1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn huyện văn yên tỉnh yên bái

119 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn huyện Văn Yên - tỉnh Yên Bái
Tác giả Nguyễn Văn Hiếu
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Như Bằng
Trường học Trường Đại học Lâm nghiệp
Chuyên ngành Quản lý Kinh tế
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Quản lý Kinh tế
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nền kinh tế hiện nay, công tác QLNN về ATTP là một bộ phận cần thiết không những góp phần vào sự phát triển chung của toàn xã hội mà còn tác động đến các lĩnh vực khác như: việc co

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

NGUYỄN VĂN HIẾU

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM TẠI CÁC CƠ SỞ KINH DOANH DỊCH VỤ ĂN UỐNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĂN YÊN - TỈNH YÊN BÁI

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

MÃ SỐ: 8310110

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN NHƯ BẰNG

Hà Nội; 2021

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế “Quản lý Nhà nước

về an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn huyện Văn Yên - tỉnh Yên Bái” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi,

được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Như Bằng

Các số liệu, sử dụng trong luận văn là trung thực, các giải pháp, đề xuất đưa ra xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu, chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào trước khi trình bày, bảo vệ và công nhận bởi Hội đồng đánh giá luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Quản lý kinh tế, trường Đại học Lâm nghiệp

Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên./

Hà Nội, ngày tháng năm 2021

Người cam đoan

Nguyễn Văn Hiếu

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Như Bằng, Thầy đã tận tình hướng dẫn, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Tôi xin cảm Ban lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức Phòng Y tế huyện Văn Yên, Trung tâm Y tế huyện Văn Yên đã cung cấp cho tôi những thông tin, tư liệu quý giá và những đóng góp xác đáng, hết sức quý báu để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, các đồng nghiệp, bạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, khuyến khích tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập

Do những hạn chế về chủ quan và khách quan, đề tài nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những nhận xét góp ý của quý thầy cô và các độc giả để đề tài được hoàn thiện hơn, sâu sắc hơn và có tính khả thi hơn nữa

Cuối cùng tôi xin gửi lời chúc sức khỏe, hạnh phúc, kính chúc quý Thầy, Cô thành công trong sự nghiệp cao quý

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2021

Tác giả

Nguyễn Văn Hiếu

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM 5

1.1 Cơ sở lý luận quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm 5

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5

1.1.2 Đặc điểm, sự cần thiết của công tác quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm 9

1.1.3 Nội dung công tác quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm 17

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống 28

1.2 Cơ sở thực tiễn quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống 33

1.2.1 Kinh nghiệm ở một số địa phương trong nước 33

1.2.2 Bài học cho huyện Văn Yên trong công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống 36

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37 2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 37

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 37

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 43

2.1.3 Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến công tác quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 51

Trang 5

2.2 Phương pháp nghiên cứu 52

2.2.1 Phương pháp chọn điểm khảo sát và xác định mẫu điều tra 52

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 54

2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 54

2.3 Các chỉ tiêu đánh giá sử dụng trong luận văn 55

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 56

3.1 Bộ máy quản lý và tình hình kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 56

3.1.1 Bộ máy quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 56

3.1.2 Tình hình kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 59

3.2 Thực trạng quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 63

3.2.1 Công tác ban hành các văn bản chỉ đạo thực hiện 63

3.2.2 Thực trạng công tác tổ chức thực hiện văn bản về đảm bảo an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn huyện Văn Yên 65

3.2.3 Kết quả công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn huyện Văn Yên 71

3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn huyện văn Yên, tỉnh Yên Bái 73 3.4 Đánh giá chung về công tác quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm với các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn huyện Văn Yên 85

3.4.1 Những kết quả đạt được 85

3.4.2 Những hạn chế, tồn tại 87

3.4.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 89

Trang 6

3.5 Định hướng và giải pháp tăng cường công tác quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm với các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn huyện Văn Yên 91

3.5.1 Những định hướng chung 91 3.5.2 Giải pháp tăng cường công tác quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 94

KẾT LUẬN 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 43Bảng 2.2 Danh sách đơn vị, đối tượng khảo sát 53Bảng 3.1 Số lượng các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống chính huyện Văn Yên 60Bảng 3.2 Thực trạng cơ sở vật chất của các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống huyện Văn Yên 62Bảng 3.3 Kết quả thông tin, giáo dục, truyền thông an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Văn Yên 2018 - 2020 67Bảng 3.4 Tình hình ngộ độc thực phẩm trên địa bàn huyện Văn Yên 2018 - 2020 69Bảng 3.5 Kết quả giám sát mối nguy ô nhiễm thực phẩm của các cơ sở kinh doanh ăn uống trên địa bàn huyện Văn Yên (2018 - 2020) 69Bảng 3.6 Kết quả cấp giấy chứng nhận ATTP cho cơ sở kinh doanh ăn uống trên địa bàn huyện Văn Yên (2018 - 2020) 70Bảng 3.7 Kết quả kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm của các cơ sở kinh doanh ăn uống trên địa bàn huyện Văn Yên (2018 - 2020) 72Bảng 3.8 Đánh giá của cán bộ quản lý về quy định, chính sách của Nhà nước

về ATTP ở Văn Yên (N=10) 74Bảng 3.9 Đánh giá của cán bộ quản lý về cơ sở vật chất, trang thiết bị quản lý ATTP (N=10) 77Bảng 3.10 Đánh giá của khách hàng về mức độ an toàn thực phẩm của các cơ

sở kinh doanh ăn uống ở huyện Văn Yên (N=90) 80Bảng 3.11 Số liệu về đánh giá kiến thức về an toàn thực phẩm của người kinh doanh ăn uống trên địa bàn huyện Văn Yên 81Bảng 3.12 Đánh giá của cơ sở KD về nhận thức của khách hàng về ATTP (N = 45) 84

Trang 9

DANH MỤC BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ

Bản đồ 2.1 vị trí địa lý huyện Văn Yên 37

Sơ đồ 3.1 Bộ máy quản lý nhà nước ATTP của huyện Văn Yên 59

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Thực phẩm là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho sự phát triển của cơ thể, đảm bảo cho sức khỏe con người nhưng đồng thời cũng có thể là nguồn gây bệnh nếu không đảm bảo vệ sinh Về lâu dài, thực phẩm không những có tác động thường xuyên đối với sức khỏe con người mà còn ảnh hưởng nặng nề nhất, trầm trọng nhất đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống, thậm chí còn ảnh hưởng đến tính mạng con người về lâu dài còn ảnh hưởng tới sự phát triển nòi giống của dân tộc

An toàn thực phẩm (ATTP) giữ vị trí rất quan trọng công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; góp phần làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, duy trì và phát triển nòi giống; tăng cường sức khỏe để lao động học tập, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế - văn hóa - xã hội, thể hiện nếp sống văn minh của

dân tộc, nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân

Những năm gần đây, công tác bảo đảm chất lượng ATTP, phòng chống ngộ độc thực phẩm (NĐTP) và các bệnh truyền qua thực phẩm ngày càng được các tầng lớp trong xã hội quan tâm Sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan quản lý, của các ngành chức năng và ý thức, trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng đã khiến cho công tác này đạt được những tiến bộ rõ rệt Tuy nhiên, trong thời gian qua trên địa bàn cả nước vẫn xảy ra một số vụ NĐTP ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Theo báo cáo của bộ Y

tế tại hội nghị trực tuyến toàn quốc về an toàn thực phẩm năm 2019, sau 2 năm thực hiện Chỉ thị 13, cơ quan chức năng đã khởi tố 28 vụ với 42 bị can

về tội vi phạm các quy định về an toàn thực phẩm và buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm Từ năm 2017-2019 toàn quốc ghi nhận 257 vụ NĐTP với 4.531 người mắc và 29 trường hợp tử vong Tại Hội nghị giao ban toàn quốc về đảm bảo ATTP năm 2020, báo cáo của Bộ Y tế so

Trang 11

với năm 2019, trong năm 2020 số vụ NĐTP 81 (tăng 05 vụ so với năm 2019:

76 vụ), số người mắc 2.040 người (tăng 40 người so với năm 2019: 2000 người), tử vong 21 trường hợp (tăng 13 trường hợp so với năm 2019: 8 trường hợp) Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ngộ độc trên, một trong những nguyên nhân là do kiến thức, thực hành về ATTP của người trực tiếp chế biến không tốt, điều kiện vệ sinh cơ sở không đảm bảo, nguyên liệu thực phẩm không an toàn, phương pháp chế biến, bảo quản không đúng quy định Đây là vấn đề rất quan tâm của chính quyền và ngành Y tế trong công tác bảo đảm ATTP Chính vì vậy, công tác phòng chống NĐTP và các bệnh truyền qua thực phẩm là một trong 5 nhiệm vụ cấp bách được Thủ tướng Chính phủ quy định tại Chỉ thị số 06/2007/CT-TTg Vấn đề ATTP tại các bếp ăn là một trong những nội dung trọng tâm được quy định trong Luật ATTP được Quốc hội khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 7 ngày 17/6/2010, có hiệu lực từ ngày 01/7/2011 Điều đó cho thấy vấn đề quản lý ATTP không còn là vấn đề của các cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm nói riêng mà là vấn đề của cả xã hội, và đã được luật hoá để nâng cao hiệu quả trong quản lý

Huyện Văn Yên là một huyện miền núi, với diện tích tự nhiên 139.159

km2, dân số 130.218 người, toàn huyện có 25 xã, thị trấn Trên địa bàn huyện

có 267 cơ kinh doanh dịch vụ ăn uống thuộc diện quản lý của các ngành Y tế (trong đó có 49/61 trường học có bếp ăn tập thể) Trong những năm qua kinh

tế của huyện Văn yên đang từng bước phát triển, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện và nâng lên rõ rệt Việc tổ chức triển khai thực hiện chính sách, pháp luật về ATTP luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ, chính quyền; sự phối hợp chặt chẽ của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội và sự hưởng ứng của người dân; công tác quản lý nhà nước

về ATTP đã ngày càng được quan tâm chú trọng Tuy nhiên, công tác quản lý ATTP của huyện, cũng như trong tỉnh đang phải chịu tác động bởi nhiều yếu

tố như việc đô thị hoá quá nhanh, các nguồn cung thực phẩm đa dạng, khó

Trang 12

kiểm soát, lực lượng kiểm soát ATTP còn mỏng… làm cho việc quản lý chưa thực sự hiệu quả Bên cạnh đó những yếu kém trong công tác quản lý, thực thi

và thi hành; sự bất cập trong các văn bản quản lý nhà nước; sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước; tồn tại nhiều bất cập trong công tác tuyên truyền, giáo dục về ATTP

Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Quản lý

Nhà nước về an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn huyện huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái, nhằm đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống

trên địa bàn Huyện trong thời gian tới

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn QLNN về ATTP

- Phân tích thực trạng công tác QLNN về ATTP tại các cơ sở kinh

doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác QLNN về ATTP tại các

cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

- Đề xuất giải pháp tăng cường công tác QLNN về ATTP tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác QLNN về ATTP tại các cơ các sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn huyện huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

Trang 13

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác QLNN về ATTP tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

- Phạm vi về không gian

Đề tài nghiên cứu trên phạm vi huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

- Phạm vi về thời gian nghiên cứu

Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn từ năm 2018-2020, số liệu sơ cấp được thu thập từ điều tra trong năm 2021

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn QLNN về ATTP

- Thực trạng công tác QLNN về ATTP tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ

ăn uống trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

- Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác QLNN về ATTP đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn nghiên cứu

- Giải pháp tăng cường công tác QLNN về ATTP tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn được chia thành 3 chương với các nội dung cụ thể như sau:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm

- Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

- Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM 1.1 Cơ sở lý luận quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

(1) Khái niệm thực phẩm

Theo tiêu chuẩn thực phẩm Quốc tế (Codex): “Thực phẩm là tất cả các chất đã hoặc chưa chế biến nhằm sử dụng cho con người bao gồm đồ ăn, uống, nhai, ngậm, hút và các chất được sử dụng để sản xuất, chế biến hoặc xử

lý thực phẩm, nhưng không bao gồm mỹ phẩm và những chất chỉ được dùng như dược phẩm”

Theo tiêu chuẩn trên thì thực phẩm bao gồm cả lương thực, đồ uống, đồ ngậm, nhai (kẹo cao su), và đồ hút (thuốc lá) Thực phẩm là những sản phẩm dùng cho việc ăn uống của con người ở dạng nguyên liệu tươi sống hoặc đã qua chế biến cùng các chất được sử dụng cho sản xuất, chế biến thực phẩm nhằm cung cấp năng lượng, tăng trưởng, phát triển và duy trì sự sống của con người

Thông thường thực phẩm được chia thành 3 nhóm chính:

Thực phẩm truyền thống: Được sử dụng từ khi có loài người đến nay

với thành phẩm chủ yếu là các chất dinh dưỡng chủ yếu: Glucide, Lipid, Protit và vi chất dinh dưỡng: vitamin, chất khoáng

Thực phẩm chức năng: Là các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên hoặc là

thực phẩm trong quá trình chế biến được bổ sung thêm các chất "chức năng" Cũng như thực phẩm thuốc, thực phẩm chức năng nằm ở nơi giao thoa giữa thực phẩm và thuốc có tác dụng hỗ trợ (phục hồi, duy trì hoặc tăng cường) chức năng của các bộ phận trong cơ thể, có hoặc không tác dụng dinh dưỡng, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng và giảm bớt nguy cơ bệnh tật

Trang 15

Thực phẩm tăng cường: Là thực phẩm được bổ sung vitamin, chất

khoáng, chất vi lượng nhằm phòng ngừa, khắc phục sự thiếu hụt các chất đó đối với sức khỏe cộng đồng hay nhóm đối tượng cụ thể trong cộng đồng

Theo Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010, trong đó định nghĩa “Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm.”[1]

(2) Khái niệm an toàn thực phẩm

Theo Điều 2 Luật ATTP năm 2010 thì “An toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người”[1];

Theo đó, thực phẩm an toàn là thực phẩm không bị hư hỏng, biến chất,

bị giảm chất lượng hoặc chất lượng kém; thực phẩm không chứa các tác nhân hóa học, sinh học hoặc vật lý quá giới hạn cho phép; không phải là sản phẩm của động vật bị bệnh có thể gây hại cho người sử dụng

Như vậy, mức độ an toàn của thực phẩm phụ thuộc vào nguyên liệu chế biến, quá trình chế biến, bảo quản Do vậy, việc quản lý chất lượng thực phẩm đòi hỏi công tác quản lý chặt chẽ ở tất cả các khâu từ nguyên liệu, cho đến bảo quản tươi sống, chế biến và bảo quản sau chế biến

(3) Khái niệm chất lượng thực phẩm

Theo Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa (ISO), trong bộ tiêu chuẩn ISO 9001:2015 đưa ra định nghĩa: “Chất lượng là mức độ của tập hợp các đặc tính vốn có, đáp ứng các yêu cầu của nhà sản xuất, nhà quản lý và người tiêu dùng” [2] Định nghĩa này thể hiện sự thống nhất giữa các đặc tính của nội tại khách quan của sản phẩm dịch vụ với đáp ứng các yêu cầu đã đặt ra

“Chất lượng thực phẩm là một phạm trù được hình thành từ nhiều yếu

tố liên quan đến quá trình “sống” của sản phẩm thực phẩm, từ khâu thiết kế đến sản xuất rồi quá trình lưu thông và phân phối sản phẩm Trên thực tế, sản phẩm càng chất lượng thì giá trị sử dụng sẽ càng cao Chất lượng sản phẩm tỉ

lệ thuận với giá trị sản phẩm…” [2]

Trang 16

(4) Khái niệm về kinh doanh dịch vụ ăn uống

Theo Luật ATTP (2010): Cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống: là cơ sở chế biến thức ăn bao gồm cửa hàng, quầy hàng kinh doanh thức ăn ngay, thực phẩm chín, nhà hàng ăn uống, cơ sở chế biến suất ăn sẵn, căng tin và bếp ăn tập thể” [1]

- Kinh doanh dịch vụ ăn uống bao gồm các hoạt động chế biến thức ăn, bán và phục vụ nhu cầu tiêu dùng các thức ăn, đồ uống nhằm thỏa mãn nhu cầu về ăn uống cho khách hàng nhằm mục đích có lãi

Nội dung của kinh doanh dịch vụ ăn uống bao gồm 03 hoạt động:

+ Hoạt động sản xuất vật chất: Hoạt động này chế biến ra các món ăn,

đồ uống do các nhân viên, đầu bếp, cá nhân đảm nhiệm Các nguyên liệu được chế biến, pha chế thành các món ăn, đồ uống, có giá trị mới và giá trị sử dụng mới khác với nguyên liệu ban đầu Vì vậy lao động tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống là lao động sản xuất vật chất

+ Hoạt động lưu thông: Là hoạt động trao đổi, bán các sản phẩm là các món ăn, đồ uống đã được chế biến, vận chuyển những hàng hóa này từ nơi chế biến đến nơi khách hàng tiêu dùng

+ Hoạt động phục vụ: Hoạt động này tạo điều kiện cho khách hàng tiêu thụ sản phẩm thức ăn, đồ uống tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống hoặc mua mang về Hoạt động này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của dịch vụ

ăn uống Khách hàng sẽ cảm nhận sự phục vụ của nhân viên để đánh giá chất lượng dịch vụ Hoạt động này phần lớn sử dụng người lao động trực tiếp Do vậy cần có đội ngũ nhân viên phục vụ có trình độ, thái độ phục vụ chuyên nghiệp, nhiệt tình để mang lại cho khách hàng những cảm nhận tốt nhất, dịch

vụ tốt nhất

(5) Khái niệm quản lý nhà nước

Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý Nhà nước, tùy theo quan điểm và cách tiếp cận khác nhau, cụ thể:

Trang 17

Theo cách tiếp cận thứ nhất: Quản lý là một quá trình, trong đó chủ thể quản lý tổ chức, điều hành, tác động có định hướng, có chủ đích một cách khoa học và nghệ thuật vào khách thể quản lý nhằm đạt được kết quả tối ưu theo mục tiêu đã đề ra thông qua việc sử dụng các phương pháp và công cụ thích hợp

Theo cách tiếp cận thứ hai: Quản lý còn được hiểu là một hệ thống, bao gồm các thành tố: Đầu ra, đầu vào, quá trình biến đổi đầu vào thành đầu ra, môi trường và mục tiêu Các yếu tố trên luôn tác động qua lại lẫn nhau Một mặt, chúng đặt ra các yêu cầu, những vấn đề quản phải giải quyết Mặt khác, chúng ảnh hưởng tới hiệu lực và hiệu quả của quản lý

Quản lý là một hiện tượng khách quan trong mọi hình thái kinh tế - xã hội Nó là sự tất yếu của lao động tập thể và các hoạt động mang tính cộng đồng, xã hội Ngày nay, nhận thức của con người về lợi ích và hiệu quả to lớn của quản lý trong nền kinh tế nói chung, cũng như trong thương mại nói riêng ngày càng cao Quản lý trở thành vấn đề trọng tâm trong cải cách kinh tế của các quốc gia trên thế giới Ở nước ta trong suốt 20 năm đổi mới vừa qua cũng

là thời kỳ tiến hành cải cách kinh tế và thay đổi cơ chế quản lý trên cả tầm vĩ

mô và doanh nghiệp [3]

Dựa vào khái niệm trên, có thể định nghĩa: Quản lý Nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước

Quản lý nhà nước, hiểu theo nghĩa rộng được thực hiện bởi tất cả các

cơ quan nhà nước Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành

và điều hành được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức, được thực hiện trên cơ sở để thi hành pháp luật, được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước (hoặc một số tổ chức xã hội trong trường hợp được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước) Quản lý nhà nước cũng là

Trang 18

sản phẩm của việc phân công lao động nhằm liên kết và phối hợp các đối tượng bị quản lý [3]

Nhà nước sử dụng quyền lực của mình trong điều hành và quản lý kinh doanh thông qua ban hành và sử dụng các công cụ kế hoạch hóa, chính sách, luật pháp và các quy định khác về kinh doanh để tác động tới các chủ thể người bán, người mua trên thị trường Sự tác động của hệ thống quản lý nhà nước về kinh doanh đến đối tượng trao đổi luôn đặt trong mối quan hệ với môi trường cụ thể, xác định trong từng thời kỳ [4]

(6) Khái niệm quản lý nhà nước về ATTP

Quản lý Nhà nước về ATTP là hoạt động có tổ chức của nhà nước thông qua các văn bản pháp quy, các công cụ, chính sách của nhà nước sẽ tác động đến tình hình thực hiện ATTP của đơn vị sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng trên cả nước nhằm định hướng, dẫn dắt các chủ thể này thực hiện tốt các vấn đề về ATTP QLNN về ATTP bao gồm một số các hoạt động chủ yếu: Công tác hoạch định và ban hành các văn bản, chính sách, các chiến lược, kế hoạch có liên quan đến vấn đề ATTP và công tác tổ chức thực thi các văn bản gồm một số công việc cụ thể: Tổ chức giáo dục tuyên truyền, công tác kiểm tra và xử lý vi phạm, công tác phối hợp liên ngành trong quản lý [2]

1.1.2 Đặc điểm, sự cần thiết của công tác quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm

1.1.2.1 Đặc điểm quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm

Quản lý nhà nước về ATTP có một số đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, chủ thể quản lý: QLNN về ATTP được thực hiện bởi chủ thể

là các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền, chủ yếu là các cơ quan quản

Trang 19

cấp, trong đó ở cấp tỉnh có Chi cục ATTP là cơ quan chuyên môn giúp UBND cấp tỉnh, cấp huyện (nếu còn tổ chức Phòng Y tế) thì Phòng Y tế là cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng QLNN về y tế trong phạm vi lãnh thổ Các cơ quan hành pháp thực hiện chức năng chấp hành, điều hành

để quản lý các hoạt động ATTP theo quy định của pháp luật và có quyền hành động vì lợi ích sức khỏe của nhân dân nhưng phải chịu trách nhiệm công vụ khi gây ra thiệt hại bởi quyết định hành động của mình [1, 5, 6]

Bên cạnh đó, các cơ quan có thẩm quyền giám sát (Quốc hội và Hội đồng nhân dân); cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra (Thanh tra Chính phủ, Thanh tra các Bộ, Thanh tra của tỉnh, Thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực ATTP) có vai trò giám sát, kiểm tra thanh tra việc thực hiện pháp luật của các cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực ATTP

Cơ quan thanh tra nhà nước về ATTP cấp Bộ, xây dựng các văn bản hướng dẫn, chuyên môn, nghiệp vụ; phối hợp với tổ chức thanh tra ATTP của các địa phương, nhằm tạo sự thống nhất trong hoạt động kiểm tra, chỉ đạo xử

lý các hiện tượng vi phạm Giám sát, kiểm tra, thanh tra nhà nước về ATTP ở các địa phương để xác minh, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật cũng như cam kết về bảo đảm ATTP, buộc các cơ sở trong khi thực hiện mục tiêu của mình phải tôn trọng và nghiêm túc thực hiện yêu cầu ATTP

Quản lý nhà nước về ATTP là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể có quyền hành pháp Trong hoạt động thực thi công vụ, các cơ quan hành chính nhà nước, công chức, cá nhân hoặc tổ chức xã hội được nhà nước ủy quyền quản lý hành chính đối với một số loại việc nhất định Quản lý nhà nước về ATTP có đối tượng tác động là các quan hệ xã hội phát sinh trên lĩnh vực ATTP, phát sinh trong hoạt động của đời sống dân cư, đời sống pháp luật

và trong nội bộ của các cơ quan hành chính nhà nước

Bằng việc ban hành văn bản, các cơ quan mang tính quyền lực của mình thể hiện ý chí của mình dưới dạng các chủ trương, chính sách pháp luật

Trang 20

nhằm định hướng cho hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật về ATTP; dưới dạng các mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng pháp luật về ATTP vào thực tiễn, trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quá trình quản lý về ATTP

Thứ hai, đối tượng quản lý: Các cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ

chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm; tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến ATTP tại Việt Nam (sau đây gọi chung là tổ chức, cá nhân)

Xét về đối tượng quản lý, do QLNN về ATTP là một bộ phận của QLNN về y tế nên chủ yếu tập trung vào các đối tượng có liên quan đến quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm và người dân Trong nền kinh tế hiện nay, công tác QLNN về ATTP là một bộ phận cần thiết không những góp phần vào sự phát triển chung của toàn xã hội mà còn tác động đến các lĩnh vực khác như: việc con người được bảo đảm về sức khỏe làm nâng cao năng suất lao động từ đó có đóng góp nhất định đến kết quả hoạt động của các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục…, ngoài ra trong công tác QLNN về ATTP còn định hướng các nhà sản xuất, kinh doanh thực phẩm phát triển bền vững trên cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chất lượng, an toàn qua đó góp phần vào phát triển kinh tế của xã hội, hội nhập quốc tế, tạo sản phẩm thương hiệu của Việt Nam trên trường quốc tế

Đối tượng QLNN về ATTP rất đa dạng, hoạt động nghề nghiệp có tính đặc thù Đối tượng QLNN về ATTP ở Việt Nam được quy định tại Nghị định số 15/2018/NĐ - CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ; trong đó

ba Bộ quản lý theo danh mục các sản phẩm/nhóm sản phẩm thực phẩm; hàng hóa thuộc thẩm quyền quản lý

Công tác QLNN về ATTP hiện nay ở nước ta là quản lý theo ngành do nhiều cơ quan thực hiện Việc bảo đảm ATTP là trách nhiệm của toàn xã hội nhưng trên hết vẫn là trách nhiệm quản lý của các cơ quan nhà nước đã được

Trang 21

quy định tại Luật An toàn thực phẩm năm 2010, cụ thể quy định tại Điều 61, Chính phủ thống nhất QLNN về ATTP, Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện QLNN về ATTP, riêng trách nhiệm của các Bộ Công thương,

Bộ NN& PTNT được quy định tại Điều 63 và Điều 64 và trách nhiệm của UBND các cấp được quy định tại Điều 65

Trong QLNN về ATTP thể hiện những đặc điểm: quản lý ATTP phải trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, quy định do cơ quan QLNN có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng; phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sở phân tích các mối nguy đối với ATTP; phải bảo đảm phân công, phân cấp rõ ràng và phối hợp 11 liên ngành; phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và tính trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh

Thứ ba, nội dung quản lý: Xây dựng, ban hành, tuyên truyền, triển khai

hệ thống văn bản đối với các cơ sở chế biến thực phẩm; Cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, xử lý đối với tập thể, cá nhân vi phạm pháp luật

Quản lý nhà nước về ATTP là hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức chặt chẽ Để bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động hành pháp, bộ máy

cơ quan hành chính nhà nước được tổ chức thành một khối thống nhất từ Trung ương tới địa phương, đứng đầu là Chính phủ, đến các Bộ, UBND tỉnh, thành phố; UBND huyện, xã Để bảo đảm sức khỏe cho người dân, bảo đảm

sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả nước, tránh được sự cục bộ phân hóa giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau

Hoạt động QLNN về ATTP luôn gắn với mục tiêu bảo đảm quyền con người, tức là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Hiến chương của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1946 đã ghi nhận ngay:

“Bảo vệ sức khỏe là quyền cơ bản của mọi người, không phân biệt chủng

Trang 22

tộc, tôn giáo, quan điểm chính trị, điều kiện kinh tế hay xã hội” Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về ATTP; bổ sung các quy định về tiêu chí đánh giá chất lượng ATTP, tạo căn cứ rõ ràng, cụ thể cho việc thanh tra, kiểm tra, giám sát có vai trò quan trọng Cần có các chế tài xử lý nghiêm các cơ sở vi phạm pháp luật về ATTP nhằm đảm bảo quyền con người, đảm bảo sức khỏe cho người dân, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hiện nay

Nội dung QLNN về ATTP mang tính hội nhập Trong tình hình hiện nay, việc bảo đảm ATTP không chỉ cho người dân trong nước mà còn phải bảo đảm cho hoạt động hội nhập giao lưu, hội nhập phát triển kinh tế, xã hội,

du lịch, quan hệ quốc tế

Vấn đề bảo đảm ATTP ngày nay không chỉ là vấn đề của mỗi quốc gia

mà cần có sự phối hợp quốc tế, khu vực theo chiến lược thống nhất để triển khai các biện pháp nhằm mục tiêu giảm gánh nặng xã hội và y tế đối với ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm Các biện pháp ATTP phải được các quốc gia cùng cam kết xây dựng và cùng phối hợp thực hiện thông qua các hoạt động hợp tác như: cảnh báo các nguy cơ; phân tích các mối nguy trong suốt chuỗi sản xuất thực phẩm… mới có thể đáp ứng có hiệu quả các thách thức toàn cầu của vấn đề an toàn thực phẩm

1.1.2.2 Sự cần thiết của công tác quản lý Nhà nước về An toàn thực phẩm

Sự cần thiết của QLNN về ATTP được thể hiện qua những nội dung như sau:

Thứ nhất, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh thực phẩm đảm bảo an toàn và có hiệu quả trong phạm vi toàn xã hội

Môi trường cho hoạt động kinh doanh thực phẩm là tập hợp tất cả các yếu tố, các điều kiện tạo nên khung cảnh tồn tại và phát huy hiệu quả của hoạt động kinh doanh thực phẩm nhằm đảm bảo tính an toàn của thực phẩm Nói cách khác là tổng thể các yếu tố và điều kiện khách quan, chủ quan; bên ngoài

Trang 23

và bên trong; các mối hiên hệ mật thiết, ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới hoạt động kinh doanh thực phẩm Một môi trường thuận lợi được coi là bệ phóng, là điểm tựa vững chắc cho hoạt động kinh doanh thực phẩm nhằm đảm bảo ATTP phát huy hiệu lực và hiệu quả Do đó, việc tạo lập môi trường thuận lợi có vai trò quan trọng đối với công tác QLNN về ATTP

- Môi trường pháp lý: Là tổng thể các các quy định có tính chấp pháp lý

về ATTP được nhà nước thiết lập ra, buộc các cá nhân, tập thể và toàn cộng đồng tuân theo nhằm thực hiện mục tiêu ATTP toàn xã hội Môi trường pháp lý

về ATTP càng rõ ràng, chính xác, bình đẳng càng phát huy được hiệu quả của hoạt động đảm bảo ATTP và bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng

- Môi trường văn hoá- xã hội: Môi trường văn hoá được tạo nên bởi các quan niệm về giá trị, nếp sống, phong tục, tập quán, các yếu tố truyền thống

và thói quen Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan hệ xã hội giữ người với người do luật lệ, các thể chế, các cam kết, các quy định của pháp luật, các quy định của các tổ chức, các cơ quan, các vùng miền và các quốc gia Môi trường văn hoá- xã hội ảnh hưởng lớn tới tâm lý, thái độ, hành vi và nhu cầu của con người Do đó, dưới góc độ quản lý toàn xã hội, nhà nước cần tạo lập một môi trường văn hoá- xã hội vừa phù hợp với các yếu tố truyền thống, phong tục tập quán của riêng từng vùng, miền, địa phương vừa đảm bảo tác động tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức, hành vi, nhu cầu về thực phẩm

và ATTP của toàn xã hội

- Môi trường kĩ thuật: Là không gian khoa học công nghệ bao gồm các yếu tố về số lượng, tính chất và trình độ của các ngành liên quan tới ATTP; các yếu tố về nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất, chế biến, cung ứng thực phẩm, dịch vụ thực phẩm và quản lý ATTP

Để thực hiện tốt vai trò tạo lập môi trường thuận lợi cho hoạt động đảm bảo ATTP, dưới góc độ QLNN cần thực hiện tốt các nội dung như: Xây dựng

Trang 24

và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về ATTP; xây dựng một nền khoa học- kĩ thuật và công nghệ tiên tiến, đáp ứng các yêu cầu về ATTP và quản lý ATTP trong sản xuất, kinh doanh; tạo lập một môi trường văn hoá -

xã hội có tác động tích cực tới nhận thức, hành vi và nhu cầu về ATTP toàn cộng đồng

Thứ hai, điều tiết hoạt động đảm bảo ATTP, nâng cao chất lượng thực phẩm, ATTP, đảm bảo sức khỏe cộng đồng

Nhà nước điều tiết hoạt động đảm bảo ATTP cộng đồng là việc nhà nước sử dụng quyền lực và các nguồn lực to lớn tác động lên các hành vi trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhằm buộc các cá nhân, tập thể tuân thủ các quy định pháp luật về ATTP và hướng tới mục tiêu đảm bảo chất lượng thực phẩm, ATTP từ đó góp phần quan trọng đảm bảo sức khỏe cộng đồng

Mặc dù nền kinh tế thị trường có thể tự điều tiết các hành vi của các chủ thể tham gia nền kinh tế theo quy luật khách quan của nó Tuy nhiên, trong lĩnh vực ATTP, có những hành vi nằm ngoài sự điều tiết của thị trường như: Gian lận thương mại; sản xuất, kinh doanh hàng giả, không rõ nguồn gốc xuất xứ, không đảm bảo an toàn đối với sức khoẻ con người; sử dụng tràn lan hoá chất cấm trong sản xuất, chế biến thực phẩm; chất bảo quản trong chế biến Bởi vậy, nhà nước sử dụng quyền lực và các nguồn lực to lớn với vị thế

là chủ thể trung tâm quản lý xã hội về mọi mặt của đời sống nhằm điều tiết, ngăn chặn các hành vi như trên khi thực hiện chức năng quản lý về ATTP là hoàn toàn khách quan và cần thiết

Đồng thời, thông qua việc ban hành và buộc đối tượng quản lý tuân thủ, thực hiện theo các quy định pháp luật về ATTP; quy định, QCVN, TCVN

về chất lượng thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh, nhà nước đóng vai trò khắc phục, bổ sung những hạn chế như đã nêu trên của nền kinh tế thị trường nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu đã đề ra về ATTP

Trang 25

Thứ ba, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực ATTP, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng

Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm luôn cạnh tranh tự do và có những mối liên hệ mật thiết với nhau Lợi ích kinh tế là biểu hiện cụ thể của mối quan hệ đó Mọi thứ mà con người phấn đấu đền liên quan đến lợi ích, mọi đối tác đều hướng tới lợi ích kinh tế riêng Nhưng, lợi ích kinh tế thì có hạn và không thể chia đều cho tất

cả mọi tổ chức, cá nhân, nếu xảy ra sự tranh giành về lợi ích và từ đó phát sinh ra những mâu thuẫn về lợi ích thì lúc đó, bằng quyền lực và các nguồn lực to lớn, nhà nước phải giải quyết những mâu thuẫn lợi ích kinh tế như vậy Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm có những loại mâu thuẫn cơ bản sau đây:

- Mâu thuẫn giữa các cá nhân, tập thể sản xuất, kinh doanh trên thị trường

- Mâu thuẫn giữa cá nhân, tập thể sản xuất, kinh doanh với toàn thể người tiêu dùng trong trường hợp những sản phẩm thực phẩm kém chất lượng, không đảm bảo ATTP, đe doạ sức khoẻ con người

Trong lĩnh vực ATTP, ngoài việc giải quyết những mâu thuẫn lợi ích giữa các chủ thể kinh tế, nhà nước còn đóng vai trò tạo ra một môi trường cạnh tranh tự do lành mạnh giữa các chủ thể trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm Bằng quyền lực chi phối, nhà nước định hướng cho cạnh tranh giữa các

cá nhân, tập thể đi theo đúng quy định của pháp luật; không vi phạm đạo đức

xã hội, đạo đức kinh doanh Ngoài ra, nhà nước tạo môi trường lành mạnh, đảm bảo cho cạnh tranh giữa các chủ thể có tính chất thi đua, thông qua đó mỗi chủ thể nâng cao năng lực của chính mình mà không dùng thủ đoạn triệt

hạ đối thủ cũng như gây hại cho lợi ích chính đáng của người tiêu dùng Thông qua ban hành và thực thi pháp luật, nhà nước nghiêm cấm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và đảm bảo những hành vi này phải chịu những trách nhiệm pháp lý nhất định

Trang 26

Đồng thời, để bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng, nhà nước nghiêm cấm và ngăn chặn các hành vi: Sản xuất, kinh doanh thực phẩm giả, thực phẩm không rõ nguồn gốc xuất xứ, không đảm bảo ATTP; sử dụng tràn lan hoá chất cấm trong sản xuất, chế biến thực phẩm

1.1.3 Nội dung công tác quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm

Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm bao gồm những nội dung như sau:

1.1.3.1 Hoạt động xây dựng, ban hành các quy định pháp luật và các chính sách về an toàn thực phẩm

Việc xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật, các chính sách của nhà nước về an toàn thực phẩm là nội dung quan trọng nhất trong hoạt động quản lý của nhà nước vệ sinh ATTP Các văn bản pháp luật được ban hành sẽ tạo nên cơ sở cho hoạt động của các cơ quan nhà nước từ đó tạo nên hành lang pháp lý cho hoạt động của các cơ quan nhà nước và các chủ thể sản xuất kinh doanh thực phẩm trên cả nước Vệ sinh ATTP là lĩnh vực rất rộng và phức tạp do đó mà các quy định của pháp luật cần phải đảm bảo điều chỉnh hết những quan hệ xã hội trong lĩnh vực vệ sinh ATTP Trước hết là những quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức cá nhân trong đảm bảo an toàn thực phẩm Những tổ chức, cá nhân trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm cần phải được nhà nước quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của mình, khi nhà nước xây dựng được những điều này thì các chủ thể sản xuất kinh doanh thực phẩm mới có thể kinh doanh một cách hợp pháp Đối với các mặt hàng thực phẩm nhà nước cũng phải quy định rõ điều kiện về đảm bảo an toàn, ngoài những

quy định chung thì cũng cần đưa ra các quy định cụ thể cho từng loại thực

phẩm theo đặc thù của từng mặt hàng thực phẩm Trong đó cần ban hành các quy định của pháp luật về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm tươi sống, điều kiện đảm bảo an toàn đối với thực phẩm đã qua chế biến, điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm đối với thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, điều kiện đảm bảo an toàn đối với thực phẩm chức năng, điều kiện đảm bảo

an toàn đối với thực phẩm biến đổi gen, điều kiện đảm bảo an toàn đối với

Trang 27

thực phẩm đã qua chiếu xạ, điều kiện đảm bảo an toàn đối với chất phụ gia thực phẩm và chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, điều kiện đảm bảo an toàn đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm Đối với sản xuất, kinh doanh thực phẩm cũng cần có các quy định của pháp luật quy định về đảm bảo

an toàn trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm theo đó tùy vào lĩnh vực quản lý

mà các bộ ngành ban hành các văn bản quy định về điều kiện đảm bảo an toàn trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm do từng cơ quan phụ trách quản lý Hiện nay các chính sách của nhà nước về vệ sinh ATTP chủ yếu bao gồm vào các nội dung sau: Xây dựng chiến lược, quy hoạch tổng thể về đảm bảo an toàn thực phẩm, quy hoạch vùng sản xuất thực phẩm an toàn theo chuỗi cung cấp thực phẩm Đầu tư phát triển khoa học công nghệ để có thể ứng dụng công nghệ phục vụ việc phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm, xây dựng và nâng cấp các phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế Khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất Xây dựng các chính sách về mở rộng sự hợp tác với quốc tế, đẩy mạnh ký kết các điều ước, thỏa thuận quốc tế về công nhận, thừa nhận lẫn nhau trong lĩnh vực thực phẩm Ban hành các chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho hiệp hội, tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức cá nhân nước

ngoài đầu tư, tham gia vào hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật,

kiểm nghiệm an toàn thực phẩm Đối tượng chủ yếu của chính sách này hướng tới đó là các cơ quan, tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm, nguyên liệu thực phẩm, cũng như nâng cao ý thức cho người tiêu dùng Các quy định, chính sách về an toàn thực phẩm cần đảm bảo các yêu cầu sau:

- Đảm bảo tính thống nhất: Tăng cường quyền quản lý tập trung thống

nhất của trung ương, kết hợp chặt chẽ việc phân công, phân cấp hợp lý và quy định phối hợp chặt chẽ để tăng cường QLNN về ATTP Các văn bản quản lý liên quan đến ATTP không được mâu thuẫn với nhau Cần được rà soát văn bản thường xuyên nhằm chỉnh sửa bổ sung phù hợp với thực tế và thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế đất nước trong các giai đoạn

Trang 28

- Đảm bảo tính minh bạch của các văn bản quản lý: Tất cả văn bản điều

chỉnh về hàng thực phẩm tới các đối tượng liên quan đều được công bố rộng rãi Thông qua các tuyên truyền, vận động thì các văn bản này được truyền tải một cách chi tiết, cụ thể tới các đối tượng chịu trách nhiệm liên quan đến các tổ chức

cá nhân sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng thực phẩm và các cơ quan QLNN

có liên quan Điều này đảm bảo trong quá trình thực hiện sẽ mang tính hiệu quả cao, hạn chế các vi phạm gây thiệt hại cho xã hội

- Đảm bảo tính rõ ràng: Các văn bản quản lý nhà nước về ATTP được

quy định cụ thể, dễ hiểu, không mâu thuẫn với nhau Các điều kiện quy định xuất phát từ thực tế giảm thiểu thiệt hại người và của trong quá trình thực hiện, giữ gìn vệ sinh an toàn thực phẩm

- Đảm bảo tính phổ thông, đại chúng: Các quy định nằm trong các văn

bản quản lý khác nhau nhưng được liên hệ chặt chẽ với nhau, tránh tình trạng tạo ra các khe hở lớn tạo điều kiện cho các hình thức kinh doanh gian lận Các văn bản phải có hệ thống theo chiều dọc hoặc chiều ngang, tránh tình trạng lách luật của các doanh nghiệp, cá nhân Mặt khác, tính đồng bộ của các văn bản sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cá nhân thực hiện đúng

và đủ các quy định về ATTP

1.1.3.2 Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về về an toàn thực phẩm

(1) Thiết lập bộ máy quản lý, phân công trách nhiệm và phối hợp hoạt động của bộ máy quản lý về ATTP

Theo Luật An toàn thực phẩm năm 2010, các cấp tham gia quản lý nhà

nước về ATTP trên thực tế gồm 4 cấp sau:

- Cấp Trung ương (Bộ Y tế, Cục An toàn thực phẩm): Chủ trì xây dựng, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chiến lược quốc gia, quy hoạch tổng thể về an toàn thực phẩm; Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chỉ tiêu và mức giới hạn an toàn đối với sản phẩm thực phẩm; dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm; Yêu cầu các bộ,

Trang 29

ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo định kỳ, đột xuất về công tác quản

lý an toàn thực phẩm; Quy định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; Chủ trì tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về an toàn thực phẩm; Cảnh báo sự

cố ngộ độc thực phẩm; Thanh tra, kiểm tra đột xuất đối với toàn bộ quá trình sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của các bộ khác khi cần thiết

Trách nhiệm trong quản lý ngành:

+ Chủ trì xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch,

kế hoạch và văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý;

+ Quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, nước uống đóng chai, nước khoáng thiên nhiên, thực phẩm chức năng và các thực phẩm khác theo quy định của Chính phủ;

+ Quản lý an toàn thực phẩm đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý;

+ Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý

- Cấp tỉnh (Sở Y tế tỉnh, Sở Công thương, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chi cục An toàn thực phẩm): Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật địa phương; xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch vùng, cơ sở sản xuất thực phẩm an toàn để bảo đảm việc quản lý được thực

Trang 30

hiện trong toàn bộ chuỗi cung cấp thực phẩm Chịu trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm trên địa bàn; quản lý điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, thức ăn đường phố, cơ

sở kinh doanh, dịch vụ ăn uống, an toàn thực phẩm tại các chợ trên địa bàn và các đối tượng theo phân cấp quản lý Báo cáo định kỳ, đột xuất về công tác quản lý an toàn thực phẩm trên địa bàn Bố trí nguồn lực, tổ chức bồi dưỡng nâng cao chất lượng nhân lực cho công tác bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa bàn Tổ chức tuyên truyền, giáo dục, truyền thông, nâng cao nhận thức về

an toàn thực phẩm, ý thức chấp hành pháp luật về quản lý an toàn thực phẩm,

ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm đối với cộng đồng, ý thức của người tiêu dùng thực phẩm Thanh tra, kiểm tra, xử

lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn quản lý

- Cấp huyện: Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Y tế huyện, Trung tâm Y

tế huyện, Đội quản lý thị trường số 4 là cơ quan QLNN về ATTP trên địa bàn huyện Chịu trách nhiệm toàn bộ về công tác đảm bảo ATTP trên địa bàn huyện, trên cơ sở các văn bản hướng dẫn của cấp tỉnh, cấp Trung ương xây dựng các nội dung Kế hoạch dài hạn, kế hoạch đảm bảo ATTP năm, Tết nguyên đán, mùa Lễ, hội, tháng hành động vì ATTP, Tết Trung thu…Các Quyết định kiện toàn Ban Chỉ đạo ATTP (khi có sự thay đổi), các Quyết định kiểm tra đột xuất, định kỳ và các văn bản khác phù hợp với chức năng, nhiệm

vụ và phân cấp quản lý

- Cấp xã: trên cơ sở các văn bản hướng dẫn của cấp huyện, UBND cấp

xã chủ trì xây dựng các văn bản để tổ chức, triển khai thực hiện công tác đảm bảo ATTP tại địa phương, đảm bảo đúng quy định của pháp luật và phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương

Bộ máy hành chính quản lý về ATTP có chức năng: Ban hành các văn bản quy phạm trong quyền hạn, tổ chức thực hiện các quy định trong

hệ thống văn bản quy phạm liên quan; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành

Trang 31

các quy chuẩn, tiêu chuẩn đã ban hành của các nhóm đối tượng trong chuỗi cung cấp thực phẩm cho xã hội; kiểm nghiệm ATTP trong chuỗi cung cấp thực phẩm phục vụ công tác Quản lý nhà nước về ATTP

Khoản 2, Điều 65 Luật ATTP năm 2010 quy định trách nhiệm của UBND cấp huyện “Chịu trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm trên địa bàn; quản lý điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, thức ăn đường phố, cơ sở kinh doanh, dịch vụ ăn uống, an toàn thực phẩm tại các chợ trên địa bàn và các đối tượng theo phân cấp quản lý” Với quy định này trong công tác quản lý ATTP, Phòng Y tế các huyện, thị xã trực thuộc tham mưu giúp UBND huyện, thị xã tổ chức triển khai, cụ thể hóa các chính sách, quy định của pháp luật trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý

Bộ máy QLNN về ATTP cấp huyện có nhiệm vụ như: Ban hành và tổ chức thực hiện các VBQPPL liên quan về ATTP; các quy chuẩn, tiêu chuẩn

về ATTP; Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phòng ngừa, khắc phục ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm; Xây dựng chiến lược, tổ chức hoạt động thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức và pháp luật về ATTP; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về ATTP; Quản lý, cấp chứng về ATTP;

Tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực ATTP; Kiểm tra chuyên ngành, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm pháp luật về ATTP

Để bộ máy QLNN về ATTP có hiệu lực, hiệu quả thì cần có đội ngũ

CBCC có năng lực trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan

(2) Tổ chức công tác tuyên truyền phổ biến về chính sách an toàn thực phẩm, về nhận thức của người dân và các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống

Theo Điều 56 Luật ATTP thì mục đích, yêu cầu của thông tin, giáo dục, truyền thông về ATTP là: 1) Thông tin, giáo dục, truyền thông về ATTP nhằm nâng cao nhận thức về ATTP, thay đổi hành vi, phong tục, tập

Trang 32

quán sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt, ăn uống lạc hậu, gây mất ATTP, góp phần bảo vệ sức khỏe, tính mạng con người; đạo đức kinh doanh, ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh với sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng thực phẩm 2) Việc cung cấp thông tin, giáo dục, truyền thông về ATTP phải bảo đảm các yêu cầu sau: chính xác, kịp thời, rõ ràng, đơn giản, thiết thực; phù hợp với truyền thống, văn hoá, bản sắc dân tộc, tôn giáo, đạo đức xã hội, tín ngưỡng và phong tục tập quán; phù hợp với từng loại đối tượng được tuyên truyền

Nhiệm vụ QLNN về ATTP là các cơ quan nhà nước tuyên truyền cho người sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng hiểu tác hại của thực phẩm bị nhiễm độc; hậu quả của các thực phẩm bị ô nhiễm đối với sức khoẻ và đời sống con người Công tác tuyên truyền pháp luật

về ATTP nhằm hình thành cho các tổ chức, cá nhân liên quan đến sản xuất, kinh doanh thực phẩm có ý thức về đảm bảo ATTP Tuyên truyền về ATTP

là tư tưởng trực tiếp nhất cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật Việc tuyên truyền bảo đảm ATTP phải được tiến hành tại các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh, các trường đại học, hộ gia đình… Hình thức tuyên truyền phải đa dạng, phong phú, phù hợp với từng nhóm đối tượng, cán bộ quản lý ATTP phải có kiến thức về quản lý hành chính và hiểu biết pháp luật về ATTP Cán bộ quản lý sử dụng nhiều hình thức và biện pháp để giáo dục, nâng cao ý thức về ATTP và làm tư vấn pháp luật về ATTP cho nhân dân

Các cơ quan tuyên truyền trên hệ thống truyền thông cơ sở và Trang thông tin điện tử huyện, trên các trang mạng xã hội Facebook, Zalo Những hoạt động tuyên truyền về thực hiện đảm bảo ATTP như: tuyên truyền trong Tháng hành động vì chất lượng ATTP; tuyên truyền Luật ATTP và các văn bản pháp quy của Chính phủ và thành phố về ATTP; tuyên truyền trách nhiệm của các cá nhân đặc biệt là của người sản xuất, kinh doanh trong việc đảm bảo ATTP cho mọi người; tuyên truyền cho người dân các phương pháp

Trang 33

tự bảo vệ bản thân khi sử dụng thực phẩm; giới thiệu rộng rãi các cơ sở cung cấp thực phẩm sạch; kinh nghiệm một số địa phương làm tốt công tác ATTP Việc tuyên truyền thường xuyên, liên tục về ATTP có tác động mạnh đến nhận biết và hành động của những người sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng Công tác tuyên truyền hiệu quả sẽ giảm tối thiểu vi phạm ATTP, nâng cao hiệu quả QLNN về ATTP và đảm bảo sức khoẻ cho người dân

(3) Tổ chức đào tạo và tạo lập các điều kiện để các cá nhân, tổ chức, tham gia sản sản xuất, kinh doanh thực phẩm

Thông qua việc xây dựng môi trường chính sách nhằm làm cho vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của cấp quản lý là cơ sở quản lý đối với ATTP đáp ứng nhu cầu sức khỏe cho người dân Xây dựng và ban hành chính sách, chương trình về ATTP là một trong những công đoạn quan trọng nhất và khó khăn nhất trong quy trình ATTP Trên quan điểm bảo đảm ATTP chính là bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng và sức khỏe nhân dân, là một nhiệm vụ thường xuyên cần tập trung chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, là trách nhiệm

và quyền lợi của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm và của mỗi người dân; tổ chức thực hiện đồng bộ các quy định pháp luật về ATTP, chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, đẩy mạnh việc áp dụng các biện pháp tiên tiến trong quản lý ATTP

(4) Công tác tổ chức thực hiện pháp luật về ATTP

Tổ chức thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quy định của pháp luật trở thành hành vi xử sự của chủ thể quản

lý và đối tượng quản lý Thực hiện pháp luật về ATTP được tiến hành thông qua các quá trình tổ chức thực hiện sau: tuân thủ pháp luật; chấp hành pháp luật; sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật

Quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về ATTP được tiến hành bởi các

cơ quan về QLNN về ATTP, các doanh nghiệp, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân Bên cạnh đó, các cơ quan QLNN về ATTP cũng là tư cách là chủ thể

Trang 34

quản lý, có thẩm quyền áp dụng các quy phạm pháp luật ATTP Đây là dạng hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được tiến hành theo các thủ tục của pháp luật quy định, bên thuộc đối tượng quản lý, có nghĩa vụ phải tuân thủ, thi hành, chấp hành các quy định của pháp luật, đồng thời có quyền sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nước, cộng đồng, gia đình, cá nhân

Nội dung thực hiện pháp luật về ATTP gồm:

- Hoạt động cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP Theo quy định của Luật ATTP năm 2010 quy định các tổ chức, cá nhân khi sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải bảo đảm đủ các điều kiện về cơ sở sản xuất, kinh doanh, trang thiết bị, dụng cụ và điều kiện về con người trên cơ sở đó sẽ được

cơ quan nhà nước cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP

- Xác nhận nội dung quảng cáo thực phẩm Nhà nước cần thực hiện tốt việc quản lý nội dung quảng cáo thực phẩm nhằm bảo đảm cho người tiêu dùng được tiếp cận những nội dung, thông tin về thực phẩm một cách trung thực, đúng bản chất của sản phẩm, từ đó người tiêu dùng có đủ thông tin để lựa chọn những sản phẩm thực phẩm chất lượng và phù hợp với nhu cầu

- Thực hiện tiếp nhận và cấp giấy xác nhận công bố sản phẩm thực phẩm Sản phẩm thực phẩm trước khi đưa vào lưu thông trên thị trường để bảo đảm chất lượng, Cơ quan quản lý buộc người sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải công bố chất lượng sản phẩm Đây là bản cam kết về chất lượng thực phẩm của nhà sản xuất, kinh doanh đối với nhà quản lý và với người tiêu dùng Từ cơ sở đó, nhà sản xuất, kinh doanh sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật những cam kết về chất lượng sản phẩm của mình đồng thời, nhà nước có trách nhiệm tổ chức tiếp nhận và xác nhận nội dung công bố sản phẩm thực phẩm

- Thực hiện kiểm nghiệm thực phẩm, phân tích nguy cơ, ngăn chặn, khắc phục sự cố về ATTP và truy nguyên nguồn gốc thực phẩm không bảo

Trang 35

đảm an toàn Đây là quy định mới trong Luật An toàn thực phẩm năm 2010 là nhằm mục đích bảo đảm các điều kiện trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm,

cơ quan QLNN trong quá trình triển khai nhiệm vụ cần

- Triển khai các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn sự cố về ATTP, đồng thời khắc phục các sự cố về ATTP trong phạm vi địa phương trong

đó, Ngành y tế chịu trách nhiệm chính, kịp thời phát hiện, điều tra, xác định nguyên nhân, cấp cứu và điều trị cho người bị NĐTP và bệnh truyền qua thực phẩm

1.1.3.3 Công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về an toàn thực phẩm

Ngoài việc tổ chức thực hiện quy định pháp luật thì các cơ quan QLNN cần phải thực hiện các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực thi các chính sách và pháp luật của nhà nước đối với ATTP Quy định rõ quyền hạn của các tổ chức, cơ quan thực hiện kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm trên thị trường Thực hiện đúng quy định về thủ tục, thời gian kiểm tra, thanh tra nhằm kịp thời phát hiện sai phạm để xử lý nghiêm các vi phạm

Công tác kiểm tra, thanh tra về ATTP luôn được coi là một hoạt động quan trọng và ưu tiên của công tác quản lý nhà nước về ATTP Hoạt động thanh tra, kiểm tra được tiến hành đồng loạt ở cấp Trung ương và địa phương, tiến hành định kỳ vào các đợt cao điểm như mùa lễ hội, bão lụt hoặc được tiến hành đột xuất khi xảy ra các dịch bệnh, các sự cố đặc biệt về ATTP Với Nhà nước, kiểm tra là nội dung không thể thiếu của công tác quản lý Thông qua kiểm tra, các chủ thể quản lý tự điều chỉnh hành vi của mình theo mục tiêu, nhiệm vụ quản lý Nhà nước, cơ quan quản lý cấp trên có thể thường xuyên xem xét tình hình triển khai, thực hiện nhiệm vụ cơ quan cấp dưới

Việc kiểm tra, kiểm soát thực hiện về ATTP phải có một hệ thống pháp luật đầy đủ và thực hiện được các yêu cầu như: đảm bảo sức khỏe nhân dân

Trang 36

và phát triển giống nòi; cải tiến phù hợp với xu thế thế giới; đáp ứng được yêu cầu hội nhập hiện nay; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ Bộ, ngành tránh chồng chéo hoặc bỏ trống; đảm bảo phát hiện sai phạm, có biện pháp điều chỉnh kiểm soát bền vững các yếu tố nguy cơ ATTP…

Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật về ATTP đòi hỏi phải có

sự phối hợp giữa các cấp, ngành, giữa trung ương và địa phương, nhất là trong lĩnh vực QLNN về ATTP Để công tác kiểm tra của nhà nước đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển thương mại, đòi hỏi bộ máy tổ chức và nhân sự phải phù hợp, kỹ thuật trang bị, thiết bị phục vụ nhiệm vụ kiểm soát phải được tăng cường Đồng thời, phải kết hợp với hệ thống kiểm soát khác của QLNN như thông tin, hoạch định, kiểm soát, thanh tra

1.1.3.4 Xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm

Khi phát hiện vi phạm trong quá trình thực hiện, thì việc xử lý, điều chỉnh chính sách sao cho khắc phục được tình trạng hiện tại, cải tiến công tác thực hiện là một vấn đề đã và đang gặp nhiều khó khăn Tùy theo mức độ vi phạm sẽ có biện pháp xử lý khác nhau

Tại Nghị định 115/2018/NĐ-CP ngày 04/9/2018 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính về An toàn thực phẩm; Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán, hàng giả, hàng cấm và bảo vệ người tiêu dùng và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến công tác quản

lý ATTP của Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp & PTNT, Bộ Công thương; đã quy định rõ các hành vi vi phạm về VSATTP và mức xử phạt như: cảnh cáo hoặc phạt tiền, tịch thu công cụ dụng cụ vi phạm, thu hồi giấy phép kinh doanh Tùy từng trường hợp sẽ áp dụng những mức xử phạt khác nhau và được quy định rất rõ trong các Nghị định này

Dựa trên kết quả thu được trong quá trình thanh tra, kiểm tra, báo cáo kết quả thực hiện, Bộ Y tế sẽ có những điều chỉnh cho phù hợp Các địa

Trang 37

phương khi thực hiện sẽ vận dụng sáng tạo vào điều kiện của từng địa phương mình nhưng vẫn đảm bảo đúng luật định đề ra

Để giảm thiểu những sai phạm về ATTP, nhà nước cần phải có cơ chế đơn giản nhằm tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức thực hiện khi có sai phạm Điều này đặc biệt quan trọng đối với người tiêu dùng (NTD) vì đây là đối tượng gánh chịu trực tiếp các hậu quả của các sai phạm do mất an toàn thực phẩm gây ra Tuy nhiên, NTD lại đang có tâm lý e ngại khi đi khiếu nại

tố cáo Do đó, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng mà các cơ quan QLNN cần nghiêm chỉnh thực hiện nhằm tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, bảo vệ được quyền lợi của người tiêu dùng, tăng thêm niềm tin của người dân vào công tác QLNN đối với việc tiêu dùng các sản phẩm thực phẩm

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống

Thực tiễn cho thấy QLNN về ATTP chịu tác động bởi rất nhiều yếu tố, trong đó có thể kể đến các yếu tố chính sau đây:

(1) Nhóm yếu tố thuộc môi trường chính sách, pháp luật

Chủ trương, chính sách chính là hành lang pháp lý cho việc thực hiện công tác QLNN về ATTP Các chủ trương, chính sách liên quan đến công tác QLNN về ATTP là tổng thể các quan điểm, các nguyên tắc, công cụ và giải pháp mà Nhà nước áp dụng nhằm bảo đảm thực hiện có hiệu quả công tác đảm bảo ATTP trong kinh doanh dịch vụ ăn uống, không để xảy ra ngộ độc thực phẩm, đảm bảo an toàn và tính mạng của nhân dân

Thể chế và luật pháp là tổng hợp các phương pháp và cách thức thực hiện quyền lực nhà nước, bao gồm hệ thống những quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các chủ thể, các hành vi và các quan hệ trong xã hội

Các yếu tố Thể chế, luật pháp có tầm ảnh hưởng tới tất cả các ngành, các lĩnh vực trên một lãnh thổ, các yếu này có thể ảnh hưởng đến bất cứ ngành, hoặc

Trang 38

lĩnh nào Khi thực hiện quản lý trên một đơn vị hành chính, hệ thống quản lý sẽ phải bắt buộc tuân theo các yếu tố thể chế, luật pháp tại khu vực đó

Có nhiều thể chế như: thể chế chính trị, thể chế kinh tế, thể chế hành chính nhà nước, thể chế xã hội , chẳng hạn thể chế chính trị ở nhà nước xã hội chủ nghĩa dựa trên nền tảng pháp chế xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ, tăng cường vai trò của các tổ chức xã hội và sự tham gia tích cực của công dân vào các công việc của nhà nước và xã hội; còn thể chế hành chính nhà nước được hiểu là bao gồm toàn bộ các cơ quan hành chính nhà nước và toàn

bộ hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật tạo khuôn khổ pháp lý cho các

cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng quản lý, điều hành mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời quy định các mối quan hệ giữa các cơ quan và nội bộ bên trong của các cơ quan hành chính nhà nước; còn thể chế kinh tế bao gồm các yếu tố chủ yếu: các đạo luật, luật lệ, quy định, quy tắc, các quy chuẩn, tiêu chuẩn về kinh tế gắn với các chế tài xử lý; các tổ chức kinh tế; cơ chế vận hành nền kinh tế

Như vậy, cũng như các vấn đề khác trong xã hội, công tác QLNN về ATTP chịu sự tác động, ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố thể chế và pháp luật,

nó đòi hỏi công tác QLNN về ATTP phải được thực hiện theo hành lang pháp luật quy định

Do việc quản lý hiện nay còn thiếu các qui định rõ ràng, chưa phù hợp với thực tế đang phát triển Việc xây dựng quy định chỉ mang tính tương đối, không phù hợp với điều kiện, thực tế theo mô hình kinh doanh hoặc đôi khi chỉ mang tính chất cho có Bên cạnh đó vẫn còn thiếu các hướng dẫn cụ thể để có thể quản

lý tốt các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống.Trong thời gian tới cần khắc phục những yếu điểm này để việc quản lý đi vào khuôn khổ và tạo tiền đề cho những nội dung khác

(2) Đặc điểm cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống

Các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống về cơ bản nắm được quyền và nghĩa vụ trong quá trình kinh doanh dịch vụ ăn uống như: đảm bảo an toàn trong quá trình lựa chọn nguồn nguyên liệu, chế biến, bày bán thực phẩm,

Trang 39

người kinh doanh phải đảm bảo vấn đề sức khỏe trong quá trình kinh doanh, ghi chép đầu đủ sổ sách theo quy định, mặc dù nắm rõ các quy định nhưng ý thức chấp hành tuân thủ pháp luật của các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống vẫn chưa được tốt

Ngoài các yếu tố về trình độ nhận thức, ý thức tuân thủ pháp luật về an toàn thực phẩm của các chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống còn phải kể đến yếu tố về cơ sở vật chất, trang thiết bị như: nơi kinh doanh phải sạch, cách biệt nguồn ô nhiễm (cống rãnh, rác thải, công trình vệ sinh, nơi bày bán gia súc, gia cầm); bày bán/chế biến thức ăn trên bàn hoặc giá cao cách mặt đất 60cm; thức ăn được che đậy, bảo quản hợp vệ sinh, chống được ruồi, bụi bẩn, mưa nắng và các loài côn trùng, động vật khác; không để lẫn giữa những thực phẩm sống và thực phẩm chín; có dụng cụ xúc, gắp thức ăn sạch sẽ; bảo đảm

có đủ nước và nước đá sạch phù hợp với quy định; có đủ dụng cụ, túi đựng chất thải, rác thải kín và hợp vệ sinh

(3) Nhóm yếu tố thuộc người dân (khách hàng)

An toàn thực phẩm đã trở thành một vấn đề quan tâm hàng đầu của người tiêu dùng, người sản xuất, chế biến, người quản lý các cấp chính quyền

An toàn thực phẩm không chỉ góp vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng mà còn là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Văn Yên Những nhận thức chưa đúng đắn của người tiêu dùng về ATTP đang là một trong những nguyên nhân làm gia tăng thiệt hại về người và tài sản của chính mình cũng như của toàn xã hội

Nguyên nhân đầu tiên là do tư tưởng muốn mua đồ ăn chế biến sẵn với tiêu chí ngon, bổ, rẻ, tại các xe đẩy thức ăn đường phố như: thịt nướng, vịt quay… hay những quán ăn, đồ nướng vỉa hè, không đảm bảo vệ sinh, nguyên liệu nhập không rõ nguồn gốc xuất xứ để chế biến thành món ăn Người tiêu dùng chưa nhận thức được mối nguy hiểm bởi thói quen tiêu dùng trên Những loại thực phẩm được chế biến sẵn từ những loại nguyên liệu không rõ nguồn gốc xuất xứ, sử dụng các loại phụ gia thực phẩm tẩm ướp chưa qua kiểm duyệt có thể mang lại một mối nguy hại lớn đến sức khỏe người tiêu

Trang 40

dùng, đôi khi trong số những thực phẩm đó còn mang mầm bệnh ảnh hưởng đến giống nòi

Nguyên nhân thứ hai là do tâm lý thích sử dụng sản phẩm tươi sống

Có một đặc điểm dễ dàng nhận thấy về các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn huyện thường hay có món gỏi cá, gỏi tôm, thịt lợn, dê tái… Những thực phẩm sống này tiềm ẩn rất nhiều mối nguy hại cho sức khỏe như mầm bệnh giun sán, ký sinh trùng, vi khuẩn Bên cạnh đó người tiêu dùng có

xu hướng tiêu dùng các sản phẩm tươi, sống, đây cũng chính là nguyên nhân cho các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống sử dụng nhiều chất bảo quản hơn đối với sản phẩm của mình

Nguyên nhân thứ ba do nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu ăn uống tại các quán ăn, nhà hàng tăng lên Điều này khiến cho việc các quán ăn thi nhau mọc lên do thị yếu của người tiêu dùng gây nhiều khó khăn cho các cơ quan QLNN trên địa bàn huyện, nhiều quán ăn chưa thực hiện ký cam kết đảm bảo ATTP, nhiều

cơ sở vẫn ngang nhiên kinh doanh khi chưa được cấp giấy chứng nhận cơ sở

đủ điều kiện ATTP

Nguyên nhân cuối cùng là việc nhận thức về ATTP của người dân địa phương chưa cao Họ không thấy được mức độ nguy hiểm của các loại thực phẩm chế biến sẵn bày bán trong các chợ, vỉa hè… không đủ tiêu chuẩn vệ sinh

và vẫn tiêu dùng các loại thực phẩm mất vệ sinh do giá rẻ, tạo điều kiện cho các

cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống tăng lên, gây ra mối nguy hiểm lớn đến sức khỏe của người tiêu dùng Điều này cũng cho thấy việc các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống không đủ tiêu chuẩn vệ sinh phát triển ngày càng nhiều là do vẫn có người tiêu dùng mua các loại thực phẩm này Đây cũng là một thách thức lớn cho công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm

(4) Nhóm yếu tố thuộc điều kiện kinh tế - xã hội địa phương

Đây là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng đến vấn đề bảo đảm ATTP Truyền thống sản xuất, kinh doanh, sử dụng thực phẩm từ quá khứ cũng ảnh hưởng ít nhiều đến công tác quản lý về ATTP như việc

Ngày đăng: 13/07/2023, 09:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Y Tế (2012), TT 15/2012/ TT-BYT ngày 12/9/2012, Quy định điều kiện chung đảm bảo ATTP đối với cơ sở sản xuất- kinh doanh thực phẩm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định điều kiện chung đảm bảo ATTP đối với cơ sở sản xuất- kinh doanh thực phẩm
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2012
4. Bộ Y Tế (2013), TT 24/2013/ TT-BYT ngày 14/8/2013, ban hành “Quy định mức giới hạn tối đa dư lượng thuốc thú y trong thực phẩm” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định mức giới hạn tối đa dư lượng thuốc thú y trong thực phẩm
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2013
5. Bộ Y Tế (2014), TT 43/2014/ TT-BYT ngày 24/11/2014, Quy định quản lý ATTP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định quản lý ATTP
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2014
6. Chính phủ (2018), Nghị định số 115/2018/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 115/2018/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2018
10. Đỗ Văn Dũng (2018). Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Sapa, tỉnh Lào Cai, Luận văn thạc sỹ trường… Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Sapa, tỉnh Lào Cai
Tác giả: Đỗ Văn Dũng
Năm: 2018
11. Lê Thị Như Hoa (2019). Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh phúc. Luận văn thạc sỹ trường… Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh phúc
Tác giả: Lê Thị Như Hoa
Năm: 2019
12. Nguyễn Công Khẩn (2009), Đảm bảo ATTP ở Việt Nam- các thách thức và triển vọng, Kỷ yếu hội thảo khoa học ATTP, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo ATTP ở Việt Nam- các thách thức và triển vọng
Tác giả: Nguyễn Công Khẩn
Nhà XB: Kỷ yếu hội thảo khoa học ATTP
Năm: 2009
14. Quốc hội (2011): Luật số 55/2010/QH12, Luật An toàn thực phẩm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 55/2010/QH12, Luật An toàn thực phẩm
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2011
15. Quốc hội (2012): Luật số 15/2012/QH13, Luật Xử lý vi phạm hành chính 16. UBND tỉnh Yên Bái (2021), Quyết định số 21/2021/QĐ-UBND ngày Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Xử lý vi phạm hành chính
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2012
1. Báo cáo An toàn thực phẩm của Phòng Y tế, Trung tâm Y tế huyện năm 2018, 2019 và năm 2020 Khác
2. Báo cáo các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội chủ yếu của huyện Văn Yên các năm 2018, 2019 và năm 2020 Khác
7. Chính phủ (2018), Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm Khác
13. Niên giám thống kê của huyện Văn Yên các năm 2018, 2019, 2020 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w