1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới tổ chức và hoạt động của uỷ ban nhân dân xã trong giai đoạn hiện nay (từ thực tiễn tỉnh bình dương)

133 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi Mới Tổ Chức Và Hoạt Động Của Uỷ Ban Nhân Dân Xã Trong Giai Đoạn Hiện Nay (Từ Thực Tiễn Tỉnh Bình Dương)
Tác giả Trịnh Duy Biên
Người hướng dẫn PGS.TS. Trương Đắc Linh
Trường học Trường Đại Học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hành Chính
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học
Năm xuất bản 2007
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính quyền xã, phường, thị trấn là nơi thông qua đó nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRỊNH DUY BIÊN

TÊN ĐỀ TÀI ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA UỶ BAN

NHÂN DÂN XÃ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

(Từ thực tiễn tỉnh Bình Dương)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP Hồ Chí Minh – năm 2007

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xim cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Toàn bộ nội dung được trình bày cũng như các kết quả đạt được của Luận văn là

do chính tôi thực hiện cùng với sự hướng dẫn khoa học của:

PGS TS TRƯƠNG ĐẮC LINH

Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về lời cam đoan này

Tác giả

Trịnh Duy Biên

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRỊNH DUY BIÊN

TÊN ĐỀ TÀI ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN XÃ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

(Từ thực tiễn tỉnh Bình Dương)

Chuyên ngành: LUẬT HÀNH CHÍNH

Mã số: 60.38.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn: PGS.TS.TRƯƠNG ĐẮC LINH

Trường Đại học luật tp.Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh – năm 2007

MỤC LỤC

Trang 4

Trang PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN - PHÁP LÝ CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN

I KHÁI NIỆM, TÍNH CHẤT CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN XÃ

1 Khái niệm Uỷ ban nhân dân xã

2 Tính chất của Uỷ ban nhân dân xã

II THẨM QUYỀN VÀ CÁC MỐI QUAN HỆ GIỮA UỶ BAN

NHÂN DÂN XÃ VỚI CÁC CƠ QUAN CÓ LIÊN QUAN

1 Thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân xã

2 Các mối quan hệ của Uỷ ban nhân dân xã

3 Tổ chức của Uỷ ban nhân dân xã theo Hiếp pháp 1959 và Luật 1962

4 Tổ chức của Uỷ ban nhân dân xã theo Hiến pháp 1980 và Luật

1983, 1989

5 Tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã theo Hiến pháp 1992

và Luật năm 1994

6 Tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã theo hiến pháp 1992

(được sửa đổi năm 2001) và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban

Trang 5

nhân dân năm 2003

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA UỶ

BAN NHÂN DÂN XÃ Ở BÌNH DƯƠNG

2.1 MỘT SỐ NÉT CƠ BẢN VỀ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI Ở

BÌNH DƯƠNG

2.1.1 Về địa lý 2.1.2 Đặc điểm lịch sử 2.1.3 về đặc điểm dân cư 2.2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN

NHÂN DÂN XÃ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG

2.2.1 CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN XÃ

2.2.1.1 Thành phần của Ủy ban nhân dân xã 2.2.1.2 Tổ chức của Ủy ban nhân dân xã

2.2.2 HÌNH THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ

2.2.2.1 Tập thể Ủy ban nhân dân xã 2.2.2.2 Hoạt động của Chủ tịch, phó chủ tịch và các thành viên

Uỷ ban nhân dân xã

2.2.2.3 Hoạt động của các ban chuyên môn của Uỷ ban 2.2.2.4 Hoạt động của Trưởng ấp, Trưởng khu phố

2.3 ĐÁNH GIÁ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA UỶ BAN

NHÂN DÂN XÃ

2.3.1 Về tổ chức của Uỷ ban nhân dân xã

2.3.2 Về hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã 2.3.3 Về đội ngũ cán bộ công chức

Trang 6

THIỆN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG

3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Uỷ ban

nhân dân xã

3.2 Định hướng hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân

dân xã

3.2.1.Về cách thức thành lập Ủy ban nhân dân

3.2.2 Về cơ cấu thành phần và tổ chức của Ủy ban nhân dân

3.2.3 Về phân định chức trách giữa tập thể và các cá nhân và giữa các

cá nhân trong Ủy ban nhân dân

3.2.4 Về cơ chế chịu trách nhiệm của Ủy ban nhân dân

2.3.5 Cần phải phân biệt rõ hơn nữa sự khác biệt trong tổ chức và

hoạt động giữa Uỷ ban nhân dân phường, thị trấn với xã

2.3.6 Đối với cán bộ, công chức cấp xã

2.3.7 Về thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân xã

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cấp cơ sở trong

bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cùng cấp Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn do Hội đồng nhân dân xã, phường thị trấn bầu ra, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp

Từ cách mạng tháng 8 đến nay, kể từ khi đất nước được thành lập, Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời thì Bộ máy nhà nước và cũng từ đó chính quyền cấp cơ sở cũng được thành lập, ghi nhận và khảng định Chính quyền xã phường, thị trấn là một cấp không thể thiếu được trong bộ máy nhà nước Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn là một cơ quan trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước giữ vị trí quan trọng trong các giai đoạn phát triển của đất nước

Chính quyền xã, phường, thị trấn là nơi thông qua đó nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước; là nơi hằng ngày tiếp xúc với nhân dân, liên hệ mật thiết với nhân dân, giải quyết các công việc liên quan đến đời sống hằng ngày của nhân dân và bảo vệ nhân dân Đồng thời, là nơi có điều kiện sâu sát nhất với thực trạng kinh tế xã hội trên địa phương mình, từ đó, mà vận dụng và khai thác mọi tiềm năng của địa phương, cũng như mọi tiềm năng trí tuệ và sức sáng tạo của nhân dân phục

vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân

Dưới sự lãnh đạo của Đảng sau 22 năm tiến hành đổi mới, tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở nói chung, Uỷ ban nhân dân xã nói riêng đã

Trang 8

có nhiều tiến bộ và chuyển biến tích cực như: Tổ chức bộ máy ngày càng tinh gọn và hoạt động có hiệu quả, thể chế hành chính ngày càng được hoàn thiện, đội ngũ cán bộ công chức ngày càng được bổ sung về số lượng và dần dần hoạt động mang tính chuyên nghiệp…Tuy nhiên, so với yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước và yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước thì tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở nói chung, của Uỷ ban nhân dân

xã, phường, thị trấn nói riêng vẫn còn nhiều bất cập, yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức, thực hiện và vận động quần chúng nhân dân trong việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước Tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tình trạng mất đoàn kết nội bộ, mất dân chủ còn diễn ra ở nhiều nơi, có nơi còn xảy ra nghiêm trọng

Thấy rõ được thực trạng đó, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã nhằm mục đích xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân đưa đất nước hội nhập với khu vực và quốc tế

Xuất phát từ tình hình trên, qua nghiên cứu tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã ở Việt Nam nói chung, trên địa bàn tỉnh Bình Dương nói riêng

tác giả mạnh dạn chọn đề tài “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân

dân xã trong giai đoạn hiện nay từ thực tiễn tỉnh Bình Dương” là đề tài Luận

văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Chính quyền xã, phường, thị trấn nói chung, Uỷ ban nhân dân xã nói riêng

là một bộ phận quan trong trong Bộ máy nhà nước, vì vậy, nó luôn luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm củng cố phát triển, đồng thời, nó cũng thu hút sự chú, quan tâm nghiên cứu của các nhà hoa học, nghiên cứu ở cả địa phương và

Trang 9

trung ương Bởi vậy, trong thời gian qua, đã có rất nhiều các cơ quan, các nhà nghiên cứu, nhà quản lý tập trung nghiên cứu về vấn đề này Chính vì vậy số lượng các đề tài khoa học, các bài viết đăng trên các báo, tạp chí ngày một gia tăng Điển hình có một số cuốn sách, đề tài, bài báo viết về Uỷ ban nhân dân xã như sau:

- Cuốn “ Hội đồng nhân dân trong hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước” của Tiến sỹ Nguyễn Đăng Dung do Nhà xuất bản pháp lý ấn hành năm 1988, đã kết lý luận, thực tiễn trong xây dựng chính quyền ở địa phương và làm sáng tỏ thêm vị trí, vai trò của Hội đông nhân dân trong hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước

- Luận án phó tiến sỹ luật học của Bùi Xuân Đức đề cập đến “ Thẩm quyền quản lý kinh tế của chính quyền địa phương” đã làm sáng tỏ tổ chức của chính quyền địa phương nước ta

- Cuốn “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã” của Tiến

sỹ Trần Nho Thìn – NXB Chính trị quốc gia 2000

- Cuốn “ Tổ chức chính quyền nhà nước ở địa phương - lịch sử và hiện tại” của PGS TS Nguyễn Đăng Dung – NXB Đồng Nai 1997

- Cuốn “ Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay” do PGS TS Nguyễn Minh Thông và PGS TS Nguyễn Như Phát chủ biên – NXB Chính trị quốc gia 2002

- Cuốn “ Đổi mới, hoàn thiện Bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay” của PGS TS Bùi Xuân Đức – NXB Tư pháp 2004

- Cuốn “ Một số vấn đề về hoạt động của chính quyền hiện nay ” của PGS

TS Bùi Duy Qúi – Dương Duy Mạnh – NXB Chính trị quốc gia 2005

Liên quan đến nhiệm vụ tìm kiếm những giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã còn có rất nhiều cuộc hội thảo khoa học có sự

Trang 10

tham gia của nhiều chuyên gia nghiên cứu cũng như những nhà quản lý và hoạch định chính sách …được tổ chức với quy mô khác nhau Nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về chính quyền địa phương đã được thảo luận và kết luận tại các cuộc hội thảo đó như:

Cuộc hội thảo được tổ chức vào tháng 9 năm 1991 tại thành phố Thái Nguyên và tháng 12 năm 1991 tại Thanh Hoá, đăc biệt là cuộc hội thảo được tổ chức vào tháng 12 năm 2006 tại thành phố Hồ Chí Minh vừa qua đã đưa ra nhiều

ý kiến nhằm góp phần làm rõ thực trạng của chính quyền cơ sở nói chung và Uỷ ban nhân dân xã phường, thị trấn nói riêng Đồng thời, đã chỉ ra phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn trên các phương diện như: hình thức hoạt động, quy mô, cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, mối quan hệ giữa Đảng, Chính quyền và các Đoàn thể quần chúng với cơ chế “Đảng lãnh đạo – Nhà nước quản lý – Nhân dân làm chủ ” và vấn đề cán bộ, chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn

Bên cạnh đó cũng có một số Luận án đề cập đến tổ chức và hoạt động của

Uỷ ban nhân dân như: “ Đổi mới hệ thống chính trị cấp xã ngoại thành Hà Nội ” Luận án phó tiến sỹ chính trị học của Lưu Minh Trị 1992 đã làm rõ việc tổ chức

và hoạt động, mối quan hệ của hệ thống chính trị trong giai đoạn hiện nay Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã ở nước ta hiện nay ” Luận án cao học luật 1996 của Phạm Quốc Tế đã nêu ra được một số vấn đề đổi mới trong tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân xã trong giai đoạn hiện nay

Các công trình nghiên cứu, các cuộc hội thảo, các bài viết của các nhà khoa học, các luận án cao học, tiến sỹ đã đề cập nhiều ý kiến quan trọng đóng góp cho việc đổi mới căn bản tổ chức và hoạt động của chính quyền xã là tài liệu quan trọng làm tiền đề cho các công trình nghiên cứu tiếp theo

Trang 11

Bản thân tôi trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm của những người đi trước, cùng sự hướng dẫn tận tình của người hướng dẫn khoa

học tôi chọn đề tài “ Đổi mới tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã

trong giai đoạn hiện nay từ thực tiễn tỉnh Bình Dương ” làm Luận văn cuối

khoá của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn

Mục đích của Luận văn

Nhằm đánh giá thực trạng trong tổ chức và hoạt đông của Uỷ ban nhân dân xã, tìm hiểu và làm rõ tính hợp lý và các khiếm khuyết trong tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở Việt Nam Từ đó, kiến nghị, đề xuất những phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân cho phù hợp với tình hình hiện nay nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước thức đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước

Nhiệm vụ của Luận văn

- Tìm hiểu vị trí pháp lý của Uỷ ban nhân dân xã trong Bộ máy nhà nước

- Khái quát sự phát triển của Uỷ ban nhân dân xã qua các thời kỳ phát triển của đất nước để thấy được những thay đổi trong tổ chức và hoạt động của

Uỷ ban nhân dân xã trong từng giai đoạn nhằm đáp ứng đươc yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay

- Tìm hiểu hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã và năng lực trình độ của cán

bộ, công chức của Uỷ ban nhân xã và các chế độ chính sách đối với họ

- Từ đó, đề xuất những phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của

Uỷ ban nhân dân cho phù hợp với điều kiện hiện tại

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 12

Luận văn được viết trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã

Luận Văn sử dụng tư duy biện chứng và tư duy lịch sử để nghiên cứu tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã trong mối quan hệ với các cơ quan trong bộ máy nhà nước

Luận văn sử dụng phương pháp phân tích hệ thống cơ cấu pháp luật, so sánh để thấy được các giai đoạn phát triển của Uỷ ban nhân dân và chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của nó

Luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp, tổng kết thực tiễn để tìm hiểu, đối chiếu tình hình để đề xuất các phương án đổi mới tổ chức và hoạt động của

Uỷ ban nhân dân xã nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân hiện nay

Khi viết tác giả đã sử dụng các công trình nghiên cứu của các nhà luật học, triết học, xã hội học…và tài liệu của các cuộc hội thảo, các luận văn tốt nghiệp của khoá trước để làm tài liệu tham khảo

5 Những điểm mới của Luận văn

Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích làm rõ tính chất, cơ cấu tổ chức

và hoạt động của Uỷ ban nhân dân, thực trạng tổ chức và hoạt động những tiêu cực đang tồn tại, những khó khăn trong hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã trong điều kiện hiện nay

Phân tích các yêu cầu, đòi hỏi của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng như những yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân,

do nhân dân và vì nhân dân, từ đó, đề xuất các phương hướng cụ thể sau đây để đổi mới tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã:

Trang 13

- Đề xuất về cách thức thành lập Uỷ ban nhân dân và người đứng đầu Uỷ ban nhân dân

- Đề xuất về cơ cấu thành phần và tổ chức của Uỷ ban nhân dân

- Đề xuất đổi mới về mối quan hệ giữa Uỷ ban nhân dân và Hội đồng nhân dân

- Đề xuất đổi mới về thẩm quyền và phân định trách nhiệm giữa tập thể

Uỷ ban với Chủ tịch Uỷ ban và giữa Chủ tịch Uỷ ban với các thành viên của Uỷ ban nhân xã

- Đề xuất về đổi mới công tác cán bộ và chế độ chính sách đối với họ

6 Nội dung của Luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liều tham khảo gồm 03 chương:

Chương 1: Vị trí pháp lý của Uỷ ban nhân dân xã

Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã Chương 3: Phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân

dân xã trong điều kiện hiện nay từ thực tiễn của tỉnh Bình Duơng

CHƯƠNG I

CƠ S Ở LÝ LUẬN - PHÁP LÝ CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN XÃ

I KHÁI NIỆM, TÍNH CHẤT CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN XÃ

1 Khái niệm Uỷ ban nhân dân xã

Trong hệ thống tổ chức cấp chính quyền thì chính quyền xã chiếm một vị trí chiến lược quan trọng, chính quyền địa phương xã được tổ chức để thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương Trên thế giới có nhiều cách tổ chức quản lý địa phương và có nhiều tên gọi khác nhau về các cơ quan này nhưng về

cơ bản có các mô hình sau đây:

Trang 14

Trước đây trong thời kỳ phong kiến ở một số nước Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á…cơ quan chính quyền địa phương là bộ máy hành chính đứng đầu bởi một quan chức chủ đạo như: Tỉnh trưởng, Xã trưởng, Quận trưởng do trên bổ nhiệm Cơ quan này mang tính chất cá nhân vì toàn bộ quyền hạn tập trung vào trong tay người đứng đầu (còn các bộ phận khác chỉ là thừa hành và giúp việc)

có toàn quyền quyết định và thực hiện mọi công việc quản lý hành chính nhà nước ở dịa phương

Ở các nước tư bản, chính quyền địa phương là cơ quan hành chính do cấp trên bổ nhiệm kết hợp với một hội đồng tự quản do dân bầu ra Ở các nước này, vai trò chủ đạo thuộc về cơ quan hành chính, còn hội đồng tự quản chỉ đóng vai trò tư vấn dưới sự giám hộ của cơ quan hành chính chỉ được bàn định những vấn

đề liên quan ở địa phương, không được tham gia vào các vấn đề chung của quốc gia và các vấn đề có tính chất chính trị

Đối với các nước Xã hội chủ nghĩa trong đó có nước ta chính quyền địa phương trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau nhưng về cơ bản có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân

Hội đồng nhân dân xã là cơ quan đại diện cho quyền lực nhà nước ở xã, do nhân dân xã trực tiếp bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân trong xã và chính quyền cấp trên Hội đồng nhân dân xã là cơ quan có toàn quyền quyết định các vấn đề về kinh tế - xã hội ở trong xã theo quy định của pháp luật Hội đồng nhân dân xã là cơ quan đại diện, thay mặt cho nhân dân trong xã bao gồm các đại biểu

do nhân dân tín nhiệm bầu ra Hội đồng nhân dân xã là một hình thức tổ chức quản lý nhà nước ở xã theo kiểu mới, độc lập với lối cai trị của các chế độ bóc lột Các chính quyền bóc lột lập ra chính quyền cấp xã cốt lõi là để cai trị nhân dân; còn đối với nước ta hiện nay, chính quyền xã là mô hình thức tổ chức và thực hiện quyền lực của nhân dân trong xã

Trang 15

Hội đồng nhân dân xã do nhân dân bầu ra, đại diện cho nhân dân trong xã, đồng thời, phải đại diện cho chính quyền Nhà nước cấp trên, chịu trách nhiệm trước chính quyền cấp trên Hội đồng nhân dân xã có phương thức hoạt động chủ yếu thông qua các kỳ họp và ra các nghị quyết về các vần đề ở địa phương và thực hiện quyền giám sát trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà pháp luật đã giao phó

Hội đồng nhân dân xã gồm có một Chủ tịch và một phó Chủ tịch Chủ tich hội đồng nhân dân xã có nhiệm vụ triệu tập các kỳ họp của Hội đồng nhân dân

xã, đôn đốc việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã; tổ chức tiếp dân, đôn đốc, kiểm tra việc giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, giữ mối liên hệ với các đại biểu, báo cáo tình hình hoạt động của Hội đồng nhân dân xã lên Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp Phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã trong việc bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân xã theo đề nghị của Uỷ ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam cùng cấp , giữ mối liên hệ và thông báo cho Uỷ ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam cùng cấp biết về hoạt động của mình

Phó chủ tịch hội đồng nhân dân xã giúp chủ tịch Hội đồng nhân dân xã làm nhịêm vụ và thay Chủ tịch Hội đồng nhân dân khi Chủ tịch vắng mặt

Chủ tịch và Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân không thể đồng thời là thành viên của Uỷ ban nhân dân

Hội đồng nhân dân xã có cơ quan chấp hành là Uỷ ban nhân dân xã, một

cơ quan được lập ra để chấp hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã và thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước ở xã Uỷ ban nhân dân là một mắt xích không thể thiếu được trong hệ thống các cơ quan nhà nước, một bộ phận quan trọng trong việc phát huy hiệu lực của chính quyền xã và đảm bảo hoạt động quản lý hành chính nhà nước thống nhất từ trung ưong đến cơ sở

Trang 16

Theo lý luận Mác-Lênin thì đây là cơ quan được lập ra trong điều kiện Hội đồng nhân dân chưa làm hết được công việc Vì hình thức hoạt động của Hội đồng nhân dân đa số là kiêm nhiệm, do vậy, trong thời gian giữa hai kỳ họp của Hội đồng nhân dân thì phải lập ra Uỷ ban nhân dân Cơ quan này sẽ đảm nhận những chức năng tổ chức hoạt động thường xuyên của Hội đồng nhân dân và tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân

Uỷ ban nhân dân gắn liền với Hội đồng nhân dân là hình thức làm việc của Hội đồng nhân dân giữa hai nhiệm kỳ

Theo Điều 123 Hiến pháp 1992 được sửa đổi năm 2001 thì “ Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân,

cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân ”

Như vậy, về tính chất, Uỷ ban nhân dân xã do Hội đồng nhân dân bầu ra là

cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân xã, cơ quan hành chính nhà nước ở

xã Uỷ ban nhân dân xã có trách nhiệm chấp hành các nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã Nhưng đồng thời, Uỷ ban nhân dân xã cũng là cơ quan hành chính nhà nước của xã nên Uỷ ban nhân dân xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo luật định

Uỷ ban nhân dân xã được bầu bằng cách bỏ phiếu kín Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã phải là đại biểu Hội đồng nhân dân xã Phó chủ tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân xã không nhất thiết phải là Đại biểu Hội đồng nhân dân xã

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã lãnh đạo, điều hành hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã Uỷ ban nhân dân xã có các bộ phận giúp việc như: Ban tư pháp,

Trang 17

ban tài chính, ban địa chính, ban công an, ban văn hoá - xã hội, ban chỉ huy quân

sự và bộ phận văn phòng - thống kê

Uỷ ban nhân dân xã làm việc theo chế độ tập thể Pháp luật hiện hành đã quy định rõ ràng trách nhiệm của Chủ tịch cũng như các thành viên Uỷ ban nhân dân xã, nhưng khi quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương, Uỷ ban nhân dân xã phải thảo luận tập thể và quyết định theo đa số

Để thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình theo luật định Uỷ ban nhân dân ra các quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thực hiện các văn bản đó nhằm bảo đảm thực hiện Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên

và nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã

Các quyết định của Uỷ ban nhân dân phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành

2 Tính chất của Uỷ ban nhân dân xã

Uỷ ban nhân dân xã do Hội đồng nhân dân xã bầu ra là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân xã, cơ quan hành chính nhà nước ở xã, là cấp cơ sở gần dân nhất, sát dân nhất, là nơi chuyển tải mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước vào trong thực tế cuộc sống và bảo đảm cho chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật được được thực hiện có hiệu quả Đồng thời cũng là địa bàn sinh sống của gần 78% dân số của cả nước Vì vậy Uỷ ban nhân dân xã giữ vị trí không thể thiếu được trong hệ thống các cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan hành chính nhà nuớc nói riêng

Nói đến cấp xã là nói đến cấp chính quyền cuối cùng, cấp thực hiện, chứ không phải là cấp ra quyết định cho một cấp nào dưới nữa cụ thể hoá để thực hiện và cũng không có sự phân công, phân cấp rành mạch giữa các quyền: Lập pháp –Hành pháp – Tư pháp Mặc dù, Hội đồng nhân dân xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, nhưng cũng không có quyền lập pháp Hội đồng

Trang 18

nhân dân xã dựa trên cơ sở Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên để ra các Nghị quyết nhằm thực hiện Hiến pháp, luật và các văn bản của

cơ quan nhà nước cấp trên ở địa phương và quyết định kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội, ngân sách, an ninh quốc phòng ở địa phương

Như vậy, chính quyền xã chỉ thực hiện quản lý nhà nước trong những phạm vi, những lĩnh vực do sự phân cấp quản lý và theo quy định của pháp luật Trong đó, Uỷ ban nhân dân xã là cơ quan chấp hành, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

Theo quy định của pháp luật hiện hành Uỷ ban nhândân cũng mang tính chất của cơ quan quản lý nhà nước nói chung Tính chất ấy bao gồm:

Về tính chấp hành

Theo quy định của pháp luật thì Uỷ ban nhân dân xã do Hội đồng nhân dân xã bầu ra là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân xã Như vậy, Uỷ ban nhân dân xã trước hết là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân Trong mối quan hệ này thể hiện mối quan hệ phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp Uỷ ban nhân dân xã chịu sự kiểm tra, giám sát và báo cáo công tác với Hội đồng nhân dân xã

Các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã có tính chất bắt buộc phải thực hiện đối với Uỷ ban nhân dân xã Là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân

xã nên Uỷ ban nhân dân xã chịu trách nhiệm chấp hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã Uỷ ban nhân dân xã trong quá trình thực hiện các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã nếu thấy có gì vướng mắc thì có quyền đề xuất, tham mưu chứ không có quyền phủ quyết Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã

Hội đồng nhân dân xã có quyền yêu cầu Uỷ ban nhân dân xã báo cáo các biện pháp tổ chức thực hiện cũng như tình hình thực hiện hiện nghị quyết của

Trang 19

Hội đồng nhân dân xã Các thành viên của Uỷ ban nhân dân xã là do Hội đồng nhân dân xã bầu ra, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã nhất thiết phải là đại biểu Hội đồng nhân dân xã Hội đồng nhân dân xã có quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên của Uỷ ban nhân dân xã khi các thành viên này vi phạm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước và các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên cũng như các nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã và không còn được nhân dân tín nhiệm

Tính hành chính nhà nước

Pháp luật hiện hành quy định Uỷ ban nhân dân xã là cơ quan hành chính

nhà nước ở địa phương Với tính chất này thể hiện tính độc lập tương đối của Uỷ ban nhân dân xã với Hội đồng nhân dân xã và bảo đảm cho hoạt động quản lý nhà nước của Uỷ ban nhân dân xã được thực hiện

Tính chất này thể hiện ở chỗ mặc dù Hội đồng nhân dân xã là cơ quan quyền lực nhà nước nhưng không có quyền ra lệnh về mặt hành chính đối với Uỷ ban nhân dân xã Hội đồng nhân dân xã không phải là cơ quan hành chính cấp trên của Uỷ ban nhân dân xã như Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh…Quan

hệ giữa Hội đồng nhân dân xã và Uỷ ban nhân dân xã là mối quan hệ theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do Nhà nước phân công giữa cơ quan quyền lực nhà nước và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Uỷ ban nhân dân xã tuy được Hội đồng nhân dân xã bầu ra, nhưng lại được cấp trên phê chuẩn, do đó,

Uỷ ban nhân dân xã thể hiện tính độc lập tương đối trong mối quan hệ với Hội đồng nhân dân xã Uỷ ban nhân dân xã có những thẩm quyền do pháp luật quy định và thẩm quyền này chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới có Cụ thể là

có quyền ra các quyết định quản lý mang tính đơn phương buộc phải thực hiện, chính quyền hạn này đã giúp Uỷ ban nhân dân xã làm tốt chức năng quản lý hành chính nhà nước của mình

Trang 20

Đồng thời, trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, Uỷ ban nhân dân xã chịu sự chỉ đạo điều hành thống nhất của Chính phủ và chịu sự lãnh đạo, kiểm tra của Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp, có nhiệm vụ quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội trong phạm vi xã của mình theo quy định của pháp luật

Như vậy, Uỷ ban nhân dân xã có hai tính chất, tính chấp hành và tính hành chính nhà nước Trong hai tính chất đó thì tính chấp hành thể hiện Uỷ ban nhân dân xã là cơ quan phụ thuộc và tính hành chính nhà nước thể hiện Uỷ ban nhân dân có tính độc lập tương đối trong khi thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước của mình Giữa hai tính chất này về mặt hình thức thực hiện có khác nhau, một bên

là Uỷ ban nhân dân xã phải chấp hành các nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã

và phải tổ chức thực hiện các nghị quyết đó, còn một bên là Uỷ ban nhân dân xã

có quyền ra quyết định bắt buộc các đối tượng quản lý phải thực hiện thẩm quyền quản lý nhà nước của Uỷ ban nhân dân xã

Với hai tính chất đó đã thể hiện nguyên tắc song trùng trực thuộc trong tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã và thể hiện mối quan hệ hữu cơ giữa

cơ quan quyền lực nhà nước và cơ quan quản lý hành chính nhà nước bảo đảm

sự hoạt động thống nhất của bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở

II THẨM QUYỀN VÀ CÁC MỐI QUAN HỆ GIỮA UỸ BAN NHÂN DÂN XÃ VÀ CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC KHÁC

1 Thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân xã

Uỷ ban nhân dân xã xét về mặt bản chất là một cơ quan trực thuộc hội đồng nhân dân xã Do đó, về mặt thẩm quyền cơ bản cũng được phát sinh từ thẩm quyền của Hội đồng nhân dân Trước đây thẩm quyền được quy định chung cho Hội đồng nhân dân như Luật 1983 về nhiệm vụ quyền hạn của Hội đồng nhân dân đã quy định cụ thể từng lĩnh vực như: về kinh tế (điều 9), về khoa học

kỹ thuật (điều 10), về văn hoá, xã hội và đời sống (điều 11), về an ninh quốc

Trang 21

phòng (điều 12), về chính sách dân tộc (điều 13), về pháp chế xã hội chủ nghĩa (điều 14), về tổ chức cán bộ (điều 15), và các điều 16,17,18,19, 20 quy định nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân các cấp, còn nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân cũng đã quy định chung trong thẩm quyền của Hội đồng nhân dân Thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân được quy định như sau:

Uỷ ban nhân dân chuẩn bị các kỳ họp của Hội đồng nhân dân phối họp với các ban chuyên trách của Hội đồng nhân dân, xây dựng các đề án trình Hội đồng nhân dân xét duyệt và quyết định Uỷ ban nhân dân tổ chức và chỉ đạo thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp và các quyết định, chỉ thị của cơ quan nhà nước cấp trên Chỉ đạo các ngành các cấp thuộc quyền mình thực hiện kế hoạch và ngân sách, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giữ vững an ninh, trật trự an toàn xã hội, củng cố quốc phòng và cải thiện đời sống nhân dân địa phương, đồng thời đảm bảo sự quản lý thống nhất của nhà nước từ trung ương đến địa phương

Giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân được xét giải quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cùng cấp trừ những vấn đề ghi ở (điều 24) luật này và phải báo cáo trình Hội đồng nhân phê chuẩn trong kỳ họp gần nhất xem xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của nhân dân Uỷ ban nhân dân có quyền ra Quyết định, Chỉ thị theo quy định của pháp luật và kiểm tra những Quyết định, Chỉ thị ấy

Như vậy, theo Luật 1983 thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân nói chung được quy định gần như gắn chặt với thẩm quyền của Hội đồng nhân dân, trong thời gian Hội đồng nhân dân không họp thì Uỷ ban nhân dân sẽ giải quyết những vấn đề thuộc quyền hạn của hội đồng nhân dân và báo cáo lại để Hội đồng nhân dân phê chuẩn trong kỳ họp gần nhất

Trang 22

Tuy nhiên, Luật 1983 chưa phân rõ cụ thể chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân và Hội đồng nhân xã Nhưng đến pháp luật hiện hành thì đã phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa Uỷ ban nhân dân

và Hội đồng nhân xã, cụ thể theo Luật tổ chức Hội đồng nhân và Uỷ ban nhân dân năm 2003 đã quy định Uỷ ban nhân nhân xã có các thẩm quyền sau:

a Trong lĩnh vực kinh tế

Uỷ ban nhân dân xã xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hàng năm của xã mình trình Hội đồng nhân dân xã thông qua, Uỷ ban nhân dân huyện phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch đó Từng bước chuyển dịch cơ cấu sản xuất cho phù hợp với điều kiện tự nhiên của xã mình, chấn chỉnh lại các hoạt động kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn xã

Pháp luật hiện hành quy định cấp xã là một cấp ngân sách do đó chính xã phải thực hiện thu, chi theo đúng quy định của Nhà nước Hằng năm Uỷ ban nhân xã có thẩm quyền:

Lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết và lập quyết toán ngân sách địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và báo cáo

Uỷ ban nhân dân, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp;

Căn cứ vào nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng đơn vị cụ thể

Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương và phối hợp với các cơ quan nhà nước cấp trên trong việc quản lý ngân sách Nhà nước trên địa bàn xã và báo cáo về ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật

Trang 23

Quản lý và sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ đất được để lại phục vụ các nhu cầu công ích ở địa phương; xây dựng và quản lý các công trình công cộng, đường giao thông, trụ sở, trường học, trạm y tế, công trình điện, nước theo quy định của pháp luật;

Huy động sức đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng của xã trên nguyên tắc tự nguyện, quản lý và bảo đảm việc sử dụng các khoản đóng góp này theo đúng quy định của pháp luật

Luật 1983 chưa phân định thẩm quyền này cụ thể cho Uỷ ban nhân dân

xã, nhưng đến pháp luật hiện hành thì thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân xã đã được phân định về thu, chi ngân sách cho Uỷ ban nhân dân xã Nhằm tạo điều kiện cho Uỷ ban nhân dân xã phát huy được vai trò của mình trong cơ chế mới

Thông qua thẩm quyền thu chi ngân sách, Uỷ ban nhân dân xã mới thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động kinh doanh, dịch vụ phát hiện và xử lý các trường hợp làm ăn phi pháp, trốn thuế tạo môi trường bình đẳng cho các thành phần kinh tế cùng phát triển

Thông qua thẩm quyền chi ngân sách Uỷ ban nhân dân xã bố trí lại các khoản chi cần thiết phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn

và đảm bảo các hoạt động thường xuyên của chính quyền xã

b Về nông, lâm, ngư nghiệp, thuỷ lợi và tiểu thủ công nghiệp

Tổ chức, hướng dẫn việc thực hiện các chương trình kế hoạch đề án khuyến thích phát triển về nông, lâm, ngư nghiệp theo quy định của cấp trên

Thực hiện các biện pháp ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ để phát triển sản xuất, chuyển đổi cây trồng vật nuôi theo quy hoạch, kế hoạch chung, phòng trừ các loại dịch bệnh đối với cây trồng vật nuôi

Trang 24

Tổ chức việc xây dựng các công trình thuỷ lợi nhỏ của xã, tu bổ bảo vệ

đê điều, bảo vệ rừng, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ đê điều, bảo vệ rừng và môi trường ở địa phương

Quản lý, kiểm tra, bảo vệ việc sử dụng nguồn nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật

Tổ chức, hướng dẫn việc khai thác và phát triển các ngành nghề truyền thống ở địa phương và tổ chức ứng dụng tiến bộ về khoa học, công nghệ để phát triển các ngành, nghề mới

c Trong lĩnh vực xây dựng, giao thong vận tải

Tổ chức thực hiện việc xây dựng, tu bổ đường giao thông trong xã theo phân cấp, bảo vệ, kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm đường giao thông và các công trình cơ sở hạ tầng khác ở xã theo quy định của pháp luật

Huy động sức đống góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng đường giao thông, cầu, cống trong xã theo quy định của pháp luật Quản lý sắp xếp chợ và các điểm buôn bán dịch vụ ở xã, phối hợp với các cơ quan hữu quan chống buôn lậu, trốn thuế và lưu hàng giả ở địa phương

Quản lý việc xây dựng, cấp giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ ở điển dân

cư nông thôn theo quy định của pháp luật, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về xây dựng và xử lý vi phạm pháp luật theo thẩm quyền do pháp luật quy định

Theo Luật 1983 thì Hội đồng nhân dân còn có thẩm quyền quản lý, bảo đảm phân phối nhân lực theo cơ chế cũ, còn hiện nay Uỷ ban nhân dân xã không thực hiện chức năng này mà chỉ làm nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực lưu thông

Trang 25

d Về văn hoá, giáo dục, xã hội và đời sống

Thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục ở địa phương phối hợp với các trường học tổ chức đăng ký, huy động trẻ em vào lớp 1 đúng độ tuổi và hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục, tổ chức các lớp bổ túc văn hoá, lớp xoá mù chữ cho những người trong độ tuổi

Xây dựng và quản lý kiểm tra hoạt động của nhà trẻ, lớp mẫu giáo phối hợp với các cơ quan hành chính nhà nước cấp trên, quản lý trường tiểu học, trung học cơ sở tổ chức hoạt động văn hoá, thông tin, nghệ thuật, thể dục thể thao hướng dẫn các lễ hội truyền thống, bảo vệ di tích lịch, sử văn hoá và danh lam thắng cảnh ở địa phương

Vận động nhân dân xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá mới, ngăn chặn việc truyền bá văn hoá phẩm đồi trụy, bài trừ mê tín dị đoan, phòng chống các tệ nạn xã hội và các biểu hiện không lành mạnh trong đời sống văn hoá của xã

Tổ chức quản lý các trạm y tế của xã, triển khai các chương trình y tế cơ

sở, dân số, kế hoạch hoá gia đình vận động nhân dân phòng chống các dịch bệnh

Tổ chức thực hiện chính sách xã hội đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, những người và gia đình có công với nước, thực hiện công tác cứu tế

xã hội hoạt động nhân đạo từ thiện ở địa phương và vận động nhân dân giúp đỡ các gia đình khó khăn, người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa

tổ chức các hình thức nuôi dưỡng, chăm sóc các đối tượng được nuôi dưỡng, quản lý, bảo vệ, tu bổ nghĩa trang liệt sĩ quy hoạch, quản lý nghĩa địa ở địa phương

Trang 26

Về thẩm quyền này ở Luật 1983 quy định chung cho Hội đồng nhân dân

xã và Uỷ ban nhân dân xã, chứ không phân biệt riêng từng thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân xã như Luật hiện hành

e Về quốc phòng, an ninh trật tự, an toàn xã hội và thi hành pháp luật

Tổ chức tuyên truyền, giáo dục xây dựng quốc phòng toàn dân, xây dựng làng xã chiến đấu trong khu vực phòng thủ địa phương; quán triệt quân sự phổ thông, tuyên truyền giáo dục cho nhân dân hiểu được nhiệm vụ xây dựng quốc phòng toàn dân, xây dựng làng xã chiến đấu trong khu vực phòng thủ địa phương

Thực hiện công tác nghĩa vụ quân sự và tuyển quân theo kế hoạch; đăng

ký, quản lý quân nhân dự bị động viên; tổ chức thực hiện việc xây dựng, huấn luyện, sử dụng lực lượng dân quân tự vệ ở địa phương Thực hiện nhiệm vụ hậu cần tại chỗ, chính sách hậu phương quân đội và chính sách đối với lực lượng vũ trang nhân dân ở địa phương

Tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm an ninh trật tự an toàn xã hội; xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc vững mạnh; thực hiện biện pháp phòng ngừa và chống tội phạm và các tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác ở địa phương; phát hiện và xử lý các vụ việc vi phạm theo thẩm quyền, giải quyết kịp thời những mâu thuẫn nhỏ trong nhân dân

Quản lý hộ khẩu, người trạm trú quản lý việc đi lại của người nước ngoài tại xã

Tổ chức thực hiện hoặc phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc thi hành án, tổ chức thực hiện các quyết định về xử lý vi phạm hành chính và xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật hiện hành Pháp lệnh xử lý vi phạm

Trang 27

hành chính năm 2002 (được sửa đổi, bổ sung ngày 08-03-2007) quy định thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã (Điều 28)

Căn cứ vào các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã ban hành quyết định chỉ định và tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thực hiện các văn bản đó

Tổ chức thực hiện các biện pháp thi hành Hiến pháp, Luật các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp

Tổ chức tuyên truyền pháp luật ở địa phương, tổ chức lấy ý kiến đóng góp vào các dự thảo văn bản pháp luật khi có yêu cầu

Theo dõi tình hình chấp hành pháp luật trong địa phương Kiểm tra việc thực hiện pháp luật và thực hiện các biện pháp bảo vệ tài sản của nhà nước, các

tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế bảo vệ tính mạng, tự do, danh dự nhân phẩm quyền và các lợi ích hợp pháp của công dân trong xã

Tổ chức tiếp dân và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật Tổ chức hướng dẫn thực hiện của thanh tra nhân dân

h Về quản lý đất đai

Uỷ ban nhân dân xã thực hiện quyền quản lý nhà nước về đất đai trong phạm vi xã, lập hồ sơ về phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính ở xã đưa ra hội đồng nhân dân xã thông qua trình cấp trên xem xét quyết định

Quản lý và sử dụng quỹ đất dành cho nhu cầu cộng ích của xã Uỷ ban nhân dân xã có thể giao cho mỗi hộ gia đình, cá nhân thuê đất để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản Số tiền thu được dùng vào nhu cầu công ích của xã theo quy định của pháp luật

Trang 28

Xác nhận các hộ gia đình cư trú tại địa phương để được giao đất nông nghiệp, đề nghị Uỷ ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình

Quản lý hồ sơ, mốc và bản đồ địa giới hành chính của địa phương

Tổ chức tuyên truyền phổ biến, học tập các chính sách, pháp luật đất đai cho cán bộ và nhân dân trong xã

Kiểm tra việc sử dụng đất đai để phát hiện kịp thời những trường hợp vi phạm pháp luật đất đai, hoà giải các tranh chấp đất đai, đề xuất ý kiến giải quyết các trường hợp vi phạm pháp luật đất đai

Nắm tình hình, quản lý chặt chẽ các trường hợp biến động của đất đai theo quy hoạch, kế hoạch mà cấp có thẩm quyền đã phê duyệt báo cáo với Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân huyện để xin ý kiến chỉ đạo, quyết định

i Về bảo vệ tài nguyên môi trường

Bảo vệ tài nguyên, mội trường là một nhiệm vụ mang tính chiến lược toàn cầu, chứ không chỉ của mỗi một quốc gia Uỷ ban nhân dân xã là cơ quan hành chính ở cơ sở có trách nhiệm chấp hành các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên về mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực bảo vệ tài nguyên, môi trường

Uỷ ban nhân dân xã phải tăng cường giáo dục cho nhân dân để nhân dân hiểu rõ trách nhiệm đối với môi trường sống của mình và chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của nhà nước về môi trường

Uỷ ban nhân dân xã có quyền áp dụng các biện pháp hành chính chính đối với cá nhân, tổ chức cố tình vi phạm pháp luật về tài nguyên, môi trường Căn cứ vào tình hình thực tế về môi trường sinh thái trên địa bàn, Uỷ ban nhân dân xã có trách nhiệm phản ánh với các cơ quan chức năng của nhà nước để cơ

Trang 29

quan này có chính sách, kế hoạch thực hiện các biện pháp bảo vệ, cải tạo môi trường và tài nguyên thiên nhiên chung của cả nước

k Về chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo

Uỷ ban nhân dân xã tổ chức, hướng dẫn và bảo đảm thực hiện các chính sách về dân tộc và tôn giáo mà Nhà nước đã ban hành, bảo đảm các quyền tự do, tín ngưỡng của nhân dân địa phương theo quy định của pháp luật

2 Các mối quan hệ của Uỷ ban nhân dân xã

Hiệu quả hoạt động của Nhà nước nói chung, Uỷ ban nhân dân xã nói riêng là kết quả tổng hợp của cả hệ thống chính trị được vận hành theo cơ chế

“Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân làm chủ” Uỷ ban nhân dân xã là một cấp chính quyền nằm trong tổng thể chung của bộ máy nhà nước Trong quá trình hoạt động, Uỷ ban nhân dân xã có rất nhiều mối quan hệ trong đó có một số quan hệ chủ yếu sau:

a Quan hệ với Hội đồng nhân dân xã

Quan hệ về mặt tổ chức

Điều 123 Hiến pháp 1992 quy định: “Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân ” mối quan hệ giữa

Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân theo pháp luật quy định là mối quan hệ

phức tạp, đan xen của nhiều mối quan hệ vừa quan hệ theo chức năng, vừa quan

hệ theo hai chiều phụ thuộc Quy định như vậy cũng có thể hiểu theo các cách khác nhau Có quan điểm cho rằng vì Hội đồng nhân dân xã bầu ra Uỷ ban nhân dân xã nên Hội đồng nhân dân xã là cơ quan cấp trên của Uỷ ban nhân dân xã Hội đồng nhân dân xã cũng là cơ quan quyền lực nhà nước nên Hội đồng nhân dân xã cũng có quyền lập pháp và lập quy Xem chính quyền xã như là Nhà nước cấp xã Từ cách nhìn nhận này dẫn đến tình trạng cục bộ địa phương, “phép vua

Trang 30

thua lệ làng”, chỉ chú ý đến quyền lợi của nhân dân trong xã mình mà không chú

ý đến lợi ích chung của cả nước, tạo ra sự chia cắt không thống nhất trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, từ đó làm suy yếu quyền lực nhà nước, cản trở việc điều hành quản lý thông suốt của Nhà nước từ trung ương đến cơ sở

Theo chúng tôi quan điểm này là không đúng xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội

và Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan do nhân dân trực tiếp bầu ra đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân Trong đó chỉ có Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Ở nước ta quyền lực nhà nước là tập trung, thống nhất, không phân chia, nhưng có sự phân công, phân cấp rành mạch để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trên các lĩnh vực và ở các địa phương trong cả nước

Hội đồng nhân dân xã bầu ra Uỷ ban nhân dân xã, Nhưng Hội đồng nhân

dân xã Uỷ ban nhân dân xã không phải là hai hệ thống (hệ thống cơ quan quyền

lực nhà nước và hệ thống cơ quan chấp hành và hành chính nhà nước) Hội đồng nhân dân xã và Uỷ ban nhân dân xã là một cơ cấu thống nhất trong hệ thống chính quyền địa phương, nhưng có chức năng khác nhau Cụ thể là Hội đồng nhân dân xã ra nghị quyết và giám sát hoạt động cua Uỷ ban nhân dân xã, thực

hiện chức năng chấp hành và hành chính nhà nước, nhưng đều đặt dưới sự lãnh

đạo thống nhất của Đảng, sự giám sát chặt chẽ của nhân dân

Quan hệ về mặt thẩm quyền

Theo quy định của luật 1983 thì thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân xã được phát sinh từ thẩm quyền của Hội đồng nhân dân xã, nhưng theo pháp luật

Trang 31

hiện hành thì thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân xã được phân định rõ ràng (các thẩm quyền đã nêu ở phần trước)

Như vậy, về thẩm quyền theo pháp luật quy định thì Uỷ ban nhân dân xã

là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân xã nên quan hệ giữa Hội đồng nhân

dân xã và Uỷ ban nhân dân xã là cơ quan hệ phụ thuộc của cơ quan hành chính

nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp

Uỷ ban nhân dân xã chiu sự kiểm tra giám sát của Hội đồng nhân dân xã Khi Hội đồng nhân dân xã ra nghị quyết thì Uỷ ban nhân dân xã có nhiệm vụ căn

cứ vào nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã mà ra quyết định, chỉ thị cụ thể hoá

và bảo đảm cho nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã được thực hiện có hiệu quả

Uỷ ban nhân dân xã phối hợp với Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã chuẩn

bị nội dung các kỳ họp Hội đồng nhân dân xã, giải quyết những vấn đề nảy sinh khi thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã giữa hai kỳ họp của Hội đồng nhân dân xã, điều chỉnh bổ sung những biện pháp nhằm bảo đảm việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã và báo cáo để Hội đồng nhân dân xã xem xét tại kỳ họp gần nhất

Là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, Hội đồng nhân dân xã có thẩm quyền bầu, miễn nhiệm Chủ tịch, Phó chủ tịch và các thành viên khác của

Uỷ ban nhân dân xã, giám sát hoạt động và bãi bỏ những quyết định sai trái của

Uỷ ban nhân dân xã

Uỷ ban nân nhân dân xã vừa là cơ quan chấp hành, vừa là cơ quan hành chính nhà nước nên Uỷ ban nhân dân xã có tính độc lập tương đối với Hội đồng nhân dân xã

Quan hệ về mặt trách nhiệm

Trang 32

Uỷ ban nhân dân xã chịu trách nhiệm chấp hành các nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã và báo cáo hoạt động của mình với Hội đồng nhân dân xã

Điều 126 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân hiện hành quy định: “ Cùng với tập thể Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm về hoạt động của Uỷ ban nhân dân trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và trước cơ quan nhà nước cấp trên”

Uỷ ban nhân dân xã có trách nhiệm cung cấp cho Chủ tịch, Phó chủ tịch

và các đại biểu Hội đồng nhân dân xã tài liệu của Uỷ ban nhân dân xã ban hành

có liên quan đến hoạt động của Hội đồng nhân dân xã

Hàng tháng trong cuộc họp của Uỷ ban nhân dân xã, chủ tịch Hội đồng nhân dân xã được mời tham dự để cùng bàn bạc thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, ngân sách và các nhiệm vụ khác có liên quan đến Hội đồng nhân dân xã

Như vậy, giữa Hội đồng nhân dân xã và Uỷ ban nhân dân xã có mối quan hệ khăng khít về các mặt tổ chức thành lập, thẩm quyền và trách nhiệm được pháp luật hiện hành quy định Điều đó thể hiện sự thống nhất trong tổ chức

và hoạt động của bộ máy nhà nước ta, tuy rằng đây là mối quan hệ phức tạp, nhưng các mối quan hệ này đều thể hiện là Hội đồng nhân dân xã và Uỷ ban nhân dân xã là một thể thống nhất không phân chia, thể hiện sự thống nhất trong

tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta

Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân xã và Uỷ ban nhân dân xã thể hiện quyền lực nhà nước là thống nhất không phân chia, nhưng có sự phân công, phân cấp và bảo đảm tính chủ động cho cơ quan hành chính nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình để góp phần nâng cao hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước

b Quan hệ của Uỷ ban nhân dân xã với cơ quan nhà nước cấp trên

Trang 33

Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân sửa đổi quy định

Uỷ ban nhân dân cấp trên chỉ đạo hoạt động của Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp

Trong tổ chức bộ máy nhà nước thì Uỷ ban nhân dân xã là cấp cuối cùng, cấp tổ chức thực hiện nên mối quan hệ giữa Uỷ ban nhân dân xã và Uỷ ban nhân dân huyện là mối quan hệ trực tuyến, trên dưới, quan hệ phục tùng và mệnh lệnh hành chính nhà nước

Mối quan hệ này thể hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước bảo đảm sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước từ trung ương đến cơ sở chống lại mọi tư tưởng biểu hiện cục bộ địa phương, đặt lợi ích của địa phương lên trên hết Đồng thời, cũng tạo được thế chủ động, sáng tạo cho cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới phát huy được mọi khả năng của mình bảo đảm cho hoạt động quản lý nhà nước ở cơ

sở có hiệu quả cao

Hoạt động quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thường xuyên liên tục, bảo đảm sự vận hành thông suốt của bộ máy nhà nước Quan hệ giữa Uỷ ban nhân dân huyện là quan hệ điều hành, chỉ huy bảo đảm sự phục tùng, chấp hành của cấp dưới đối với cấp trên nhằm bảo đảm quyền lực tập trung thống nhất của Nhà nước

Uỷ ban nhân dân xã phải chấp hành và tổ chức thực hiện các quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân huyện, thực hiện chế độ thỉnh thị, báo cáo và chịu

sự chỉ đạo, kiểm tra của Uỷ ban nhân dân huyện Nhưng đồng thời Uỷ ban nhân dân huyện cũng tôn trọng ý kiến của Uỷ ban nhân dân xã và phải tạo mọi điều kiện để Uỷ ban nhân dân xã phát huy tính chủ động, sáng tạo và thế mạnh của cơ

sở để hoàn thành mọi nhiệm vụ mà cấp trên giao cho

Trang 34

Uỷ ban nhân dân huyện là cấp trên trực tiếp phê chuẩn nhân sự của Uỷ ban nhân dân xã sau khi được Hội đồng nhân dân xã bầu ra và truyền đạt các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên cho Uỷ ban nhân dân xã, đi sâu,

đi sát, chỉ đạo giúp Uỷ ban nhân dân xã giải quyết những khó khăn, ra các quyết định, chỉ thị và trả lời kịp thời những đề xuất, xin ý kiến chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân xã

Trong lĩnh vực ngân sách nhà nước, Uỷ ban nhân dân huyện hướng dẫn

và kiểm tra Uỷ ban nhân dân xã xây dựng và thực hiện kế hoạch ngân sách

Trong lĩnh vực kinh tế, Uỷ ban nhân dân huyện phê chuẩn kế hoạch kinh

tế – xã hội của Uỷ ban nhân dân xã và chỉ đạo các biện pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và phát triển các ngành nghề truyền thống theo quy định của pháp luật

Xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của Uỷ ban nhân dân xã, xây dựng và phát triển các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ cho

xã Hướng dẫn Uỷ ban nhân dân xã sử dụng và quản lý quỹ đất còn để lại có hiệu quả

Uỷ ban nhân dân huyện thực hiện các biện pháp nhằm xây dựng và phát triển các Hợp tác xã, tuyên truyền động viên nhân dân tham gia hợp tác xã, hướng dẫn các xã thực hiện việc chuyển đổi hình thức Hợp tác xã, quản lý và tu

bổ các đường giao thông liên xã

Trong lĩnh vực trật tự an toàn xã hội, Uỷ ban nhân dân huyện hướng dẫn

và kiểm tra Uỷ ban nhân dân xã trong việc xây dựng phong trào quần chúng bảo

vệ an ninh Tổ quốc, giữ gìn bí mật của Nhà nước, đấu tranh phòng và chống tội phạm

Trang 35

Trong lĩnh vực thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, Uỷ ban nhân dân huyện hướng dẫn, kiểm tra Uỷ ban nhân dân xã trong việc thực hiện các chủ truương, biện pháp của nhà nước cấp trên nhằm bảo đảm thực hiện chính sách tôn giáo, thực hiện quyền bình đẳng giữa các tôn giáo trước pháp luật, quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân ở

xã theo quy định của pháp luật

Về thi hành pháp luật, Uỷ ban nhân dân huyện hướng dẫn Uỷ ban nhân dân xã thực hiện Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên

Tổ chức chỉ đạo Uỷ ban nhân dân xã thực hiện các biện pháp bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, của công dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân trong xã Đình chỉ thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ thị không chính đáng, vi phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân xã

Định kỳ kiểm tra các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên trong địa bàn các xã

Đối với các phòng, ban chuyên môn của Uỷ ban nhân dân huyện theo quy định của pháp luật thì các cơ quan này không phải là cơ quan nhà nước cấp trên trực tiếp của Uỷ ban nhân dân xã

Các phòng, ban chuyên môn của Uỷ ban nhân dân huyện có trách nhiệm hướng dẫn nghiệp vụ đối với các ban chuyên môn của Uỷ ban nhân dân xã Nếu trong quá trình hướng dẫn có vấn đề gì không thống nhất thì Uỷ ban nhân dân xã báo cáo để xin ý kiến giải quyết của Uỷ ban nhân dân huyện

Đối với Hội đồng nhân dân huyện theo quy định của pháp luật thì đây là mối quan hệ gián tiếp Hội đồng nhân dân huyện có quyền giải tán Hội đồng nhân dân xã, cơ quan trực tiếp bầu ra Uỷ ban nhân xã và bãi bỏ những quyết

Trang 36

định, chỉ thị sai trái của Uỷ ban nhân huyện cơ quan phê chuẩn nhân sự của Uỷ ban nhân dân xã

Hội đồng nhân dân huyện và Hội đồng nhân dân xã không hình thành theo chiều dọc, nhưng mọi hoạt động của Hội đồng nhân dân huyện đều ảnh hưởng trực tiếp tới tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã Hội đồng nhân dân huyện giám sát các hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã

Uỷ ban nhân dân xã là cấp dưới trực tiếp theo hệ thống trong bộ máy nhà nước chịu sự quản lý của Uỷ ban nhân dân huyện Uỷ ban nhân dân xã có trách nhiệm định kỳ báo cáo công tác của mình cho Uỷ ban nhân dân huyện Xin chỉ thị về các vấn đề quan trọng, đột xuất để Uỷ ban nhân dân huyện có kế hoạch giải quyết Uỷ ban nhân dân xã phải nghiêm chỉnh chấp hành các quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân huyện và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên trong quá trình thực hiện hoạt động chấp hành và hành chính nhà nước của mình

Truyền đạt kịp thời các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên đối với nhân dân trong

Đảng đề ra chủ trương về phát triển kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn xã làm cơ sở định hướng cho hoạt động của chính quyền xã nói chung và Uỷ ban nhân dân xã nói riêng

Trang 37

Đảng bố trí sắp xếp các đảng viên ưu tú của đảng vào cương vị chủ chốt trong chính quyền

Đảng kiểm tra, lảnh đạo việc thực hiện các chủ trương đường lối mà Đảng đề ra

Đảng chăm lo cho nhân dân, củng cố chính quyền, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ xã, bảo đảm cho mỗi hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã theo đúng định hướng

Trong mối quan hệ giữa Uỷ ban nhân dân xã và Đảng uỷ xã, Uỷ ban nhân dân xã có trách nhiệm chủ động báo cáo với Đảng uỷ xã tình hình thực hiện các công tác của Uỷ ban nhân dân xã, xin các chủ trương phương hướng giải quyết công việc lớn của xã Uỷ ban nhân dân xã có trách nhiệm cụ thể hoá và tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm cho các nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống

Với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể

Đây là mối quan hệ bình đẳng và phối hợp công tác Điều 125 – Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003 quy định:

Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân ở địa phương được mời dự các phiên họp của Uỷ ban nhân dân cùng cấp khi bàn các vấn đề có liên quan Uỷ ban nhân dân tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân tổ chức động viên nhân dân tham gia xây dựng củng cố chính quyền nhân dân, tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ và công chức Nhà nước

Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo tình hình mọi mặt của địa phương cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân Uỷ ban nhân

Trang 38

dân và các thành viên Uỷ ban nhân dân có trách nhiệm giải quyết, trả lời kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân

Các tổ chức chính trị – xã hội là chỗ dựa vững chắc của Uỷ ban nhân dân

xã, Uỷ ban nhân dân xã thông qua các tổ chức này để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước của mình Nhất là trong giai đoạn hiện nay một số tổ chức chính trị – xã hội hoạt động tốt được quần chúng tin tưởng và pháp luật cho phép dùng tín chấp để vay vốn ở ngân hàng tạo điều kiện cho các thành viên trong tổ chức có vốn làm ăn như hội phụ nữ, hội người mù, đoàn thanh niên, hội nông dân Nhưng các tổ chức đoàn thể cũng phải gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, tham gia có hiệu quả và trong phạm vi trách nhiệm của mình vào công việc quản lý nhà nước ở địa phương

III KHÁI QUÁT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN

XÃ TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN NAY

Từ xa xưa đất nước ta đã hình thành các điểm dân cư theo làng, xã, buôn, bản, ấp, rạch, các thực thể này rất đa dạng, phong phú, phức tạp, trải qua hàng ngàn năm với nhiều biến cố lịch sử nhưng làng, xã, buôn, bản, ấp, rạch,…vẫn đứng vững và phát triển đi lên Trong quá trình đấu tranh dựng nước

và giữ nước làng, xã, thôn, buôn, bản đã góp phần quan trọng làm nên các chiến công hiển hách, nhất là trong quá trình đấu tranh giành đôc lập cho dân tộc và thống nhất đất nước Sự gắn bó đoàn kết của cộng đồng làng xã, buôn, bản là truyền thống của dân tộc ta đã được hình thành từ lâu đời Mặc dù trong quá trình hình thành và phát triển của làng, xã, buôn, bản có khác nhau, nhưng trong phạm vi đề tài này tác giả chỉ nghiên cứu sự hình thành và phát triển của làng, xã

từ cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay

Trang 39

1/ Trước cách mạng tháng 8 năm 1945

Dưới thời pháp thuộc với chính sách chia để trị, thực dân pháp đã đi sâu vào từng làng, xã Việt Nam để cai trị Chúng thấy được vai trò quan trọng của cấp xã Để thực hiện chính sách cai trị đối với nước ta thực dân pháp tiếp tục duy trì bộ máy nhà nước phong kiến của Triều đình nhà Nguyễn, đồng thời ban hành

Trang 40

một số đạo luật nhằm chặn bớt tính khép kính của làng, xã Việt Nam và buộc chúng ta phải phục tùng bộ máy cai trị của chúng Khi nghiên cứu vấn đề này, phó tiến sĩ Dương Kinh Quốc, viện sử học viết: “ Thực dân Pháp đã biết khai thác và tận dụng những yếu tố hợp lý của nền tổ chức cai trị hành chính của Triều Nguyễn thời kỳ cuối thế kỷ XIX Bằng mọi thủ đoạn chúng đã biến vua, quan thành những công cụ thống trị của chúng Ở từng cấp của hệ thống chính quyền (trung ương tỉnh, đạo, châu, tỉnh, xã), chúng chỉ cần nắm những chóp bu

vừa gọn, vừa hữu hiệu, lại vừa tỏ ra không “Vi phạm Hiệp ước bảo hộ”

Lúc này ở cấp xã Lý tưởng, xã trưởng đã thực sự trở thành công cụ của chính quyền cấp trên, Chính quyền thực dân xâm nhập sâu vào nội bộ của xã

Dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp phong trào đấu tranh nổi lên nhiều nơi mà điển hình là phong trào Xô Viết- Nghệ Tỉnh, hình thức nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên Lúc này các nông hội đỏ ra đời và vươn lên làm chức năng của chính quyền dưới tên là Xã bộ nông, đó là chính quyến Xô - Viết cấp xã Xô - Viết đã ra đời và tồn tại ở phần lớn các xã ở tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh Chức năng của chính quyền Xô - Viết ở cấp xã là tập trung toàn bộ quyền lực vào tay Xô - Viết để chuyên chính với kẻ thù và dân chủ với nhân dân

Đến năm 1941 Mặt Trận Việt Minh được thành lập thì tại căn cứ địa Cao Bằng đã xuất hiện “Xã hoàn toàn”

Đến ngày 16/04/1945 thì Tổng bộ Việt Minh đã ra chỉ thị cụ thể về tổ chức các Uỷ ban dân tộc giải phóng và ở địa phương gọi là chính quyền cách mạng, có nhiệm vụ chăm lo quyền lợi cho nhân dân, huấn luyện quân, bảo vệ trật

tự trị an, phân xử các vụ xích mích trong nhân dân, ngăn ngừa diệt trừ việt gian

Ngày đăng: 13/07/2023, 10:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân thông qua ngày 03-06-1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
Năm: 1983
9. Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân thông qua ngày 30-06-1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
Năm: 1989
10. Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân sử đổi thông qua ngày 21-06-1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
Năm: 1994
11. Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân thông qua ngày 26-11-2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
Năm: 2003
17. Nghị định 114/2003/NĐ-CP ngày 10-10-2003 của Chính phủ quy định về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 114/2003/NĐ-CP
Nhà XB: Chính phủ
Năm: 2003
21. Nghị định số 107/NĐ-CP ngày -01-04-2004 của Chính phủ quy định về số lƣợng Phó chủ tịch và cơ cấu thành viên Uỷ ban nhân dân các cấp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 107/NĐ-CP
Nhà XB: Chính phủ
Năm: 2004
24. Quyết định số 224/QĐ-UBND ngày 14-10-2005 của UBND tỉnh Bình Dương về chế độ tiền lương, phụ cấp và số lượng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 224/QĐ-UBND
Nhà XB: UBND tỉnh Bình Dương
Năm: 2005
25. Quyết định số 235/QĐ-UBND ngày 03-11-2005 của UBND tỉnh Bình Dương về việc điều chỉnh mức phụ cấp đối với cán bộ ấp, khu phố trên địa bàn tỉnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 235/QĐ-UBND
Nhà XB: UBND tỉnh Bình Dương
Năm: 2005
26. Quyết định số 48/QĐ-UBND ngày 31-05-2007 của UBND tỉnh Bìh Dương quy định về chế độ quản lý can bộ, công chức xã, phường, thị trấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 48/QĐ-UBND
Nhà XB: UBND tỉnh Bìh Dương
Năm: 2007
27. Quyết định số 50/QĐ-UBND ngày 31-05-2007 của UNBD tỉnh Bình Dương quy định về tiêu chuẩn chức danh cán bộ chuyên trách và công chức xã, phường, thị trấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 50/QĐ-UBND
Nhà XB: UNBD tỉnh Bình Dương
Năm: 2007
28. Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ trưởng Bộ nội vụ về tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV
Nhà XB: Bộ trưởng Bộ nội vụ
Năm: 2004
30. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 đƣợc UBTVQH thông qua ngày 02-07-2002 và đƣợc sửa đổi năn 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002
Nhà XB: UBTVQH
Năm: 2002
34. Đảng cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầ thứ VI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầ thứ VI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1987
35. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Trung ương 7, khoá VIII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Trung ương 7
36. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chín trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chín trị quốc gia
Năm: 2001
37. Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay. Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
38. V.I.Lênin toàn tập, Tập 4, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: V.I.Lênin toàn tập, Tập 4
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
39. PGS.TS Bùi Xuân Đức (2000), “Một số vấn đề cần hoàn thiện trong tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân các cấp”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 10 (10/2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cần hoàn thiện trong tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân các cấp
Tác giả: PGS.TS Bùi Xuân Đức
Nhà XB: Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Năm: 2000
40. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ƣơng – Văn kiện Đảng (1945- 1954), Hà Nội, 1988, T1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ƣơng – Văn kiện Đảng (1945- 1954)
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1988
41. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w