều đến mức công chúng lầm tưởng Rene David là người sáng tạo ra thuật ngữ “dòng họ PL”)

+ là nhóm hệ thống PL có đặc điểm chung nhất định

+ trong đó xuất hiện hệ thống PL gốc, hệ thống PL bố mẹ VD hệ thống PL của Anh được coi là hệ thống PL gốc của dòng họ PL common law, hệ thống PL của Pháp được coi là gốc của dòng họ

PL civil law

+ thuật ngữ “truyền thống PL” (legal tradition) được sử dụng với nghĩa tương tự: có thể dùng cả 2 thuật ngữ “dòng họ PL” và

“truyền thống PL” với ý nghĩa tương đương

– Pháp luật quốc tế: hiện nay vẫn còn tranh cãi giữa các học giả xem PL quốc tế có phải là đối tượng nghiên cứu của luật so sánh không Lý do vì PL quốc tế thường là “đơn nhất”, không có 2 đối tượng PL quốc tế để so sánh, VD công ước luật biển quốc tế là duy nhất Tuy nhiên, vẫn có trường hợp khi 1 quốc gia gia nhập 1điều ước quốc tế, thì quốc gia đó phải xem xét các quy định trongđiều ước quốc tế đó có phù hợp, có mâu thuẫn với luật quốc gia của mình không, tức là có sự so sánh

Lưu ý:

+ so sánh luật không phải là so sánh toàn bộ hệ thống PL với nhau mà có thể chỉ so sánh 1 vấn đề nhỏ hoặc rất nhỏ VD so sánh chế định bầu cử của VN với Pháp, so sánh chế định tài sản của VN với Thái Lan

Trang 7

+ chỉ là đối tượng của luật so sánh khi đặt chúng trong mối tươngquan so sánh

b Cấp độ so sánh

– Chia hoạt động so sánh làm 2 cấp độ:

+ cấp độ so sánh vĩ mô: đối tượng so sánh là những vấn đề

mang tính cốt lõi, chủ đạo, khái quát

+ cấp độ so sánh vi mô: đối tượng so sánh là những vấn đề chi tiết, cụ thể

– Việc phân chia này chỉ mang tính tương đối, thường phải kết hợp cả vĩ mô và vi mô trong từng công trình nghiên cứu so sánh luật, VD ở công trình so sánh cấp độ vĩ mô, thì cũng cần so sánh những đối tượng ở cấp độ vi mô để minh họa cho so sánh đóVD: các hoạt động sau là so sánh vĩ mô hay so sánh vi mô:

+ so sánh hệ thống PL VN với hệ thống PL Lào ==> vĩ mô

+ so sánh PL hình sự Trung Quốc với PL hình sự Nhật ==> vi

mô, vì sẽ phải so sánh từng chế định cụ thể

+ so sánh quy phạm PL định nghĩa bất động sản trong PL Thái Lan và PL Pháp ==> vi mô

+ so sánh dòng họ PL XHCN và dòng họ Civil law ==> vĩ mô

+ so sánh chế định hợp đồng của PL Anh và PL Đức ==> vi mô 

Trang 8

3 Phương pháp nghiên cứu của luật so sánh

a Các phương pháp nghiên cứu mà luật so sánh sử dụng

– Có nhiều phương pháp nghiên cứu mà luật so sánh sử dụng:

so sánh, lịch sử, phân tích, tổng hợp, logic, …

– Phương pháp so sánh là phương pháp nghiên cứu chủ đạo củangành khoa học luật so sánh (đến mức nhiều người lầm tưởng luật so sánh là phương pháp so sánh)

– Phân biệt Phương pháp so sánh luật với Luật so sánh:

Phương pháp so sánh luật

Bản

chất

– Là ngành khoa học độc lập

– Sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó có phương pháp so sánh luật

– Là 1 phương pháp nghiên cứu luật

– Được áp dụng trong nhiều ngành khoa học khác, trong

đó có ngành khoa học luật so sánh

Mục

đích

– Tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa những đối tượng so sánh

– Lý giải nguồn gốc củanhững điểm tương

– Tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa các đối tượng

so sánh

– Không cần lý giải

Trang 9

đồng và khác biệt đó

– Đánh giá các giải pháp pháp lý dành cho các đối tượng so sánh

VD khi so sánh chế địnhbầu cử của VN với Hoa

Kỳ, sẽ có phần đánh giáưu,nhược điểm của mỗichế định bầu cử, đánh giá xem liệu có thể áp dụng những ưu điểm của chế độ bầu cử Hoa

Kỳ vào VN không, … – Không cần đánh giá

b Phương pháp so sánh trong luật so sánh

– Nguyên lý chung khi sử dụng phương pháp so sánh: các đối tượng so sánh phải tương đồng, tương ứng với nhau

– Trong luật so sánh phải tuân thủ nguyên lý đó ==> các đối tượng trong 1 công trình so sánh luật phải thực hiện cùng chức năng

Trang 10

c Các bước của quá trình so sánh luật

Gồm 06 bước:

– B1: Xây dựng giả thuyết nghiên cứu

+ xác định vấn đề dự kiến nghiên cứu: đưa ra câu hỏi để nghiên cứu

+ xây dựng giả thuyết nghiên cứu: để định hướng chương trình đitheo hướng nào

– B2: Lựa chọn đối tượng nghiên cứu: xác định cụ thể, rõ ràng đối tượng nghiên cứu, phải có thuộc tính pháp lý tương ứng để

 Để xem vấn đề mình đặt ra đã được các học giả khác giải quyết đến đâu rồi, còn có những phần nào các học giả chưagiải quyết không ==> nhằm tập trung vào những phần chưa được giải quyết

==> mục đích của việc thu thập tài liệu là để xác định hướng đi cụthể của công trình nghiên cứu

+ lưu ý: phải đánh giá độ tin cậy của tài liệu tham khảo dựa vào nguồn cung cấp tài liệu, VD nhà xuất bản, tác giả, đơn vị chủ quản của website

Trang 11

– B5: Viết báo cáo so sánh

+ chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các đối tượng

so sánh trên cơ sở những tiêu chí đã đặt ra ở Bước 4

+ lưu ý: cần trung thực, khách quan khi viết báo cáo, tránh áp đặt

ý chí chủ quan của mình, và cũng tránh tuân theo “mù quáng” quan điểm, ý kiến của học giả khác, dù cho học giả nó có uy tín

và nổi tiếng như thế nào

– B6: Đánh giá có phê phán kết quả so sánh

+ giải thích nguồn gốc của những điểm tương đồng, điểm khác biệt

+ phân tích, đánh giá ưu, nhược của các giải pháp pháp lý

+ nhận xét về hiệu quả của các giải pháp pháp lý

Chú ý: khác với Bước 5 yêu cầu cần khách quan, thì ở Bước 6,

nhà nghiên cứu hoàn toàn có thể đưa ra ý kiến chủ quan của mình

Chú ý: không nhất thiết phải thực hiện tất cả các bước trên Tùy

theo mục đích nghiên cứu mà lựa chọn những bước thực hiện cho phù hợp

Trang 12

c Một số điều cần lưu ý khi nghiên cứu PL nước ngoài

– Phải là so sánh các đối tượng của PL trong nước với PL nước ngoài hoặc của PL nước ngoài với nhau chứ không phải đối

tượng của PL trong nước với nhau vì nó không là đối tượng của luật so sánh

VD: so sánh Luật hình sự 1999 với Luật hình sự 2015: đây khôngphải là đối tượng của luật so sánh

– Cần có nguồn thông tin chính xác và đáng tin cậy về PL nước ngoài

– Phải có thông tin cập nhật về PL nước ngoài

– Nắm được các nguồn luật và sử dụng đúng các thuật ngữ pháp

lý của nước ngoài

– Sự phát triển của nền kinh tế: VD hệ thống PL của nước phát triển khác với hệ thống PL của nước đang phát triển, hay nước chậm phát triển

– Tôn giáo: VD hệ thống PL của quốc gia hồi giáo khác với hệ thống PL của quốc gia không hồi giáo

Trang 13

– Tác động phối hợp của các biện pháp kiểm soát: liên quan đến

PL về thuế, sở hữu trí tuệ, … của mỗi quốc gia

– Những yếu tố ngẫu nhiên: có những trường hợp hệ thống PL của 2 quốc gia giống nhau (một phần) mà không thuộc các yếu tố

đã nêu trên

II Sự hình thành và phát triển của luật so sánh

1 Sự hình thành và phát triển của luật so sánh trên thế giới

a Giai đoạn trước thế kỷ 19

– Các tiểu giai đoạn:

+ cổ đại

+ nhà nước đế quốc La Mã

+ trung cổ

+ cận đại (thời ký ánh sáng và PL tự nhiên)

– Thời kỳ cổ đại (trước Công nguyên)

+ gồm Nhà nước Lưỡng Hà, Hy Lạp cổ đại, La Mã cổ đại

Trang 14

+ theo Rene David: “Việc so sánh các hệ thống PL ở cạnh nhau

về mặt địa lý là công việc đã có từ xa xưa như chính khoa học pháp lý”

+ nhà nước Hy Lạp cổ đại: Plato với tác phẩm “Các luật lệ”,

Aristot với tác phẩm “Chính trị”, Theophrastus với tác phẩm “Về các luật lệ”, … trong đó so sánh PL của các thành bang Hy Lạp với nhau, từ đó rút ra những quy định PL tốt nhất, tối ưu nhất

+ nhà nước La Mã cổ đại: các học giả La Mã cổ đại đã nghiên cứu và so sánh PL của các thành bang Hy Lạp cổ đại với nhau và

so sánh với tập quán của La Mã, từ đó rút ra những quy định được cho là tốt nhất, kết quả là Luật 12 bảng ra đời

==> ngay từ thời cổ đại đã xuất hiện những mầm mống của luật

so sánh

Chú ý: mới chỉ ở mức độ “mầm mống” của luật so sánh chứ

chưa phải là đã có luật so sánh từ thời cổ đại Lý do là vì: những công trình so sánh luật không được đưa vào thực tiễn ứng dụng,

ví dụ Aristot viết tác phẩm “Chính trị” rất nổi tiếng nhưng ông

không đề nghị thành bang Hy Lạp cổ đại nào ứng dụng vào thực tiễn

– Thời kỳ nhà nước đế quốc La Mã (thế kỷ 1 trước CN – thế kỷ

6)

+ Do các luật gia, đặc biệt là các luật gia La Mã quan niệm Luật

La Mã là luật phát triển nhất và cho rằng PL nước ngoài là “rối rắm và ngớ ngẩn” ==> không cần phải nghiên cứu so sánh

Thực tế, tại thời điểm này thì hệ thống PL của nhà nước La Mã làphát triển nhất, tạo nền tảng xây dựng hệ thống PL của hầu hết các quốc gia sau này

Trang 15

+ Có 1 số học giả nghiên cứu so sánh Luật La Mã với luật nước ngoài, nhưng mục đích nghiên cứu của họ lại là để phân tích những “ngớ ngẩn” của luật nước ngoài

==> luật so sánh không có cơ hội phát triển ở nhà nước La Mã

– Thời kỳ trung cổ (thế kỷ 6 – thế kỷ 14):

+ châu Âu rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng (“đêm trường trung cổ”), PL không được coi trọng ==> hầu như không có sự nghiên cứu, phát triển PL

+ châu Âu lục địa tồn tại nhiều loại luật: luật La Mã, tập quán

pháp, luật giáo hội, nhưng hầu như không xuất hiện công trình sosánh nào Các luật gia cho rằng Luật La Mã và Luật Giáo hội là những luật có hiệu lực tuyệt đối và không có gì nghi ngờ

+ đến thế kỷ 13, Anh là quốc gia đầu tiên xây dựng thống nhất hệthống PL của mình, trong khi các nước châu Âu khác thì PL vẫn còn manh mún, chưa thành hệ thống Khi đó xuất hiện một số học giả Anh quốc tiến hành các công trình nghiên cứu so sánh PLAnh với PL Pháp (là “đối thủ” của nước Anh thời đó) nhưng thiếu khách quan, phần lớn chỉ để chê bai PL Pháp và khẳng định sự tối ưu của PL Anh

– Thời kỳ cận đại (thế kỷ 17 – thế kỷ 18, là thời đại ánh sáng và

PL tự nhiên)

+ các quốc gia đã dần ổn định, PL được quan tâm và phát triển

+ các luật gia chỉ tập trung nghiên cứu PL quốc gia, luật so sánh hầu như không phát triển

+ tuy nhiên, có 1 số học giả, đặc biệt là Montesquier đề xuất các học giả cần thoát khỏi khuôn khổ hệ thống PL quốc gia, để đánh giá được giá trị đúng của hệ thống PL Montesquier đã sử dụng

Trang 16

phương pháp so sánh để phát triển các bài giảng của mình ==> tạo nền móng cho luật so sánh phát triển mạnh mẽ sau này

b Từ thế kỷ 19 đến nay (một số học giả lấy mốc 1869 – nay, lấy

mốc ra đời của Tạp chí Luật so sánh ở Pháp)

– Ngay từ đầu thế kỷ 19, một số trường đại học ở Anh đã đưa môn Luật so sánh vào giảng dạy

– Sự ra đời của một loạt các bộ luật của các quốc gia châu Âu, đặc biệt là sự ra đời của Bộ luật thương mại chung của Đức năm

1861, đều dựa trên việc so sánh luật của các quốc gia

– Ngày càng nhiều học giả tập trung nghiên cứu luật so sánh, dầndần, với tri thức tích lũy được, các giả nhận ra rằng cần phải coi luật so sánh là 1 môn khoa học độc lập

– Luật so sánh phát triển mạnh mẽ dưới 2 hình thức:

+ luật so sánh lập pháp: là quá trình theo dõi PL của nước ngoài được viện dẫn để soạn thảo các văn bản PL quốc gia

+ luật so sánh học thuật: là việc so sánh các hệ thống PL khác nhau, đơn giản chỉ là nhằm nâng cao hiểu biết về PL

c Sự phát triển của luật so sánh ở khối các nước XHCN

Trang 17

+ khách quan: bị cấm vận, mà nguồn luật thì chủ yếu ở các nước TBCN

+ chủ quan:

 Việc tìm hiểu về PL TBCN bị cấm đối với các luật gia XHCN

 Luật so sánh có phạm vi nghiên cứu chủ yếu là hệ thống PL của các nước XHCN, mà các nước XHCN chủ yếu sao chépluật của Liên bang Xô Viết ==> không có gì để so sánh

2 Sự phát triển của luật so sánh ở VN

– Thời kỳ phong kiến: rất mờ nhạt, mới chỉ có luật so sánh lập pháp, tức là tiếp thu luật từ nước khác (chủ yếu từ Trung Quốc) vào xây dựng luật, VD Quốc triều hình luật tiếp thu PL nhà

Đường, Bộ luật Gia Long gần như sao chép hoàn toàn luật nhà Thanh

– Thời kỳ 1945-1975:

+ hầu như không có ở miền bắc

+ miền nam: luật so sánh rất phát triển

 xuất hiện các học giả nổi tiếng về luật so sánh như Tiến sỹ Ngô Bá Thành (tiến sỹ ở Pháp, là tiến sỹ về luật so sánh đầutiên của VN), luật sư Vũ Văn Mẫu

 năm 1961 bộ Dân luật Nam kỳ được xây dựng trên cơ sở của luật so sánh

 miền nam VN là thành viên của Hiệp hội Luật so sánh thế giới

– Thời kỳ 1975 – 1986: hầu như không phát triển vì cả nước

đang xây dựng XHCN

– Thời kỳ 1986 – nay: đạt được nhiều thành tựu lớn

Trang 18

+ luật so sánh lập pháp: xây dựng PL trên cơ sở học hỏi luật nước ngoài, VD luật hình sự 1999, luật dân sự 2015

+ luật so sánh học thuật:

 xuất hiện nhiều học giả nghiên cứu luật so sánh như TS Nguyễn Kim Pháp, TS Vũ Thị Ánh Vân, TS Võ Khánh Vinh,

TS Nguyễn Thanh Tâm, …

 xuất hiện các đơn vị tổ chức nghiên cứu luật so sánh như Phòng luật so sánh của Viện Nhà nước và Pháp luật, Trung tâm luật so sánh của ĐH Quốc gia Hà Nội, Viện Luật so sánh – ĐH Luật Hà Nội, …

 môn học luật so sánh được đưa vào giảng dạy tại tất cả các

cơ sở đào tạo luật

III Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luật so sánh

1 Trang bị kiến thức văn hóa chung cho người nghiên cứu:

khi thực hiện nghiên cứu luật so sánh, các học giả thường không chỉ nghiên cứu các quy phạm PL, các thiết chế, … mà còn nghiêncứu vì sao các quy phạm PL, các thiết chế, … lại được xây dựng như thế, tức là biết được kiến thức về văn hóa của quốc gia đó

2 Nâng cao hiểu biết về PL quốc gia:

+ bằng việc nghiên cứu luật so sánh, các học giả có thể biết

những quy định, thiết chế trong luật quốc gia mình có nguồn gốc

từ đâu, từ đó nắm được sâu hơn bản chất PL quốc gia mình

+ bằng việc so sánh PL các quốc gia, nhà nghiên cứu sẽ có đánhgiá khách quan về PL của nước mình so với thế giới (chứ không

bị tư tưởng chủ quan, coi PL nước mình là ưu việt hơn)

3 Hỗ trợ tìm kiếm mô hình PL lý tưởng: đánh giá được cái tốt,

cái xấu, cái phù hợp nhất, lý tưởng nhất cho hệ thống PL quốc gia mình

Đây là ý nghĩa chính, quan trọng nhất của luật so sánh

Trang 19

4 Hỗ trợ tiến trình hòa hợp và nhất thể hóa PL:

+ hài hòa hóa PL: là việc làm cho PL của các quốc gia dù khác nhau nhưng có thể “sống chung” với nhau

+ nhất thể hóa PL: là việc đưa ra những quy định PL chung cho các quốc gia

==> nghiên cứu luật so sánh giúp cho việc xây dựng và áp dụng luật quốc tế (cả công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế), tức là giúp cho việc xử lý được những xung đột PL giữa các quốc giaGiúp như thế nào ?

+ việc nghiên cứu luật so sánh giúp cho những nhà thương

thuyết hiểu được sự tương đồng và khác biệt trong hệ thống PL của các nước liên quan ==> dễ dàng hơn cho việc xây dựng luật quốc tế

+ giúp cho việc đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên tham gia trong điều ước quốc tế

+ nghiên cứu luật so sánh giúp rất nhiều cho việc xây dựng các quy định của luật quốc tế, vì thường sẽ bắt nguồn từ 1 tập quán hay 1 quy định của 1 hay 1 số quốc gia cụ thể (chứ rất ít khi xây dựng từ đầu)

5 Hỗ trợ thực hiện và áp dụng PL: khi giải quyết các vụ việc có

yếu tố nước ngoài, việc hiểu biết luật so sánh (tức là hiểu biết PL nước ngoài trên cơ sở so sánh với luật nước mình) sẽ hỗ trợ rất nhiều cho những người xét xử và những người liên quan

 

——————–

Trang 20

IV Sự phân nhóm các hệ thống PL trên thế giới

1 Mục đích phân nhóm

– Nắm được sự tương đồng giữa các hệ thống luật sẽ giúp

nghiên cứu PL nước ngoài trở nên rõ ràng hơn

Số lượng hệ thống PL trên thế giới là rất nhiều, trên 200 hệ thống

PL ==> 1 học giả gần như không thể nghiên cứu chi tiết từng hệ thống PL ==> tìm ra những điểm tương đồng của các hệ thống

PL và sắp xếp chúng vào cùng 1 nhóm ==> khi so sánh các hệ thống PL, chỉ cần chọn 1 hệ thống PL điển hình của nhóm đó (màkhông cần tìm hiểu lần lượt từng hệ thống PL)

– Mục đích chủ yếu của việc phân nhóm các hệ thống PL trên thếgiới nhằm mục đích sư phạm

2 Tính tương đối của việc phân nhóm các hệ thống PL trên thế giới

– Sử dụng những tiêu chí phân nhóm khác nhau sẽ cho ra kết quả phân nhóm khác nhau

+ Rene David dựa vào 2 tiêu chí là Hệ tư tưởng và Kỹ thuật lập pháp ==> cho ra 4 nhóm:

 nhóm PL Đức – La Mã (hay nhóm Rome – Giecmanh),

 nhóm PL xã hội chủ nghĩa,

 nhóm PL dựa trên tôn giáo và truyền thống (những nước Hồi giáo, Phật giáo và một số nước châu Phi),

 nhóm PL Anh – Mỹ (common law)

+ Zwergert và Kotz sử dụng 5 tiêu chí ==> cho ra 8 nhóm PL

– Mặc dù sử dụng những tiêu chí phân nhóm giống nhau nhưng tiến hành tại thời điểm khác nhau, sẽ cho ra kết quả phân nhóm khác nhau

Trang 21

Chẳng hạn trường hợp phân nhóm theo 2 tiêu chí là Hệ tư tưởng

và Kỹ thuật lập pháp của Rene David được thực hiện vào những năm 60 của thế kỷ 20, kết quả cho ra 4 nhóm PL (như đã nêu trên)

Đến đầu thế kỷ 21, 1 học giả khác cũng sử dụng 2 tiêu chí là Hệ

tư tưởng và Kỹ thuật lập pháp, nhưng lại cho ra kết quả khác, chỉ

có 3 nhóm là nhóm civil law, nhóm common law, nhóm PL dựa trên tôn giáo và truyền thống ==> lý do là vì cuối thế kỷ 20 khối XHCN đã sụp đổ ==> không còn tạo thành 1 dòng họ PL riêng như trước đây

– Trong nhiều cách phân nhóm hệ thống PL phổ biến, có 1 số hệ thống PL khó xếp vào bất cứ nhóm nào trong số các nhóm được phân chia VD hệ thống PL của VN gồm các đặc điểm của cả Civil law và Common law; hệ thống PL của Malaixia là sự pha trộn của luật Hồi Giáo và common law; ngoài ra hệ thống PL của Quebek, Lousiana, Nam Phi cũng rất khó để xếp vào nhóm nào

– Hệ quả: không thể khẳng định cách phân nhóm của học giả

nào là chính xác nhất và cách phân nhóm nào là không chính xác

3 Các tiêu chí để phân nhóm

a Sự thay đổi trong quan niệm sử dụng tiêu chí phân nhóm

– Trước đây, nhiều học giả luật so sánh đã cố tìm ra tiêu chí duy nhất để phân chia các hệ thống PL thành các nhóm VD tiêu chí

hệ thống kinh tế, hay tiêu chí nguồn gốc lịch sử của hệ thống PL.Tuy nhiên, đã không thể tìm ra tiêu chí duy nhất đó

– Ngày nay, phần lớn các học giả đều cho rằng không thể có tiêu chí hoàn hảo, và để việc phân nhóm có ý nghĩa, cần dựa trên 1 vài tiêu chí khác nhau

Trang 22

VD nếu dùng tiêu chí Hệ tư tưởng thì có thể phân chia Hệ thống

5 tiêu chí:

+ nguồn gốc lịch sử phát triển của hệ thống PL+ nguồn luật

Trang 23

+ kiểu tư duy pháp lý đặc thù

+ cấu trúc PL+ hệ tư tưởng

không phân biệt cao – thấp

Sử dụng theo thứ tự ưu các tiêu chí, lần lượt sử dụng các tiêu chí để tiến hành phân nhóm

Kết quả

phân

nhóm

4 nhóm, mỗi nhóm là 1 dòng họ PL

8 nhóm, mỗi nhóm là 1 dòng họ PL

 

Chương 2: Dòng họ pháp luật châu Âu lục địa

– Có 3 tên gọi:

+ dòng họ Civil law: dòng họ PL dân luật, dòng họ PL dân sự

Chú ý: mặc dù có thể “dịch nghĩa” của civil law là dân luật,

hay dân sự, nhưng nếu sử dụng thuật ngữ “dòng họ PL dân luật /

sự” thì dễ gây hiểu nhầm rằng dòng họ PL này chỉ có PL dân sự

mà không có hình sự, không có hành chính, … ==> như vậy là

sai về bản chất, vì thực tế dòng họ PL civil law chỉ coi trọng PL

dân sự, ưu tiên pháp điển hóa PL dân sự trước, nhưng vẫn có đầy đủ PL hình sự, hành chính, …

Trang 24

+ dòng họ PL châu Âu lục địa: vì ra đời đầu tiên ở các quốc gia thuộc châu Âu lục địa, sau đó lan rộng ra các quốc gia khác trên toàn thế giới

Chú ý: nói 1 quốc gia có hệ thống PL thuộc dòng họ PL châu Âu

lục địa thì không có nghĩa quốc gia đó thuộc châu Âu lục địa

+ dòng họ PL thành văn: coi trọng pháp điển hóa PL (tức là PL thành văn) và trung tâm là PL dân sự, có nguồn gốc từ thời La Mã

Chú ý: tên gọi này chủ yếu dùng để phân biệt với dòng họ PL

common law (PL coi trọng án lệ)

– Chế định PL đặc thù: luật nghĩa vụ, gồm 3 nội dung:

+ dòng họ civil law hình thành và phát triển ở châu Âu lục địa

+ dòng họ civil law mở rộng sang các châu lục khác

1 Sự hình thành và phát triển của dòng họ civil law ở châu Âu lụcđịa

– Chia làm 3 giai đoạn:

+ giai đoạn trước thế kỷ 11

Trang 25

+ giai đoạn từ thế kỷ 11 – thế kỷ 18

+ giai đoạn từ cuối thế kỷ 18 – nay

a Giai đoạn trước thế kỷ 11

– PL các nước châu Âu lục địa trước thế kỷ 11 là sự tồn tại của nhiều loại PL khác nhau Có 3 loại chính:

+ PL thành văn: luật La Mã,

+ tập quán pháp: PL của các vùng, miền khác nhau

+ luật giáo hội: ra đời muộn hơn, xuất hiện vào thế kỷ 6, 7

– Thời kỳ này PL còn đơn giản, có sự khác biệt giữa 2 tiểu giai đoạn:

+ trước thế kỷ 7: gồm PL La Mã, tập quán địa phương

+ thế kỷ 7 – thế kỷ 10: tập quán địa phương, luật giáo hội (thời kỳ khủng hoảng toàn diện, gọi là “Đêm trường trung cổ” với sự

thống trị của luật tôn giáo)

– Dòng họ civil law được cấu thành từ luật La Mã, tập quán địa phương, luật giáo hội, và tư tưởng về PL tự nhiên đã trải qua 1 quá trình phát triển lâu dài và phức tạp Nhưng nền tảng chính tạo nên dòng họ civil law là luật La Mã

* Về luật La Mã

– Có nhiều quan điểm về khái niệm luật La Mã:

+ là bộ tổng luật do Hoàng đế Justinian ban hành (gọi là Corpus Juris Civilis) (đây là thời kỳ thịnh vượng của đế quốc La Mã): đây

là bộ tổng luật đồ sộ nhất trong hơn 1000 năm tồn tại của nhà

Trang 26

nước La Mã, là tập hợp toàn bộ các quy định PL của nhà nước

La Mã Bộ tổng luật này không chỉ có hiệu lực trong thời hoàng

đế Justinian mà vẫn có hiệu lực trong các triều đại về sau của nhà nước La Mã Không những thế, bộ luật này có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ các hệ thống PL của nhân loại, rất nhiều quytắc pháp lý, rất nhiều quy định PL của các quốc gia sau này bắt nguồn từ bộ tổng luật này ==> chính vì tầm ảnh hưởng quá lớn của Corpus Juris Civilis mà nhiều học giả đồng nhất luật La Mã với bộ tổng luật này

+ là Corpus Juris Civilis và các biến tướng của Corpus Juris

Civilis

+ là toàn bộ các bộ luật La Mã từ thế kỷ 5 trước CN đến thế kỷ 6, 7: tức là toàn bộ các sản phẩm PL của các triều đại La Mã Chú ý: mặc dù nhà nước La Mã tồn tại đến tận thế kỷ 15, tuy nhiên kể

từ thế kỷ 6, 7 thì nhà nước La Mã đã suy yếu rất nhiều và không còn đưa ra được sản phẩm lập pháp nào đáng chú ý nữa

Nhận xét: cách hiểu 1 và 2 không chính xác Cách hiểu thứ 3 mớiđược công nhận rộng rãi

– Một số thành tố cơ bản của luật La Mã:

+ thuật ngữ “luật La Mã” được dùng để chỉ toàn bộ khối lượng PL

La Mã được ban hành trong hơn 1 thiên niên kỷ (kéo dài từ năm

450 trước CN đến thế kỷ 6, 7)

+ 3 thành tố cơ bản của luật La Mã:

 Luật 12 bảng

 Tác phẩm Institutes của Gaias

 Corpus Juris Civilis

– Luật 12 bảng:  

Trang 27

+ gọi là Luật 12 bảng vì sau khi ban hành, nhà nước La Mã đã khắc bộ luật này ra 12 tấm bảng và để ra nơi công cộng để ngườidân biết và tuân theo.

+ ra đời khoảng năm 451 – 449 trước CN, trong quá trình xây dựng Luật 12 bảng, các nhà lập pháp La Mã đã sử dụng luật so sánh Vào thời điểm này thì nhà nước Hy Lạp láng giềng đã có

hệ thống PL tương đối hoàn chỉnh với những hệ thống PL riêng của mỗi thành bang Hy Lạp (khoảng 50 thành bang), để học hỏi thì nhà nước La Mã đã thành lập Hội đồng pháp quan sang Hy Lạp học hỏi, những pháp quan này đã so sánh PL của mỗi thành bang Hy Lạp, đồng thời so sánh với tập quán La Mã để xây dựng nên những quy định PL phù hợp nhất

+ đặc điểm:

 Chứa đựng nhiều tập quán la-tinh (tập quán của người La

Mã cổ đại) và nhiều quy định giống PL Hy Lạp cổ đại

 Phạm vi điều chỉnh hẹp (luật 12 bảng có rất ít quy định cụ thể mà phần lớn là các quy định mang tính nguyên tắc, và chủ yếu chỉ quy định luật tư, cụ thể là luật dân sự) ==> sau khi ra đời, nhà nước La Mã vẫn phải sử dụng tập quán pháp

để điều chỉnh các quan hệ xã hội

 Mặc dù ra đời rất sớm, luật 12 bảng bên cạnh 1 số quy định còn lạc hậu, mang đậm tính chất của xã hội chiếm hữu nô

lệ, còn có rất nhiều quy định được đánh giá là rất tiến bộ, như quy định về thừa kế, quy định về thủ tục tố tụng, …

+ ý nghĩa: luật 12 bảng có ý nghĩa rất lớn không chỉ đối với nhà nước La Mã mà còn đối với nhân loại:

 Đây là bộ luật thành văn đầu tiên của nhà nước La Mã, góp phần xây dựng nên nhà nước La Mã thịnh vượng

Trang 28

 Từ thành công của Luật 12 bảng, nhà nước La Mã đã rất quan tâm đến PL thành văn, và các nhà nước ở châu Âu lụcđịa sau này kế thừa tư duy xây dựng PL thành văn

– Tác phẩm Institutes của Gaias (các thiết chế pháp luật của Gaias):

+ là 1 tác phẩm khoa học luật, ra đời từ thế kỷ 3 trước CN, đến thế kỷ 2 trước CN mới được phát hiện, đến nay vẫn chưa rõ tác giả

+ đây không phải là văn bản quy phạm PL, mà là 1 tác phẩm khoa học luật

+ được coi là 1 thành tố của luật La Mã do:

 Đây là cuốn sách đầu tiên tập hợp đầy đủ, thống nhất luật

La Mã trước đó

 Không chỉ sao chép luật cổ mà còn phân tích, giải thích phạm vi áp dụng của các quy định, đồng thời hệ thống và phân chia các quy định thành các phần khác nhau ==> đây

là nền tảng cho các chế định luật dân sự sau này:

 Nhóm quy định về người: làm tiền đề cho chế định địa vị pháp lý của cá nhân

 Nhóm quy định về vật: làm tiền đề cho chế độ sở hữu

 Nhóm quy định về hành động: làm tiền đề cho chế định hợp đồng, bồi thường dân sự ngoài hợp đồng

– Corpus Juris Civilis: tập hợp các chế định luật dân sự (hay Bộ

tổng luật của hoàng đế Justinian)

+ hoàn cảnh ra đời: năm 476, đế quốc Tây La Mã sụp đổ, đế quốc Đông La Mã (gọi là Byzantine) tiếp quản:

 Đế quốc Byzantine không chỉ gìn giữ văn minh cổ đại mà còn bổ sung thêm vào đó các yếu tố phương Đông và phát triển rực rỡ, đặc biệt dưới thời hoàng đế Justinian I (527 – 565)

Trang 29

 Năm 528, hoàng đế Justinian I ra lệnh tập hợp, hệ thống hóa và củng cố, điểm chế hóa luật La Mã và tập hợp các chế định luật dân sự ==> Corpus Juris Civilis ra đời

+ Corpus Juris Civilis gồm 4 phần:

 Codex: là bộ được soạn thảo đầu tiên, chứa đựng những văn bản quy phạm PL do các Hoàng đế tiền nhiệm của

Justinian ban hành Khi biên soạn Codex, những học giả được quyền đánh giá xem những quy phạm PL đó có còn phù hợp với thời Justinian nữa hay không, nếu còn phù hợp thì đưa vào, nếu thấy không phù hợp thì chỉnh sửa cho phù hợp, nếu không thể chỉnh sửa được thì loại bỏ Việc sắp xếpcác văn bản quy phạm PL cũng rất khoa học: theo thứ tự thời gian ban hành văn bản, ở đầu mỗi văn bản đều ghi tên Hoàng đế ban hành và cuối văn bản ghi rõ thời điểm ban hành ==> rất dễ tra cứu

 Digesta: gồm 50 quyền, phải mất 3 năm (530 – 533) mới hoàn thành biên soạn, không chứa đựng quy phạm PL, mà chứa đựng những học thuyết pháp lý uyên thâm về khoa học luật (tập hợp hơn 2000 bài viết, công trình nghiên cứu chứa đựng những học thuyết của các học giả La Mã) Bộ Digesta rất trừu tượng, không dành cho dân thường đọc, màdành cho người phải có trình độ luật học nhất định

 Institutions: gồm 4 quyển, được soạn thảo đồng thời cùng với bộ Digesta, không chứa đựng các quy phạm PL, mà chứa đựng những kiến thức cơ bản về khoa học luật, dành cho người bắt đầu nghiên cứu khoa học luật ==> được coi làsách giáo khoa cho người học luật Các nội dung trong

Institutions được phân nhóm giống với việc phân nhóm trongTác phẩm Institutes của Gaias

 Novellae: được soạn thảo sau cùng, và hoàn thành sau khi Justinian qua đời, chứa đựng những quy định PL do chính Hoàng đế Justinian ban hành (122 văn bản) và một phần

Trang 30

(khoảng 40 văn bản) những quy định do các hoàng đế kế nhiệm Justinian ban hành

Lưu ý: mặc dù trong Bộ tổng luật này, có phần chứa văn bản quy

phạm PL, có phần chỉ chứa kiến thức về khoa học pháp lý, nhưngđối với người dân La Mã thì toàn bộ 4 phần của Corpus Juris Civilis đều mang ý nghĩa ràng buộc, tức là coi những kiến thức pháp lý là chuẩn mực và có giá trị giống như luật (do đó mới có tên gọi là Bộ tổng luật)

b Giai đoạn từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 18

– Từ thế kỷ 11, nền kinh tế châu Âu lục địa bắt đầu hồi phục và đivào ổn định, khoa học bắt đầu phát triển trở lại, trong đó có khoa học pháp lý Cùng với sự phát triển của thương mại giữa các quốc gia ==> nhu cầu xây dựng PL để điều chỉnh các mối quan

hệ phát sinh ==> nhu cầu nghiên cứu PL phát triển, chủ yếu là nghiên cứu luật La Mã

– Xuất hiện 5 trường phái nghiên cứu luật La Mã:

+ trường phái các nhà bình chú (Glossators)

+ trường phái các nhà bình luận (Commentators)

+ trường phái nhân văn pháp lý (Legal Humanists)

+ trường phái các nhà pháp điển hiện đại (Pandectist)

+ trường phái pháp luật tự nhiên (Natural Law shool)

– Mỗi trường phái sử dụng phương pháp nghiên cứu khác nhau, đặt ra mục đích khác nhau ==> kết quả khác nhau và đóng góp cho PL châu Âu lục địa cũng khác nhau

* Trường phái các nhà bình chú (Glossators)

– Ra đời vào thế kỷ 11 ở Ý

Trang 31

– Những học giả đầu tiên là các giáo sư luật của trường đại học Bologna, Ý

– Lựa chọn nghiên cứu về Digesta của Corpus Juris Civilis

– Mục đích: làm cho Digesta dễ hiểu hơn, bằng cách đưa ra

những lời bình chú vào Digesta

– Kết quả: đến thế kỷ 13, 1 học giả là Accurcius (1182-1236) tập hợp những lời bình chú này trong tác phẩm Great Gloss (Đại bìnhchú) có đến 96.000 lời chú giải về luật La Mã

– Tại sao lại là Digesta ? Vì Digesta khó hiểu, nên các giáo sư luật muốn làm cho Digesta gần gũi, dễ hiểu hơn, dễ tiếp cận hơn đối với người dân thường

* Trường phái các nhà bình luận (Commentators)

 Đối tượng nghiên cứu mở rộng hơn: Digesta và luật giáo hội(vì thời điểm này Nhà thờ đã can thiệp rất sâu vào hoạt độngcủa nhà nước)

 Khai thác tính thực dụng của PL La Mã ở xã hội đương thời,tức là xem xét việc áp dụng PL La Mã vào tực tiễn châu Âu lúc bấy giờ (chứ không chỉ nghiên cứu mang tính lý thuyết như ở trường phái Glossators)

Trang 32

* Chú ý:

+ đóng góp lớn nhất của 2 trường phái nghiên cứu đầu tiên là góp phần cho việc hình thành và phát triển luật chung châu Âu lục địa (Jus Commune – chú ý: không phải là luật của liên minh Châu Âu hiện tại): thông qua việc nghiên cứu của mình, các học giả của 2 trường phái này đã hình thành nên 1 tư duy pháp lý, và

vì là các giáo sư luật ==> truyền lại tư duy pháp lý của mình cho các thế hệ học viên sau (không chỉ là học viên Ý mà từ khắp châuÂu) ==> tư duy pháp lý lan tỏa khắp châu Âu lục địa

+ Jus Commune chỉ tồn tại ở châu Âu lục địa từ thế kỷ 13 đến thế

kỷ 16, là hệ tư duy pháp lý hình thành từ luật La Mã, luật giáo hội,được hầu hết các quốc gia ở châu Âu lục địa tiếp nhận nhưng thểhiện cụ thể linh hoạt ở từng nước (các quốc gia ở gần Ý tiếp nhận 1 cách dễ dàng, các quốc gia xa Ý, như các nước Bắc Âu, thì tầm ảnh hưởng hạn chế hơn)

+ Jus commune không giống luật Liên minh châu Âu – là các điềuước, hệ thống phán quyết của tòa công lý châu Âu

* Trường phái nhân văn pháp lý (Legal Humanists)

– Ra đời ở Ý thế kỷ 15

– Sử dụng phương pháp lịch sử để nghiên cứu luật La Mã: tìm hiểu, giải thích bằng cách quay trở lại thời nhà nước La Mã còn tồn tại (tức là làm rõ những quy định PL La Mã bằng nghĩa gốc từthời La Mã)

==> không gây ảnh hưởng nhiều đến hoạt động nghiên cứu PL ởchâu Âu lục địa lúc bấy giờ Vì nếu sử dụng thì không thể được vìđiều kiện, hoàn cảnh của nhà nước La Mã rất khác với châu Âu thế kỷ 15

* Trường phái các nhà pháp điển hiện đại (Pandectist)

Trang 33

– Ra đời ở Đức, thế kỷ 16

– Sử dụng phương pháp nghiên cứu hiện đại: nghiên cứu luật La

Mã gắn với điều kiện thực tiễn lúc bấy giờ, tuy nhiên lại chỉ “gắn” với điều kiện, hoàn cảnh của nước Đức, chứ không phải của toànchâu Âu

==> kết quả nghiên cứu có ý nghĩa nhiều hơn đối với hệ thống PLĐức, không có ảnh hưởng lớn với châu Âu

 

——————–

* Trường phái pháp luật tự nhiên (Natural Law shool)

– Ra đời ở Hà Lan, Đức, thế kỷ 17 (muộn hơn so với các trường phái khác)

– Có đối tượng nghiên cứu và quan niệm khác nhất trong số 5 trường phái nghiên cứu PL: ngoài PL do nhà nước ban hành còn

Trang 34

+ khởi xướng phong trào pháp điển hóa PL không chỉ ở Đức mà

ở toàn châu Âu lục địa: tức là xây dựng PL thành văn (ngoài Đức,còn có rất nhiều nước pháp điển hóa PL thành công)

+ đặt nền móng cho việc xây dựng và phát triển các chế định PL thuộc lĩnh vực công pháp: đặc biệt đặt nền móng cho xây dựng các chế định quyền con người, quyền của cá nhân

c Giai đoạn từ cuối thế kỷ 18 đến nay

– Ở châu Âu từ cuối thế kỷ 18 đến thế kỷ 19 là cuộc Đại pháp điển hóa PL:

+ bắt đầu với Bản tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789, đã đặt nền móng cho luật Hiến pháp của Pháp

và của tất cả các quốc gia trên thế giới sau này

+ nước Pháp đã pháp điển hóa thành khoảng 40 bộ luật, trong đónổi bật là Bộ luật dân sự Napoleon 1804, Bộ luật TTDS 1806, Bộ luật thương mại 1807, Bộ luật TTHS 1808, Bộ luật hình sự 1810,

+ nước Đức cũng đã pháp điển hóa những bộ luật quan trọng, như Bộ luật thương mại 1866, Bộ luật hình sự 1871, Bộ luật

TTHS 1877, Bộ luật TTDS 1877, Bộ luật dân sự 1896, …

+ ảnh hưởng của cuộc Đại pháp điển này là rất lớn đối với các thuộc địa của Pháp, Đức, và của các quốc gia khác như Nhật, Hàn, Thái Lan, Hi Lạp, …

– So sánh cuộc pháp điển hóa này với các cuộc pháp điển hóa trước đó:

+ bộ tổng luật Corpus Juris Civilis của Hoàng đế Justinian cũng làpháp điển hóa quy mô lớn, nhưng nó vẫn chưa được coi là Đại

Trang 35

pháp điển hóa PL, vì quy mô chỉ trong phạm vi La Mã, so với quy

mô với châu Âu thì vẫn còn nhỏ bé Về nội dung thì mới pháp điển hóa chủ yếu luật dân sự (luật tư), nếu có hình sự thì vẫn cho

là luật tư vì bảo vệ con người

+ còn cuộc Đại pháp điển hóa PL ở châu Âu thì việc pháp điển hóa PL diễn ra trên tất cả các lĩnh vực: dân sự, hình sự, hành chính, hành pháp, … và trên phạm vi rộng lớn (toàn bộ châu Âu)

– Tuy nhiên không phải tất cả các quốc gia đều thành công trong cuộc đại pháp điển hóa này, VD ở Phổ thì PL về ruộng đất đã không thể được pháp điển

– Nguyên nhân: để pháp điển hóa PL thành công:

+ phải ở quốc gia lớn

+ phải được thực hiện bởi nhà cầm quyền anh minh, coi trọng luật pháp (ở Phổ, nhà vua Phổ đã đặt quá nhiều lợi ích của nhà vua vào việc pháp điển ==> pháp điển thất bại)

– Ý nghĩa: đóng góp tích cực cho PL ở châu Âu lục địa: văn bản

PL thành văn, tạo ra được đặc trưng riêng cho PL châu Âu lục địa, tạo ra được tiếng vang, hình mẫu cho các quốc gia trên thế giới

– Hạn chế: chính vì thành công quá lớn đó dẫn đến tạo ra tư duy không tích cực, tư duy quá tôn thờ PL thành văn, vì dù kỹ thuật lập pháp có cao đến đâu thì cũng vẫn sẽ có thiếu sót hay lỗ hổng khi cho rằng nguồn của PL chỉ có PL thành văn; ngoài ra việc coi thẩm phán chỉ là người áp dụng PL đã có sẵn đã làm mất đi sự sáng tạo, chủ động của thẩm phán (khác hẳn với vai trò rất lớn của thẩm phán ở dòng họ common law)

Trang 36

+ VN dù từng là thuộc địa nhưng không rơi vào trường hợp này,

vì sau khi giải phóng VN đi theo CNXH, chỉ vài năm sau giải

phóng còn cho phép sử dụng 1 số điểm của luật châu Âu lục địa,

và sau đó đã thay thế gần như toàn bộ Về sau này (kể từ khi đổi mới) mới học hỏi từ tất cả các nước trên thế giới

– Lý do tự nguyện:

+ tự nguyện học hỏi văn minh pháp lý ở châu Âu lục địa: vì coi châu Âu lục địa là mô hình lý tưởng

+ VD điển hình: Nhật Bản, hệ thống PL Nhật Bản thuộc nhóm hỗnhợp, chịu ảnh hưởng của civil law từ cuối thế kỷ 19, trong cuộc cải cách Minh trị, theo đó cải tổ toàn bộ hệ thống PL theo hệ

thống PL của châu Âu lục địa, chủ yếu từ Đức ==> hệ thống PL của Nhật hoàn toàn mới (trước đó hệ thống PL của Nhật chịu ảnhhưởng từ Trung Quốc) Ví dụ như Hiến pháp, bộ luật dân sự của

Trang 37

Nhật Bản học hỏi từ BLDS Đức (có tham khảo BLDS Pháp, Anh),

dù được ban hành từ 1898 đến nay vẫn còn hiệu lực

+ VD các quốc gia Ả rập cũng có hệ thống PL là hỗn hợp luật hồi giáo và civil law, lý do không phải vì đã từng là thuộc địa, mà là trong quá trình giao thương với châu Âu, civil law dần ảnh hưởngsang (sự tương đồng trong hệ thống PL có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy giao thương giữa các quốc gia)

b Quy mô mở rộng

– Châu Mỹ:

+ có sự khác biệt giữa Bắc Mỹ và Nam Mỹ

+ Bắc Mỹ đa phần là thuộc địa của Anh (chỉ có bang Lousiana, Quibek là thuộc địa của Pháp), đến nay: Mỹ, Canada theo dòng common law, tuy nhiên PL của bang Lousiana, Quibek vẫn theo civil law (bằng chứng là vẫn có BLDS đồ sộ như ở châu Âu lục địa)

+ Nam Mỹ chủ yếu là thuộc địa của Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha

==> đều theo civil law

– Châu Phi:

+ Bắc Phi: là thuộc địa của Pháp nên theo civil law, nhưng trước

đó đã có luật hồi giáo ==> duy trì cả luật hồi giáo + civil law (hỗn hợp)

+ Trung Phi: chưa có nền pháp lý nào ==> theo civil law

+ Nam Phi: chịu sự ảnh hưởng của cả Anh và Pháp ==> hỗn hợpcivil law và common law

Trang 38

II Cấu trúc pháp luật của dòng họ Civil law

1 Cách phân chia pháp luật

– Nói chung, civil law đều chia thành công pháp và tư pháp Đây

là 1 đặc trưng của dòng họ civil law (các dòng họ PL khác không có)

(Ở VN thì chia thành các ngành luật, không có sự phân chia rõ ràng thành công pháp và tư pháp)

a Nguồn gốc và mục đích phân chia công pháp – tư pháp

– Nguồn gốc: từ luật La Mã, quan niệm các quan hệ tư và quan

hệ công không thể đặt trên cùng 1 bàn cân

– Mục đích: khác với luật La Mã là bỏ quan hệ công ra khỏi hệ thống PL, dòng họ civil law đã tách riêng quan hệ công ra khỏi quan hệ tư

Câu hỏi: Tại sao luật La Mã lại muốn loại bỏ quan hệ công ra

khỏi hệ thống PL ?

Trả lời: Vì phạm vi áp dụng của luật công là chính quyền, tức là

nếu ban hành thì sẽ ràng buộc chính mình ==> không muốn có những quy định ràng buộc chính mình

Trang 39

Câu hỏi: Tại sao civil law tách riêng quan hệ công ra khỏi quan

hệ tư ?

Trả lời: Vì không thể gộp chung luật công và luật tư, hơn nữa là

để xác định tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc cụ thể, trong các nước theo civil law tồn tại hệ thống tòa hành chính (giải quyếtquan hệ công) và hệ thống tòa tư pháp (giải quyết quan hệ tư)

Chú ý: trong lịch sử, nước Anh cũng có giai đoạn phân chia

thành công pháp và tư pháp, nhưng chỉ với mục đích để xác định được thủ tục tương ứng (và giai đoạn này cũng chỉ tồn tại rất ngắn)

b Phân biệt công pháp và tư pháp

Mục đích Bảo vệ lợi ích công

Trang 40

quyền) thường ra các quyết định mang tính mệnh lệnh và bên chủ thể khác phải thi hành hệ PL

Các

ngành

luật

Hiến pháp, Hành chính, Hình sự, Cán bộ công chức viên chức, …

Dân sự, Thương mại, Lao động, Hôn nhân gia đình,

Quy

phạm PL

Thường mang tính tổng quát cao

Thường mang tính cụ thể, chi tiết

Quá trình

phát triển

Đến thế kỷ 17 mới phát triển (khi xuất hiện

trường phái PL tự nhiên trong đó đề cao quyền con người, và cách mạng

tư sản liên tiếp thành công)

Xuất hiện từ thời cổ đại (Hy Lạp cổ đại, La

Mã cổ đại)

Câu hỏi: Vì sao chưa có quốc gia nào ban hành được bộ luật

hành chính ở mức độ đồ sộ như BLDS ?

Trả lời:   Vì đối tượng điều chỉnh của luật hành chính sẽ là quan hệ

giữa cơ quan nhà nước với nhau, quan hệ giữa cơ quan nhà nước với người dân ==> tức là có liên quan mật thiết đến mô hình bộ máy nhà nước và hoạt động quản lý nhà nước, mặc dù hiện nay tình hình các quốc gia hầu hết có sự ổn định, tuy nhiên vẫn tiềm ẩn rất nhiều biến động, chưa thể có đươc sự ổn định

Ngày đăng: 13/07/2023, 12:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w