Xuất phát từ quan niệm chung về quản lý, quản lý nhà nước có thể hiểu là sự tác động mang tính tổ chức, điều chỉnh trên cơ sở khoa học và kế hoạch của các chủ thể quản lý nhà nước đối vớ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐỖ THỊ THANH PHƯỚC
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LẬP, THẨM ĐỊNH VÀ PHÊ DUYỆT
DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật hành chính
Mã số: 60.38.20
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Nguyễn Cửu Việt
Tp Hồ Chí Minh, năm 2009
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Để thoát khỏi tình trạng nước kém phát triển vào năm 2010 và cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, điều kiện tiên quyết là tăng trưởng kinh
tế phải đạt tốc độ cao Muốn như vậy, chúng ta phải huy động mọi nguồn vốn đầu tư trong nước và tranh thủ nguồn lực nước ngoài
Ở nước ta hiện nay, đầu tư trong nước cũng như hợp tác đầu tư nước ngoài
là vấn đề được Nhà nước và xã hội quan tâm hàng đầu Để sử dụng một cách có hiệu quả vốn đầu tư nhằm góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, việc lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư trên cơ sở khách quan, khoa học là điều hết sức cần thiết
Thực tế đầu tư kém hiệu quả của nhiều dự án trong thời gian qua đã đặt ra yêu cầu đối với cơ quan quản lý nhà nước là phải tìm ra những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này và giải pháp để khắc phục Có thể thấy, một trong những nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả đầu tư chính là các khiếm khuyết trong công tác lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư Do vậy, vấn đề đặt ra ở đây là công tác lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư cần phải được Nhà nước quản lý chặt chẽ
Trong những năm gần đây, những vấn đề lý luận về lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, những công trình này chỉ chủ yếu phân tích khía cạnh kinh tế, tài chính của việc lập, thẩm định và phê duyệt dự án Chưa có tác giả nào thực hiện công trình nghiên cứu dưới góc độ khoa học pháp lý về quản lý nhà nước đối với việc lập
dự án đầu tư và thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư
Xuất phát từ tình hình đó và tầm quan trọng của quản lý nhà nước về lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư nói chung và thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác này tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, tác giả đã chọn đề tài “Quản lý nhà nước về lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư tại Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn cao học
Trang 32 Mục đích nghiên cứu đề tài
Qua đề tài này, tác giả mong muốn làm sáng tỏ thêm lý luận quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư và thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư; từ đó, phân tích thực trạng pháp luật quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư ở nước ta nói chung và thực trạng tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Trên cơ sở đó, tác giả sẽ phân tích những điểm hạn chế trong pháp luật quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư ở nước ta và đề xuất hướng hoàn thiện các công tác này
3 Đối tượng nghiên cứu
Vì bản thân hoạt động thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư là những hoạt động quản lý nhà nước, nên đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động quản
lý nhà nước về lập dự án đầu tư và hoạt động thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư tại Thành phố Hồ Chí Minh
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản sau đây:
- Lý luận quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư;
- Lý luận về thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư;
- Nội dung quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư;
- Phân cấp thẩm định và phê duyệt dự án; nội dung thẩm định và phê duyệt dự án; trình tự thẩm định và phê duyệt dự án;
- Thực trạng pháp luật và thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh
Mặc dù thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư là vấn đề quan trọng của quản lý nhà nước về lập, thẩm định
và phê duyệt dự án đầu tư, nhưng không được đề cập trong luận văn, bởi vì
Trang 4pháp luật nước ta hiện nay chưa có quy định cụ thể đáng kể về vấn đề này và theo tác giả được biết thì thực tiễn về hoạt động này cũng rất ít
Mặt khác, tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư và hoạt động thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư của
Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và các cơ quan quản lý nhà nước trực thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; không đi sâu nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư, thực trạng thẩm định và phê duyệt các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quản lý của Chính phủ hoặc các Bộ ngành Trung ương cũng như các địa phương khác
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê nin Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê và khảo sát thực tế để tiếp cận và phân tích những vấn đề
có liên quan đến nội dung của đề tài
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học cũng như các cán bộ làm công tác thực tiễn trong các cơ quan quản lý nhà nước, các công ty, văn phòng tư vấn…, nhất là về lĩnh vực tư vấn đầu tư
7 Bố cục của luận văn:
Đề tài được nghiên cứu theo 2 chương:
- Chương 1: Quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Chương 2: Thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 5CHƯƠNG 1 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LẬP DỰ ÁN ĐẦU TƯ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.1 Cơ sở lý luận – pháp lý của quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư
1.1.1.1 Khái niệm đầu tư và dự án đầu tư
Thuật ngữ “đầu tư” và “dự án đầu tư” là hai thuật ngữ được sử dụng nhiều trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế Tuy nhiên, mỗi nguồn thông tin khác nhau tiếp cận hai thuật ngữ này theo nhiều góc
độ khác nhau Đến nay, chúng ta vẫn chưa thống nhất một khái niệm chung cho hai thuật ngữ này
1 Thuật ngữ “đầu tư”
Theo ngân hàng thế giới, đầu tư là sự bỏ vốn trong một thời gian dài vào một lĩnh vực nhất định (như thăm dò, khai thác, sản xuất – kinh doanh, dịch vụ…) hoặc đưa vốn vào hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai trong nhiều chu kỳ kế tiếp nhằm thu hồi vốn và có lợi nhuận cho nhà đầu tư và lợi ích kinh tế - xã hội cho đất nước được đầu tư(1)
Theo Luật đầu tư 2005, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan(2)
Nói đến hoạt động đầu tư là đề cập đến hoạt động bỏ vốn để thu lợi nhuận Trên bình diện xã hội, đầu tư là việc sử dụng vốn vào quá trình tái sản xuất
xã hội nhằm tạo ra năng lực sản xuất lớn hơn Trên góc độ doanh nhân hoặc
Trang 6doanh nghiệp, đầu tư là việc đưa vốn vào một hoạt động nào đó nhằm mục đích thu lợi nhuận(3)
Như vậy, dù ở góc độ nào, đầu tư cũng có thể được hiểu là việc bỏ vốn vào một lĩnh vực nào đó nhằm mục đích thu lợi nhuận Lợi nhuận đó bao gồm lợi nhuận cho nhà đầu tư (người bỏ vốn) và lợi nhuận cho đất nước, cho xã hội Việc đầu tư phải đem lại lợi ích cho xã hội như đẩy mạnh quá trình sản xuất, phát triển cơ sở hạ tầng, giải quyết việc làm cho người lao động… Có thể nói, đầu tư là hoạt động mang tính chủ động của đơn vị, tổ chức hoặc cá nhân nhưng phải đảm bảo là hoạt động đó phải có ích cho xã hội, ảnh hưởng tốt đến sự phát triển lành mạnh của xã hội
2 Thuật ngữ “dự án đầu tư”
Dự án đầu tư có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:
Xét trên tổng thể chung của quá trình đầu tư: dự án đầu tư có thể được hiểu như là kế hoạch chi tiết triển khai các hoạt động đầu tư nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra trong một khoảng thời gian nhất định
Xét về mặt hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động, chi phí theo một kế hoạch cụ thể để đạt được những kết quả cũng như thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai
Xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đề ra bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định
Xét trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế – xã hội trong một
(3) Phước Minh Hiệp – Lê Thị Vân Đan, tlđd số 1, trang 2
Trang 7thời gian dài Dự án là một chuỗi các hoạt động liên kết được tạo ra nhằm đạt kết quả nhất định trong phạm vi ngân sách và thời gian xác định(4)
Theo Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng, "dự án đầu tư" là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định (chỉ bao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp)(5)
Theo Luật đầu tư 2005, dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung
và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định(6)
Theo Luật Xây dựng 2003, dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định(7)
Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể khái quát rằng dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất trình bày một cách chi tiết việc sử dụng vốn, tài nguyên lâu dài để mang lại lợi ích kinh tế - xã hội Dự án đầu tư phải được cấp có thẩm quyền quyết định, phải phù hợp với quy hoạch phát triển của vùng, địa phương Nội dung của dự án đầu tư phải tính toán, phân tích một cách chi tiết các số liệu
về phương diện pháp lý, thị trường, kỹ thuật, môi trường, quản trị, tài chính và các lợi ích kinh tế - xã hội Dự án đầu tư được lập dựa trên cơ sở những số liệu điều tra cơ bản, các bản đồ và các bản vẽ kỹ thuật có liên quan trực tiếp đến việc đầu tư
Trang 8Đặc trưng cơ bản của dự án đầu tư(8)
là:
- Xác định mục tiêu, mục đích cụ thể Dự án phải thể hiện rõ mục tiêu đầu
tư là gì
- Xác định hình thức tổ chức thực hiện nhằm đạt mục tiêu đề ra
- Xác định nguồn tài chính để tiến hành hoạt động đầu tư
- Xác định khoảng thời gian để thực hiện mục tiêu của dự án
1.1.1.2 Khái niệm lập dự án đầu tư
Để thực hiện việc đầu tư, nhà đầu tư cần phải chuẩn bị thật kỹ về mọi phương diện Trong đó, công tác đầu tiên và giữ vai trò quan trọng nhất là công tác lập dự án đầu tư
Lập dự án đầu tư là việc nghiên cứu, thu thập và tạo một tập hồ sơ, trong
đó trình bày một cách chi tiết những vấn đề có liên quan đến việc bỏ vốn đầu tư vào một lĩnh vực nhất định, việc sử dụng tài nguyên trong thời gian dài nhằm đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội nhất định Đó là tập hợp các hoạt động xem xét, chuẩn bị, tính toán toàn diện các khía cạnh kinh tế - kỹ thuật, điều kiện tự nhiên, môi trường pháp lý Trên cơ sở đó, xây dựng một kế hoạch hoạt động phù hợp nhằm thực hiện dự án đầu tư Đơn vị lập dự án đầu tư phải tính toán, phân tích một cách chi tiết các số liệu về phương diện pháp lý, thị trường, kỹ thuật, môi trường, quản trị, tài chính để xác định những lợi ích kinh tế - xã hội
(8)
Bùi Ngọc Toàn, tlđd số 4, tr 8
Trang 9lợi nhuận và Nhà nước phải có lợi ích trong việc thúc đẩy nền kinh tế quốc dân, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, không ô nhiễm môi trường Cơ hội đầu tư có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu cơ bản cho việc đầu tư và đã hội đủ điều kiện cần thiết để tiếp tục đi sâu nghiên cứu các bước tiếp theo Quá trình lập dự án đầu tư được coi là một quá trình phát triển từ việc hình thành các ý tưởng đầu tư cho đến việc xây dựng một kế hoạch chi tiết nhằm biến ý tưởng đó thành hiện thực(9)
Thực chất, việc lập dự án đầu tư là quá trình nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc, triệt để và cụ thể trên các mặt: pháp lý, thị trường, kỹ thuật, quản trị, tài chính và kinh tế - xã hội nhằm kết luận cơ hội đầu tư là khả thi Lập dự
án đầu tư giúp cho nhà đầu tư xác định nên tiếp tục đầu tư cho dự án hay tìm cơ hội đầu tư khác (tìm dự án đầu tư khác) Đồng thời, nó giúp cho Nhà nước xác định được những lợi ích mà dự án đầu tư đem lại cho xã hội để cho phép hay không cho phép đầu tư vào dự án(10)
Việc lập dự án đầu tư không thể thực hiện một cách qua loa, sơ sài Một sơ xuất nhỏ trong giai đoạn này có thể dẫn đến những kết quả nghiên cứu về dự án không chính xác, công tác đầu tư thực tế không khả thi
Do vậy, giai đoạn lập dự án đầu tư cần phải được quản lý chặt chẽ để đảm bảo rằng những nghiên cứu trong giai đoạn này đã được thực hiện một cách toàn diện và triệt để, những kết quả nghiên cứu chính xác, phù hợp với những yếu tố khách quan Việc quản lý ở đây bao gồm quản lý của nhà đầu tư và quản
Trang 10Thuật ngữ “quản lý” có nhiều nghĩa khác nhau và là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau Mỗi ngành khoa học xem xét khái niệm quản lý theo những góc độ riêng Theo nghĩa đơn giản nhất quản lý được hiểu là việc tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định Tương ứng với cách hiểu đó, quản lý là một quá trình hoạt động nhằm điều khiển, sắp xếp một đối tượng quản lý (bao gồm con người, các tổ chức, các phương tiện cần thiết cho hoạt động cũng như bản thân hoạt động của con người, của tổ chức với tư cách là đối tượng quản lý) để đạt tới mục tiêu xác định của chủ thể quản lý(11) Nói cách khác, quản lý được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đặt ra
Quản lý là một yếu tố quan trọng, không thể thiếu trong đời sống xã hội Quản lý xã hội chính là sự tác động có hướng (điều khiển, chỉ huy, hướng dẫn…) lên quá trình xã hội và hành vi của con người làm cho chúng vận động, phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích và theo ý chí của người quản
lý Xã hội càng phát triển cao thì nhu cầu quản lý xã hội càng lớn và nội dung quản lý càng đa dạng, phức tạp Quản lý xã hội trong chừng mực nhất định là việc con người điều khiển con người, là quan hệ giữa con người với con người trong quá trình quản lý Quá trình quản lý xã hội được thực hiện nhờ yếu tố quyền uy Trong xã hội chưa có Nhà nước, quyền uy đó được củng cố, bảo đảm bằng uy tín của người đứng đầu và sự phục tùng được bảo đảm bằng tập quán, truyền thống, thói quen và các quy phạm xã hội khác(12) Từ khi Nhà nước ra đời và thực hiện chức năng quản lý xã hội thì quyền uy đó được đảm bảo bằng quyền lực Nhà nước Các chủ thể khác có nghĩa vụ phải phục tùng
Quản lý nhà nước là một dạng của quản lý xã hội Quản lý nhà nước hiểu theo nghĩa rộng là hoạt động quản lý được thực hiện bởi các cơ quan Nhà nước hoặc có khi do nhân dân thực hiện thông qua hình thức bỏ phiếu thể hiện ý chí của mình trong các cuộc trưng cầu dân ý hoặc do tổ chức xã hội thực hiện khi
(11)
Hoàng Văn Hoan (2006), Hoàn thiện quản lý nhà nước về lao động trong kinh doanh du lịch ở
Việt Nam, Nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội, tr 8
(12)
Nguyễn Cửu Việt (2008), Tập bài giảng cao học “Những vấn đề cơ bản về khoa học lý luận quản
lý nhà nước”
Trang 11được Nhà nước giao quyền Xuất phát từ quan niệm chung về quản lý, quản lý nhà nước có thể hiểu là sự tác động mang tính tổ chức, điều chỉnh trên cơ sở khoa học và kế hoạch của các chủ thể quản lý nhà nước đối với các quá trình phát triển xã hội, được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục nhằm hướng
xã hội phát triển theo mục tiêu định trước Quản lý nhà nước là sự biểu hiện khả năng mà xã hội có thể sử dụng để tổ chức và điều chỉnh cuộc sống của mình; là phương tiện tổ chức cuộc sống xã hội, nhằm hướng nó phát triển theo mục đích định trước một cách có trật tự và kỷ luật Đó là sự biểu hiện năng lực của con người trong việc tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội một cách có ý thức dưới một hình thức tổ chức xã hội nhất định: tổ chức nhà nước(13)
Đây là tổ chức xã hội đặc biệt được nhân dân trao quyền để thực hiện chức năng quản lý
xã hội Về nguyên tắc, chức năng quản lý nhà nước được thực hiện thông qua các cơ quan nhà nước và chủ yếu là cơ quan hành chính
Quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư là một trong những hoạt động quản
lý nhà nước Đó là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện sự tác động mang tính tổ chức và điều chỉnh đối với công tác lập dự án của các tổ chức, cá nhân đầu tư vào dự án Nội dung của sự tác động này là việc quy định chủ thể có trách nhiệm lập dự án đầu tư; quy định loại dự án cần phải lập dự án đầu tư; quy định điều kiện, năng lực hoạt động của đơn vị lập dự án và quy định những nội dung cần phải thể hiện trong dự án đầu tư để công tác lập dự án đầu
tư được thực hiện một cách chính xác, có khoa học và theo định hướng chung của Nhà nước Về phía Nhà nước, việc quản lý công tác lập dự án đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng, giúp Nhà nước thiết lập trật tự trong quan hệ đầu tư và kiểm soát đầu vào của một dự án đầu tư
1.1.2.2 Mục đích quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư
Hoạt động lập dự án đầu tư là hoạt động khởi đầu cho việc thực hiện dự án nhằm đem lại lợi nhuận cho nhà đầu tư và lợi ích kinh tế - xã hội cho đất nước
Từ việc lập dự án, chủ đầu tư có thể chọn lựa phương án có lợi nhất cho việc
(13)
Trường Hành chính trung ương (1988), Những cơ sở khoa học và lý luận về quản lý nhà nước xã
hội chủ nghĩa, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, tr 11-12
Trang 12đầu tư vào dự án Hoạt động quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư nhằm đạt được các mục đích sau:
Thứ nhất, với tư cách là tổ chức quyền lực, Nhà nước thực hiện sự tác động có tổ chức và điều chỉnh đối với nền sản xuất xã hội, trong đó có hoạt động đầu tư của các thành phần kinh tế, theo mục tiêu chiến lược, quy hoạch và
kế hoạch đã định nhằm trật tự hóa, bảo đảm sự hoạt động nhịp nhàng và ăn khớp của hoạt động đầu tư Nếu không có sự tác động của Nhà nước, mỗi chủ thể sẽ thực hiện hoạt động của mình, đặc biệt là hoạt động đầu tư, theo nhiều hướng khác nhau nhằm đảm bảo lợi ích tối đa cho mình mà không quan tâm đến lợi ích xã hội Đối với công tác lập dự án đầu tư, Nhà nước thực hiện sự tác động nhằm định hướng cho hoạt động này được thực hiện một cách khoa học, đảm bảo cho dự án đầu tư được lập phù hợp với mục tiêu chiến lược, quy hoạch
và kế hoạch đã định Nếu không có sự quản lý của Nhà nước thì chủ thể lập dự
án có thể vẫn soạn thảo được dự án đầu tư Tuy nhiên, việc soạn thảo này sẽ vô cùng khó khăn và có thể đi không đúng hướng, không đúng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước
Thứ hai, nguyên lý của việc lập dự án đầu tư là làm đúng, làm tốt ngay từ đầu để đánh giá chính xác hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án(14)
Hoạt động lập
dự án đầu tư là hoạt động nghiên cứu, phân tích và đánh giá đầy đủ trên nhiều khía cạnh khác nhau Khi thực hiện hoạt động này, người lập dự án cần phải thu thập đầy đủ các thông tin về hoạt động kinh tế sẽ được tiến hành đầu tư, kể cả thông tin quá khứ, thông tin hiện tại và các dự kiến cho tương lai Sự thành công hay thất bại của một dự án đầu tư được quyết định từ việc những phân tích trên có chính xác hay không Có thể nói, dự án đầu tư được soạn thảo tốt là cơ
sở vững chắc cho việc thực hiện các công cuộc đầu tư đạt hiệu quả kinh tế - xã hội mong muốn.Việc quản lý nhà nước đối với công tác lập dự án đầu tư là nhằm đảm bảo cho công tác này thực hiện tốt ngay từ đầu, đưa ra kết luận chính xác về những hiệu quả kinh tế - xã hội mà dự án mang lại Từ đó, nhà đầu tư
(14)
Nguyễn Văn Hiệp (2008), Bài giảng: Lập và thẩm định dự án đầu tư xây dựng, slide 4
Trang 13cũng như Nhà nước có cơ sở chính xác để quyết định đầu tư hay không đầu tư cho dự án
Có thể nói, mục đích cuối cùng của hoạt động quản lý nhà nước về lập dự
án đầu tư là đảm bảo cho hoạt động lập dự án được thực hiện một cách nhịp nhàng, ăn khớp, hiệu quả và đưa ra những kết luận chính xác về dự án cũng như những hiệu quả kinh tế - xã hội mà dự án mang lại Sự tác động này giúp cho chủ thể lập dự án không bị lúng túng khi bắt tay vào việc soạn thảo dự án Quản
lý ngay từ giai đoạn soạn thảo dự án sẽ giúp cho các hoạt động tiếp theo của quá trình đầu tư như thẩm định, phê duyệt và thực hiện dự án được nhanh chóng
và chính xác
1.1.2.3 Đặc điểm quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư
Quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư là một trong những hoạt động quản
lý nhà nước Do vậy, quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư cũng mang những đặc điểm chung của quản lý nhà nước, đó là:
Một là, quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư là hoạt động mang tính tổ
chức và điều chỉnh Tức là, khi thực hiện hoạt động quản lý, Nhà nước xây dựng các mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thực hiện những mục đích nhất định (tính tổ chức); đồng thời, thông qua đó, Nhà nước thực hiện việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Thực hiện hoạt động quản lý về lập dự án đầu tư, Nhà nước tạo điều kiện cho các quan hệ về lập dự án đầu tư được tiến hành thuận lợi và nhanh chóng; không bị các tổ chức, cá nhân khác cản trở Song song với việc tạo điều kiện cho hoạt động lập dự án đầu tư, Nhà nước còn thực hiện việc tác động điều chỉnh đối với hoạt động này Đó là việc Nhà nước xác định một quy trình vận động, tác động qua lại lẫn nhau và việc điều chỉnh các hành vi trong quá trình thực hiện sự giao tiếp giữa các bên tham gia trong quan hệ lập dự án đầu tư, phù hợp với mục đích đã đề ra Đặc điểm này cho thấy, quản lý nhà nước là cả một quá trình tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội Nhà nước thực hiện sự tác động mang tính điều chỉnh bằng pháp luật, nhằm hướng các hoạt động và các hành vi của con người đi đúng quỹ đạo, tạo nên sự phù hợp giữa chủ thể - khách thể và sự cân bằng của hệ thống
Trang 14Hai là, quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư là hoạt động quản lý mang
tính quyền uy Đây là đặc điểm chung của hoạt động quản lý nhà nước Toàn bộ các tác động tổ chức và điều chỉnh của Nhà nước đối với hoạt động lập dự án đầu tư được thực hiện trên cơ sở quyền lực nhà nước Quyền lực đó được ghi nhận và củng cố bằng pháp luật và được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước Để quản lý về lập dự án đầu tư, Nhà nước ban hành các quy định pháp luật có liên quan đến việc lập dự án, nội dung lập dự án và năng lực đơn vị tư vấn lập dự án… Các tổ chức lập dự án đầu tư đều phải tuân thủ theo các quy định này Nếu không tuân thủ thì nhà đầu tư sẽ phải chịu những chế tài do Nhà nước đặt ra Trên thực tế, trong hoạt động quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư, quyền lực Nhà nước chỉ thể hiện rõ nét khi các chủ thể lập dự án đầu tư không tuân thủ các quy định của Nhà nước
Ba là, quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư mang tính dân chủ Nhà nước
luôn tôn trọng các chủ thể tham gia quan hệ lập dự án đầu tư Chủ đầu tư được
tự do lựa chọn đơn vị tư vấn có đầy đủ năng lực theo quy định của pháp luật để lập dự án đầu tư hoặc tự mình lập dự án đầu tư nếu xét thấy có đủ khả năng thực hiện Trên cơ sở sự lựa chọn của mình, chủ đầu tư chịu trách nhiệm về đơn
vị lập dự án của mình Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động lựa chọn đơn vị tư vấn của chủ đầu tư Về công tác chuyên môn, chủ thể lập dự án được tự do nghiên cứu, thu thập thông tin… phục vụ cho hoạt động lập dự án đầu tư Nhà nước đảm bảo cho các chủ thể được chủ động thực hiện các hoạt động của mình phù hợp với quy định của pháp luật, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác Thực chất, hoạt động đầu tư là hoạt động mang tính chủ động và là quyền của nhà đầu tư Nhà nước không can thiệp sâu vào hoạt động này mà chỉ thực hiện việc quản lý chung nhằm đảm bảo lợi ích chung cho xã hội
Ngoài ra, quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư còn có một số đặc điểm riêng như sau:
Thứ nhất, quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư là quá trình quản lý một
loại khách thể quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã
Trang 15hội của đất nước Trong điều kiện hòa bình và mở cửa như hiện nay, nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước đang được đặt lên hàng đầu Để thực hiện nhiệm vụ này, Đảng và Nhà nước ta đã và đang có nhiều chính sách thu hút các nguồn đầu tư trong và ngoài nước Bên cạnh việc mở rộng đầu tư, Nhà nước cần phải quản lý chặt chẽ hoạt động này nhằm đảm bảo cho việc đầu tư có hiệu quả, phù hợp với quy hoạch và định hướng phát triển kinh tế - xã hội mà Nhà nước đã định Trong đó, việc quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư được xem là bước khởi đầu quan trọng cho việc quản lý nhà nước về đầu tư Quản lý quá trình này phải dựa vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, quy hoạch phát triển ngành và địa phương từng thời kỳ, luật pháp và các chính sách hiện hành, lựa chọn phương án khai thác sử dụng có hiệu quả tiềm lực của đất nước, cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân góp phần thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đảm bảo nhịp độ tăng trưởng đề ra trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Thứ hai, quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư có quan hệ chặt chẽ với
quản lý nhà nước trên nhiều lĩnh vực khác như kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục… Nghiên cứu quan hệ này cho thấy quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư
là một bộ phận tồn tại, gắn kết ngay trong quá trình kinh tế - xã hội Trong quá trình này, Đảng và Nhà nước ta xác định phải đầu tư, phát triển đồng bộ tất cả các lĩnh vực (kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, kỹ thuật…), không được xem nhẹ lĩnh vực nào Do vậy, việc quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư phải kết hợp chặt chẽ với quản lý nhà nước trên các lĩnh vực khác Quản lý nhà nước
về lập dự án đầu tư phải xem xét, tính toán đến các lợi ích của các lĩnh vực có liên quan
Tóm lại, quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư vừa mang những đặc điểm của quản lý nhà nước nói chung vừa có những đặc điểm riêng của hoạt động này như đã nêu trên Đây là một hoạt động quản lý nhà nước mang tính chất đặc biệt, đề cao dân chủ và tính chủ động của nhà đầu tư Trong hoạt động quản lý này, Nhà nước chỉ đóng vai trò tổ chức, điều chỉnh bằng cách ban hành các quy định pháp luật hướng dẫn chủ đầu tư cũng như tổ chức tư vấn thực hiện công tác này Nhà nước không can thiệp sâu vào quá trình lập dự án đầu tư của các
Trang 16chủ thể mà chỉ tạo điều kiện cho nó diễn ra một cách thuận lợi, đảm bảo lợi ích của xã hội và lợi ích của nhà đầu tư Đồng thời, khi thực hiện quản lý về công tác lập dự án đầu tư, Nhà nước cần phải kết hợp với việc quản lý các lĩnh vực khác có liên quan để đảm bảo hài hòa lợi ích của các lĩnh vực và đảm bảo tính đồng bộ trong quản lý nhà nước
1.1.3.1 Hoạch định mục t êu, chiến lược, xây dựng các chính sách, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội làm cơ sở cho hoạt động lập dự án đầu tư và quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư
Nhà nước thực hiện quản lý nền kinh tế quốc dân thông qua việc hoạch định mục tiêu, chiến lược, kế hoạch và chính sách kinh tế nhằm đảm bảo tính hiệu quả và sự tăng trưởng trong kinh tế Các mục tiêu chiến lược kinh tế, các
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội là những định hướng cần thiết cho sự phát triển sản xuất kinh doanh của chủ thể thuộc các thành phần kinh tế Nói cách khác, Nhà nước xây dựng quy hoạch, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội và ban hành các chính sách nhằm định hướng, khuyến khích các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư; định hướng các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh và cung ứng dịch vụ Từ những định hướng đó, các chủ đầu tư có cơ sở xem xét lập dự án đầu tư vào các lĩnh vực nhằm đem lại lợi ích cho mình và cho xã hội
Thực chất, mục tiêu, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội do Nhà nước đặt ra rất rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực Ở đây, chúng ta chỉ nghiên cứu khía cạnh mục tiêu, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội do Nhà nước đặt ra là cơ sở quan trọng cho hoạt động lập dự án đầu
tư Trên cơ sở mục tiêu, chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội của Nhà nước, nhà đầu tư xác định lĩnh vực hoạt động đầu tư của mình
và lập các dự án đầu tư phù hợp với quy hoạch, kế hoạch đó nhằm đem lại lợi ích cho nhà đầu tư và lợi ích cho xã hội theo đúng định hướng chung của Nhà nước Do vậy, đây được xem là một trong những nội dung của quản lý nhà nước
về lập dự án đầu tư Không có mục tiêu, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát
Trang 17triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, nhà đầu tư rất khó định hướng trong hoạt động đầu tư và lập dự án đầu tư
Cùng với việc xác định mục tiêu, chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Nhà nước thực hiện sự tác động mang tính tổ chức, định hướng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động lập dự án đầu tư của các chủ thể Bên cạnh đó, với sự tác động này, Nhà nước dễ dàng hướng hoạt động lập dự án đầu tư theo trật tự mà Nhà nước mong muốn Tức là Nhà nước dễ dàng quản lý hoạt động lập dự án đầu tư
Tóm lại, việc xác định mục tiêu, chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vừa là cơ sở của việc lập dự án đầu tư, đồng thời cũng là
cơ sở của quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư
Việc hoạch định chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tùy thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi quốc gia Thẩm quyền hoạch định quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thường được giao cho cơ quan dân cử hoặc thông qua các cuộc trưng cầu ý dân
Ở Việt Nam, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua nhằm xây dựng và phát triển đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội
Cơ quan quyền lực Nhà nước thực hiện vai trò lập quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở chiến lược mà Đảng lãnh đạo vạch ra Theo quy định của Hiến pháp 1992, Quốc hội quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Hội đồng nhân dân quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Theo đó, Quốc hội và Hội đồng nhân dân thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm một lần Mỗi kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội đều nêu rõ mục tiêu chung, các chỉ tiêu cụ thể đối với từng lĩnh vực như kinh tế, xã hội, môi trường và nhiệm vụ, giải pháp lớn để thực hiện kế hoạch Theo quy định tại Điều 82 Luật đầu tư năm 2005, Chính phủ quy định về
tổ chức lập, trình duyệt các quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch Dự án đầu tư phải tuân thủ quy hoạch kết cấu hạ tầng - kỹ thuật, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng khoáng sản và các
Trang 18nguồn tài nguyên khác Cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quy hoạch có trách nhiệm công bố công khai các quy hoạch liên quan đến hoạt động đầu tư trên các phương tiện thông tin đại chúng Đối với dự án đầu tư chưa có trong các quy hoạch nêu trên, cơ quan nhà nước quản lý đầu tư có trách nhiệm làm đầu mối làm việc với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về quy hoạch để trả lời cho nhà đầu tư trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày nhà đầu tư có yêu cầu Việc nắm bắt tốt các quy hoạch của Nhà nước sẽ giúp cho nhà đầu tư dễ dàng định hướng đầu tư và thực hiện tốt hoạt động lập dự án đầu tư Do vậy, yêu cầu đặt ra ở đây là kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước phải
ổn định, theo một định hướng chung; các quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng… phải được lập một cách rõ ràng, cụ thể, ít thay đổi Có như thế, mục tiêu, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước mới thực sự là cơ sở vững chắc hoạt động lập dự án đầu tư Đồng thời, thông qua đó, Nhà nước mới dễ dàng quản lý hoạt động lập dự án đầu tư cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nghiên cứu lập dự án và xem xét đầu tư theo đúng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội mà Nhà nước đặt ra Khi
đó, hoạt động quản lý nhà nước đối với xã hội nói chung và đối với việc lập dự
án đầu tư nói riêng mới đạt được hiệu quả cao, thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng chung đã được định trước
1 Về chiến lược: Cho đến nay, ở Việt Nam đã xây dựng hai bản chiến
lược: chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho thời kỳ 1991-2000 và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho thời kỳ 2001-2010
- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 1991-2000 mang tên
“Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2000” Chính phủ
giao cho 6 cơ quan cùng xây dựng chiến lược (1-Ủy ban kế hoạch nhà nước, nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư; 2- Ban Kinh tế Trung ương Đảng; 3- Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia; 4- Học Viện Chính trị Quốc gia; 5- Trường Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội; 6- Trường Đại học kinh tế quốc dân
TP Hồ Chí Minh) Trên cơ sở 6 bản báo cáo chiến lược của các cơ quan, Tổ biên tập do Thủ tướng Chính phủ thành lập tổng hợp xây dựng báo cáo chiến
Trang 19lược cuối cùng trình Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2001-2010 mang tên:
“Chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp” Để xây dựng chiến lược này, trên cơ sở quyết định của
Bộ Chính trị về việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 10 năm 2001-2010 (Thông báo số 133 TB/TW ngày 29/4/1998), Ban cán sự Đảng ra thông báo số 44/BCS ngày 3/6/1998 về triển khai xây dựng chiến lược thời kỳ 2001-2010 và Thủ tướng Chính phủ thành lập Tiểu ban chỉ đạo chiến lược và
Tổ Biên tập chiến lược Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đồng thời là Thường trực Tiểu Ban và là Tổ trưởng Tổ Biên tập chiến lược
Bản dự thảo “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010” được Bộ Chính trị và các Hội nghị Trung ương cho phép lấy ý kiến đóng góp của Đảng viên và của nhân dân Đến tháng 4/2001, Bản Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước thời kỳ 2001 - 2010 đã được chính thức thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam(15)
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010 đã vạch ra một chân trời mới cho đầu tư và phát triển ở nước ta trong thời gian tới: “Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, hoàn thiện các hình thức đầu tư, nâng cao khả năng cạnh trạnh trong việc thu hút đầu tư nước ngoài Giảm mạnh, tiến tới xóa bỏ sự phân biệt về chính sách và pháp luật giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài…”
2 Về quy hoạch: Trong những năm qua, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo
sát sao công tác quy hoạch Các ngành, các cấp tích cực thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ nhằm đưa công tác quy hoạch trên phạm vi cả nước đi vào nền nếp và đem lại kết quả cao hơn
(15)
http://www.mpi.gov.vn/strategy.aspx?Lang=4&mabai=43
Trang 20Trên phạm vi cả nước đã xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -
xã hội của 8 vùng kinh tế lớn; rà soát bổ sung quy hoạch cho 3 vùng kinh tế trọng điểm; 61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được quy hoạch tổng thể; 3 tỉnh mới tách đang tiến hành lập quy hoạch; nhiều ngành và lĩnh vực cũng được quy hoạch (tiêu biểu là quy hoạch các ngành công nghiệp và kết cấu
hạ tầng, thương mại, du lịch, quy hoạch phát triển hệ thống giao thông đường
bộ, cảng biển, sân bay, đường sắt; mạng lưới cung cấp điện); quy hoạch phát triển khu công nghiệp; quy hoạch phát triển các khu kinh tế (kể cả khu kinh tế cửa khẩu); quy hoạch xây dựng nhiều đô thị mới, quy hoạch các vùng cây trồng
và nuôi trồng thuỷ sản(16)
Nhìn chung, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực đã xác định được phương hướng phát triển tổng thể và dài hạn của các ngành và các địa phương, làm căn cứ cho việc xây dựng các kế hoạch phát triển 5 năm và hàng năm, làm cơ sở để xây dựng danh mục các dự
án kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước phục vụ công tác xúc tiến đầu tư; hình thành mạng lưới kết cấu hạ tầng như: phát triển hệ thống giao thông đường bộ, cảng biển, sân bay, đường sắt; mạng lưới cung cấp điện tương đối hợp lý và kịp thời đáp ứng được nhu cầu phát triển của quốc gia Từng bước hình thành hệ thống khu công nghiệp, khu chế xuất và các khu kinh tế (kể cả khu kinh tế cửa khẩu); Hệ thống hạ tầng kỹ thuật ở các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng đã có sự thay đổi quan trọng; phát triển được nhiều đô thị mới, các vùng cây trồng và nuôi trồng thuỷ sản(17)
Có thể nói, các chiến lược và quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nêu trên đã và đang là cơ sở quan trọng cho hoạt động đầu tư và lập dự án đầu tư ở nước ta Thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các nhà đầu tư trong và ngoài nước đang tập trung phát triển các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, khu nhà ở và các ngành công nghiệp trọng điểm, phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020
Trang 211.1.3.2 Quy định chủ thể có trách nhiệm phải lập dự án đầu tư
Về nguyên tắc chung, bất kỳ một dự án nào cũng đều được lập và trình duyệt trước khi triển khai thực hiện Do vậy, trong hoạt động quản lý của mình, Nhà nước cần phải xác định chủ thể có trách nhiệm phải lập dự án đầu tư Theo quy định của pháp luật nước ta, khi đầu tư vào một dự án, chủ đầu tư
có trách nhiệm lập dự án đầu tư trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định và phê duyệt trước khi thực hiện(18)
Chủ đầu tư là người chủ sở hữu vốn, người vay vốn hoặc người được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý và sử dụng vốn để thực hiện đầu tư theo quy định của pháp luật(19)
.Việc xác định chủ thể có trách nhiệm lập dự án đầu tư có ý nghĩa quan trọng cho toàn bộ quá trình thực hiện dự án đầu tư Quy định này giúp cho nhà đầu tư cũng như cơ quan quản lý nhà nước xác định được chủ thể nào là người chịu trách nhiệm cuối cùng cho việc lập dự án Ở đây, pháp luật nước ta đã quy định rất rõ ràng, việc lập dự án đầu tư là trách nhiệm của chủ đầu tư chứ không phải trách nhiệm của cơ quan nhà nước hay của đơn vị, tổ chức nào khác Nếu chủ đầu tư không có đầy đủ năng lực lập dự án thì chủ đầu tư có thể thuê đơn vị
tư vấn có năng lực để lập dự án đầu tư Sau khi đơn vị tư vấn lập dự án đầu tư xong, chủ đầu tư cần phải kiểm tra lại dự án đầu tư được lập và chịu trách nhiệm cuối cùng về dự án đầu tư đó(20)
về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
(19)
Khoản 6 Điều 5 Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng (ban hành kèm theo Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ) và Điều 3 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
(20) Điều 22 Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng (ban hành kèm theo Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ, đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 07/2003/NĐ-CP ngày 30/01/2003 của Chính phủ) và Điều 6 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10/02/2009 của Chính phủ
về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình.
Trang 221.1.3.3 Quy định về điều kiện, năng lực hoạt động của tổ chức tư vấn về lập dự án đầu tư
Tư vấn là một loại hoạt động đặc biệt Hoạt động đó chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, kiến thức và sự phán xét Trên thực tế, đây là hoạt động khó đánh giá, khó đo lường, nhưng sản phẩm do họ tạo ra có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Bằng kiến thức của mình, tư vấn có thể giúp chủ đầu tư thực hiện các nhiệm vụ quan trọng trong các khâu của quá trình đầu tư, trong đó khâu đầu tiên là lập dự án đầu tư
Như đã phân tích ở trên, quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư là một hoạt động mang tính dân chủ Nhà nước luôn tôn trọng quyền của nhà đầu tư trong việc tự do lựa chọn tổ chức tư vấn về lập dự án đầu tư, không bắt buộc nhà đầu
tư phải lựa chọn đơn vị tư vấn này hay đơn vị tư vấn kia Tuy nhiên, nhà đầu tư phải lưu ý chọn tổ chức tư vấn về lập dự án đầu tư phải có đầy đủ điều kiện và năng lực hoạt động theo quy định của Nhà nước
Việc quy định về điều kiện, năng lực hoạt động của tổ chức tư vấn về lập
dự án đầu tư đảm bảo cho việc lập dự án đầu tư có hiệu quả, đúng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội mà Nhà nước đặt ra Đây cũng là một trong những phương thức bảo vệ nhà đầu tư, tránh tình trạng nhà đầu tư chọn tổ chức tư vấn không đủ năng lực dẫn đến công tác lập dự án đầu tư không hiệu quả, ảnh hưởng đến nhà đầu tư cũng như xã hội
Cùng với việc quy định về điều kiện, năng lực hoạt động của tổ chức tư vấn về lập dự án đầu tư, Nhà nước quản lý các tổ chức tư vấn đảm bảo cho việc hoạt động đúng điều kiện do Nhà nước quy định Hoạt động quản lý nhà nước
về điều kiện, năng lực hoạt động của tổ chức tư vấn về lập dự án đầu tư gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước về doanh nghiệp Thực tế, hai hoạt động quản
lý nhà nước này khác nhau, tách biệt với nhau Quản lý nhà nước về doanh nghiệp là hoạt động quản lý chung đối với các tổ chức kinh tế từ khi các tổ chức này đăng ký kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đảm bảo doanh nghiệp hoạt động đúng ngành nghề đăng ký kinh doanh Đây là hoạt động quản
lý mang tính chất thường xuyên đối với các doanh nghiệp Còn đối với quản lý
Trang 23nhà nước về lập dự án đầu tư, Nhà nước quản lý năng lực hoạt động của doanh nghiệp thực hiện chức năng tư vấn nhằm đảm bảo cho công tác lập dự án đầu tư được thực hiện tốt Hoạt động quản lý nhà nước này thực hiện khi công tác lập
dự án đầu tư được tiến hành
Đối với hoạt động lập dự án đầu tư xây dựng công trình, pháp luật nước ta quy định về năng lực của tổ chức tư vấn lập dự án theo 2 hạng như sau:
a) Hạng 1 (được lập dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A, B, C cùng loại): có ít nhất 20 người là kiến trúc sư, kỹ sư, kỹ sư kinh tế phù hợp với yêu cầu của dự án; trong đó có người có đủ điều kiện làm chủ nhiệm lập dự án hạng 1 hoặc chủ nhiệm thiết kế hạng 1 công trình cùng loại
b) Hạng 2 (được lập dự án nhóm B, C cùng loại): có ít nhất 10 người là kiến trúc sư, kỹ sư, kỹ sư kinh tế phù hợp với yêu cầu của dự án; trong đó có người đủ điều kiện làm chủ nhiệm lập dự án hạng 2 hoặc chủ nhiệm thiết kế hạng 2 công trình cùng loại
Đối với tổ chức chưa đủ điều kiện để xếp hạng chỉ được lập Báo cáo kinh
tế - kỹ thuật của công trình cùng loại(21)
Riêng đối với các dự án đầu tư khác (không phải là dự án đầu tư xây dựng công trình), pháp luật nước ta chưa có quy định về điều kiện, năng lực của tổ chức tư vấn lập dự án Đối với những dự án này, nhà đầu tư được quyền tự lựa chọn đơn vị tư vấn phù hợp, có năng lực để lập dự án mà nhà đầu tư quan tâm Đơn vị tư vấn lập dự án phải đảm bảo có đầy đủ năng lực để thực hiện hoạt động tư vấn và đã đăng ký hoạt động tư vấn tại cơ quan có thẩm quyền; chịu trách nhiệm trước pháp luật và nhà đầu tư về các nội dung đã cam kết trong hợp đồng, bao gồm cả số lượng, chất lượng, thời gian thực hiện, tính chính xác của sản phẩm và chất lượng sản phẩm tư vấn của mình
Hiện nay, Nhà nước ta chỉ thực hiện hoạt động quản lý điều kiện, năng lực hoạt động của đơn vị tư vấn lập dự án thông qua hoạt động quản lý doanh
(21)
Điều 54 Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ và Điều 42 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
Trang 24nghiệp khi đăng ký kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Pháp luật nước ta chưa có những quy định riêng điều kiện, năng lực phải có của tổ chức thực hiện hoạt động tư vấn lập dự án đầu tư (ngoại trừ trường hợp lập dự án đầu
tư xây dựng công trình) Đây cũng là điểm hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư Dẫn đến, tình trạng quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư còn lỏng lẻo, chưa chặt chẽ, chưa thực sự tạo ra hàng rào pháp lý vững chắc, thu hút các doanh nghiệp trong quá trình đầu tư và lập dự án đầu tư
1.1.3.4 Quy định loại dự án phải lập dự án đầu tư
Trên thực tế, dự án đầu tư bao gồm rất nhiều loại Trong đó, có loại dự án
có tầm quan trọng quốc gia như dự án đầu tư công trình thủy điện, có loại dự án
có tổng số vốn đầu tư lên đến hàng trăm, hàng ngàn tỷ đồng và cũng có loại dự
án nhỏ với số vốn đầu tư chỉ vài chục triệu đồng Do vậy, không phải bất kỳ dự
án nào, chủ đầu tư cũng cần phải lập dự án để khẳng định tính khả thi của dự án cũng như đề xuất các phương án thực hiện Đối với những dự án nhỏ, chỉ mang tính nâng cấp, sửa chữa, cải tạo công trình hiện có… thì việc lập dự án đầu tư là không cần thiết Chính vì thế, trong hoạt động quản lý của mình, Nhà nước cần quy định rõ loại dự án nào phải lập dự án đầu tư, loại dự án nào không cần lập
dự án đầu tư Quy định này giúp hạn chế tình trạng lãng phí trong quá trình lập
dự án đầu tư và gây khó khăn cho nhà đầu tư
Ở nước ta, theo Quy chế Quản lý đầu tư và xây dựng (ban hành kèm theo Nghị định số 52/1999/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 12/2000/NĐ-CP và số 07/2003/NĐ-CP), Nghị định số 90/2006/NĐ-CP và Nghị định số 12/2009/NĐ-CP của Chính phủ, tất cả các dự án đều phải được lập dự
án đầu tư, trừ những trường hợp sau:
- Công trình xây dựng cho mục đích tôn giáo;
- Các công trình xây dựng mới, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng (không bao gồm tiền sử dụng đất), phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành, quy hoạch xây dựng; trừ
Trang 25trường hợp người quyết định đầu tư thấy cần thiết và yêu cầu phải lập dự án đầu
tư xây dựng công trình
- Các công trình xây dựng là nhà ở riêng lẻ của dân quy định tại khoản 5 Điều 35 của Luật Xây dựng năm 2003
Như vậy, ở đây, do dự án gồm rất nhiều loại nên Nhà nước ta không liệt kê loại dự án nào phải lập dự án đầu tư mà chỉ xác định những dự án không phải lập dự án đầu tư như công trình xây dựng cho mục đích tôn giáo, công trình đầu
tư dưới 15 tỷ đồng… Đối với những dự án không thuộc những dự án đã nêu trên thì đều phải lập dự án đầu tư Đây cũng là một điểm tiến bộ trong kỹ thuật lập pháp của nước ta, hạn chế được tình trạng liệt kê dài dòng nhiều dự án mà không bao quát được đầy đủ các dự án đầu tư
1.1.3.5 Quy định các y u cầu đối với nội dung của dự án đầu tư được lập
Trong hoạt động quản lý về lập dự án đầu tư, Nhà nước luôn đảm bảo quyền tự chủ và tự do của nhà đầu tư trong quá trình nghiên cứu, khảo sát, lập
dự án Tuy nhiên, dù dự án đầu tư được lập như thế nào thì nhà đầu tư vẫn phải đảm bảo có đủ những nội dung cần thiết theo quy định của Nhà nước Nói cách khác, ở vai trò quản lý của mình, Nhà nước yêu cầu một dự án đầu tư cần phải đảm bảo những nội dung nhất định như lý do lập dự án, tính khả thi của dự án… Nhà đầu tư hay đơn vị tư vấn có quyền chủ động thực hiện các thao tác chuyên môn có liên quan để đưa ra những kết luận theo những nội dung mà Nhà nước yêu cầu Để một dự án đầu tư có sức thuyết phục, khách quan thì nội dung của dự án phải thỏa mãn được các yêu cầu sau:
* Tính pháp lý: dự án không vi phạm an ninh quốc gia, không ảnh hưởng
đến môi trường, thuần phong mỹ tục cũng như pháp luật của Nhà nước; phù hợp với chính sách và pháp luật của Nhà nước và phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của vùng
* Tính khoa học:
- Số liệu, thông tin phải đảm bảo tính trung thực, khách quan Những số liệu điều tra phải có phương pháp điều tra đúng, số mẫu điều tra phải đủ lớn…
Trang 26- Phương pháp tính toán phải đảm bảo tính chính xác, đảm bảo tính chất
có thể so sánh được giữa những chỉ tiêu cần so sánh Việc sử dụng đồ thị, bản
vẽ kỹ thuật phải đảm bảo tính chính xác về kích thước và tỷ lệ
- Phương pháp lý giải phải hợp lý, logic, chặt chẽ giữa các nội dung riêng
lẻ của dự án
* Tính khả thi: nghĩa là dự án phải phù hợp với điều kiện thực tế Dự án
đầu tư phải có khả năng ứng dụng và triển khai trong thực tế Vì vậy, muốn đảm bảo yêu cầu về tính khả thi, dự án phải phản ánh đúng môi trường đầu tư, tức là phải được xác định đúng trong những hoàn cảnh và điều kiện cụ thể về môi trường, mặt bằng, vốn…
* Tính hiệu quả: được phản ánh thông qua các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế,
các chỉ tiêu thể hiện tính khả thi về tài chính và các chỉ tiêu nói lên hiệu quả kinh tế - xã hội mà dự án mang lại Thông thường, các dự án đảm bảo tính khoa học và tính khả thi thì sẽ đảm bảo tính hiệu quả kinh tế(22)
Theo đó, dự án đầu tư có 4 nội dung cơ bản sau:
- Mục tiêu: dự án ra đời sẽ phục vụ cho những mục tiêu nào? Những mục tiêu này gồm mục tiêu tài chính và mục tiêu kinh tế - xã hội Mục tiêu tài chính được hiểu là mục tiêu của nhà đầu tư Còn mục tiêu kinh tế - xã hội được hiểu
là mục tiêu chung của toàn xã hội, toàn bộ nền kinh tế quốc dân
- Các kết quả: dự án sẽ tạo ra các kết quả gì? Các kết quả đó có thể hữu hình hoặc vô hình…
- Các hoạt động: là những nhiệm vụ hoặc hành động để tạo ra những kết quả mong muốn Các nhiệm vụ này sẽ được phân chia theo thời gian thực hiện
- Các nguồn lực để thực hiện dự án
Việc quy định về nội dung lập dự án đầu tư nhằm giúp cho chủ đầu tư định hướng được những vấn đề cần nghiên cứu khi lập dự án; đồng thời,
(22)
Phước Minh Hiệp – Lê Thị Vân Đan, tlđd số 1, trang 11, 12
Trang 27đảm bảo thuận lợi cho công tác thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư sau này
Ở nước ta, những nội dung này được quy định trong các văn bản sau:
- Quy chế Quản lý đầu tư và xây dựng (ban hành kèm theo Nghị định số 52/1999/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 12/2000/NĐ-CP và số 07/2003/NĐ-CP)
- Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 6/9/2006 của Chính phủ về Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở
- Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10/02/2009 của Chính phủ về quản
lý dự án đầu tư xây dựng công trình
- Nghị định số 71/2005/NĐ-CP ngày 06/6/2005 của Chính phủ về quản lý đầu tư xây dựng công trình đặc thù
- Nghị định số 02/2006/NĐ-CP ngày 05/1/2006 của Chính phủ về ban hành quy chế khu đô thị mới
- Thông tư số 06/1999/TT-BKH ngày 24/11/1999 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn về nội dung Tổng mức đầu tư, Hồ sơ thẩm định dự án đầu tư
và Báo cáo đầu tư, được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 07/2000/TT-BKH ngày 03/7/2000, số 11/2000/TT-BKH ngày 11/9/2000 và số 04/2003/TT-BKH ngày 17/6/2003 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
- Thông tư số 03/2009/TT-BXD ngày 26/3/2009 của Bộ Xây dựng quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10/02/2009 của Chính phủ
1 Theo quy định tại Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ, đối với các
dự án nhóm A, chủ đầu tư phải tổ chức lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và báo cáo nghiên cứu khả thi Trường hợp dự án đã được Quốc hội hoặc Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư thì chỉ cần lập báo cáo nghiên cứu khả thi Đối với dự án nhóm B, dự án nhóm C có mức vốn đầu tư từ 1 tỷ đồng trở lên,
Trang 28chủ đầu tư tổ chức lập báo cáo nghiên cứu khả thi, nếu xét thấy cần thiết phải lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi thì người có thẩm quyền quyết định đầu tư xem xét quyết định và có yêu cầu bằng văn bản(23)
- Nội dung chủ yếu của báo cáo nghiên cứu tiền khả thi là phải nêu sự cần thiết phải đầu tư, các điều kiện thuận lợi và khó khăn khi đầu tư dự án; dự kiến quy mô đầu tư, hình thức đầu tư; xác định sơ bộ tổng mức đầu tư, phương án huy động các nguồn vốn, khả năng hoàn vốn và trả nợ, thu lãi; tính toán sơ bộ hiệu quả đầu tư về mặt kinh tế - xã hội của dự án…
- Nội dung chủ yếu của báo cáo nghiên cứu khả thi thì nêu những căn cứ
để xác định sự cần thiết phải đầu tư; lựa chọn hình thức đầu tư; chương trình sản xuất và các yếu tố phải đáp ứng (đối với các dự án có sản xuất); phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ (bao gồm cả cây trồng, vật nuôi nếu có); xác định rõ nguồn vốn (hoặc loại nguồn vốn), khả năng tài chính, tổng mức đầu tư và nhu cầu vốn theo tiến độ; các mốc thời gian chính thực hiện đầu tư…(24)
2 Theo Điều 6, 7 và 8 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, nội dung dự án đầu tư bao gồm phần thuyết minh và thiết kế cơ sở
Nội dung phần thuyết minh gồm: sự cần thiết và mục tiêu đầu tư; tác động xã hội đối với địa phương, khu vực (nếu có); hình thức đầu tư xây dựng công trình; địa điểm xây dựng, nhu cầu sử dụng đất; điều kiện cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu và các yếu tố đầu vào khác; các giải pháp thực hiện; tổng mức đầu tư của dự án; khả năng thu xếp vốn, nguồn vốn và phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế - tài chính, hiệu quả xã hội của dự án…
Trang 29 Nội dung phần thiết kế cơ sở: bao gồm phần thuyết minh và phần bản
vẽ, bảo đảm thể hiện được các phương án thiết kế, là căn cứ để xác định tổng mức đầu tư và triển khai các bước thiết kế tiếp theo
Như vậy, để đẩy mạnh đầu tư, thúc đẩy sự phát triển của đất nước, pháp luật nước ta đã ngày càng có những quy định thông thoáng hơn cho các nhà đầu
tư trong quá trình lập dự án Nếu như trước đây, Nhà nước ta quy định một dự
án đầu tư nhất thiết phải lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và báo cáo nghiên cứu khả thi thì hiện nay, nhà đầu tư không nhất thiết phải lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi mà chỉ cần lập báo cáo nghiên cứu khả thi Mục đích của việc lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi là nhằm đánh giá sơ bộ về dự án, tính khả thi của dự án với nhu cầu của thị trường cũng như nhu cầu xã hội Mục đích của việc lập báo cáo nghiên cứu khả thi là nhằm nghiên cứu sâu hơn, chính xác hơn
về dự án, về những lợi ích kinh tế - xã hội mà dự án mang lại cũng như khả năng thực hiện và khắc phục những hạn chế (nếu có) Bước báo cáo nghiên cứu tiền khả thi có thể giúp cho nhà đầu tư xác định có nên tiếp tục nghiên cứu về
dự án hay chuyển hướng sang đầu tư cho dự án khác Tuy nhiên, nhà đầu tư có thể bỏ qua bước này và thực hiện một bước nghiên cứu chung về dự án là nghiên cứu khả thi nhằm giảm bớt chi phí cho quá trình lập dự án cũng như loại
bỏ những nội dung trùng lắp của hai bước nghiên cứu này
Bất kể việc thực hiện nghiên cứu về dự án theo phương pháp nào thì dự án cũng phải đảm bảo những nội dung mà Nhà nước đặt ra nhằm đảm bảo trật tự chung cho hoạt động lập dự án đầu tư và giúp cho Nhà nước dễ dàng quản lý hoạt động này
1.2 Thực trạng quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trách nhiệm quản lý nhà nước về đầu tư và lập dự án đầu tư được thực hiện bởi những cơ quan nhà nước khác nhau từ trung ương đến địa phương Trong đó, các cơ quan quản lý nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng thực hiện công tác quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư theo thẩm quyền riêng và
Trang 30thẩm quyền được phân cấp từ Chính phủ theo Nghị định số 93/2001/NĐ-CP ngày 12/12/2001
Hoạt động quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư tại Thành phố Hồ Chí Minh được thực hiện trên cơ sở những quy định chung của nhà nước và một số quy định đặc thù của Thành phố
phố Hồ Chí Minh
Trong những năm qua, kinh tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh phát triển mạnh, có thể nói là đứng đầu cả nước; khả năng thu hút vốn đầu tư cao Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2007 đạt 84.520 tỷ đồng, tăng 24,2% (cùng kỳ tăng 18,7%), đạt 113,8% kế hoạch Trong đó, đầu tư từ vốn Nhà nước 10.755 tỷ đồng, chiếm 12,8%; vốn dân doanh 43.072 tỷ đồng, chiếm 51%; vốn doanh nghiệp có đầu tư nước ngoài 14.263 tỷ đồng, chiếm 17% (25)
Tổng vốn đầu tư trên địa bàn năm 2008 ước thực hiện 115.246 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 21,2%; vượt 18,2% kế hoạch năm và bằng 39,8% GDP Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn 12 tháng ước thực hiện 91.012 tỷ đồng,
so với kế hoạch năm đạt 121,1%; so với năm trước tăng 22,3%
Tính đến ngày 15/12/2008, có 505 dự án có vốn đầu tư nước ngoài được cấp phép với tổng vốn đăng ký 8.252,2 triệu USD, vốn bình quân mỗi dự án đạt 16,3 triệu USD So với cùng kỳ số dự án được cấp phép tăng 9,8%, vốn đầu tư tăng gấp 3,6 lần Hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài chiếm 71% trong tổng
số dự án Số dự án điều chỉnh vốn là 144, với tổng vốn được điều chỉnh tăng thêm 260,7 triệu USD Tổng vốn đầu tư nước ngoài (gồm cấp phép mới và điều chỉnh tăng vốn) trong năm đạt 8.513 triệu USD, so với cùng kỳ gấp 3 lần Số dự
án còn hiệu lực hoạt động trên địa bàn 3.141 dự án với tổng vốn đầu tư 25.680 triệu USD (cùng thời điểm năm 2007 có 2.610 dự án, tổng vốn đầu tư 16.554,1 triệu USD)(26)
(25)
http://www.dpi.hochiminhcity.gov.vn/data/news/2009/2/783/All.htm
(26)
http://irv.moit.gov.vn/congnghieponline/vande-sukien/2009/1/20867.ttvn
Trang 31Qua đó, chúng ta có thể khẳng định môi trường đầu tư tại Thành phố Hồ Chí Minh đang ngày càng có nhiều nhà đầu tư quan tâm Số lượng các dự án đầu tư vào Thành phố ta đang tăng lên một cách đáng kể Do vậy, yêu cầu thực
tế đặt ra ở đây là Nhà nước cần phải có nhiều tác động để quản lý tốt hơn công tác lập dự án đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tham gia thực hiện các dự án, góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Trong đó, công tác xây dựng mục tiêu, chiến lược, lập quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội là bước đầu tiên cần được quan tâm
1.2.2 Thực trạng công tác quy hoạch làm cơ sở cho việc lập dự án đầu
tư và quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư
Hiện nay, cơ quan quản lý nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh đang đẩy mạnh công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch trên địa bàn thành phố, từng bước tiến tới xóa bỏ “quy hoạch treo” Viện Quy hoạch xây dựng đã ký kết hợp đồng với đơn vị tư vấn nước ngoài Nikken Sekkei (Nhật Bản) để thực hiện công tác điều chỉnh quy hoạch tổng mặt bằng thành phố Từ tháng 3/2006, đoàn chuyên gia Nhật Bản đã bắt đầu triển khai công việc và tổ chức nhiều cuộc hội thảo để lấy ý kiến góp ý Nhiệm vụ điều chỉnh quy hoạch chung thành phố đến năm 2025 Đối với các dự án “quy hoạch treo” như dự án công viên văn hóa Đầm Sen, công viên Hồ Khánh Hội, dự án nâng cấp đô thị , Ủy ban nhân dân Thành phố và các Sở ban ngành đang kêu gọi nhà đầu tư tham gia vào việc lập
và thực hiện dự án(27)
Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội Thành phố năm 2007, công tác điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố đến năm 2025 đã hoàn thành cơ bản, đang trong giai đoạn trình cấp thẩm quyền phê duyệt; đã phê duyệt điều chỉnh nhiệm vụ quy hoạch chung xây dựng cho 15/20 quận - huyện có nhu cầu điều chỉnh; tính đến nay đã có 19/24 quận - huyện được phê duyệt; đã thẩm định, phê duyệt 147 hồ sơ điều chỉnh quy hoạch chung, xây dựng quy hoạch chi tiết một số khu đô thị mới, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, với tổng diện
(27)
Ủy ban nhân dân Thành phố (2006), “Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch trên địa bàn
Thành phố”, Sài Gòn đầu tư và xây dựng, (07), tr 18-21
Trang 32tích trên 3.635 ha Có 17/24 quận - huyện đã hoàn tất quy hoạch sử dụng đất và đang được Sở Tài nguyên và môi trường tổ chức thẩm định(28)
Đồng thời, Thành phố cũng đã xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2001-
2010 Trong đó, Thành phố đề ra chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nguồn vốn đầu tư cho phát triển
Việc tiếp tục điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố đã và đang tạo cơ sở vững chắc cho công tác lập dự án đầu tư của nhà đầu tư Do vậy, số lượng các nhà đầu tư tham gia nghiên cứu, lập dự án đầu tư vào Thành phố theo quy hoạch, kế hoạch được duyệt ngày càng tăng, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài Tính đến ngày 15/12/2008, có 505 dự án có vốn đầu tư nước ngoài được cấp phép với tổng vốn đăng ký 8.252,2 triệu USD, vốn bình quân mỗi dự án đạt 16,3 triệu USD So với cùng kỳ số dự án được cấp phép tăng 9,8%, vốn đầu tư tăng gấp 3,6 lần(29)
Tuy nhiên, việc điều chỉnh, bổ sung hoặc thay đổi quy hoạch nhiều lần cũng là một trong những nguyên nhân làm cho các nhà đầu tư lo ngại khi đầu tư vào Thành phố Thực tiễn, hiện nay, công tác quy hoạch của thành phố vẫn chưa đi trước một bước, tầm nhìn thiếu tính chiến lược, chưa đánh giá hết các yếu tố khách quan nên tính định hướng của quy hoạch còn yếu Chẳng hạn như việc quy hoạch các chợ trên địa bàn thành phố Theo thống kê của Sở Thương mại (nay là Sở Công thương), thành phố Hồ Chí Minh có đến 23,7% số chợ hiện không sử dụng hết công suất thiết kế, không khai thác hết mặt bằng kinh doanh, trong đó nhiều chợ chỉ sử dụng được 1/3, thậm chí 1/4 mặt bằng như chợ Bình Phú (quận 6), chợ Tân Kiểng (quận 7), chợ Lãnh Binh Thăng (quận 11), chợ Văn Thánh (quận Bình Thạnh)… Mặc dù, các chợ này đã được xây dựng rất khang trang, với số vốn đầu tư tương đối lớn nhưng chỉ hoạt động cầm chừng, tiểu thương dần dần bỏ sạp, không kinh doanh Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này trước hết là phải nói đến công tác quy hoạch Các quận – huyện đã không nhận thấy được nhu cầu thực tế của người dân trong khu vực
(28)
http://www.dpi.hochiminhcity.gov.vn/data/news/2009/2/783/2.Dothi.htm
(29)
http://irv.moit.gov.vn/congnghieponline/vande-sukien/2009/1/20867.ttvn
Trang 33cũng như những yếu tố khách quan khác dẫn đến việc quy hoạch các chợ không phù hợp Khi quy hoạch khu Bình Phú, Ủy ban nhân dân quận 6 đã tính việc xây chợ loại 1 để phục vụ khu dân cư mới xung quanh Nhưng khu dân cư mới này chỉ toàn là nhà để kinh doanh, hiện không có nhiều người ở nên chẳng mấy khi có cảnh người nội trợ xách giỏ đi chợ(30)
Bên cạnh đó, chất lượng quy hoạch thấp, tính thực tế không cao, phải điều chỉnh nhiều lần Quy hoạch mang tính tổng thể là chủ yếu, thiếu lộ trình thực hiện quy hoạch Đa số các công trình đầu tư mang tính tình thế, cần đến đâu phát triển đến đó, chưa tạo được định hướng mở, làm cơ sở vững chắc cho hoạt động lập dự án đầu tư trong thời gian dài Tác giả xin lấy chợ Lãnh Binh Thăng làm ví dụ, đây là một chợ “bị ép ra đời” khi Công ty Kinh doanh nhà quận 11 phát hiện việc quên chừa đất xây chợ để phục vụ nhu cầu cho một khu dân cư rộng lớn Thế là trong một khu vực đã bị nhà cửa bao vây bốn bề xuất hiện một chợ rộng chỉ 720m2
nằm sát với những khối nhà xung quanh, mặt tiền chợ ở đường Lãnh Binh Thăng cũng chỉ vừa vặn một tấm bảng hiệu đề tên chợ Do vậy, dù được thành lập từ năm 1990 đến nay, qua nhiều lần vận động tiểu thương ra kinh doanh, nhưng chợ Lãnh Binh Thăng ế vẫn hoàn ế(31) Hoặc trường hợp dự án đầu tư xây dựng trung tâm thương mại – dịch vụ - căn hộ Châu Hải Thành (trước cửa chợ Bình Tây - quận 6), cho đến năm 2007, được sự thuyết phục của Công ty cổ phần phát triển nhà Hoàng Anh, Ủy ban nhân dân quận 6 mới nhận thấy sự cần thiết của dự án trong việc phát triển kinh tế - xã hội của quận Đến ngày 25/5/2007, Ủy ban nhân dân quận 6 mới ban hành Quyết định số 1262/QĐ-UBND về việc phê duyệt nhiệm vụ đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỉ lệ 1/2000 khu dân cư liên phường 1, 2 quận 6, diện tích 53,74 ha, trong đó có quy hoạch dự án tại khu vực Châu Hải Thành
Từ thực tiễn nêu trên, ta có thể nói rằng công tác lập và quản lý quy hoạch chưa tạo được nền tảng, định hướng cho các nhà đầu tư lập dự án Nhiều dự án được lập xong thì quy hoạch bị thay đổi, nhà đầu tư phải chuyển sang lập dự án
(30)
http://vietbao.vn/Xa-hoi/Lang-phi-cho/40048136/157/
(31)
http://vietbao.vn/Xa-hoi/Lang-phi-cho/40048136/157/
Trang 34đầu tư khác Hiệu quả công tác lập dự án đầu tư không cao, có thể bị thay đổi nhiều lần theo sự thay đổi của quy hoạch chung của Nhà nước
Do vậy, việc đẩy mạnh công tác lập quy hoạch, nâng cao chất lượng quy hoạch, công khai quy hoạch và khớp nối các loại quy hoạch là việc làm cần thiết giúp Nhà nước quản lý tốt công tác lập dự án đầu tư trong giai đoạn hiện nay Tại Thành phố Hồ Chí Minh, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần đẩy mạnh công tác phê duyệt quy hoạch các quận, huyện trên địa bàn; thực hiện tốt công tác công bố và công khai các đồ án quy hoạch được duyệt, công khai các chỉ giới quy hoạch xây dựng và đưa mốc giới quy hoạch ra ngoài thực địa Đặc biệt, Nhà nước cần phải quan tâm hơn nữa trong việc mở rộng các nguồn vốn phục vụ cho quy hoạch, nhất là quy hoạch xây dựng chi tiết trên địa bàn
1.2.3 Quy định những yêu cầu đối với nội dung của dự án đầu tư
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, công tác quản lý nhà nước về lập dự án đầu
tư dựa trên cơ sở quy định chung của cả nước Đó là luật, nghị định và thông tư hướng dẫn do các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương ban hành Nội dung các văn bản này đã được phân tích cụ thể ở phần 1.1.3
Cho đến nay, cơ quan quản lý nhà nước về lập dự án đầu tư tại Thành phố
Hồ Chí Minh chưa ban hành văn bản quy phạm điều chỉnh riêng hoạt động lập
dự án đầu tư trên địa bàn Đối với hoạt động này, Ủy ban nhân dân Thành phố thực hiện theo quy định chung của cả nước, không có quy định đặc thù riêng cho Thành phố Chủ thể có trách nhiệm lập dự án đầu tư, loại dự án cần phải lập
dự án đầu tư và nội dung cần phải có của dự án đầu tư đều tuân thủ quy định chung của cơ quan nhà nước ở trung ương
Thành phố Hồ Chí Minh là địa bàn thu hút đầu tư mạnh nhất nước Hằng năm, có trên 1000 dự án đầu tư được lập và trình duyệt Với đặc thù như thế, những yêu cầu của Nhà nước đối với nội dung của dự án đầu tư cũng cần phải được nâng cao hơn, quy định chặt chẽ hơn nhằm đảm bảo chất lượng của dự án đầu tư được lập cũng như hạn chế tình trạng lập dự án một cách ồ ạt, chạy theo
số lượng và tiến độ thời gian
Trang 35Thực tế hiện nay, các dự án được lập tại Thành phố Hồ Chí Minh thường mang tính hình thức, các chỉ tiêu, thông số lập dự án chỉ là những số liệu ảo hoặc được thu thập qua các kênh thông tin đại chúng mà không được khảo sát thực tế Vì vậy, tính chính xác và hiệu quả của các dự án được lập không cao Chế tài đối với việc không tuân thủ các quy định của pháp luật về lập dự án đầu
tư chưa có nên không đủ sức răn đe các chủ thể lập dự án đầu tư(32)
Qua khảo sát một số đơn vị và thực tiễn công tác của tác giả tại một doanh nghiệp đầu tư xây dựng và kinh doanh bất động sản, tác giả nhận thấy rằng hầu hết các dự án đều được lập gần như tương tự nhau Các tổ chức tư vấn lập dự án
ít thực hiện hoặc không thực hiện công tác điều tra xã hội, khảo sát nhu cầu thị trường… để lập dự án Các dự án được lập thường nêu hiệu quả và tính khả thi rất lớn nhưng trên thực tế triển khai thì không đạt được kết quả như mong muốn
Ở đây, tác giả xin lấy dẫn chứng từ dự án đầu tư xây dựng công trình chợ Bình Phú thuộc Phường 10 Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh Xuất phát từ quy hoạch chung của Ủy ban nhân dân quận 6, khi lập dự án, đơn vị lập dự án cũng nhìn nhận rằng trong khu vực này chưa có công trình chợ nào thực sự quy mô, chủ yếu là các chợ truyền thống nhỏ, hẹp, không sạch sẽ Do vậy, việc đầu tư một công trình chợ khang trang, với quầy sạp được bố trí có quy hoạch, đảm bảo vệ sinh… sẽ là một dự án lớn đem lại hiệu quả cao, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng cho một lượng lớn người dân trong khu vực Phường 10 và Phường 11 Quận 6 Trên thực tế, sau khi xây dựng xong, chợ Bình Phú kinh doanh không hiệu quả và tiểu thương buôn bán trong chợ dần dần bỏ sạp, không tiếp tục kinh doanh Sau 3 năm hoạt động, chợ Bình Phú chỉ còn lại khoảng 30 sạp (trong số
729 sạp chợ) còn kinh doanh Dự án chợ Bình Phú đã gây lãng phí rất lớn cho Nhà nước với hơn 18.000m2
đất kinh doanh không hiệu quả(33) Tất nhiên, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này chứ không chỉ riêng công tác lập dự
Trang 36án đầu tư Song, một trong những nguyên nhân chủ yếu là do pháp luật nước ta không yêu cầu bắt buộc phải thể hiện những nội dung về khảo sát tình hình địa bàn cũng như nhu cầu thực tế của người dân trong khu vực nên tổ chức lập dự
án đầu tư đã bỏ qua bước khảo sát này
Từ thực tiễn nêu trên, để tăng cường quản lý nhà nước về lập dựa án đầu
tư, tác giả thiết nghĩ cơ quan quản lý nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh cần phải nghiên cứu ban hành văn bản pháp lý hướng dẫn cụ thể hơn nữa đối với nội dung lập dự án nhằm đảm bảo chất lượng của công tác lập dự án đầu tư Đặc biệt, chú ý đến việc yêu cầu nội dung dự án phải có những thông số khảo sát thực tế để chứng minh sự cần thiết cũng như tính khả thi của dự án Nên chăng, Nhà nước cần đưa ra một số chế tài đối với các tổ chức, cá nhân lập dự
án đầu tư không tuân thủ theo các quy định của pháp luật trong quá trình lập dự
án, dẫn đến dự án đầu tư được lập không chính xác
1.2.4 Quy định năng lực hoạt động của tổ chức tư vấn lập dự án
Cho đến nay, pháp luật nước ta nói chung chưa có quy định cụ thể về điều kiện, năng lực của tổ chức tư vấn lập dự án đầu tư (trừ dự án đầu tư xây dựng công trình) Điều 15 Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng (ban hành kèm theo Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ) chỉ quy định tổ chức tư vấn đầu tư là các tổ chức nghề nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, có
tư cách pháp nhân, có đăng ký kinh doanh về tư vấn đầu tư theo quy định của pháp luật Trong khi đó, theo pháp luật về đăng ký kinh doanh, hoạt động tư vấn đầu tư không phải là phải là hoạt động kinh doanh có điều kiện
Trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực này cũng không có quy định riêng về điều kiện, năng lực hoạt động của tổ chức tư vấn lập dự án đầu tư Thực tế, công tác quản lý năng lực hoạt động của các tổ chức tư vấn lập dự án đầu tư vẫn còn lỏng lẽo Bất kỳ tổ chức nào có đăng ký hoạt động tư vấn về đầu tư đều có thể tham gia lập các dự án đầu tư (trừ dự án đầu tư xây dựng công trình) Đôi khi, vì lợi nhuận của mình, các tổ chức tư vấn thực hiện công tác lập dự án một cách sơ sài, qua loa với tư tưởng xem dự án đầu tư chỉ là một bước thủ tục để huy động vốn hoặc xin phép đầu