Trong tác phẩm triết học được Ph.Ăngghen trình bày 12 chương từ chương III đến chương XIV; thông qua việc đấu tranh phê phán Đuyrinh về các vấn đề không gian, thời gian, vận động, vật lý
Trang 1Phép biện chứng duy vật - thông qua cuộc đấu tranh chống quan điểm siêu hình, phản động trong tác phẩm “Chống Đuyrinh” của Ph.Ăngghen
Triết học là một hình thái ý thức xã hội, một lĩnh vực rất quan trọng và cần thiết trong cuộc sống, nó giúp cho con người có được một tư duy sâu rộng, một tầm nhìn bao quát về thế giới Có thể nói triết học là cơ sở nền tảng
và là động lực cho quá trình nhận thức và cải tạo thế giới Càng đi sâu nghiên cứu chúng ta càng thấy cái đặc sắc, phong phú của nó được thể hiện một cách sinh động trong hệ thống các quan niệm về tự nhiên, xã hội và con người Lịch sử triết học đã xác định triết học xuất hiện từ khi xã hội phân chia giai cấp và có sự tách biệt giữa lao động trí óc với lao động chân tay, những học thuyết triết học đầu tiên trong lịch sử xuất hiện vào khoảng thế kỷ VIII-VI trước công nguyên ở ấn Độ Cổ đại, Trung Quốc cổ đại, La Mã, Hy Lạp cổ đại
và các nước khác Trong đó triết học C.Mác-Ph.Ăngghen là đỉnh cao trong sự phát triển lý luận triết học, đó là sự kết tinh sáng tạo giữa trí tuệ thiên tài với
sự tiếp thu, kế thừa biện chứng những di sản triết học, khoa học của nhân loại Quá trình hình thành và phát triển triết học Mác hoàn toàn tuân thủ theo những đặc điểm có tính qui luật chung của sự phát triển thực tiễn xã hội đó là: Điều kiện kinh tế chính trị-xã hội, sự phát triển của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Đặc biệt là cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai khuynh hướng triết học cơ bản giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật, giữa phép biện
Trong tác phẩm nổi tiếng“ Chống Đuyrinh” của mình Bằng ngòi bút
sắc sảo Ph.Ăngghen đã đấu tranh không khoan nhượng chống chủ nghĩa duy tâm và phép biện chứng siêu hình của các trường phái triết học phản khoa học, phản cách mạng mà ở đây là Đuyrinh
Trở lại với lịch sử chúng ta thấy rằng vào những năm 30 của thế kỷ XIX trong khi các nước Anh, Pháp, ý đã phát triển phương thức sản xuất tư
Trang 2bản chủ nghĩa thì nước Đức đang trong sự trì trệ của chế độ phong kiến Chính điều đó đã tác động mạnh mẽ đến giai cấp tư sản ở Đức, họ muốn làm cuộc cách mạng nhưng thực lực còn non yếu, trong khi đó giai cấp vô sản phải đứng lên để làm cuộc cách mạng xoá bỏ chế độ phong kiến Chính vì vậy lúc này rất nhiều luồng tư tưởng đi ngược lại với tư tưởng vô sản của C.Mác
và Ph.Ăngghen, nổi bật trong đó là luồng tư tưởng “Chủ nghiã xã hội” tiểu tư sản mà đại diện là Đuyrinh Ông này tự cho lý luận của mình là tuyệt đỉnh và đối lập với C.Mác Chính vì vậy Ph.Ăngghen đã chỉ ra:“Ông Đuyrinh chính là một trong những loại hình tiêu biểu nhất cho cái khoa học giả hiệu trắng trợn
mà ngày nay, trong khắp nước Đức, ta đều thấy ngoi lên hàng đầu và lấn át tất
cả bằng những lời rỗng tuếch khoa trương ầm ĩ của nó”1 Trên thực tế nhiều đảng viên của đảng xã hội dân chủ Đức trong đó có A.Bêben đã viết hai bài luận đăng trên tờ báo Volkssaat (Tiến lên) cơ quan trung ương của Đảng công nhân dân chủ xã hội để “ca ngợi ” Đuyrinh, gọi Đuyrinh là “Người cộng sản mới” của những năm 70 của thế kỷ XIX
Trên thực tế từ đầu năm 1875 chủ nghĩa Đuyrinh được truyền bá trên qui mô rộng lớn và trở nên đặc biệt nguy hiểm Với việc ông Đuyrinh cho xuất bản lần thứ hai cuốn “Lịch sử phê phán khoa kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội”, đồng thời cho xuất bản cuốn “Bài giảng về triết học” với những nội dung công kích thậm tệ vào chủ nghĩa Mác, điều này đã góp phần “Tiêm nhiễm” những tư tưởng độc hại, phản cách mạng vào trong phong trào công nhân quốc tế Vì vậy việc chống lại tư tưởng của Đuyrinh là một tất yếu
Trước đòi hỏi của lịch sử những người bạn của Ph.Ăngghen, trong đó
có LípNếch một trong những người sáng lập và là lãnh tụ của Đảng dân chủ
xã hội Đức đề nghị Ph.Ăngghen trực tiếp viết bài chống lại Đuyrinh đăng trên
1 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 17
Trang 3Với trí tuệ thiên tài và cuộc đời hoạt động thực tiễn phong phú của mình Ph.Ăngghen đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà lịch sử đã giao cho, từ năm 1877 đến năm 1878, tác phẩm được công bố dưới hàng loạt bài báo trên
Dưới ngòi bút sắc sảo của mình trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”
Ph.Ăngghen đã phê phán sâu sắc đồng thời đập tan lý luận “Chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản” của Đuyrinh một cách toàn diện trên tất cả các phương diện:
Triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học.
Tác phẩm “Chống Đuyrinh” kết cấu gồm: Lời tựa viết cho ba lần xuất bản; lời mở đầu
phần thứ hai: Kinh tế chính trị học
Trong tác phẩm triết học được Ph.Ăngghen trình bày 12 chương (từ chương III đến chương XIV); thông qua việc đấu tranh phê phán Đuyrinh
về các vấn đề không gian, thời gian, vận động, vật lý, thiên văn, hoá học, giới hữu cơ, đạo đức, pháp quyền Ph.Ăngghen trình bày một cách khoa học những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng Nghiên cứu các nội dung mà Ph.Ăngghen đề cập ở phần triết học trong tác phẩm, chúng ta thấy rằng tư tưởg về phép biện chứng duy vật là một vấn đề nổi bật và quan trọng nó được Ph.Ăngghen trình bày một cách tương đối cụ thể, đầy đủ và sáng tỏ trên tất cả các mặt: Quan niệm về phép biện chứng; sự đối lập giữa phép biện chứng duy vật và phép biện chứng duy tâm; sự đối lập giữa phép biện chứng và phương pháp siêu hình; về mối liên hệ và sự vận động phát triển của sự vật; các quy luật cơ bản về sự vận động phát triển của các sự vật hiện tượng đó là: Quy luật mâu thuẫn, quy luật lượng chất, quy luật phủ định
Trang 4Khi bàn về phép biện chứng duy vật Ph.Ăngghen coi nó không chỉ là khoa học về tư duy mà “ Là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” 2 Ngoài ra, phép biện chứng không phải là một công cụ đi từ ngoài vào tài liệu được nghiên cứu, không phải là tập hợp những khuôn sáo dùng để nhét các sự kiện và hiện tượng cụ thể Phương pháp biện chứng là con đường nhận thức chân lý phù hợp với bản chất của cái khách quan, khách thể được nghiên cứu Ph.Ăngghen đã phê phán: Ông Đuyrinh coi phép biện chứng như là một công
cụ “tầm thường” chỉ dùng để chứng minh, giống như khi nhận thức một cách nông cạn thì người ta có thể coi lôgích hình thức hay toán học sơ cấp là một công cụ như thế, điều đó chứng tỏ ông Đuyrinh chẳng hiểu gì về phép biện chứng Chính sự đấu tranh phê phán trên của Ph.Ăngghen đối với Đuyrinh đã làm sáng tỏ quan niệm về phép biện chứng Mác xít, đó là phép biện chứng đã phá vỡ cái chân trời nhỏ hẹp của lôgích hình thức, đồng thời nó còn chứa đựng những mầm mống của một thế giới quan rộng lớn
Ph.Ăngghen khẳng định phép biện chứng duy vật đối lập với phép biện chứng duy tâm Ông cho rằng Hênghen là một nhà duy tâm với học thuyết ý niệm tuyệt đối của mình, Hênghen coi thế giới hiện thực chỉ là những phản ánh thể hiện cái “ý niệm tuyệt đối”, cái “ý niệm” đang tồn tại ở đâu đó không xác định ngay trước khi có thế giới Như vậy “Tất cả đều bị lộn ngược, và mối liên hệ hiện thực của các hiện tượng của thế giới hoàn toàn bị đảo ngược”
3 Vì vậy hệ thống triết học trong đó có phép biện chứng của Hênghen không tách khỏi tính gò ép, giả tạo, hư cấu và xuyên tạc Từ bản chất “sai lầm” của chủ nghĩa duy tâm Đức cùng với những mặt tích cực, hạn chế của nó là con đường dẫn tới chủ nghĩa duy vật C.Mác-Ph.Ăngghen Phép biện chứng duy vật ra đời có một phần đóng góp quan trọng của phép biện chứng duy tâm khách quan của Hêghen, với tư cách là một nguồn lý luận trực tiếp Phép biện
2 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 201
3 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 41
Trang 5chứng duy vật của C.Mác-Ph.Ăngghen khác về chất và hoàn toàn đối lập với phép biện chứng duy tâm của Hêghen, đối lập ở chỗ phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng của ý niệm, phép biện chứng duy tâm, còn phép biện chứng của triết học Mác đứng trên lập trường duy vật, phản ánh đúng quy luật vận động, phát triển của thế giới khách quan, mang bản chất cách mạng, khoa học Ph.Ăngghen chỉ ra rằng “Giới tự nhiên là hòn đá thử vàng đối với phép biện chứng”4 và khẳng định “Có thể nói rằng, hầu như chỉ có Mác và tôi là những người đã cứu phép biện chứng tự giác thoát khỏi triết học duy tâm Đức và đưa nó vào trong quan niệm duy vật về tự nhiên và về lịch sử"5 Phép biện chứng duy vật được Ph.Ăngghen coi là sự tổng kết toàn bộ quá trình phát triển của triết học và khoa học tự nhiên, đồng thời là sự khái quát các qui luật khách quan của giới tự nhiên và xã hội
Phép biện chứng Mác xít mang tính khoa học và cách mạng không chỉ
do nó đứng vững trên nền tảng lập trường duy vật mà còn có sự đối lập hoàn toàn với phép siêu hình Sự đối lập ấy được Ph.Ăngghen làm nổi bật, rạch ròi thông qua đấu tranh phê phấn các quan điểm của Đuyrinh Theo Ph.Ăngghen phép biện chứng là hình thức cao nhất của tư duy khoa học, đó là cách “Xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng, trong mối liên
hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh
và sự tiêu vong của chúng”6 Đối với những kẻ siêu hình như Đuyrinh (theo cách gọi của Ph.Ăngghen) thì chỉ biết xem xét những sự vật và quá trình trong trạng thái biệt lập của chúng, ở bên ngoài mối liên hệ to lớn phổ biến chung,
vì thế “không xem xét chúng trong trạng thái vận động mà xem xét trong trạng thái tĩnh, không coi chúng về cơ bản, là phổ biến, mà coi chúng là vĩnh viễn không biến đổi, không xem xét chúng trong trạng thái sống mà xem xét chúng trong trạng thái chết”7 Ph.Ăngghen đánh giá cao tư tưởng của Hêghen
4 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 38
5 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 22
6 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 38
7 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 36
Trang 6về sự vận động phát triển đó là “ Toàn bộ thế giới tự nhiên, lịch sử và tinh thần được trình bày như là một quá trình, nghĩa là luôn luôn vận động, biến đổi, biến hoá và phát triển”8 Qua đó chúng ta thấy rằng quan điểm của Ph.Ăngghen về vận động phát triển đối lập với phép siêu hình đồng thời khẳng định phép biện chứng luôn luôn xem xét sự vật hiện tượng trong trạng
Về mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng, Ph.Ăngghen với những lập luận khoa học ông đã chỉ ra rằng mọi sự vật hiện tượng của thế giới khách quan đều tồn tại trong mối liên hệ phổ biến, tác động qua lại và ràng buộc lẫn nhau Khi tư duy để xem xét toàn bộ thế giới tự nhiên, xã hội loài người
“Chúng ta sẽ thấy một bức tranh về sự chằng chịt vô tận của những mối liên
hệ và những sự tác động qua lại”9, nhưng với nhà siêu hình thì “ Những sự vật
và sự phản ánh của chúng trong tư duy, tức là những khái niệm, đều là những đối tượng nghiên cứu riêng biệt, cố định, cứng đờ, vĩnh viễn, phải được xem xét cái này sau cái kia, cái này độc lập với cái kia”10 hoặc “Sự vật hoặc là tồn tại hoặc là không tồn tại; một sự vật không thể vừa là bản thân nó lại vừa là một sự vật khác, cái khẳng định và cái phủ định tuyệt đối bài trừ lẫn nhau; nguyên nhân và kết quả cũng đối lập hẳn với nhau”11 Rõ ràng các nhà siêu hình “Chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vậy ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây
Sự đối lập của phép biện chứng đối với phép siêu hình không những được Ph.Ăngghen chỉ ra trong việc xem xét mối liên hệ và vận động phát triển của sự vật hiện tượng mà còn ở các qui luật tồn tại, phát triển của các sự vật hiện tượng kể cả trong tự nhiên xã hội và tư duy Đặc biệt trong tác phẩm
8 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 39
9 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 35
10 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 36
11 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 37
12 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 37
Trang 7“Chống Đuyrinh”, Ph.Ăngghen đã làm rõ vấn đề này trên ba quy luật cơ bản
của phép biện chứng: Qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập; qui luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng thành những biến đổi về chất
và ngược lại; qui luật phủ định của phủ định Khi bàn về tính khách quan của các qui luật biện chứng, Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng “không thể là đưa những qui luật biện chứng từ bên ngoài vào giới tự nhiên, mà là phát hiện ra chúng trong giới tự nhiên và rút chúng ra từ giới tự nhiên”.13
Khi bàn về qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Ph.Ăngghen đã chỉ ra tính khách quan và tính phổ biến của mâu thuẫn Bằng nhiều ví dụ khác nhau trong nhiều lĩnh vực Ph.Ăngghen đã chứng minh vận động cũng có đặc trưng của mâu thuẫn, mâu thuẫn thường xuyên nảy sinh và luôn luôn giải quyết mâu thuẫn Điều đó hoàn toàn trái ngược với Đuyrinh, Đuyrinh hoàn toàn phủ nhận mâu thuẫn, coi mâu thuẫn là phi lý, vô nghĩa và hoàn toàn không thể có trong thế giới hiện thực, vấn đề đó đồng nghĩa với quan điểm của Đuyrinh khi xem xét thế giới sự vật trong trạng thái biệt lập, đứng im vĩnh viễn, siêu hình mà không xem xét thế giới sự vật trong trạng thái động Ph.Ăngghen đã chỉ rõ tư tưởng của Đuyrinh về mâu thuẫn chỉ được tóm tắc lại trong mệnh đề “ mâu thuẫn bằng vô nghĩa, và do đó nó không thể
có trong thế giới hiện thực”14 Bởi lẽ Đuyrinh xem xét sự vật trong trạng thái đứng im, không có sinh khí, cái nào riêng cái ấy, cái này bên cạnh cái kia và cái này nối tiếp cái kia một cách tuyệt đối cho nên không thể thấy được mâu thuẫn bên trong của sự vật, hiện tượng Theo Ph.Ăngghen khi xem xét sự vật phải xem xét trong sự vận động, biến đổi, có sự sống và tác động lẫn nhau giữa chúng thì “Chúng ta ta sẽ lập tức gặp phải những mâu thuẫn Bản thân sự vận động đã là một mâu thuẫn; ngay như sự di động một cách máy móc và đơn giản sở dị có thể thực hiện được cũng chỉ là vì một vật trong cùng một lúc ở nơi này lại vừa ở nơi khác, vừa ở cùng một chỗ lại vừa không ở chỗ đó
13 Sách đã dẫn trang 2
14 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 172
Trang 8Và sự nảy sinh thường xuyên và việc giải quyết đồng thời mâu thuẫn này đó chính cũng là sự vận động”15 Bằng cách luận giải hàng loạt các mâu thuẫn trong tất cả lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy, Ph.Ăngghen đã chứng minh một cách khoa học tính khách quan, phổ biến của các mâu thuẫn, đó là sự hiện hữu chẳng hạn như: “Mâu thuẫn giữa năng lực nhận thức vô tận ở bên trong của con người với sự tồn tại thực tế của năng lực ấy trong những con người bị hạn chế bởi hoàn cảnh bên ngoài, và bị hạn chế trong những năng lực nhận thức”16 hay “Chúng ta thấy rằng sự sống trước hết chính là ở chỗ một sinh vật trong mỗi lúc vừa là nó nhưng lại vừa là một cái khác Như vậy,
sự sống cũng là một mâu thuẫn tồn tại trong bản thân các sự vật và các quá trình, một mâu thuẫn thường xuyên nảy sinh và tự giải quyết và khi mâu thuẫn chấm dứt thì sự sống cũng không còn nữa và cái chết xảy đến”17
Ngược lại Đuyrinh cho rằng “Bất kỳ một mâu thuẫn nào cũng đều là một phi lý”18 theo Đuyrinh “Nguyên lý đầu tiên và quan trọng nhất về những thuộc tính lôgích cơ bản của tồn tại là gạt bỏ mâu thuẫn Mâu thuẫn là một phạm trù chỉ có thể thuộc về sự kết hợp các tư tưởng, chứ không thuộc về hiện thực Trong các sự vật không hề có bất cứ một mâu thuẫn nào, hay nói cách khác, bản thân mâu thuẫn được coi như có thực là một điều vô nghĩa hết sức”19
Qua đó chúng ta thấy rằng Đuyrinh đã cố gắng bác bỏ mâu thuẫn, bác
bỏ quy luật được coi là hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng của Hêghen và những quan niệm về vấn đề quy luật mâu thuẫn của triết học Mác Bằng trí tuệ thiên tài và cách chứng minh khoa học Ph.Ăngghen khẳng định mâu thuẫn
“Tồn tại một cách khách quan ở trong bản thân các sự vật và các quá trình và
có thể bộc lộ ra dưới dạng một hình thức hữu hình”20, đồng thời nhờ có mâu
15 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 173
16 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 174
17 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 173-174
18 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 92
19 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 171
20 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 173
Trang 9thuẫn mà có sự vận động, phát triển, khi mâu thuẫn kết thúc thì sự vận động phát triển cũng chấm dứt Vì vậy ngay từ thời kỳ triết học cổ đại phép biện chứng thô sơ cũng đã khẳng định mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự phát triển Như vậy chúng ta thấy rằng mâu thuẫn là khách quan, phổ biến, mâu thuẫn là có thực, mâu thuẫn là nguồn gốc động lực phát triển của mọi sự
Khi bàn về quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng thành
những biến đổi về chất và ngược lại Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”
Ph.Ăngghen đã chỉ ra cách thức của sự phát triển: quá trình chuyển hoá từ chất này sang chất khác, là một tiến trình đứt đoạn liên tục có sự nhảy vọt về chất Ph.Ăngghen đã đưa ra sự luận giải của C.Mác trên tất cả các lĩnh vực tự
-Sự biến đổi của tiền thành tư bản -Sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội -Sự phát triển của giới sinh vật, của địa tầng Qua đó Ph.Ăngghen khẳng định tính khách quan, phổ biến của quy luật lượng chất Nhưng vấn đề quan trọng hơn là Ph.Ăngghen đã làm sáng tỏ cả hai vế của quy luật, về mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất trong quá trình chuyển hoá Sự thay đổi về lượng đến mức độ nhất định, tại điểm nút có
sự nhảy vọt về chất và sự vật mới ra đời, theo Ph.Ăngghen “ Sự hợp tác của nhiều cá nhân, sự dung hợp của nhiều sức thành một hợp sức, sẽ tạo ra, nói theo lối nói của C.Mác, một sức mới nào đó căn bản khác với tổng số những sức cá biệt hợp thành nó”21 Sự vật mới ra đời bao hàm sự thống nhất mới về chất và lượng và ở đó lại diễn ra một quá trình biến đổi mới, chất mới ra đời tác động ngược trở lại và tạo điều kiện cho lượng mới phát triển Cứ như vậy cách thức phát triển của sự vật diễn ra theo quy luật này, đó là quy luật khách
21 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 181
Trang 10quan phổ biến Ph.Ăngghen viết “Sự thay đổi về lượng làm thay đổi chất của các sự vật cũng như sự thay đổi về chất làm cho lượng của sự vật thay đổi”22
Mặc dù Ph.Ăngghen đã lý giải quy luật một cách khoa học, đồng thời ông phải đấu tranh gay gắt với quan điểm siêu hình về quy luật lượng chất là
ở chỗ Đuyrinh không thừa nhận sự phát triển của cả chất và lượng mà chỉ đơn thuần là sự thay đổi về lượng Vấn đề nguy hiểm hơn là Đuyrinh cho C.Mác cũng có quan điểm giống Hêghen rằng “Những thay đổi đơn thuần về lượng, đến một mức độ nhất định, sẽ chuyển hoá thành những sự khác nhau về chất”23, do đó “Một món tiền đặt cọc, khi đạt đến một giới hạn nào đó thì trở thành tư bản”24 Qua đó chúng ta thấy rõ ràng quan điểm trên của Đuyrinh hoàn toàn trái ngược với tư tưởng của C.Mác, đó là quan điểm phản động, phản khoa học xuyên tạc triết học Mác Đồng thời Ph.Ăngghen cũng chứng minh rằng: không phải bất cứ sự thay đổi đơn thuần nào về số lượng theo kiểu một với một là hai thì cũng dẫn đến sự thay đổi về chất Trong tất cả các dẫn chứng mà Ph.Ăngghen đưa ra để luận giải cho vấn đề này, thì dẫn chứng lời
mô tả của Na-pô-lê-ông về cuộc chiến của đội kỵ binh Pháp với kỵ binh Ma-me-lúc “Hai người lính Ma-Ma-me-lúc thì trội hơn hẳn 3 người lính Pháp; 100 người lính Ma-me-lúc và 100 người lính Pháp thì ngang nhau; 300 người lính Phápthì thường thường trội hơn 300 người lính Ma-me-lúc; và 1000 người lính Pháp thì bao giờ cũng đánh bại được 1500 người lính Ma-me-lúc”25 Đây
là bằng chứng thực tiễn xác đáng nhất được Ph.Ăngghen luận giải để bác bỏ quan điểm siêu hình, phản động, phản cách mạng của Đuyrinh về quan hệ
Về quy luật thứ ba của phép biện chứng quy luật phủ định của phủ định, Ph.Ăngghen rất chú ý chỉ ra tính khách quan, phổ biến của nó trên tất cả các lĩnh vực tự nhiên xã hội và tư duy Theo ông quy luật phủ định của phủ
22 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 180-181
23 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 179
24 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 180
25 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG sự thật, Hà Nội 1994, trang 184