1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế thị trường định hướng xhcn là đề tài có tính lí luận và thời sự

53 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 79,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được làm quen với phong cách và kỉ luật lao động mới từ cácnước phát triển, trình độ tay nghề từng bước được nâng

Trang 1

Lời nói đầu

Nhìn lại 20 năm trước, trong bối cảnh quốc tế: Chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu tan vỡ, các thế lực thù địch tìm cách chống phá Việt Nam trên nhiều mặt Thế giới có nhiều diễn biến phức tạp về chính trị an ninh quốc tế, giá cả trên thị trường quốc tế….Các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á và Nam Á thực hiện cải cách kinh tế và trở thành khu vực phát triển năng động của thế giới Tìnhhình trong nước: Việt Nam là nước nông nghiệp lạc hậu, bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, nền kinh tế ở tình trạng kém phát triển, sản xuất nhỏ mang tính tự cung tự cấp

cơ chế quản lí tập trung quan liêu bao cấp, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảngmức lạm phát nên tới 70%, sản xuất trì trệ, cơ ở kĩ thuật lạc hậu, tình trạng thiếu vốn trầm trọng

Với bối cảnh trong nước và quốc tế như vậy, để khôi phục và phát triển kinhtế-xã hội, Đảng ta đã chủ trương mở cửa nền kinh tế, thực hiện công cuộc“đổi mới” toàn diện Trong đó có việc hoàn thiện, nâng điều lệ đầu tư năm 1977 thành bộ luật đầu tư nước ngoài vào Việt Nam năm 1987 Thông qua việc hoàn thiện bộ luật đầu tư

đã khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Từ đó, khu vực vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) xuất hiện và nhanh chóng trở thành khu vực phát triển mạnh nhất, nặng động nhất trong nền kinh tế Tuy nhiên nền kinh tế của mỗi nước phát triển theo một chiều hướng nhất định, theo định hướng của nhà nước Vấn đề ở đây đặt ra là: phải làm sao cho khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong nền kinh tế thị trường phát triển theo hướng Chủ Nghĩa Xã Hội (XHCN)

I Cơ sở lí luận

Trang 2

Muốn đưa ra các biện pháp, kế hoạch thì trước hết chúng ta phải hiểu vấn đềmình cần nghiên cứu là gì? Và nghiên cứu nó để làm gì?

1 Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định: Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN là một thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Đây là khu vực bao gồm các doanh nghiệp được xây dựng trên sở hữu vốn của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các doanh nghiệp được xây dựng dựa trên sở hữu các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Đó là các hợp đồng, hợp tác kinh doanh, xí nghiệp liên doanh, xí nghiệp 100% vốn nước ngoài

- Giống như các khu vực kinh tế khác khu vực kinh tế vốn ĐTNN cũng có 3 mối quan hệ:

Quan hệ sở hữu (chủ yếu là vấn đề vốn): Trong khu vực kinh tế này quyền

sở hữu thuộc về các nhà ĐTNN vì họ là người bỏ tư bản ra để thuê nhà xưởng, mua sắm trang thiết bị, thuê nhân công tiến hành sản xuất, kinh doanh Vốn ở đây gồm vốn

tự có của các nhà tư bản và vốn của các nhà tư bản đi vay nhưng về mặt pháp lí thì họ vẫn là người bỏ vốn và họ có quyền bảo toàn và phát triển nguồn vốn của mình

Quan hệ quản lí: Do các nhà ĐTNN bỏ tư bản ra là người chủ sở hữu hoặc đồng sở hữu doanh nghiệp nên họ có quyền quyết định cơ cấu, tổ chức và quản trị doanh nghiệp Hiện nay đang có xu hướng tách rời sở hữu doanh nghiệp với quản lí hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: nhà ĐTNN bỏ tiền ra thuê giám đốc điều hành hoạt động của doanh nghiệp nhưng vẫn bảo tồn được quyền sở hữu vốn của mình

Quan hệ phân phối: Dựa vào sở hữu nguồn lực theo cơ chế thị trường Nhà đầu tư có vốn thu được lợi nhuận, nhà nước nhận đầu tư chủ sở hữu đất đai thu được địa tô, còn người lao động nhận được tiền công

- Sự khác nhau giữa khu vực kinh tế ĐTNN với các khu vực kinh tế khác đó

là vốn đầu tư Nguồn vốn của khu vực gồm có:

Viện trợ phát triển chính thức ODA (Official Development Assistant): Đây

là một tổ chức tài chính quốc tế do chính phủ nhiều nước thực hiện nhằm viện trợ cho các nước thành viên đang phát triển (có thu nhập dưới 780USD/ năm) để cải cách cơ

Trang 3

cấu kinh tế, đổi mới thể chế kinh tế, viện trợ kĩ thuật thông qua các khoản tín dụng, ưuđãi lãi xuất thấp…

Đầu tư gián tiếp nước ngoài FPI (Foreign Porfolio Investment): là phương thức đầu tư quốc tế thông qua ngân hàng và thị trường chứng khoán

Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI (Foreign Direct Investment): Là sự chuyển vốn, tài sản công nghệ hoặc bất cứ tài sản nào từ nước đi đầu tư sang nước nhận đầu tư

để thành lập hoặc kiểm xoát doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh có lãi, tối đa hóalợi ích đầu tư hay tìm kiếm lợi nhuận ở nước nhận đầu tư thông qua di truyền vốn từ nước đầu tư đến nước nhận đầu tư

- Đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào luật pháp của nước nhận đầu tư và tuân theo hệ thống pháp luật quốc tế Để đảm bảo đầu tư nước ngoài theo đúng hướng mà nước nhận đầu tư đề ra

2 Vai trò của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

2.1 Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tạo thúc đẩy sự phát triển bền

của nền kinh tế Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, có lực

lượng lao động dồi dào song các yếu tố về vốn, trình độ tay nghề của lực lượng lao động còn rất hạn chế, khoa học và công nghệ tụt hậu khá xa so với các nước phát triển

Để đạt được mục tiêu: phát triển nền kinh tế thị trường đinh hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đòi hỏi nền kinh tế tăng trưởng ở mức cao, xây dưng một xã hội công bằng dân chủ văn minh trong đó phát triển nguồn lực và phát triển xã hội được coi là trọng tâm Nhưng muốn đạt được điều đó chúng ta phải có vốn nhưng vốn thực hiện mục tiêu đó vượt quá khả năng huy động nguồn lực trong nước nên ĐTNN trở thành nguồn vốn quan trọng và cần huy động tối đa Việc phát triển khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trở thành một giải pháp

2.2 Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài góp phần quan trọng trong

chuyển dịch cơ cấu kinh tế Các nhà ĐTNN chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực công

nghiệp và dịch vụ làm kích thích những ngành này phát triển từ đó nâng cao tỉ trọng giá trị công nghiệp và dịch vụ trong tổng sản phẩm xã hội Mặt khác trong quá trình phát triển một số ngành sản xuất quan trọng với sự phát triển củ đất nước ra đời: sản

Trang 4

xuất xi măng, sản xuất xe máy, ô tô….Hàng hóa xuất khuẩu ra nước ngoài ngày càng nhiều.

2.3 Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thu hút và giải quyết việc làm cho

một lực lượng lớn lao động Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động hiện nay

đang được xã hội quan tâm và coi là một nhân tố góp phần làm cho xã hội phát triển công bằng và biền vững Mọi người có việc làm đồng nghĩa với tỉ lệ thất nghiệp giảm các vấn đề xã hội được giải quyết Đồng thời người lao động trong các doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài được làm quen với phong cách và kỉ luật lao động mới từ cácnước phát triển, trình độ tay nghề từng bước được nâng cao để phù hợp vớ yêu cầu củatừng doanh nghiệp và trở thành lực lượng lao động chủ yếu cho sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước

2.4 Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tác động to lớn đến chuyển

giao công nghệ từ các nước phát triển vào Việt Nam Trong quá trình công nghiệp hóa,

hiện đại hóa và tác động mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật thì vấn đề công nghệ trở nên rất quan trọng Các nhà đầu tư nước ngoài vào nước ta mang theo trình độ kĩ thuật cao,công nghệ tiên tiến từ các nước phát triển du nhập vào Việt Nam: thiết kế, chế tạo máy,cộng nghệ tin học, viễn thông, dầu khí và các trang thiết bị có trình độ kĩ thuật bằng hay hơn các trang thiết bị đã có trong nước và thuộc loại phổ cập ở các nước công nghiệp trong khu vực Kết quả là nhiều sản phẩm mới, nhiều kiểu dáng mới chất lượngđạt tiêu chuẩn Việt Nam và một số đạt tiêu chuẩn quốc tế ra đời

Hoạt động của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài góp phần quan trọng, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng ở mức độ cao thay đổi cơ cấu theo hướng tích cực nâng cao trình độ công nghệ chung của các ngành kinh tế Chính vì vây chúng ta cần phải có khu vực kinh tế vốn đầu tư nước ngoài Đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho chu chuyển vốn gắn với hoạt động đầu tư trong phạm vi khu vực và toàn thế giới, thúc đẩy FDI gia tăng mạnh mẽ…càng tạo cơ hội cho đầu tư nước ngoài phát triển Vấn đề bây giờ không phải là có khu vực kinh tế vốn đầu tư nước ngoài nữa mà phải phát triển khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

Một trong mục đích của các nhà đầu tư nước ngoài gây ảnh hưởng, phụ thuộc về chính trị theo hướng có lợi cho các nhà đầu tư Phần lớn các nhà đầu tư nước

Trang 5

ngoài đến từ các nước công nghiệp phát triển đại diện cho phương thức sản xuất tư bảnchủ nghĩa đối lập với phương thức sản xuất ở nước ta Nhiệm vụ của chúng ta là phải phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo đúng hướng phát triển của đấtnước, giúp nền kinh tế có thêm năng lực sản xuất, thay đổi đời sống, sản xuất, kinh doanh kích thích các thành phần kinh tế khác phát triển Tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam thoát nhanh ra khỏi tình trạng là một nước nghèo vào năm 2008 đưa nước ta bước nên kỷ nguyên mới, trở thành nước đang phát triển thực sự, tạo tiền đề vật chất thuận lợi cho việc phấn đấu “hóa rồng” vào năm 2020 thậm chí có thể rút ngắn trước năm 2020.

II Cơ sở thực tiễn

1 Thực trạng của khu vực kinh tế vốn đầu tư nước ngoài

1.1 Tích cực

Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 là một trong những đạo luật đầu tiên của thời kì đổi mới Việc ban hành luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN tại Việt Nam trong suốt 20 năm qua Nhìn lại chặng đường 20 năm đã đi qua, trải qua bao nhiêu thăng trầm khu vực kinh tế vốn ĐTNN không ngừng mở rộng và phát triển, trở thành bộ phận hữu cơ ngày càng quan trọng của nền kinh tế, và là khu vực kinh tế có tốc độ tăng trưởng năng động nhất Điều đó được thể hiện trong các mặt sau:

Trang 6

tăng 24%, vốn ODA cam kết đạt 369 triệu USD tăng 16% trong đó vốn viện trợ khônghoàn lại đạt 26,4 triệu USD, tổng giá trị giải ngân vốn ODA đạt 210 triệu USD bằng 11% kết hoạch năm.Khối lượng đầu tư toàn xã hội tăng đáng kể:

Nghìn tỷ đồng Cơ cấu (%) Quý 1/2008 so với quý I/2007

Khu vực có vốn đầu tư

(Khối lượng đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I/2008-Thống kê)

Đến nay đã có khoảng 82 quốc gia và vùng lãnh thổ trong đó có trên 100 tập đoàn lớn thuộc danh sách 500 tập đoàn lớn nhất thế giới do tạp trí Fortune bình chọn

có đầu tư tại Việt Nam, 10 nhà đẩu tư lớn nhất tại Việt Nam: Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản, British Virginlslands, Hồng kông, Malaisia, Hoa Kì, Hà Lan, Pháp Trong đó khu vực kinh tế vốn ĐTNN đã đóng góp vào nền kinh tế gia tăng đáng

kể đạt 16% GDP đóng góp vào ngân sách nhà nước vượt 1.5 tỷ USD trong năm 2007

- Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, năng lực sản xuất công nghiệp:

Về cơ cấu ngành: Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN chiếm khoảng 37% giái trị sản xuất công nghiệp của cả nước, tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực nhiều ngành công nghiệp quan trọng khác như công nghiệp dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất….Hiện doanh nghiệp ĐTNN đóng góp 100% sản lượng của một số sản phẩm công nghiệp (dầu khí, máy giặt, điều hòa…), 60% thép, 33% hàng điện tử 76% dụng cụ y tế chính xác, 25% hàng may mặc… Trong lĩnh vực dịch vụ, khu vực ĐTNN đã kích thích ngành dịch vụ Việt Nam phát triển nhanh hơn, đặc biệt làngành ngân hàng, tài chính, giao thông vận tải….Ngoài ra ngành khách sạn và dịch vụ cũng rất phát triển: ĐTNN đã tạo ra những khách sạn cao cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế 4-

5 sao cũng như các khu du lịch, nghỉ dưỡng đáp ứng nhu cầu khách đi du lịch quốc tế khiến lượng khách đến nước ta trong 2 tháng đầu năm 2008 đạt 861 nghìn lượt người

Trang 7

tăng 15% so với cùng kì năm 2007 Trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ ngơi đạt 517 nghìn lượt người tăng 13,5%.

Về cơ cấu vùng: Khu vực ĐTNN tập trung chủ yếu ở các vùng kinh tế trọng điểm góp phần cho các vùng này thật sự là động lực để lôi kéo sự phát triển chung của

cả nước và các vùng lân cận Điều này cũng làm thay đổi bộ mặt và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một loạt địa phương Trong đó công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện chiếm tỉ trọng lớn đối với địa phương như: Đồng Nai, Hải Dương, Bình Dương… Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực kinh tế cố vốn ĐTNN cao hơn mức tăng trưởng công nghiệp chung của cả nước, góp phần thúc đẩu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng tỉ trọng của khu vực kinh tế

có vốn ĐTNN trong ngành công nghiệp trong các năm: từ 23,79% vào năm 1991 lên 40% năm 2004, 41% năm 2006 Giá trị sản lượng công nghiệp trong 5 năm qua chiếm trung bình 42% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước Trong lâm ngư nghiệp

ĐTNN đã tạo ra một số sản phẩm mới có hàm lương kĩ thuật cao: cây con, các giống mới…

- Đầu tư nước ngoài thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam,phát triển một số ngành kinh tế quan trọng của đất nước như: viễn thông, khai thác dầukhí, hóa chất cơ khí chế tạo điên tử….Đặc biệt khi tập đoàn Intel đầu tư 1 tỷ USD vào Việt Nam trong dự án sản xuất linh kiện điện tử cao cấp, đã gia tăng số lượng các dự

án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao của các tập đoàn đa quốc gia :Canon,

Panasonic…Nhìn chung, trình độ công nghệ của khu vực đầu tư nước ngoài cao hơn hoặc bằng các thiết bị tiên tiến đã có trong nước và tương đương với các nước trong khu vực Hầu hết các doanh nghiệp có vốn ĐTNN áp dụng phương thức quản lí hiện đại của công ty mẹ

- Đẩu tư nước ngoài tác động tác động đến các thành phần kinh tế trong nền

kinh tế:

Thông qua việc ngoài áp dụng phương thức quản lí tiên tiến được kết nối và

chịu ảnh hưởng của hệ thống liên kết giữa doanh nghiệp có vốn ĐTNN với doanh nghiêp trong nước, công nghệ, năng lực kinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp

có vốn nước ngoài sang doanh nghiệp trong nước Thúc đẩy các doanh nghiệp trong

Trang 8

nước không ngừng đổi mới công nghệ, phương thức quản lí, mở rộng mối liên kết doanh nghiệp trong nước, phát triển công nghiêp phụ trợ, phụ liệu, khai thác và xử dụng hiệu quả các nguồn lực trong nước: lao động, đất đai, tài nguyên….Từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh, đổi mới phương thức quản trị doanh nghiệp cũng như phương thức kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

- Đầu tư nước ngoài đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước và cán cân vĩmô:

Cùng với sự phát triển của doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại Việt Nam, mức đóng góp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN vào ngân sách ngày càng tăng: Thời kì 1996-2000 các doanh nghiệp có vốn ĐTNN đã lộp vào ngân sách 1, 49 tỷ USD gấp 4,

5 lần so với 5 năm trước Trong 5 năm 2001-2005 thu ngân sách trong khối doanh nghiệp ĐTNN đạt hơn 3, 6 tỷ USD tăng bình quân 24%/năm Riêng 2 năm 2006-2007 khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã lộp vào ngân sách trên 3 tỷ USD Trong 2tháng đầu năm 2008 ngân sách nhà nước thu được từ doanh nghiệp có vốn ĐTNN là 8,7% dự đoán năm Thông qua việc chuyển vốn vào Việt Nam đã tác động tích cực đối với cán cân của nền kinh tế giúp cân đối ngân sách, cải thiện cán cân ngân sách quốc

tế, mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp qua khách quốc tế, tiền thuê đất, mua máy móc, nguyên vật liệu Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoàităng nhanh, cao hơn mức bình quân chung của cả nước, đóng góp quan trọng vào việc gia tăng kim ngạch xuất khuẩu của cả nước: Thời kì 1996-2000 xuất khuẩu của khu vực đạt 10, 6 tỷ USD tăng hơn 8 lần so với 5 năm trước, chiếm 23% kim ngạch xuất khẩu của cả nước Năm 2000 chiếm 25%, năm 2003 chiếm 31%, tính cả dầu thô thì tỉ trọng này đạt 54% năm 2004 và chiếm trên 55% vào năm 2007 ĐTNN chiếm tỉ trọng cao trong xuất nhập khuẩu: Giá trị xuất khuẩu 2 tháng đầu năm 2008 đạt trên 8,7 tỷ USD trong đó khu vực kinh tế có vốn ĐTNN (không kể dầu thô) đạt trên 3,4 tỷ USD tăng 2,5%, dầu thô 1,7 tỷ USD tăng 46% so với cùng kì năm trước

- Đầu tư nước ngoài là cầu nối quan trọng giữa kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới thúc đẩy phát triển thương mại, dịch vụ và tạo điều kiện quan trọng để Việt Nam hội nhập ngày càng chủ động và sâu hơn vào đời sống kinh tế thế giới Các nhà đầu tư cũng là người tích cực ủng hộ Việt Nam tham gia vào quá trình hội nhập

Trang 9

kinh tế quốc tế, đặc biệt việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) Việc kí kết các hiệp định khuyến kích, bảo hộ đầu tư, hiệp định đầu tư song phương, hiệp định thương mại song phương đàm phán ra nhập WTO liên quan đến đầu tư và thưc hiện các cam kết tại Việt Nam cũng tạo điều kiện mở cửa thị trường dịch vụ của Việt Nam cho các nhà đầu tư nước ngoài

Như vậy đầu tư nước thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam đi nên rất mạnh mẽ 1.1.2 Về mặt xã hội

- Đầu tư nước ngoài góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng năng xuất lao động, cải thiện nguồn nhân lực:

Đến nay khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã tạo việc làm cho trên 1,2 triệu lao động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiến khác Theo kết quả điều tra của WB cứ một lao động trực tiếp sẽ tạo việc làm cho từ 2-3 lao động gián tiếp phục vụ trong lĩnh vực dịch vụ và xây dựng góp phần nâng cao phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống một bộ phận trong cộng đồng dân cư, đưa GDP đầu người tăng lên hàng năm Năm 2007 mức GDP trên đầu người bình quân khoảng 833 USD Thông qua sự tham gia trực tiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN, Việt Nam đã từng bước hình thành độingũ cán bộ quản lí, công nhân kĩ thuật có trình độ cao, có tay nghề từng bước tiếp cận được với khoa học, kĩ thuật công nghệ cao và có tác phong công nghiệp hiện đại, có kỉ luật lao động tốt, học hỏi được các phương thức, kinh nghiệm quản lí tiên tiến Đặc biệt một số chuyên gia Việt Nam làm việc tại các doanh nghiệp có vốn ĐTNN đã dần thay thế các chuyên gia nước ngoài trong đảm nhiệm các vị trí quản lí doanh nghiệp cũng như điều khiển các quy trình công nghệ hiên đại

- Đầu tư nước ngoài góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhậpkinh tế với khu vực và thế giới:

Đối với Việt Nam, đầu tư nước ngoài tạo điều kiện mở rộng quan hệ quốc tế theo hướng đa phương đa dạng hóa, thúc đẩy Việt Nam chủ động hội nhập, đẩy mạnh tiến trình tự do hóa thương mại và đầu tư Đến nay, Việt Nam đã là thành viên chính thức của ASEAN, APEC, ASEM và WTO Nước ta đã kí kết 51 hiệp ước khuyến kích

và bảo hộ đầu tư, trong đó có hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kì (BTA), hiệp định tự do hóa, khuyến kích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản Thông qua tiếng nói và sự

Trang 10

ủng hộ của các nhà đầu tư nước ngoài, hình ảnh và vị thế của Việt Nam không ngừng được cải thiện.

1.1.3 Về mặt môi trường

- Theo kết quả điều tra của viên quản lí trung ương: Đa số các doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài đều tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường Việt Nam và có kết quả môi trường tốt hơn so với các doanh nghiệp trong nước (có 77% doanh nghiệp có kết quả về các thông số gây ô nhiễm môi trường thấp hơn tiêu chuẩn cho phép của ViệtNam) Đáng chú ý là có tới hơn 60% doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chế biến thực phẩm đã lắp đặt thiết bị sử lí chất thải đúng tiêu chuẩn Một số doanh nghiêp trở thành mô hình mẫu giới thiệu những hình thức quản lí môi trường hiện đại vào nước ta thông qua việc sử dụng hiệu quả các công nghệ bảo vệ môi trường

Khu vực đầu tư nước ngoài làm đất nước đổi mới rõ rệt, mức sống của các tầng lớp được nâng nên tạo điều kiên để vượt qua tình trạng thu nhập thấp, tạo tiền đề cho sự phát triển mạnh hơn của giai đoạn tiếp theo

tư Do đó các thành phố lớn, các địa phương có cảng biển, cảng hàng không, các vùng đồng bằng là nơi tập trung những dự án ĐTNN nhiều nhất: Năm 2007 TP HCM có số vốn đăng kí 2,8 tỷ USD, HN 2,7 tỷ USD, Bình Dương 2,15 tỷ USD Trong khi đó các tỉnh miền núi vùng sâu vùng xa, những địa phương cần được đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, mặc dù chính phủ và chính quyền địa phương có nhưng ưu đãi cao hơn nhưng không được các nhà đầu tư quan tâm Tình trạng này dẫn đến một nghịch lí: Những địa phương có trình độ phát triển cao thì thu hút được ĐTNN nhiều do đó tốc độ

Trang 11

tăng trưởng kinh tế vượt quá tốc độ trung bình của cả nước, trong khi đó những vùng kém phát triển thì có ít dự án đầu tư tốc độ tăng trưởng thấp Đối với các ngành nghề cũng xảy ra tương tự, các nhà ĐTNN chỉ đầu tư vào những ngành có khả năng sinh lợi cao, rủi ro thấp, còn các ngành lĩnh vực có khả năng sinh lợi thấp, rủi ro cao thì không được quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài Năm 2007 vốn đầu tư tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chiếm 62,9% số dự án và 50,6% tổng vốn đầu tư đăng kí, ngành dịch

vụ chiếm 31,5% về số dự án và 47,7% tổng vốn đầu tư đăng kí số còn lại đầu tư trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp

- Tranh chấp lao động trong lĩnh vực có vốn đầu tư nước ngoài chưa được giảiquyết kịp thời Tranh chấp lao động là điều khó tránh, đặc biệt trong thời điểm doanh nghiệp mới hoạt động, hoặc khi doanh nghiệp gặp khó khăn về sản xuất kinh doanh Trong các doanh nghiệp: Người chủ lao động muốn trả công cho người lao động thấp hơn cái mà họ đáng được hưởng nhưng người lao động lại muốn nhận lương cao hơn nhưng thời gian làm ngắn hơn Điều đó dẫn đến mâu thuẫn giữa người sử dụng lao động và người lao động Nếu không được giải quyết kịp thời sẽ dẫn đến tình trạng bãi công gây thiệt hại cho doanh nghiệp Năm 2007 Việt Nam được đánh giá là năm có môi trường đâu tư tốt nhất có tới 57 quốc gia và vùng lãnh thổ tập trung tại Việt Nam Điều này nẩy sinh ra sự khác nhau về nền văn hóa, ngôn ngữ giữ người lao động, người

sử dụng lao động

- Sự yếu kém trong chuyển giao công nghệ Trong khu vực kinh tế có vốn ĐTNN các nhà đầu tư thường mang công nghệ tiên tiến từ bên ngoài vào Một số trường hợp các nhà ĐTNN đã lợi dụng sơ hở của pháp luật Việt Nam cũng như sự yếu kém trong kiểm tra giám sát tại các cửa khuẩu nên đã nhập vào Việt Nam mội số máy móc thiết bị có công nghệ lạc hậu thậm chí là phế thải của các nước khác: trên 727 thiết

bị và 3 dây truyền sản xuất nhập khuẩu trong 42 xí nghiệp có vốn ĐTNN thì có 76% thiết bị được sản xuất từ những năm 1950-1960; 50% máy móc đã qua sử dụng Trong quá trình nhập khuẩu máy móc thiết bị thì giá cả được ghi trong hóa đơn thường cao hơn giá trung bình của thị trường quốc tế Nhờ vậy một số nhà ĐTNN có thể lợi dụng

để khai tăng tỉ lệ góp vốn trong các doanh nghiệp liên doanh với Việt Nam Việc

chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam được thưc hiện thông qua các hợp

Trang 12

đồng và các cơ quan quản lí nhà nước về khoa học công nghệ chuẩn y Tuy nhiện đây

là một hoạt động cực kì khó khăn với nước nhận đầu tư nói chung kể cả Việt Nam Vì khó có thể đánh giá chính xác giá trị thực của từng loại công nghệ trong những ngành khác nhau, đặc biệt trong những ngành công nghệ cao nên thường thương lượng theo hình thức mặc cả đến khi 2 bên chấp nhận được thì kí hợp đồng chuyển giao công nghệ

2 Nguyên nhân và các giải pháp

2.1 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế

2.2.1 Nguyên nhân của những thành tựu

- Trước hết là đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng cùng với những cố gắng, tiến bộ trong công tác quản lí của nhà nước đã phát huy được nhân tố có ý nghĩa quyết định là ý trí kiên cường, tính năng động sáng tạo và sự lỗ lực phấn đấu của các cấp, các ngành

- Nước ta có chế độ chính trị, xã hội ổn định, an ninh đảm bảo được đánh giá

là địa bàn đầu tư an toàn nhất Đồng thời việc thực hiện đường lối đổi mới, đa phương hóa đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra hình ảnh tích cực với nhà đầu tư Nền kinh tế tăng trưởng cao, thu hút sự quan tâm của các nhà kinh tế nhất là khả năng mở rộng dung lượng thị trường trong nước của trên 85 triệu dân

- Công tác chỉ đạo và điều hành của chính phủ, của các bộ ngành và chính quyền địa phương đã tích cực chủ động hơn trong lĩnh vực đẩy nhanh lộ trình áp dụng

cơ chế một giá, hỗ trợ nhà đầu tư giảm chi phí sản xuất, tiếp tục việc cải cách hành chính, quan tâm hơn đến việc tháo gỡ khó khăn trong việc triển khai dự án

- Vận động xúc tiến đầu tư ngày càng được cải thiện đực tiến hành ở nhiều ngành nhiều cấp, trong nước và nước ngoài dưới hình thức đa dạng, kết hợp với các chuyến thăm, làm việc cấp cao của Đảng, nhà nước gắn với việc quản bá hình ảnh Việt Nam và vận động đầu tư- xúc tiến thương mại và du lịch Chính vì vậy mà hiệu quả được năng dần: nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã tìm kiếm cơ hội đầu tư và kí kết số lượng lớn, dự án ngày càng có quy mô lớn mở đầu cho làn sóng đầu tư mới lần 2 vào Việt Nam kể từ năm 1987 đến nay

2.1.2 Nguyên nhân của những tồn tại và hạn chế:

Trang 13

- Tư duy kinh tế chậm đổi mới Chưa tạo lập đồng bộ các loại thị trường theo nguyên tắc thị trường Theo các chủ trương, pháp luật của Đảng và nhà nước là coi ĐTNN là một bộ phận cấu thành hưu cơ của nền kinh tế, được khuyến khích phát triển lâu dài bình đẳng với các thành phần kinh tế khác Tuy nhiên, thực tế sử lí các vấn đề cụthể ở nhiều Bộ, ngành và địa phương vẫn còn phân biệt khác nhau giữa đầu tư trong nước và ĐTNN, chưa thực sự coi đầu tư nước ngoài là thành phần kinh tế của Việt Nam Điều đó thể hiện ngay trong khâu quy hoạch sản phẩm, phân bố các nguồn lực phát triển kinh tế (lao động đất đai, vốn…) cũng như sự cho phép đầu tư nước ngoài tham gia, sử lí tranh chấp các bên cũng thiên về bảo vệ quyền lợi cho hướng Việt Nam Trong thời điểm khó khăn thì tranh thủ vốn ĐTNN nhưng khi có điều kiện thuận lợi lại

có xu hướng không khuyến khích đầu tư nước ngoài, kìm hãm phát triển giảm số lượng đầu tư nước ngoài và hiệu quả sử dụng vốn mà để trong nước tự làm Những biểu hiện này làm nản lòng các nhà đầu tư

- Hệ thống pháp luật, chính sách về đầu tư đã sửa đổi, bổ sung nhưng chưa đồng bộ, thiếu sự nhất quán Một số bộ ngành chậm ban hành các thông tư hướng dẫn các nghị định của chính phủ Các văn bản quy phạm pháp luật: luật, nghị định, thông tư chưa đảm bảo tính thống nhất, thiếu tính cụ thể chỉ dừng lại ở định hướng chung phải chờ nghị định của chính phủ Để có được luật đi vào đời sống thì mất một thời gian dài

đủ để phát sinh những mâu thuẫn mới, cứ như vậy mâu thuẫn chồng chéo mâu thuẫn làm cho việc thi hành luật gặp nhiều khó khăn là kẽ hở để lách luật Thực tế cho thấy, pháp luật Viêt Nam thiếu tính minh bạch và nhất quán là cơ hội để tệ nạn nhũng nhiễu lộng quyền gây phiền hà của các công chức nhà nước và khi các tổ chức hay cá nhân vi phạm luật thì không được sử lí kịp thời bằng các hình thức chính đáng Việc thực thi pháp luật vẫn chưa nghiêm, một số địa phương đã tự đặt ra các quy định quá thẩm quyền như: Miễn giảm thuế cho các dự án ĐTNN nhiều hơn, thời hạn dài hơn so với quyết định của Quốc hội thông qua vấn đề này Dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương trong cùng một lãnh thổ Chủ trương giảm chi phí kinh doanh cho các nhà đầu tư nước ngoài và thống nhất giá cả dịch vụ giữa doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và trong nước (giảm cước viễn thông, dịch vụ vận tải)

được thực hiện quá chậm Không tạo ra sức hút với các nhà đầu tư

Trang 14

- Môi trường kinh doanh chưa hấp dẫn:

Hệ thống cung cấp điện nước còn thiếu, không ổn định và có chất lượng thấp.Điện: khối tư nhân tham gia vào sản xuất không đáng kểt phần lớn do công ty Điện Lực nhà nước sản xuất nên giá điện do chính phủ quy định (người trong nước và ngoài nước

có giá khác nhau, doanh nghiệp nước ngoài giá điện cao hơn 14% so với doanh nghiệp trong nước) không có sự cạnh tranh, giá điện cao hơn giá điện của Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia…tình trạng mất điện thường xuyên Nước: hệ thống nước sạch thấp hơn so với khu vực, và trong tình trang tồi, ở đô thị 70% dùng nước sạch, ở nông thôn 11%, mức nước tổn phí do hệ thống phân phối cũ: 40-50% kiến chi phí nước rất cao Chất lượng, độ tin tưởng kết cấu hạ tầng và các tiện ích thấp hơn tiên chuẩn Kết cấu hạ tầng của Việt Nam chưa phù hợp và không đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và các khía cạnh sẵn có Chất lượng 2/3 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải dùng hệ thốngđường bộ nghèo nàn để vận chuyển.Việc tham gia của khối tư nhân vào kết cấu hạ tầng còn hạn chế làm mất đi tính cạch tranh khiến hoạt động kinh doanh không hiệu quả

- Lao động Việt Nam trẻ nhưng thiếu lao động có chuyên môn quản lí và kĩ thuật Lao động của Việt Nam có hơn 40 triệu người hàng năm tăng nên 1,3-1,5 triệu người chi phí lao động tương đối thấp nhưng tỉ lệ lao động qua đào tạo chỉ có 30% cán

bộ, kĩ sư lành nghề, kĩ sư phục vụ cho công nghệ cao của chúng ta còn rất yếu Dẫn đến tình trạng người lao động thì thừa trong khi công việc đang thiếu người làm

- Thiếu linh kiện, nguyên vật liệu và công nghiệp hỗ trợ khác nên phải sử dụng linh kiện nguồn nguyên vật liệu hạn chế, các ngành điện tử phải nhập linh kiện khiến cho chi phí sản xuất cao Bên cạnh đó hệ thống xuất khẩu chưa hợp lí thuế nhập khẩu 30-60% hàng hóa trong khi đó Việt Nam cam kết với AFTA giảm thuế nhập khẩu xuống dưới 20% đối với 80% hàng hóa như vậy hàng hóa của các nước ASEAN chịu thuế thấp rất nhiều không lợi về mặt kinh tế với các nhà đầu tư nước ngoài

- Tệ nạn tham nhũng khiến cho chất lượng dự án không cao

- Các công đoạn thực hiện quản lí nhà nước với đầu tư nước ngoài còn nhiều bất cập Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội trong đó có đầu tư nước ngoài mang tính kếhoạch tập trung thiếu tính dự báo cho nên nhiều dự án mang tính chủ quan Quy hoạch đầu tư nước ngoài được áp dụng trong một thời gian tương đối dài mà tình hình thế giới

Trang 15

thường xuyên biến động yêu cầu phải điểu chỉnh chiến lược phù hợp với biến động nhưng nước ta lại không thể làm được điều đó Mặt khác quy hoạch đầu tư nước ngoài tùy thuộc vào mục tiêu phát triển kinh tế của địa phương do đó không có sự liên kết các tỉnh, thành phố trong một khu vực khiến kết quả dự án chưa cao.

- Hệ thống thông tin giới thiệu thu hút đầu tư của nước ta chưa khái quát được yêu cấu của các nhà đầu tư nước ngoài: Kết cấu hạ tầng, chi phí, lao động, giá cả Mới chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền quảng bá tiềm năng và thế mạnh của từng địa phương

2.2 Các giải pháp chủ yếu:

Để triển khai, thực hiện và phát triển khu vực kinh tế cói vồn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN chúng ta phải thực hiện một số biện pháp sau:

- Quy hoạch: Đẩy mạch tiến bộ xây dựng và phê duyệt các quy hoạch vẫn còn thiếu rà soát định kì để bổ sung, điều chỉnh các quy hoạch đã lạc hậu tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc xác định và xây dựng dự án Quán triệt và thực hiện thống nhất các quy định của luật đầu tư trong công tác quy hoạch, đảm bảo việc xây dựng các quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm phù hợp với các cam kết quốc tế Hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng đất, công bố rộng dãi quy hoạch, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng cho các dự án đầu tư

- Về pháp luật và chính sách: tiếp tục già soát pháp luật, chính sách để sửa đổi hoặc loại bỏ các điều kiện áp dụng ưu đãi đầu tư không phù hợp với cam kết của Việt Nam và quốc tế ,và các biện pháp đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư liên quan Xây dựng văn bản hướng dẫn các địa phương và doanh nghiệp về lộ trình cam kết mở của đầu tư nước ngoài làm cơ sở xem xét cấp giấy chứng nhận đầu tư Theo dõi, giám sát việc thi hành pháp luật về đầu tư của doanh nghiệp để kịp thời phát hiện và sử lí các vướng mắc phát sinh Khẩn chương ban hành các văn bản hướng dẫn, luật mới Ban hành các ưu đãi khuyến kích đẩu tư đối với các dự án xây dựng công trình phúc lợi (nhà

ở, bệnh viện, trường học…) Nghiên cứu đề xuất chính sách vân động thu hút đầu tư đốivới các tập đoàn đa quốc gia cũng như các chính sách riêng đối với từng tâp đoàn và mỗi nước thành viên EU, Hoa Kì Chấn chỉnh tình trạng ban hành và áp dụng các ưu

Trang 16

đãi, hỗ trợ đầu tư trái với quy định của pháp luật Tăng cường tập huấn, phổ biến nội dung và lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam.

- Về xúc tiến đầu tư: Các bộ ngành và Ủy Ban nhân dân cấp tỉnh tiếp tục già soát, cập nhập bổ sung danh mục kêu gọi đầu tư phù hợp với yêu cầu đầu tư phát triển

và quy hoạch phát triển ngành, địa phương Triển khai nhanh việc thành lập bộ phận xúc tiến đầu tư tại một số địa bàn trọng điểm Xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại, xúc tiến du lịch các cấp, bao gồm cả trong nước lẫm đại diện ở nước ngoài nhằm tạo sự động bộ và phối hợp nâng cao hiệu quả giữa các hoạt động này Đồng thời, thực hiện tốt chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia giai đoạn 2007-2010 để đảm bảo kinh phí cho vận động thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhằm đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá hình ảnh Việt Nam, kết hợp chặt chẽ các chuyến công tác của lãnh đạo cấp cao Đảng và nhà nước với các họa động xúc tiến đầu tư-thương mại-dịch vụ

Tổ chúc hiệu quả các cuộc hội thảo ở trong nước và nước ngoài Năng cấp trang thông tin điên tử về ĐTNN tại Việt Nam Phải cập nhập và chú ý chất lượng tái liệu xúc tiến đầu tư bằng một số ngôn ngữ đáp ứng yêu cầu của số đông nhà đầu tư (Tiếng Anh, Tiếng Nhật, Trung, Hàn…)

Tăng cường các đoàn vận đông đầu tư theo phương thức làm việc trực tiếp với các tập đoàn lớn tại các địa bàn quan trọng Chủ động tiếp cận và hỗ trợ các nhà đầu

tư tiềm năng có nhu cầu đầu tư vào Việt Nam

- Về cải thiện cơ sở hạ tầng:

Tiến hành tổng già soát, điếu chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020 làm cơ sở thu hút đầu tư phát triển kinh tế hạ tầng, đặc biệt

là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước, ưu tiên các lĩnh vực: cấp thoát nước, vệ sinh môitrường, hệ thống đường bộ cao tốc, đặc biệt là tuyến đường bộ Bắc-Nam, hai hành lang kinh tế Việt Nam-Trung Quốc, các cụm cảng biển lớn….Nâng cao chất lượng phục vụ đường sắt

Khẩn trương xây dựng và ban hành cơ chế khuyến khích các thành phần kinh

tế ngoài nhà nước tham gia phát triển các công trình kết cấu hạ tầng trong đó có công trình giao thông, cảng biển, các nhà máy điện độc lập Mở rộng hình thức cho thuê cảng

Trang 17

biển, mở rộng đối tượng cho phép đầu tư dịch vụ cảng biển, đặc biệt dịch vụ hậu cần để tăng cường năng lực cạnh tranh của hệ thống cảng biển Việt Nam, kêu gọi vốn đầu tư váo các cảng lớn của các khu vực kinh tế như hệ thống cảng Hiệp Phước, Thị Vải….Tập chung vốn đầu tư vào một số dự án thuộc lĩnh vực bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin để phát triển các dịnh vụ mới phát triển hạ tầng mạng Đẩy mạnh đẩu tư vào lĩnh vực (văn hóa, y tế, giáo dục) mà Việt Nam đã cam kết khi gia nhập WTO Ban hành một số giải pháp mở cử đối với một số lĩnh vực dịch vụ mà nước ta có nhu cầu

- Về lao động và tiền lương:

Đẩy mạnh việc triển khai kế hoạch tổng thể vể đào tạo nâng cao nhằm nâng cao tỉ lệ lao động qua đào tạo lên 40% vào năm 2010 Do đó ngoài việc nâng cấp đầu tư

hệ thống các trường đào tạo nghề hiện có lên ngang tầm khu vực và thề giới, sẽ phát triển thêm các trường đào tạo nghè và trung tâm đào tạo từ các nguồn vốn khác nhau Nghiên cứu điều chỉnh cơ cầu lao động theo tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Thực hiện các giải pháp nhằm đưa luật sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật lao động vào thực tế để ngăn ngừa tình trạng đình công bất hợp pháp, lành mạnh hóa quan hệ lao động theo tinh thần của bộ luật lao động: “Tiếp tục hoàn thiện luật pháp, chính sách lao động, tiền lương phù hợp với tình hình mới, tăng cường công tác điều tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về lao động đối với người sử dụng lao động nhằm đảm bảo điều kiện làm việc và đời sống cho người lao động Nâng cao hiểu biết pháp luật về lao động thông qua phổ biến, tuyên truyền và giáo dục pháp luật cho ngườilao động, người sử dụng, doanh nghiệp trong khu vực có vốn ĐTNN để đảm bảp chính sách, pháp luật về lao động và tiền lương được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc”

- Về cải cách hành chính:

Thực hiên tốt việc phân cấp quản lí nhà nước đối với ĐTNN đặc biệt trong việc phê duyệt, cấp giấy chứng nhận đầu tư, quản lí tốt khu vực có vốn ĐTNN gắn liền với tăng cường hợp tác, hỗ trợ, phối hợp hiệu quả công tác điều tra, giám sát việc thi hành pháp luật về đầu tư

Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, công chức nhằm dảm bảo thực hiện

nhiêm vụ theo quy định mới về phân cấp quản lí ĐTNN

Trang 18

Đơn giản hóa và công khai quy trình, thủ tục hành chính đối với ĐTNN thực hiện cơ chế “một cửa” trong việc giả quyết thủ tục đầu tư

Tăng cường cơ chế phối hợp quản lí ĐTNN giữa trung ương và địa phương

và giữa các bộ, ngành liên quan

- Một số giải pháp khác:

Áp dụng một số yêu tiên với các vùng miển sao cho phù hợp và dần thu hẹpkhoảng cách giữa các vùng, miền trong thu hút ĐTNN phục vụ phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn nói riêng trên cả nước nói chung

Tiếp tục nâng cao hiệu quả việc chống tham nhũng, tiêu cựu và tình trạng nhũng nhiễu đối với nhà đầu tư Đề cao tinh thần trách nhiệm các nhân trong xử lí công việc, thực hiện tích kiệm chống lãnh phí ở các cơ quan quản lí nhà nước

Cuộc cạnh tranh thu hút ĐTNN ngày càng trở nên găy gắt hơn bởi nó có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi nước Hiên nay thị trường vốn ĐTNN luôn biến động, các nước tham gia thu hút ĐTNN ngày càng nhiều Chính

vì vậy các nước phải tự tạo ra cho mình lợi thế cạnh tranh bằng việc cải thiên môi trường đầu tư Nước ta đã hội nhập và ngày càng sâu với khu vực, thế giới nên phải thường xuyên theo dõi các biến động của tình hình thế giới cũng như sự thay đổi chính sách môi trường đầu tư, chiến lược phát triển khu vực kinh tế có vốn ĐTNN

Kết luận

Có thể khẳng định, đề tài: Phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là đề tài có tính lí luận và thời sự Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò rất quan trọng trong tiến trình phát

Trang 19

triển kinh tế của các nước nói chung và các nước đang phát triển nói riêng Đối với ViệtNam khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa quan trọng Sự phát triển khu vực kinh tế này giúp Việt Nam giải quyết được khó khăn ban đầu trong tích lũy vốn đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp, tăng thunhập… Đầu tư nước ngoài góp phần thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Ngày nay đầu tư nước ngoài mang tính chất toàn cầu việc tăng nhanh vế khối lượng và sự vậnđộng của các nguồn đầu tư nước ngoài là một tất yếu kinh tế, lạ điều kiện bắt buộc của các nước trong thời đại hiên nay vì thế nhận thức đúng bản chất vị trí, vai trò cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến sự ảnh hưởng đến sự phát triển khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài là vấn đề có ý nghĩa lí luận và thực tiễn đối với mỗi nước Đặc biệt khi thu hút và

sử dụng vốn đầu tư nước ngoài là cuộc cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt chung ta phải biết tạo môi trường đầu tư hấp dẫn Kinh nghiệm của các nước ASEAN, NICs Đông Á

và Trung Quốc đã cho ta nhiều bài học quý báu muốn thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đẩu tư nước ngoài phải hoàn thiên hệ thống pháp luật, xây dựng hệ thống chính sách kinh tế đủ hấp dẫn các nhà đầu tư hợp với hệ thống quốc tế, xây dựng một nhà nước mạnh, chuyên nghiệp, không tham nhũng sẽ quyết định sự thành công của chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài trong điều kiện hiện nay

Để phân tích và nghiêm cứu vấn đề này cần rất nhiều thời gian Trên đây là mấyvấn đề và biện pháp cơ bản nhằm thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Cuối cùng em xin giửi lời cảm ơn đến thầy Tô Đức Hạnh đã giúp em hoànthiện đề tài này

Tài liệu tham khảo

1 Báo Nhân Dân.

2 Giáo trình Kinh Tế Chính Trị-NXB Chính Trị Quốc Gia.

Trang 20

3 Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam- NXB Chính trị Quốc Gia.

4 Kỉ yếu 20 năm đầu tư nước ngoài tại Việt Nam- NXB Thông Tấn.

5 Tạp chí cộng sản.

6 Trang báo điện tử Việt Báo.

7 Trang báo điện tử Việt Nam net.

Mục lục

Lời mở đầu -1

I Cơ sở lí luận -2

Trang 21

1 Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài -2

2 Vai trò của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài -3

II Cơ sở thực tiễn -5

1 Thực trang của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài -5

1.1 Tích cực -5

1.2 Hạn chế -10

2 Nguyên nhân và giải pháp -12

2.1 Nguyên nhân của những thành tựư và hạn chế -12

2.2 Các giải pháp -15

Tổng kết -19

Tài liệu tham khảo -20

Mục lục -21

Ngày đăng: 13/07/2023, 11:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w