Tính chất tiết kiệm trong BHNT thể hiện ở chỗ: ngời muabảo hiểm sẽ định kỳ nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểmcho doanh nghiệp bảo hiểm, ngợc lại doanh nghiệp bảo hiểm cótrách nhiệm t
Trang 1Lời nói đầu
Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ngày càng đóng vai trò quantrọng trong nền kinh tế quốc dân Nó không chỉ thực hiện việchuy động vốn cho nền kinh tế mà còn góp phần ổn định tàichính cho các cá nhân, gia đình, giải quyết việc làm cho ngờilao động Đó là những bằng chứng không thể phủ nhận về vaitrò to lớn cũng nh một tơng lai phát triển của bảo hiểm nhân thọ(BHNT) trong thực tế
Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp vào sự nghiệp pháttriển kinh tế đất nớc, BHNT còn một số vấn đề đáng quan tâm.Hoạt động BHNT là hoạt động mang tính nghiệp vụ cao, kiếnthức trong lĩnh vực này mới mẻ, lạ lẫm ngay cả với những ngờitrong nghề Trong khi đó, sự hiểu biết của ngời dân về BHNTcòn hạn chế Thêm vào đó, môi trờng pháp lý điều chỉnh riênglĩnh vực này vẫn cha hoàn thiện Đó là lý do tôi chọn đề tài
(( Pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhânthọ ở Việt Nam )) để làm khoá luận tốt nghiệp
Mục đích của khoá luận nhằm làm rõ thực trạng pháp luật
điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, từ đó
đánh giá những u điểm cũng nh hạn chế của pháp luật điềuchỉnh hoạt động này và đa ra một số kiến nghị nhằm hoànthiện pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khoá luận đợc trình bàythành ba chơng :
Trang 2Chơng I : Những vấn đề lý luận cơ bản về bảo hiểm nhân
thọ và pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
Chơng II : Thực trạng pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo
Chơng I
những vấn đề lý luận cơ bản
về bảo hiểm nhân thọ và pháp luật về hoạt động
kinh doanh bảo hiểm nhân thọ.
I - Khái quát chung về bảo hiểm nhân thọ và hoạt động kinhdoanh bảo hiểm nhân thọ
1- Khái niệm chung về bảo hiểm nhân thọ.
1.1- Khái niệm, đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ.
Bảo hiểm nhân thọ bắt nguồn từ chế độ bảo hiểm nóichung Chế độ BHNT cứu tế cho những hội viên của tổ chức này
bị bệnh hoặc chết Sau đó, những tổ chức hữu ái lập ra ở Anhnêu ra trọng tâm công tác là cứu tế về tiền bạc cho những thànhviên của tổ chức đó bị chết khi về già hoặc ốm đau Nguyêntắc hoạt động ban đầu của BHNT rất đơn giản: những ngờitham gia bảo hiểm đều nộp phí nh nhau và đợc hởng quyền lợi
Trang 3nh nhau Năm 1639, E.Halley- ngời Anh đã lập ra bảng thống kê
tử vong đầu tiên, lý thuyết xác suất của B.pascal năm 1659 vàluật về số đông của J.Bernoully thế kỷ 18 đã đặt nền móng lýthuyết tính toán khoa học cho BHNT
Trong những năm 50 của thế kỷ18, T.Simpon đã dựa vàobảng thống kê tử vong do E.Halley lập ra để lập thành bảng tỷ lệphí bảo hiểm nhân thọ Tỷ lệ chết của con ngời ngày càng tăngtheo lứa tuổi, số tiền phí bảo hiểm của ngời tham gia BHNT phảitrả cũng tăng dần theo từng năm Nhng tỷ lệ chết của ngời trên
50 tuổi tăng lên rất nhanh, ngời tham gia bảo hiểm rất có thểkhông còn cách nào khác để tiếp tục tham gia bảo hiểm nữa,vì khoản phí bảo hiểm đóng quá cao Sau đó, J.Dodson đã
điều chỉnh mức phí bảo hiểm tăng lên hàng năm thành phí bảohiểm bình quân Năm1762, hãng bảo hiểm công bằng đợcthành lập ở London và BHNT đợc xây dựng trên cở sở kỹ thuậtbảo hiểm Có thể nói rằng, hãng bảo hiểm công bằng là mộtdoanh nghiệp bảo hiểm con ngời hiện đại đầu tiên và đã mở ramột cục diện mới phát triển sự nghiệp bảo hiểm con ngời nóichung và BHNT nói riêng
ở nớc ta, BHNT còn là một vấn đề rất mới mẻ nhng lại có vaitrò rất lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc.Bảo hiểm nhân thọ trong nền kinh tế thị trờng đợc xem làhình thức đầu t có lợi và hữu ích đối với các cá nhân, đồngthời cũng là một hình thức kinh doanh rất hiệu quả đối với cáccông ty bảo hiểm.Vậy BHNT là gì?
Trang 4Theo từ điển thuật ngữ kinh doanh bảo hiểm: “BHNT là sựbảo vệ trờng hợp tử vong của một ngời bằng hình thức trả tiềncho ngời thụ hởng- thờng là thành viên của gia đình, doanhnghiệp hay tổ chức, bằng cách đổi một loạt các khoản chi phíbảo hiểm hoặc thanh toán phí bảo hiểm một lần khi ngời đợcbảo hiểm chết, số tiền bảo hiểm (và bất kỳ số tiền bổ sung nào
đợc kèm theo đơn bảo hiểm) trừ đi khoản vay cha trả theo hợp
đồng bảo hiểm và khoản lãi cho vay, sẽ đợc trả cho ngời thụ ởng Những khoản trợ cấp trả khi còn sống cho ngời đợc bảohiểm dới hình thức giá trị giải ớc hoặc các khoản trợ cấp thuthập”
Theo Luật kinh doanh bảo hiểm tại khoản 2 điều 13 “BHNT làloại nghiệp vụ bảo hiểm cho trờng hợp ngời đợc bảo hiểm sốnghoặc chết”
Theo cách hiểu chung “BHNT là bảo hiểm cho tuổi thọ conngời”
Nh vậy, BHNT chính là sự cam kết của doanh nghiệp bảohiểm với ngời tham gia bảo hiểm trong đó doanh nghiệp bảohiểm có trách nhiệm trả số tiền bảo hiểm khi có sự kiện địnhtrớc liên quan đến cuộc sống của con ngời trên cơ sở nộp phí củangời tham gia bảo hiểm theo thoả thuận
Với nhiều quan điểm nh trên về BHNT, có thể nhận thấy một
số đặc trng cơ bản của BHNT nh sau:
Thứ nhất, BHNT là hình thức bảo hiểm kết hợp giữa bảo
hiểm và tiết kiệm Đây là một trong những đặc điểm khácnhau cơ bản giữa BHNT với bảo hiểm phi nhân thọ
Trang 5Tính chất bảo hiểm thể hiện ở chỗ trong thời gian bảo hiểmnếu có sự kiện bảo hiểm xảy ra đối với ngời đợc bảo hiểm thìdoanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho ngời thụ h-ởng.
Tính chất tiết kiệm trong BHNT thể hiện ở chỗ: ngời muabảo hiểm sẽ định kỳ nộp một khoản tiền (gọi là phí bảo hiểm)cho doanh nghiệp bảo hiểm, ngợc lại doanh nghiệp bảo hiểm cótrách nhiệm trả toàn bộ số tiền bảo hiểm cho ngời đợc hởngquyền lợi bảo hiểm khi hết hạn hợp đồng trong trờng hợp không
có sự kiện bảo hiểm xảy ra Nếu ngời mua bảo hiểm đã đóngphí bảo hiểm trên hai năm và không có sự kiện bảo hiểm xảy ra
mà hợp đồng BHNT chấm dứt thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫnphải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng
Thứ hai, BHNT đáp ứng đợc rất nhiều mục đích khác nhau
của ngời tham gia bảo hiểm
Trong khi các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng
đợc một mục đích là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tợngtham gia bảo hiểm gặp sự cố, từ đó góp phần ổn định tàichính cho ngời tham gia thì BHNT đã đáp ứng đợc nhiều mục
đích Mỗi mục đích đợc thể hiện khá rõ trong từng loại hợp
đồng Chẳng hạn, hợp đồng bảo hiểm hu trí sẽ đáp ứng yêu cầucủa ngời tham gia những khoản trợ cấp hàng tháng, từ đó gópphần ổn định cuộc sống của họ khi già yếu Hợp đồng bảohiểm tử vong sẽ giúp ngời đợc bảo hiểm để lại cho gia đìnhmột số tiền bảo hiểm khi họ bị tử vong Số tiền này đáp ứng đ-
Trang 6ợc rất nhiều mục đích của ngời quá cố nh trang trải nợ nần,phụng dỡng bố mẹ già
Thứ ba, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thờng có thời hạn dài.
Xuất phát từ tính chất và mục đích của BHNT là bảo hiểmkết hợp với tiết kiệm dài hạn để thực hiện mục đích trong tơnglai, nên thời hạn của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thờng dài, cóthể 5 năm, 10 năm, 20 năm thậm chí cả cuộc đời của ngời đợcbảo hiểm
Khác với BHNT, thời hạn trong hợp đồng bảo hiểm phi nhânthọ thờng ngắn hạn, một năm, thậm chí bằng thời gian hànhtrình của một chuyến tàu
Thứ t, phí bảo hiểm chịu tác động tổng hợp của nhiều
nhân tố, vì vậy quá trình định phí khá phức tạp
Theo tác giả Jean- Claude Harrari(1) ((sản phẩm BHNT khônggì hơn chính là kết quả của một tiến trình đầy đủ để đasản phẩm đến công chúng)) Trong tiến trình này, ngời bảohiểm phải bỏ ra rất nhiều chi phí để tạo nên sản phẩm, nh : chiphí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng…
Nhng những chi phí đó mới chỉ là một phần để cấu tạo nêngiá sản phẩm BHNT (tính phí BHNT ), một phần chủ yếu khác lạiphụ thuộc vào:
+ Độ tuổi của ngời đợc bảo hiểm
+ Tuổi thọ bình quân của con ngời
+ Số tiền bảo hiểm
+ Thời hạn tham gia bảo hiểm
+ Phơng thức thanh toán…
Trang 7Khi định giá phí BHNT, một số yếu tố trên phải giả định,
nh : tỷ lệ chết, tỷ lệ huỷ bỏ hợp đồng, lãi suất đầu t…Vì thế,quá trình định phí ở đây rất phức tạp, đòi hỏi phải nắmvững đặc trng của mỗi loại sản phẩm,phân tích đợc chiều hớngphát triển của mỗi sản phẩm trên thị trờng
Thứ năm, là loại hình bảo hiểm duy nhất luôn có thể chi trả
dù rủi ro có xảy ra hay không
Đối với các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ, doanh nghiệpbảo hiểm chỉ trả tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm hai bên
đã thoả thuận trong hợp đồng
Trong BHNT, doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiềnbảo hiểm cho bên mua bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra
và khi hợp đồng đáo hạn (đây là trờng hợp không có rủi ro xảy
ra )
Thứ sáu, BHNT là hợp đồng thanh toán có định mức.
(1): Jean – Claude Harri – NXB Withers By & Co, Ltd - 1984
Đối tợng của hợp đồng bảo hiểm tài sản nếu bị tổn thất, có
thể sửa chữa hoặc làm lại bằng biện pháp bồi thờng kinh tế.Trách nhiệm của doanh nghiệp là bồi thờng tổn thất về tài sản,khôi phục lại nh trớc khi xảy ra tai nạn dựa trên mức thiệt hại thựctế
Nhng trong BHNT, thiệt hại về tính mạng con ngời không xác
định đợc giá trị Chính vì vậy, khi giao kết hợp đồng BHNT,các bên phải thoả thuận rõ số tiền bảo hiểm và ghi vào hợp đồng
Trang 8BHNT Tính mạng con ngời khác với tài sản có thể tính giá trị
đ-ợc, thiệt hại về con ngời không xác định đợc Do vậy, dù mức độthiệt hại về con ngời cao nhất là tử vong, doanh nghiệp bảohiểm chỉ có thể trả tiền bảo hiểm theo thoả thuận đã ghi tronghợp đồng tức là thanh toán có định mức
1.2- Phân loại nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ
Một trong những đặc điểm của BHNT là đáp ứng đợc rất
nhiều mục đích của ngời tham gia bảo hiểm Ngời tham giaBHNT hoặc để ổn định cuộc sống khi về già hoặc tiết kiệmphục vụ cho nhu cầu tơng lai hoặc dành một khoản tiền cho concái khi chúng đến tuổi trởng thành…Vì vậy, ngời bảo hiểm đãthực hiện đa dạng hoá các loại hợp đồng BHNT nhằm đáp ứnghoặc thoả mãn mọi nhu cầu của ngời tham gia bảo hiểm
Theo thời hạn bảo hiểm và sự kiện đợc bảo hiểm: bảo hiểmnhân thọ đợc chia thành:
- Bảo hiểm tử kỳ: Nhóm sản phẩm bảo hiểm nhân thọ này cóthời hạn bảo hiểm xác định trớc (5 năm, 10 năm, 15 năm…) và sốtiền bảo hiểm chỉ đợc chi trả khi ngời đợc bảo hiểm tử vongtrong thời hạn hợp đồng
Bảo hiểm tử kỳ trong thực tế đợc đa dạng hoá thành nhiều loạihình:
- Bảo hiểm tử kỳ cố định
- Bảo hiểm tử kỳ có thể tái tục
- Bảo hiểm tử kỳ có thể chuyển đổi
- Bảo hiểm tử kỳ giảm dần
- Bảo hiểm tử kỳ tăng dần
Trang 9- Bảo hiểm sinh kỳ: Nhóm sản phẩm bảo hiểm nhân thọ này
có thời hạn xác định và số tiền bảo hiểm chỉ đợc chi trả khi
ng-ời đợc bảo hiểm còn sống tại thng-ời điểm kết thúc thng-ời hạn hợp
đồng
- Bảo hiểm nhân thọ trọn đời: Đối với loại bảo hiểm này,không xác định đợc thời hạn bảo hiểm và số tiền bảo hiểm đợcchi trả bất cứ khi nào ngời đợc bảo hiểm tử vong
Hiện nay, loại hình bảo hiểm này thờng có các loại hợp đồngsau:
- Bảo hiểm nhân thọ trọn đời phi lợi nhuận
- Bảo hiểm nhân thọ trọn đời có tham gia chia lợi nhuận
- Bảo hiểm nhân thọ trọn đời đóng phí liên tục
- Bảo hiểm nhân thọ trọn đời đóng phí một lần tửvong
- Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp: Đây là loại bảo hiểm mà thờihạn bảo hiểm xác định trớc và số tiền bảo hiểm đợc chi trả khingời đợc bảo hiểm tử vong trong thời hạn hợp đồng hoặc khi ng-
ời đợc bảo hiểm còn sống tại thời điểm kết thúc thời hạn hợp
đồng
- Bảo hiểm trả tiền định kỳ: Đây là các sản phẩm bảo hiểmnhân thọ, trong đó nếu ngời đợc bảo hiểm còn sống đến một
độ tuổi xác định, định kỳ (hàng năm, hàng tháng…) họ sẽnhận đợc số tiền bảo hiểm Thời hạn chi trả số tiền bảo hiểmnày có thể đợc xác định trớc hoặc không xác định
Trang 10Việc phân loại trên giúp doanh nghiệp bảo hiểm quản lý đợckết quả triển khai các sản phẩm theo từng nhóm và xác định đ-
ợc quỹ tiền mặt cần có để thực hiện việc chi trả kịp thời
Theo loại hình sản phẩm:
- Nhóm các sản phẩm chính: đây là các sản phẩm nhân thọthuần tuý Các sản phẩm này thuộc một trong các nhóm sảnphẩm đề cập ở trên (bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảohiểm nhân thọ hỗn hợp….)
- Nhóm các sản phẩm bổ trợ: Đây là các sản phẩm về bảnchất không phải là sản phẩm BHNT mà là các sản phẩm bảohiểm con ngời phi nhân thọ nh bảo hiểm trợ cấp nằm viện vàphẫu thuật, bảo hiểm tử vong do tai nạn…các sản phẩm này đợckết hợp với các sản phẩm chính nhằm tăng tính hấp dẫn của cácsản phẩm chính
- Nhóm các sản phẩm riêng lẻ: Đây là các sản phẩm chính,không có sự kết hợp sẵn với sản phẩm bổ trợ
- Nhóm các sản phẩm trọn gói: Các sản phẩm này có sự kếthợp sẵn giữa một sản phẩm chính với một hoặc nhiều sản phẩm
bổ trợ nhằm giúp khách hàng dễ dàng lựa chọn Ví dụ: sản phẩm
((Phú- Thành đạt)) của công ty Prudential là sự kết hợp của sảnphẩm chính: ((Phú- Tích luỹ định kỳ)) ( sản phẩm thuộc nhómBHNT hỗn hợp) và hai sản phẩm bổ trợ ((BHNT có kỳ hạn)) và ((Bảohiểm chết và tàn tật do tai nạn))
Việc phân loại theo tiêu chí này giúp doanh nghiệp bảohiểm dễ dàng quản lý các sản phẩm chính, sản phẩm bổ trợ,
Trang 11sản phẩm riêng lẻ, sản phẩm trọn gói và có kế hoạch phát triểnthêm các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Theo đặc tính tham gia chia lãi:
- Nhóm các sản phẩm BHNT có tham gia chia lãi: Đây là cácsản phẩm có cam kết chia lãi, tức là ngoài quyền lợi cơ bản lànhận đợc số tiền bảo hiểmkhi có sự kiện bảo hiểm xảy ra, ngờitham gia bảo hiểm còn đợc nhận lãi từ kết quả kinh doanh củadoanh nghiệp bảo hiểm
- Nhóm các sản phẩm BHNT không tham gia chia lãi: Đây là cácsản phẩm, trong đó ngời tham gia không đợc nhận lãi từ kết quảkinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm mà chỉ đợc nhận sốtiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra
Việc phân loại theo tiêu chí trên giúp doanh nghiệp xác
định các sản phẩm tham gia chia lãi trong cơ cấu sản phẩm củadoanh nghiệp, từ đó có chiến lợc đầu t, quản lý sản phẩm thíchhợp sao cho có thể thực hiện đợc các cam kết chia lãi
1.3- Vai trò của bảo hiểm nhân thọ
Ngày nay, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, BHNT là ngànhkinh doanh thu hút sự tham gia đông đảo của các doanh nghiệp,
tổ chức và dân c BHNT không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế
mà có ý nghĩa cả về mặt xã hội, thể hiện ở những mặt chủyếu sau:
Trang 12Thứ nhất: BHNT góp phần xử lý rủi ro, tạo lập cuộc sống ổn
định, duy trì đời sống và hoạt động bình thờng của tổ chức,cá nhân trong xã hội
Hoạt động bảo hiểm nhân thọ của doanh nghiệp bảo hiểm
đợc thực hiện theo phơng thức “ Số đông bù cho số ít” đã tậptrung đợc lợng của cải cần thiết có khả năng bù đắp thiệt hại chokhách hàng gặp rủi ro thuộc diện đợc bảo hiểm Việc doanhnghiệp bảo hiểm giải quyết đầy đủ và kịp thời quyền lợi củakhách hàng đã giúp khách hàng gặp rủi ro nhanh chóng khắcphục đợc hậu quả thực tế, ổn định cuộc sống Đồng thời, kháchhàng cũng có cơ hội thực hiện tiết kiệm dài hạn và đều đặnnhằm đạt đợc những kế hoạch đã đề ra, tạo lập một cuộc sống
đầy đủ về tài chính
Thứ hai: Bảo hiểm nhân thọ kích thích tiết kiệm.
Đây là một vai trò rất quan trọng của bảo hiểm nhân thọ, nógiúp khách hàng khi mua BHNT tích góp đợc những khoản tiềnlớn Trong trờng hợp không có rủi ro xảy ra, có thể sử dụng chonhu cầu tơng lai, đạt đợc những kế hoạch đề ra Ví dụ: ngờitham gia bảo hiểm có thể dành cho con cái một khoản tiền lớnkhi chúng đến tuổi trởng thành, giúp cho ngời già có thêmkhoản tiền bổ sung vào phần lơng hu trí
Trên thực tế, sản phẩm BHNT hỗn hợp (kết hợp giữa bảo hiểm
và tiết kiệm) đặc biệt là bảo hiểm trẻ em là những sản phẩm
đợc ngời mua bảo hiểm tham gia đông nhất Tại Bảo Việt, doanhthu phí bảo hiểm của sản phẩm mang tính tiết kiệm chiếm trên
Trang 1395% Điều này cho thấy, thị trờng Việt Nam đang trong giai
đoạn ((a tiết kiệm))
Thứ ba: Tạo kênh huy động và cung cấp vốn lớn cho nền kinh
tế, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển
Với chức năng gom nhặt và tập trung những khoản tiền nhỏ,
nhàn rỗi nằm rải rác trong dân c, BHNT đã hình thành một quỹ
đầu t lớn, tham gia các quan hệ đầu t cung cấp vốn cho nềnkinh tế, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn, phục vụ đắclực cho sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá, góp phần pháttriển kinh tế xã hội của đất nớc
Có thể nói BHNT đã thực sự trở thành một kênh huy động vàphân phối vốn hữu hiệu cho nền kinh tế
Thứ t: Bảo hiểm nhân thọ đã, đang và sẽ góp phần tích cực
xoá bỏ bao cấp, giảm nhẹ các khoản trợ cấp của nhà nớc, của xãhội đối với các cá nhân gặp rủi ro đồng thời thực hiện xã hội hoácác đảm bảo xã hội Vì có hoạt động BHNT nên ngân sách nhànớc không phải thụ động nhiều khoản chi lớn khi có thiên tai, tainạn bất ngờ xảy ra đối với con ngời
Thứ năm:Bảo hiểm nhân thọ góp phần tạo việc làm cho
nhiều ngời
BHNT đã thu hút, tạo công ăn việc làm cho một lực lợng đông
đảo lao động dới hình thức đại lý chuyên nghiệp, đại lý bánchuyên nghiệp và cộng tác viên Đồng thời BHNT cũng đã tạo rachỗ làm việc cho hàng nghìn ngời với t cách là cán bộ, nhân viêncủa các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
Trang 14BHNT đã khẳng định vai trò quan trọng đối với sự phát triểnkinh tế - xã hội Vì vậy, ở hầu hết các nớc có nền kinh tế pháttriển họ đều coi trọng hoạt động bảo hiểm nhân thọ và coi nó
nh “một cỗ máy ổn định xã hội tinh xảo”
2- Hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ.
Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là hoạt động của doanhnghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lời, theo đó doanhnghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của bên mua bảo hiểm, trêncơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệpbảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho ngời đợc thụ hởng hoặc bồi th-ờng cho ngời đợc bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
Khái niệm trên thể hiện những nội dung sau:
Chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhânthọ là các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ với t cách là bên bảohiểm
Mục đích của hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ làlợi nhuận
Bản chất của hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ làcác doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro mà bên tham giabảo hiểm chuyển giao cho họ, đồng thời chấp nhận trả tiền bảohiểm hoặc bồi thờng cho bên tham gia khi có các sự kiện bảohiểm xảy ra trên cơ sở doanh nghiệp bảo hiểm thu phí bảohiểm để hình thành quỹ dự trữ
Nh vậy, hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ mang
đặc tính của ngành kinh doanh dịch vụ Điều này thể hiệntrong kinh doanh BHNT, doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đóng
Trang 15vai trò trung gian giữa ngời mua bảo hiểm và ngời đợc thanhtoán bảo hiểm Trong điều kiện kinh doanh có lãi, số tiền bảohiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm trả cho ngời hởng quyền lợibảo hiểm lấy từ nguồn phí bảo hiểm và phần lợi nhuận thu đợc
từ việc sử dụng phí bảo hiểm để đầu t Tuy nhiên, hoạt độngkinh doanh BHNT có điểm khác biệt so với các hoạt động kinhdoanh dịch vụ đó là:
Doanh nghiệp bảo hiểm không bán các sản phẩm hàng hoáhữu hình; sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp bảo hiểm cungứng chi khách hàng là các cam kết bảo hiểm và xác định đợc giátrị trong tơng lai
Hoạt động kinh doanh BHNT là một ((chu trình kinh doanhngợc)), nhà kinh doanh bảo hiểm tiến hành thu phí trớc và chi trảsau
Giá cả của các loại sản phẩm đợc xác định dựa trên giá trị của sảnphẩm.Trong hoạt động kinh doanh BHNT, giá đợc xác định căn
cứ vào sự tính toán và phán đoán rủi ro của nhà bảo hiểm
Hoạt động kinh doanh BHNT không thuộc diện chịu thuế giátrị gia tăng Xuất phát từ vai trò của BHNT đó là ổn định tàichính cho các cá nhân, gia đình, giảm nhẹ các khoản trợ cấpcủa nhà nớc khi rủi ro xảy ra Do đó, nhà nớc không đánh thuếgiá trị gia tăng đối với hoạt động kinh doanh BHNT, nhằmkhuyến khích ngời dân tham gia BHNT
Hoạt động kinh doanh BHNT cũng có điểm khác biệt so vớihoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ Trong hoạt độngkinh doanh BHNT, thời hạn bảo hiểm dài, mức phí bảo hiểm mà
Trang 16doanh nghiệp bảo hiểm thu đợc thờng lớn và doanh nghiệp bảohiểm phải trả tiền bảo hiểm cho ngời thụ hởng khi có sự kiệnbảo hiểm xảy ra trong thời hạn bảo hiểm và khi hết hạn hợp
đồng Chính vì vậy pháp luật quy định khác biệt về mức vốn
điều lệ, việc trích lập quỹ dự phòng nghiệp vụ từ phí bảo hiểm
và hoạt động đầu t vốn nhàn rỗi của doanh nghiệp BHNT so vớicác doanh nghiệp kinh doanh phi nhân thọ
II - pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
1- Khái niệm pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ.
Kinh doanh BHNT là một lĩnh vực của đời sống xã hội, chứa
đựng nhiều mối quan hệ Xuất phát từ vai trò quan trọng củaBHNT nên nhà nớc sử dụng pháp luật để điều chỉnh Các quan
hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm đợc cácquy phạm pháp luật điều chỉnh trở thành quan hệ pháp luậtkinh doanh bảo hiểm
Nhìn chung, pháp luật về kinh doanh BHNT bao gồm cácnhóm quy phạm pháp luật sau:
Nhóm 1 : Các quy phạm pháp luật xác định địa vị pháp lý
của các doanh nghiệp kinh doanh BHNT, các quy phạm pháp luậtnày nằm ở các văn bản pháp luật: luật kinh doanh bảo hiểm, luậtdoanh nghiệp
Nhóm 2 : Các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ
phát sinh giữa các bên tham gia quan hệ bảo hiểm trong việc thunộp phí bảo hiểm và thanh toán bảo hiểm
Trang 17Nhóm 3 : Các quy phạm pháp luật giải quyết tranh chấp phát
điều chỉnh tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm, xác
định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảohiểm Luật kinh doanh bảo hiểm không áp dụng đối với các loạibảo hiểm không mang tính kinh doanh
Trên cơ sở luật kinh doanh bảo hiểm, Chính phủ, Bộ tàichính ban hành các văn bản pháp luật theo thẩm quyền điềuchỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực kinh doanhbảo hiểm Các văn bản pháp luật này cũng chứa đựng các quyphạm pháp luật cấu thành pháp luật kinh doanh bảo hiểm ở nớcta
Tóm lại, pháp luật về kinh doanh BHNT bao gồm các quy phạmpháp luật do cơ quan nhà nớc có thẩm quyền ban hành điềuchỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực kinh doanhBHNT
2- Các nguyên tắc hoạt động bảo hiểm nhân thọ
Nguyên tắc trong hoạt động BHNT là t tởng chủ đạo trongviệc kinh doanh BHNT của doanh nghiệp bảo hiểm và tham giabảo hiểm của tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm
Trang 18Hoạt động kinh doanh BHNT là hoạt động mang tính rủi rocao nên các doanh nghiệp bảo hiểm ngoài việc tuân thủ cácnguyên tắc kinh doanh nói chung còn phải tuân theo nhữngnguyên tắc áp dụng riêng
2.1- Nguyên tắc bảo đảm lợi ích của ngời tham gia bảo hiểm.
Nguyên tắc này xuất phát từ mục đích của ngời tham giabảo hiểm khi mua BHNT là xử lý rủi ro, khắc phục khó khăn vềtài chính khi có rủi ro xảy ra Mặt khác, sự hiểu biết của ngờidân về BHNT còn hạn chế, các hợp đồng BHNT thờng là hợp
đồng mẫu do doanh nghiệp BHNT thảo Do đó, ngời mua bảohiểm thờng ở t thế (( bấp bênh))
Nguyên tắc này thể hiện ở những mặt sau:
Trong trờng hợp các điều khoản của hợp đồng BHNT không rõràng thì điều khoản đó đợc giải thích theo hớng có lợi cho ngờimua bảo hiểm
Trờng hợp ngời mua bảo hiểm không đóng đợc phí bảo hiểmhoặc đóng không đủ thì doanh nghiệp bảo hiểm không đợckhởi kiện đòi đóng phí bảo hiểm
Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm phảitrả tiền bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm Nếu trả chậm số tiền
đó, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm vật chất về việc chậmtrả đó
2.2- Nguyên tắc trung thực tuyệt đối.
Trong BHNT, nguyên tắc trung thực thể hiện ở trách nhiệmcung cấp thông tin
Trang 19Nguyên tắc này phải đợc các bên trong hợp đồng bảo hiểmnhân thọ tuân thủ tuyệt đối Việc tuân thủ tuyệt đối của cácbên sẽ bảo đảm quyền lợi của chính họ.
Đối với ngời tham gia bảo hiểm, khi mua bảo hiểm phải cótrách nhiệm cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến đốitợng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm và chịu trách nhiệm
về tính chính xác của các thông tin đó Nếu vi phạm nghĩa vụnày, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phơng đình chỉthực hiện hợp đồng
Đối với doanh nghiệp bảo hiểm, khi giao kết hợp đồng cótrách nhiệm cung cấp các thông tin liên quan đến hợp đồng bảohiểm Trờng hợp doanh nghiệp bảo hiểm cố ý cung cấp thông tinsai sự thật nhằm giao kết hợp đồng thì bên mua bảo hiểm cóquyền đơn phơng đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm.Doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thờng thiệt hại phát sinh chobên mua bảo hiểm do việc cung cấp thông tin sai sự thật
2.3- Nguyên tắc thanh toán.
Doanh nghiệp bảo hiểm phải đảm bảo các yêu cầu về tàichính để thực hiện các cam kết của mình đối với bên mua bảohiểm
Theo nguyên tắc này doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiềnbảo hiểm cho bên mua bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ratrong thời hạn hai bên thoả thuận hoặc nếu không có thoả thuậnthì phải trả tiền bảo hiểm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngàynhận đợc hồ sơ hợp lệ về yêu cầu trả tiền bảo hiểm Nếu doanh
Trang 20nghiệp bảo hiểm chậm trả tiền bảo hiểm thì phải chịu tráchnhiệm vật chất về việc trả chậm
2.4- Nguyên tắc quyền lợi có thể đợc bảo hiểm.
Đây là nguyên tắc quan trọng của hoạt động BHNT Khi thamgia hợp đồng BHNT, các chủ thể phải tuân thủ tuyệt đối nguyêntắc này
Theo nguyên tắc này, khi ngời mua bảo hiểm và ngời đợcbảo hiểm không đồng thời là một, trong mối quan hệ của họphải tồn tại một quyền lợi có thể đợc bảo hiểm Mối quan hệ vềlợi ích bảo hiểm theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm làmối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dỡng
Việc quy định nguyên tắc này nhằm ngăn chặn các rủi ro
đạo đức trong hoạt động BHNT
2.5- Nguyên tắc lựa chọn rủi ro.
Hoạt động BHNT cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho những cánhân, tổ chức có nhu cầu Tuy nhiên, không phải trong mọi tr-ờng hợp nhà bảo hiểm đều chấp nhận các yêu cầu bảo hiểm
Đây là quyền mà pháp luật cho phép nhà bảo hiểm có thể từchối nếu nh khả năng xảy ra rủi ro với đối tợng bảo hiểm là tấtyếu
Theo nguyên tắc này, nhà bảo hiểm chỉ bảo hiểm chonhững rủi ro mang tính ngẫu nhiên, bất ngờ không lờng trớc đợc
Để đảm bảo nguyên tắc này, Luật kinh doanh bảo hiểm quy
định điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm là điều khoảnphải có trong nội dung hợp đồng BHNT
Trang 213- Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ.
BHNT xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1996 nhng đến nay vẫncòn mới mẻ đối với ngời dân Sự hiểu biết của ngời dân về BHNTcòn rất hạn chế Vì vậy, trên thực tế, việc giao kết hợp đồngbảo hiểm thông qua hợp đồng mẫu do nhà bảo hiểm soạn thảo.Những điều khoản trong hợp đồng không phải bao giờ cũng
đầy đủ và có lợi cho ngời tham gia bảo hiểm Mặt khác, nhiềuthuật ngữ trong BHNT khó hiểu, điều này rất bất lợi cho ngờimua bảo hiểm
Sự ra đời và hoạt động của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm,thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau đã tạo nên sự cạnhtranh tích cực, thúc đẩy thị trờng bảo hiểm phát triển Tuynhiên, cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm rất phức tạp Trên thực
tế, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm vì lợi ích trớc mắt đã sử dụngthủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh, bỏ qua cả khía cạnh đạo
đức và những yêu cầu về nghiệp vụ trong kinh doanh Sự phứctạp này còn bao gồm những hoạt động cạnh tranh không lànhmạnh giữa các đại lý của các doanh nghiệp bảo hiểm với nhaukhiến khách hàng khó lựa chọn chính xác sản phẩm bảo hiểmphù hợp cho mình Điều đó ảnh hởng trực tiếp đến quyền lợi củangời tham gia bảo hiểm
Khoản tiền phí trả trớc của bên mua bảo hiểm chuyển đến
đợc doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng để đầu t Nếu việc đầu t
đó không thận trọng sẽ nguy hiểm cho ngời đợc bảo hiểm Đầu ttrong BHNT lại là hoạt động sống còn và công ty BHNT thu đợc
Trang 22phần lớn lợi nhuận từ hoạt động này Đó là lý do doanh nghiệpBHNT có nguy cơ mất khả năng thanh toán dẫn tới phá sản và hậuquả của nó ảnh hởng trực tiếp đến quyền lợi của ngời mua bảohiểm trong khi họ đang trông chờ vào bảo hiểm để có thểthoát khỏi tình trạng nguy hiểm của chính mình
Xuất phát từ những đặc thù đó của BHNT, cần có pháp luật
để điều chỉnh các vấn đề liên quan đến t cách chủ thể củadoanh nghiệp bảo hiểm cũng nh ngời tham gia bảo hiểm; vấn
đề giao kết và thực hiện hợp đồng; giải quyết tranh chấp phátsinh từ hợp đồng nhằm :
Bảo vệ lợi ích hợp pháp của ngời tham gia bảo hiểm, ngời đợcbảo hiểm và ngời thụ hởng
Bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp bảo hiểm
Thúc đẩy hoạt động kinh doanh BHNT phát triển
4- Những nội dung pháp lý cơ bản về hoạt động kinh doanh BHNT
Pháp luật về BHNT của hầu hết các nớc trên thế giới không
đ-ợc quy định riêng thành bộ luật, mà đđ-ợc quy định chung trongcác văn bản pháp luật về kinh doanh bảo hiểm cũng nh các vănbản có liên quan đến BHNT Nội dung các quy định đó baogồm:
Quản lý các doanh nghiệp BHNT, đại lý, môi giới bảo hiểm,thể hiện: các quy định liên quan đến hình thức pháp lý; vốn tốithiểu; ngời điều hành; chế độ tài chính; điều kiện, tiêu chuẩncủa đại lý bảo hiểm
Trang 23 Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ: phân loại hợp đồng BHNT;nội dung hợp đồng BHNT; quyền và nghĩa vụ của các bên trongtừng loại hình hợp đồng BHNT.
ở Việt Nam, pháp luật về kinh doanh BHNT cũng giống các nớctrên thế giới Các quy định về BHNT cha nhiều và cha đợc pháp
điển hoá thành bộ luật riêng mà đợc quy định ở nhiều văn bảnpháp luật khác nhau Nhìn chung, pháp luật về kinh doanh BHNTgồm các nội dung chủ yếu sau :
Nhóm 1: các quy phạm pháp luật quy định địa vị pháp lý
của chủ thể kinh doanh BHNT
Chủ thể kinh doanh BHNT là các doanh nghiệp bảo hiểm đợcthành lập và hoạt động theo quy định của luật kinh doanh bảohiểm và pháp luật có liên quan
Việc xác định địa vị pháp lý của doanh nghiệp bảo hiểmgồm các nội dung sau:
Hình thức pháp lý của doanh nghiệp bảo hiểm: doanhnghiệp bảo hiểm là tổ chức có t cách pháp nhân, tham gia hợp
đồng bảo hiểm với t cách là bên bảo hiểm Theo quy định củapháp luật hiện hành, doanh nghiệp bảo hiểm có các loại hìnhsau: doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nớc; công ty bảo hiểm cổphần; tổ chức bảo hiểm tơng hỗ; doanh nghiệp bảo hiểm liêndoanh; doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu t nớc ngoài
Điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động
Giải thể, phá sản doanh nghiệp bảo hiểm
Nhóm 2: các quy phạm pháp luật quy định về hợp đồng bảo
hiểm
Trang 24Hợp đồng BHNT là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm vàdoanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm đóng phí,doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho ngời thụ h-ởng hoặc ngời đợc bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
Chủ thể của hợp đồng BHNT : doanh nghiệp bảo hiểm và bênmua bảo hiểm
Vi phạm nghĩa vụ trung thực;
Không hiểu đúng các điều khoản trong hợp đồng;
Có hành vi gian lận, trục lợi từ bảo hiểm…
Luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản pháp luật đã đềcập đến những trờng hợp trên và có những quy định nhằm giảiquyết giải quyết các tranh chấp trên nh : đơn phơng đình chỉthực hiện hợp đồng, hợp đồng vô hiệu…
Nhng nhìn chung, các quy định của pháp luật về vấn đềnày còn hạn chế dẫn đến nhiều trờng hợp doanh nghiệp bảohiểm lúng túng khi giải quyết quyền lợi cho bên mua bảo hiểm
Trang 25mà BHNT đem lại cho từng cá nhân, gia đình ngời tham gia bảohiểm thì BHNT còn mang lại nhiều lợi ích to lớn cho xã hội.
Theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm, chủ thể kinhdoanh BHNT là các doanh nghiệp bảo hiểm đợc Bộ Tài Chính cấpgiấy phép thành lập và hoạt động
Trong điều kiện thực hiện cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tậptrung, Nhà nớc thực hiện độc quyền về bảo hiểm dới hình thứchoạt động chỉ của một doanh nghiệp Nhà nớc là BAOVIET
Bớc sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc,
Đảng và Nhà nớc đã thực hiện chính sách “ khuyến khích pháttriển, đa dạng hoá hoạt động kinh doanh bảo hiểm của cácthành phần kinh tế và mở cửa hợp tác với nớc ngoài’’ Với việc ban
Trang 26hành Nghị định 100/ 1993/ NĐ- CP ngày 18/12/1993 về kinhdoanh bảo hiểm đã chấm dứt sự độc quyền của Nhà nớc về kinhdoanh bảo hiểm, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế kháctham gia vào hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam
Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 đã quy định rõ các loạihình doanh nghiệp bảo hiểm:
Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nớc.
Công ty bảo hiểm cổ phần.
Công ty bảo hiểm tơng hỗ.
Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh.
Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nớc ngoài.
Nh vậy, chủ thể kinh doanh BHNT phải là pháp nhân Tuynhiên, theo quy định trên thì loại hình doanh nghiệp t nhân,công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh không đợc tiếnhành kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Việc quy định nh trênxuất phát từ tính chất riêng có của hoạt động kinh doanh BHNT.Bởi vì :
Doanh nghiệp bảo hiểm cần có tổ chức bộ máy quản lý vàkiểm soát tốt Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phức tạp, tínhtrách nhiệm và độ rủi ro rất cao,vì vậy đòi hỏi doanh nghiệpbảo hiểm phải có một đội ngũ nhân viên và cán bộ quản lýchuyên trách Trong điều kiện hiện nay, những yêu cầu và đòihỏi này đối với các loại hình trên cha đáp ứng đợc
Các doanh nghiệp bảo hiểm, theo quy định của pháp luật,phải lập một khoản tiền dự phòng nghiệp vụ Khoản tiền này đợctrích lập riêng cho từng nghiệp vụ bảo hiểm và phải tơng ứng với
Trang 27phần trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đíchchi trả cho các nghiệp vụ Vấn đề này cha phân tách rạch ròitrong mô hình doanh nghiệp t nhân, công ty trách nhiệm hữuhạn, công ty hợp danh Ngoài ra, các doanh nghiệp bảo hiểm cònphải tuân thủ về việc ký quỹ, lập quỹ dự trữ bắt buộc hàngnăm để bổ sung vốn điều lệ và đảm bảo khả năng thanh toántrong suốt quá trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm Các loạihình doanh nghiệp trên trong giai đoạn này hầu nh vốn đầu tnhỏ, quy mô hẹp nên khó có khả năng đáp ứng đợc.
Một đặc tính quan trọng nữa của doanh nghiệp kinh doanhbảo hiểm là sự ổn định, lâu dài và không phụ thuộc vào sựthay đổi của chủ sở hữu Vấn đề này không đơn giản trongcác loại hình doanh nghiệp trên, vì khi có sự kiện rủi ro xảy ra
đối với chủ sở hữu có thể dẫn đến chấm dứt hoạt động củadoanh nghiệp Nh vậy, không có ngời tiếp tục đảm nhiệm đểgiải quyết quyền lợi cho ngời mua bảo hiểm
Việc quy định các loại hình doanh nghiệp t nhân, công tytrách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh không đợc tiến hành kinhdoanh bảo hiểm là phù hợp với thực tế ở Việt Nam hiện nay Tuynhiên, khi nền kinh tế Việt Nam đã phát triển vững mạnh và cácdoanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp đặc biệt là loại hìnhcông ty trách nhiệm hữu hạn phát triển với những tiềm lực và kỹthuật đáng kể, nên bổ sung loại hình doanh nghiệp này vàochủ thể kinh doanh bảo hiểm
Trang 28Theo đánh giá của các doanh nghiệp bảo hiểm, Việt Nam làmột thị trờng BHNT tiềm năng Điều này thể hiện ở các mặtsau:
Việt Nam là một thị trờng mới Với đại đa số ngời dân ViệtNam, BHNT vẫn là một lĩnh vực còn ít biết đến
Số ngời tham gia bảo hiểm đông đảo Là một trong số cácquốc gia đông dân trên thế giới, Việt Nam rất có tiềm năng vềBHNT Đến năm 2002, dân số Việt Nam lên đến gần 80 triệu ng-
ời, trong đó ngời lao động và trẻ em chiếm đa số Thế nhng sốngời tham gia BHNT mới khoảng 2 triệu ngời,so với các nớc trên thếgiới thì còn rất ít
Điều kiện kinh tế của những ngời tham gia BHNT đang ngàycàng lớn mạnh Qua 15 năm đổi mới, nền kinh tế nớc ta có nhữngbớc phát triển vợt bậc, lạm phát đợc duy trì ở mức độ thấp dới10%, đời sống của dân c không ngừng đợc cải thiện, ngời dân
đã bắt đầu có tích luỹ và sử dụng số tiền này để đầu t trở lạinền kinh tế, trong đó BHNT là một trong những kênh đầu t đợcngời dân lựa chọn
Chính sách pháp luật của nhà nớc đang tạo ra môi trờng pháp
lý bình đẳng và an toàn cho hoạt động kinh doanh bảo hiểmphát triển Hiện nay, chính phủ đã phê chuẩn chiến lợc phát triểnthị trờng bảo hiểm Việt Nam đến năm 2010
Hiện nay, trong số 5 doanh nghiệp BHNT trên thị trờng bảohiểm Việt Nam, có tới 4 doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài Vìvậy, chúng ta nên khuyến khích các loại hình doanh nghiệptrong nớc đặc biệt loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn làm
Trang 29phong phú thêm thị trờng bảo hiểm Việt Nam và tạo cơ hội chocác doanh nghiệp trong nớc khai thác thị trờng mới và nhiều tiềmnăng.
II- quy định của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
1- Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
1.1- Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ.
Doanh nghiệp bảo hiểm đợc thành lập và hoạt động theoquy định của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định kháccủa pháp luật có liên quan
Doanh nghiệp bảo hiểm tham gia hợp đồng bảo hiểm với tcách là một bên chủ thể của hợp đồng- bên nhận bảo hiểm
Để tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ,doanh nghiệp bảo hiểm phải đợc Bộ Tài Chính cấp giấy phépthành lập và hoạt động
Điều kiện để đợc cấp giấy phép thành lập và hoạt động:
Có số vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mức vốn pháp
định theo quy định của Chính phủ
Xuất phát từ đặc thù của hoạt động kinh doanh BHNT đó làdoanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của ngời đợc bảo hiểm,kinh doanh trên sự rủi ro đó – những rủi ro mang tính kháchquan và ngẫu nhiên Theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 4Nghị Định 43/2001/NĐ-CP vốn pháp định của doanh nghiệp kinhdoanh bảo hiểm nhân thọ là 140.000.000.000 đồng Việt Namhoặc 10.000.000USD
Trang 30Việc quy định nh vậy nhằm đảm bảo cho doanh nghiệpduy trì đợc mức vốn hoạt động, tránh tình trạng phá sản, mấtkhả năng thanh toán
Có hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động theo
luật định.
- Đơn xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động
- Dự thảo điều lệ doanh nghiệp
- Phơng án hoạt động 5 năm đầu
- Danh sách, lý lịch ,văn bằng chứng minh năng lực trình độ chuyên môn nghiệp vụ của ngời quản trị, ngời điều hành doanh nghiệp
- Mức vốn góp và phơng thức góp vốn; danh sách những cá nhân, tổ chức chiếm 10% số vốn điều lệ trở lên; tình hình tàichính và những thông tin khác có liên quan đến tổ chức, cá nhân đó
- Quy tắc, điều khoản, biểu phí, hoa hồng bảo hiểm củaloại sản phẩm bảo hiểm dự kiến tiến hành
Có loại hình doanh nghiệp và điều lệ phù hợp với quy định
của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật.
Đây là điều kiện quan trọng đảm bảo cho doanh nghiệp ra
đời có phơng hớng hoạt động rõ ràng và là căn cứ để xem xét,
đánh giá khách quan hoạt động của doanh nghiệp có đúng mục
đích không
Ngời quản trị, ngời điều hành có năng lực quản lý chuyên
môn nghiệp vụ về bảo hiểm.
Trang 31Một trong những nguyên nhân dẫn đến thành công của mọi
hoạt động sản xuất kinh doanh là yếu tố con ngời Đặc biệt lànhững ngời quản trị, điều hành doanh nghiệp Kinh doanh bảohiểm nhân thọ là lĩnh vực kinh doanh chứa đựng nhiều rủi ro.Vì vậy đòi hỏi ngời quản trị, điều hành của doanh nghiệp phải
có trình độ chuyên môn nghiệp vụ về bảo hiểm
Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, ngoài các
điều kiện trên, còn phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu t nớc ngoài đang hoạt
động hợp pháp tại Việt Nam và tình trạng tài chính bình thờng
- Đợc cơ quan có thẩm quyền của nớc ngoài cho phép hoạt
động kinh doanh bảo hiểm trong lĩnh vực dự kiện tiến hành tạiViệt Nam
Các quy định trên của pháp luật về điều kiện đợc cấp giấyphép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm
đảm bảo doanh nghiệp hoạt động có
hiệu quả, có đủ khả năng khi giao kết các hợp đồng
1.2- Bên tham gia bảo hiểm
Bên tham gia bảo hiểm (hay còn gọi là bên mua bảo hiểm) là
ngời kê khai vào đơn bảo hiểm và có nghĩa vụ nộp phí bảohiểm theo thoả thuận
Với t cách của bên tham gia bảo hiểm, theo quy định củapháp luật có thể là cá nhân, có thể là pháp nhân…
Ngời tham gia bảo hiểm có thể mua bảo hiểm cho bản thânmình và có thể mua bảo hiểm cho ngời khác
Trang 32Để trở thành một bên chủ thể của hợp đồng bảo hiểm nhânthọ, ngời mua bảo hiểm phải thoả mãn các điều kiện sau:
Có năng lực hành vi dân sự
Quan hệ hợp đồng bảo hiểm trớc hết là một quan hệ dân sự.Cũng nh các giao dịch khác, chủ thể của hành vi giao kết phải làngời có khả năng bằng chính hành vi của mình, xác lập, thựchiện quyền và nghĩa vụ theo thoả thuận hoặc theo quy địnhcủa pháp luật
Những hợp đồng bảo hiểm giao kết giữa doanh nghiệp bảohiểm và bên mua bảo hiểm là ngời bị hạn chế, ngời cha có nănglực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của ngời đại diện theopháp luật
Có quyền lợi có thể đợc bảo hiểm
Quyền lợi có thể đợc bảo hiểm đợc hiểu là quyền sở hữu,chiếm hữu, sử dụng, quyền tài sản, nghĩa vụ nuôi dỡng, cấp dỡng
đối với đối tợng đợc bảo hiểm
Khi bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể đợc bảo hiểm, hợp
đồng bảo hiểm mới có hiệu lực Pháp luật không cho phép mộtngời không có quan hệ lợi ích bảo hiểm với ngời đợc bảo hiểm đ-
ợc phép yêu cầu bảo hiểm cho ngời đó Đây là điều rất quantrọng, bởi khi tồn tại lợi ích bảo hiểm giữa ngời mua bảo hiểm vớingời đợc bảo hiểm, mục đích bảo hiểm mới đợc thực hiện
Là ngời tiến hành hành vi giao kết hợp đồng
Ngời mua bảo hiểm có quyền lựa chọn doanh nghiệp bảohiểm, tự mình đàm phán, ký kết hợp đồng BHNT hoặc có thểthông qua môi giới bảo hiểm Dù ở hình thức nào, bên mua bảo
Trang 33hiểm cũng phải là ngời tiến hành việc giao kết hợp đồng vớidoanh nghiệp bảo hiểm Nghĩa là bên mua bảo hiểm phải tựmình đứng tên trong giấy yêu cầu bảo hiểm hoặc tự mìnhchấp nhận những điều khoản bảo hiểm mà doanh nghiệp bảohiểm đa ra
2- Trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng BHNT.
Việc xác lập hợp đồng BHNT là hành vi pháp lý của hai bêngiữa ngời tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm Do đó,quá trình xác lập hợp đồng bảo hiểm là quá trình thống nhất ýmuốn của ngời tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảohiểm.Theo quy định của pháp luật hiện hành, có các cách thức
ký kết chủ yếu sau:
Phơng pháp ký trực tiếp : Là phơng pháp mà theo đó doanhnghiệp BHNT và ngời tham gia bảo hiểm trực tiếp gặp nhau đểthoả thuận về các điều khoản của hợp đồng BHNT và cùng kývào hợp đồng
Phơng pháp ký gián tiếp : Là phơng pháp mà theo đó ngờitham gia bảo hiểm gửi văn bản đề nghị giao kết hợp đồng vàcác hồ sơ liên quan đến việc ký kết hợp đồng cho doanh nghiệpbảo hiểm Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày doanh nghiệp bảohiểm nhận đợc văn bản đề nghị của bên tham gia bảo hiểm,phải có quyết định chấp thuận hay không chấp thuận đề nghịbảo hiểm của ngời tham gia bảo hiểm Nếu quá thời hạn trên màdoanh nghiệp bảo hiểm không có quyết định từ chối bảo hiểmthì coi nh đề nghị bảo hiểm đợc chấp nhận
Trang 34Mỗi phơng pháp trên đều có những u điểm và hạn chếriêng Phơng pháp ký trực tiếp giúp các bên rút ngắn thời gian kýkết, đàm phán trực tiếp, thể hiện ý chí rõ ràng, tránh sự hiểulầm Tuy nhiên, có những vấn đề quyết định ngay tại thời
điểm giao kết hợp đồng, các bên không có điều kiện cânnhắc, tính toán các nội dung phát sinh Phơng pháp ký gián tiếpthờng có một khoảng thời gian để các bên tìm hiểu kỹ về các
điều khoản trong hợp đồng Nhng có trờng hợp vì lý do kháchquan mà hồ sơ liên quan đến hợp đồng BHNT chuyển đếnchậm… nh vậy ảnh hởng đến quyền lợi của các bên
Thực tế ở Việt Nam hiện nay, việc giao kết hợp đồng bảohiểm nhân thọ hầu nh đợc thực hiện thông qua đại lý bảo hiểm
mà không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa doanh nghiệp bảo hiểmvới ngời tham gia bảo hiểm Đối với các công ty bảo hiểm nhânthọ thì hoạt động của đại lý bảo hiểm đợc đánh giá là mộttrong những yếu tố quyết định sự thành công của công ty.Theo dự đoán, trong tơng lai khi thị trờng BHNT của Việt Namphát triển, trình độ dân trí về lĩnh vực này cao, thậm chíkhông cần tới hệ thống đại lý, ngời dân sẽ có thể mua bảo hiểmthông qua mạng Internet nh ở một số quốc gia trên thế giới Tuynhiên, hiện nay vai trò của đại lý bảo hiểm vẫn hết sức quantrọng
Theo khảo sát của chúng tôi, quá trình giao kết hợp đồngBHNT giữa công ty BHNT Việt Nam- Bảo Việt Nhân Thọ với kháchhàng đợc thực hiện qua các bớc nh sau :