Nội dung quyền bình đẳng của các dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênnin. Liên hệ thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nayNội dung quyền bình đẳng của các dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênnin. Liên hệ thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nayNội dung quyền bình đẳng của các dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênnin. Liên hệ thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nayNội dung quyền bình đẳng của các dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênnin. Liên hệ thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nayNội dung quyền bình đẳng của các dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênnin. Liên hệ thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nayNội dung quyền bình đẳng của các dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênnin. Liên hệ thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nayNội dung quyền bình đẳng của các dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênnin. Liên hệ thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nayNội dung quyền bình đẳng của các dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênnin. Liên hệ thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nayNội dung quyền bình đẳng của các dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênnin. Liên hệ thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nayNội dung quyền bình đẳng của các dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênnin. Liên hệ thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nayNội dung quyền bình đẳng của các dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênnin. Liên hệ thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nayNội dung quyền bình đẳng của các dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênnin. Liên hệ thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nayNội dung quyền bình đẳng của các dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênnin. Liên hệ thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nayNội dung quyền bình đẳng của các dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênnin. Liên hệ thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nayNội dung quyền bình đẳng của các dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênnin. Liên hệ thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nayNội dung quyền bình đẳng của các dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênnin. Liên hệ thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nayNội dung quyền bình đẳng của các dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênnin. Liên hệ thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nayNội dung quyền bình đẳng của các dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênnin. Liên hệ thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nayNội dung quyền bình đẳng của các dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênnin. Liên hệ thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
……… 3
PHẦN NỘI DUNG I KHÁI NIỆM BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC 4
II NỘI DUNG QUYỀN BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC THEO QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN 1 Nội dung và ý nghĩa 4
2 Quan điểm V.I.Lênin về bình đẳng giữa các dân tộc trong một 8
Quốc gia đa dân tộc 3 Dân tộc và xu hướng phát triển khách quan của dân tộc 11
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin 4 Đối chiếu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin với một số 13
Đặc điểm của nước ta hiện nay III Sự vận dụng của Việt Nam và những vấn đề cần tiếp tục, bổ sung về thực hiện bình đẳng dân tộc trong bối cảnh mới hiện nay ………14
1 Đặc trưng của dân tộc Việt Nam 14
2.Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước hiệnnay 15
3.Thực trạng 15
4.Giải pháp……… 15
5.Vận dụng của Đảng và Nhà nước theo chủ nghĩa quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin 16
6 Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về dân tộc và giải quyết quan hệ dân tộc 19
7 Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước Việt Nam 21
KẾT LUẬN 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
CAM ĐOAN SINH VIÊN 24
Trang 3xã hội; do sự thống trị, kích động chia rẽ các thế lực phản động
Với tình hình thế giới hiện nay, yếu tố dân tộc trở thành vấn đề cốt lõi trong quan hệquốc tế, nhất là khi toàn cầu hóa trở thành xu thế tất yếu trên thế giới Vấn đề dân tộc vàgiải quyết vấn đề dân tộc là việc hết sức nhạy cảm của tất cả các dân tộc và của các quốcgia trong thời đại hiện nay
Dựa trên cơ sở tư tưởng của học thuyết Mác – Lenin về vấn đề bình đẳng dân tộc emquyết định chọn đè tài: “ Phân tích nội dung quyền bình đẳng của dân tộc theo quan điểmchủ nghĩa Mác – Lenin Liên hệ thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay” Qua sự tìmhiểu về đề tài này và dựa trên kiến thức mà em đã được học trên lớp, em xin phép viết rabài tiêủ luận đẻ nói lên những hiểu biết của bản thân về quan điểm chủ nghĩa Mác –Lenin về dân tộc, từ đó vận dụng vài thực tiễn việc thực hiện chính sách bình đẳng dântộc ở Việt Nam hiện nay, đẻ đưa ra những giải pháp phù hợp nhất
Trang 4NỘI DUNG
I KHÁI NIỆM BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC
Bình đẳng dân tộc là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong cương lĩnh dân tộc.V.I.Lênin đã đưa ra nhiều nội dung về bình đẳng dân tộc trong một quốc gia đa tộc ngườinhư: bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, bình đẳng trên tất cả mọi lĩnh vực và phải đượcbảo đảm bằng pháp luật; xây dựng chế độ tự trị khu vực dân tộc ở những nơi có điều kiện
và ưu tiên đối với người dân tộc thiểu số Bài viết nêu những tư tưởng có giá trị bềnvững, đồng thời chỉ ra những nội dung cần bổ sung, phát triển trong quan điểm củaV.I.Lênin về bình đẳng dân tộc nhằm phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam hiện nay
II NỘI DUNG QUYỀN BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC THEO QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC – LENIN
1 Nội dung và ý nghĩa
1.1 Xét về nghĩa thứ nhất, dân tộc hay quốc gia dân tộc là cộng đồng người ổn định, bền
vững hợp thành nhân dân của một quốc gia, là cộng đồng chính trị - xã hội có những đặctrưng cơ bản sau đây:
- Có chung phương thức sinh hoạt kinh tế là đặc trưng quan trọng nhất và là cơ sở đểliên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc
- Có lãnh thổ chung ổn định không bị chia cắt là địa bàn sinh tồn, phát triển của cộngđồng dân tộc
- Có sự quản lý của một nhà nước, nhà nước – dân tộc độc lập
- Có ngôn ngữ chung của quốc gia là công cụ giao tiếp trong cộng đồng xã hội (bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết)
- Có nét tâm lý biểu hiện qua nền văn hóa dân tộc và tạo nên bản sắc riêng
Ví dụ: Các quốc gia dân tộc như Việt Nam, Nga, Mỹ, Ba Lan,
Trang 5Xét về nghĩa thứ hai, dân tộc là một tộc người, là cộng đồng người cụ thể có những mối liên hệ chặt chẽ, bền vững, được hình thành lâu dài trong lịch sử và có ba đặc trưng
cơ bản như sau:
- Cộng đồng về ngôn ngữ (bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết; hoặc chỉ riêng ngôn ngữ nói) Đây là tiêu chí cơ bản để phân biệt các tộc người khác nhau và là vấn đề luôn được các dân tộc tôn trọng và gìn giữ
- Cộng đồng về văn hóa Văn hóa bao gồm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể ở mỗi tộc người phản ánh truyền thống, lối sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng , tôn giáocủa tộc người đó Trong sinh hoạt văn hóa có những nét đặc thù so với những cộng đồngkhác Đặc biệt, lịch sử phát triển của các tộc người gắn liền với truyền thống văn hóa của họ
- Ý thức tự giác tộc người là tiêu chí quan trọng nhất để phân định một tộc người và có
vị trí quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người Đặc trưng nổi bật là các tộc người tự ý thức về nguồn gốc, tộc danhcủa dân tộc mình; còn là ý thức tự khẳng định sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người dù cho có những tác động làm thay đổi địabàn cư trú, lãnhthổ, hay tác đô xng ảnh hưởng của giao lưu kinh tế, văn hóa…Ví dụ: Việt Nam ta có 54 dân tộc anh em như dân tộc Kinh, Tày, Nùng,Chăm, Hmông, Pa cô, Như vậy, xét về nghĩa thứ nhất, dân tộc là toàn bộ nhân dân một nước,là quốc gia dân tộc, còn theo nghĩa thứ hai thì dân tộc là bộ phận của một quốc gia, là cộng đồng xã hội theo nghĩa là các tộc người Thực chất, hai vấnđề này tuy khác nhau nhưng lại gắn bó rất mật thiết với nhau và không thể tách rời nhau
1.2 Nội dung quyền bình đẳng dân tộc trong Mác - Lênin
Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc trong mối quan hệ giữa các dân tộc Cácdân tộc hoàn toàn bình đẳng có nghĩa là: các dân tộc lớn hay nhỏ không phân biệt trình
độ cao hay thấp đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau, không một dân tộc nào đượcgiữ đặc quyền đặc lợi và đi áp bức dân tộc khác
Trang 6Trong một quốc gia nhiều dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc phải đượcpháp luật bảo vệ ngang nhau; khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, vănhóa giữa các dân tộc lịch sử để lại.
Trên phạm vu giữa các quốc gia – dân tộc, đấu tranh cho sự bình đẳng giữa các dântộc gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, gắn liền với cuộcđấu tranh xây dựng một trật tự kinh tế thế giới mới, chống sự áp bức bóc lột của các nước
tư bản phát triển với các nước chậm phát triển về kinh tế
Thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở thực hiện quyền dân tộc tựquyết và xây dựng mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc
* Các quyền bình đẳng giữa các dân tộc là:
Bình đẳng về chính trị:
- Thể hiện thông qua quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội
- Có đại biểu của mình trong cơ quan quyền lực nhà nước
- Việc đảm bảo tỉ lệ thích hợp người dân tộc thiểu số trong cơ quan quyền lực nhànước ở trung ương và địa phương chính là đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dân tộc vềchính trị
Bình đẳng về kinh tế:
- Thể hiện ở chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước
- Quan tâm đầu tư phát triển kinh tế ở tất cả các vùng, ưu tiên vùng sâu vùng xa,vùng đồng bào dân tộc thiểu số
- Ban hành các chương trình phát triển kinh tế xã hội đối với các xã đặc biệt khókhăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Bình đẳng về văn hóa, giáo dục:
- Cùng với tiếng phổ thông, các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của mình
- Phong tục tập quán, truyền thóng văn hóa tốt đẹp của từng dân tộc được khôiphục, gìn giữ, phát huy
Trang 7- Bình đẳng trong việc được hưởng thụ nền giáo dục, bình đẳng về cơ hội học tập.
- Đầu tư hệ thống trường lớp ở vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vàmiền núi
- Chính sách học bổng, ưu tiên con em đòng bào dân tộc thiểu số vào học cao đẳng,đại học
1.3 Ý nghĩa của quyền bình đẳng dân tộc
- Các dân tộc đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau trong quan hệ xã hội cũng như quan hệ quốc tế Không có đặc quyền, đặc lợi của dân tộc này đối với dân tộc khác
- Trong một quốc gia nhiều dân tộc sự bình đẳng toàn diện về chính trị, kinh
tế, văn hoá, xã hội giữa các dân tộc phải được pháp luật bảo vệ và phải được thể hiện sinh động trong thực tế
- Trên phạm vi quốc tế, bình đẳng dân tộc trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi trước hết phải thủ tiêu tình trạng giai cấp này áp bức giai cấp khác để trên cơ sở đó xoá bỏ tình trạng dân tộc này nô dịch dân tộc khác, tạo điều kiện để các dân tộc giúp
đỡ nhau phát triển theo con đường tiến bộ
- Chống những biểu hiện sai trái với quyền bình đẳng dân tộc, (chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc lớn, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và chủ nghĩa phát xít mới; phấn đấu xây dựng một trật tự kinh tế thế giới mới, chống áp bức bóc lột nặng nề của các nước tư bản phát triển với các nước kém phát triển)
- Bình đẳng dân tộc là quyền thiêng liêng của dân tộc và là mục tiêu phấn đấu của các dân tộc trong sự nghiệp giải phóng Nó là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết và xây dựng mối quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các dân tộc
2 Quan điểm V.I.Lênin về bình đẳng giữa các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc
V.I.Lênin luôn tuyến bố và khẳng định dứt khoát việc bảo đảm nguyên tắc bìnhđẳng giữa các dân tộc trong một quốc gia trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Bình đẳng dântộc là bình đẳng về mặt quyền lợi và nghĩa vụ, trong đó, V.I.Lênin nhấn mạnh việc bảođảm bình đẳng về quyền lợi cho các dân tộc, đặc biệt là những dân tộc ít người: “Chúng
Trang 8ta đòi hỏi một sự bình đẳng tuyệt đối về mặt quyền lợi cho tất cả các dân tộc trong quốcgia và sự bảo vệ vô điều kiện các quyền lợi của mọi dân tộc ít người” Như vậy, bìnhđẳng dân tộc gắn với việc bảo vệ quyền của người dân tộc thiểu số trong một quốc gia.
Để bảo đảm sự bình đẳng về quyền lợi cho các dân tộc, đặc biệt là dân tộc ít người,V.I.Lênin phản đối bất cứ một đặc quyền dành cho một dân tộc nào: “Không có một đặcquyền nào cho bất cứ dân tộc nào, mà là quyền bình đẳng hoàn toàn của các dân tộc”;
“Tất cả các dân tộc trong nước đều tuyệt đối bình đẳng và mọi đặc quyền của bất cứ dântộc nào hoặc ngôn ngữ nào đều bị coi là không thể dung thứ và trái với hiến pháp” Vềnội dung của bình đẳng giữa các dân tộc, theo V.I.Lênin phải bảo đảm trên tất cả các lĩnhvực của đời sống xã hội: “Một Nhà nước dân chủ không thể dung thứ một tình trạng ápbức, kiềm chế của một dân tộc này đối với bất cứ dân tộc nào khác trong bất cứ lĩnh vựcnào, trong bất cứ ngành hoạt động xã hội nào” Bình đẳng dân tộc gắn với việc bảo đảmquyền lợi của dân tộc thiểu số phải được thể hiện trong mọi lĩnh vực Bình đẳng trongkinh tế là bảo đảm quyền lợi, lợi ích kinh tế, quyền được phân phối công bằng tư liệu sảnxuất cũng như thành quả của sự phát triển cho tất cả các dân tộc Bình đẳng trong chínhtrị là bảo đảm quyền của các dân tộc trong tham gia vào đời sống chính trị, hệ thốngchính trị của đất nước Bình đẳng trong văn hóa, xã hội là bảo đảm quyền hưởng cácthành quả phát triển văn hóa, xã hội của đất nước, quyền được bảo vệ bản sắc văn hóariêng của mỗi dân tộc Trong khi khẳng định sự toàn diện, đầy đủ trong thực hiện bìnhđẳng giữa các dân tộc, V.I.Lênin nhấn mạnh đến việc thực hiện bình đẳng dân tộc tronglĩnh vực văn hóa: “Một Nhà nước dân chủ phải thừa nhận vô điều kiện quyền tự do hoàntoàn của các ngôn ngữ dân tộc khác nhau và gạt bỏ bất cứ đặc quyền nào của một trongnhững ngôn ngữ đó” Văn hóa của một dân tộc tộc người thể hiện ở phong tục, tập quán,tín ngưỡng và các sinh hoạt hằng ngày, trong đó thể hiện rõ nét ở ngôn ngữ riêng của tộcngười đó Ngôn ngữ là một thành tố của văn hóa, đồng thời là phương tiện truyền tải cácgiá trị, sinh hoạt văn hóa của tộc người đó V.I.Lênin khẳng định quyền tự do sử dụngngôn ngữ riêng của các tộc người chính là quyền bình đẳng về văn hóa giữa các dân tộc.Quyền này thể hiện ở chỗ không có ngôn ngữ quốc gia nào có tính chất bắt buộc, các dântộc được học ngôn ngữ của mình trong trường học, được sử dụng ngôn ngữ của mình
Trang 9trong mọi trường hợp ví dụ như tòa án “Đảm bảo sự bình đẳng hoàn toàn giữa các dântộc và không có một ngôn ngữ quốc gia có tính chất bắt buộc, đảm bảo cho dân cư có cáctrường học dạy bằng tất cả các ngôn ngữ địa phương” Theo V.I.Lênin, bình đẳng dân tộc
về mặt văn hóa không chỉ là việc các dân tộc được tự do sử dụng ngôn ngữ của mình,được bảo vệ bản sắc văn hóa riêng của mình mà còn là được hưởng công bằng các giá trị,thành tựu phát triển văn hóa chung của đất nước: “Tỷ lệ kinh phí chi tiêu cho nhu cầu vănhóa - giáo dục của các dân tộc ít người của một địa phương không thể thấp hơn tỷ lệ màdân tộc ít người đó chiếm so với toàn bộ dân số của địa phương đó”
Theo V.I.Lênin, để bảo đảm sự bình đẳng giữa các dân tộc, trước hết phải bằng việcban hành và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia, trong đó ghi nhận đầy đủ sự bìnhđẳng trước hết là về quyền lợi giữa các dân tộc: “Vấn đề bảo vệ quyền của một dân tộcthiểu số chỉ có thể được giải quyết bằng cách ban bố một đạo luật chung của Nhà nước,trong một nước dân chủ triệt để, không xa rời nguyên tắc bình quyền” Pháp luật chính là
cơ sở chắc chắn và có hiệu quả nhất để bảo vệ quyền của các dân tộc thiểu số Do đó,việc hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia, thừa nhận sự bình đẳng về quyền lợi vànghĩa vụ giữa các dân tộc trong mọi lĩnh vực là yêu cầu đầu tiên để bảo đảm bình đẳngdân tộc Theo V.I.Lênin, không chỉ pháp luật trên mọi lĩnh vực đều phải thừa nhận sựbình đẳng giữa các dân tộc mà cần phải có một đạo luật riêng về vấn đề dân tộc, thừanhận sự bình đẳng giữa các dân tộc Pháp luật đó còn phải bảo đảm tính hiệu lực và hiệuquả cao, có chế tài loại bỏ những bất bình đẳng quyền lợi giữa các dân tộc “Đảng dânchủ - xã hội đòi ban bố một đạo luật chung cho cả nước để bảo vệ các quyền của mọi dântộc ít người ở bất kỳ nơi nào trong nước Theo đạo luật đó, mọi biện pháp mà thông qua
đó dân tộc nhiều người định tạo ra cho mình một đặc quyền dân tộc hoặc giảm bớt quyềncủa dân tộc ít người (trong lĩnh vực giáo dục, sử dụng một tiếng nói nào, trong ngân sách)đều phải được tuyên bố là không có hiệu lực, và kẻ nào thi hành biện pháp ấy sẽ bị trừngtrị” Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, nguyên tắc bình đẳng dân tộc được nêu lên trongtuyên ngôn dân quyền của nước Nga, sau đó được ghi vào Hiến pháp Liên Xô, quy định
Trang 10quyền bình đẳng của công dân Xô Viết, không phụ thuộc dân tộc, trong mọi lĩnh vựckinh tế, chính trị, văn hóa.
Theo V.I.Lênin, việc xây dựng vùng tự trị dân tộc ở một số nơi trong quốc gia cũng
là để bảo đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc: “Hiển nhiên là người ta không thể quanniệm được một quốc gia hiện đại thật sự dân chủ mà lại không có một quyền tự trị chomọi vùng có những đặc điểm quan trọng đôi chút về kinh tế hoặc về lối sinh sống và cómột thành phần dân tộc riêng trong dân cư” Thực hiện quyền tự trị ở một số vùng là đểbảo đảm cho những chính sách là phù hợp với dân tộc đó, song không phải chỗ nào cũng
có thể thiết lập quyền tự trị dân tộc mà V.I.Lênin đã đưa ra điều kiện để thành lập quyền
tự trị là những vùng phải có những đặc thù riêng biệt về kinh tế, văn hóa hoặc một vùngrộng lớn chỉ có một thành phần dân tộc: “Một vùng gồm nhiều địa phương có những điềukiện địa lý, sinh hoạt hay kinh tế riêng hoặc có thành phần dân tộc đặc biệt, có quyềnthành lập một khu tự trị với một nghị viện tự trị của khu” Như vậy, không nhất thiết phảithành lập những vùng tự trị ở những nơi không có những điều kiện trên Thí dụ như ởViệt Nam, các dân tộc cư trú phân tán và xen kẽ, số xã chỉ có một dân tộc sinh sống là rất
ít, không có một vùng rộng lớn nào mà chỉ có một dân tộc sinh sống, do đó không có điềukiện để thành lập các vùng tự trị như V.I.Lênin khẳng định Việc thực hiện vùng tự trịcũng phải diễn ra một cách hòa bình và theo ý kiến của nhân dân vùng đó: “chỉ có dân cưđịa phương mới có thể có ý kiến một cách hoàn toàn chính xác về tất cả những điều kiện
ấy, và chính dựa vào ý kiến đó mà nghị viện trung ương của Nhà nước sẽ quy định biêngiới của những khu tự trị và quyền hạn của các xây mơ tự trị” Theo V.I.Lênin, quyền tựtrị này không mâu thuẫn và phá hoại tính thống nhất quốc gia: “Một nhà nước dân chủphải thừa nhận quyền tự trị của các vùng khác nhau, nhất là những vùng và những khu cóthành phần dân tộc khác nhau Quyền tự trị đó không hề mâu thuẫn với chế độ tập trungdân chủ; trái lại, chỉ có nhờ quyền tự trị của các vùng mới có thể thực hiện được chế độtập trung dân chủ thực sự ở một quốc gia lớn có nhiều thành phần dân tộc khác nhau”.Trên cơ sở luật pháp chung thống nhất, các vùng tự trị có thể xây dựng những biện pháp
Trang 11phù hợp với đặc thù dân tộc mình để bảo đảm tốt hơn quyền lợi của họ, thực hiện bìnhđẳng dân tộc.
V.I.Lênin còn đưa ra một vấn đề có tính nhân văn trong việc thực hiện quyền bìnhđẳng giữa các dân tộc tộc người, đó là việc thực hiện chính sách ưu tiên, ưu ái hơn đốivới một dân tộc nhỏ hơn, kém phát triển Bình đẳng dân tộc không có nghĩa là bình quânchủ nghĩa, cào bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các dân tộc, nhất là khi các dân tộcđang có sự chênh lệch lớn trên thực tế Khi các dân tộc có trình độ phát triển không đềunhau, đòi hỏi chia đều về nghĩa vụ sẽ ngày càng làm gia tăng khoảng cách giữa các dântộc V.I.Lênin chỉ rõ cần có sự ưu tiên đối với các dân tộc kém phát triển hơn trong thựchiện một số nghĩa vụ hoặc trong phân bổ quyền lợi: “Không chỉ là ở chỗ tôn trọng quyềnbình đẳng về hình thức của các dân tộc, mà còn ở chỗ phải chịu đựng sự không bình đẳng
mà các dân tộc đi áp bức, dân tộc lớn phải chịu, để bù lại cho sự không bình đẳng đanghình thành thực tế trong cuộc sống Người nào không hiểu điều đó, thì người đó khônghiểu thái độ vô sản thực sự đối với vấn đề dân tộc, người đó về thực chất vẫn đứng trênquan điểm tiểu tư sản và do đó không thể không từng giờ từng phút trượt xuống quanđiểm tư sản” V.I.Lênin chỉ rõ, khi sự bất bình đẳng đang tồn tại trên thực tế, khi giữa cácdân tộc, tộc người có sự phát triển không đồng đều thì việc ưu tiên cho dân tộc kém pháttriển hơn (là sự không bình đẳng đối với dân tộc phát triển hơn) cũng chính là thực hiệnbình đẳng dân tộc Đây là một giá trị mà các Đảng Cộng sản cần nhận thức rõ tronghoạch định chính sách dân tộc trong một quốc gia dân tộc
3 Dân tộc và xu hướng phát triển khách quan của dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
3.1 Dân tộc và đặc trưng của nó:
Dân tộc là chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có sinh hoạtkinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù hay chỉ một cộng đồngngười ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thốngnhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau
Trang 12bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trongsuốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và dữ nước.
Dân tộc thường được nhận biết thông qua các đặc trưng chủ yếu sau:
Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế Đây là một trong những đăc trưng quantrọng nhất của dân tộc Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận, các thànhviên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc cho cộng đồng dân tộc
Có thể tập trung cư trú trên một vùng lãnh thổ của một quốc gia hoặc hoặc cư trú đanxen với nhiều dân tộc anh em Vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng gắn với việcxác lập và bảo vệ lãnh thổ đất nước
Có ngôn ngữ riêng hoặc có thể có chữ viết riêng (trên cơ sở ngôn ngữ chung của quốcgia) làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, tình cảm
Có nét tâm lí riêng (nét tâm lí dân tộc) biểu hiện kết tinh trong nền văn hóa dân tộc vàtạo nên bản sắc riêng của nền văn hóa dân tộc, gắn bó với nền văn hóa của cả cộng đồngcác dân tộc
3.2 Xu hướng phát triển khách quan của dân tộc:
Xu hướng thứ nhất, do sự thức tỉnh, sự trưởng thành của ý thức dân tộc mà các cộng
đồng dân cư muốn tách ra để xác lập các cộng đồng dân cư độc lập Trong thực tế, xuhướng này đã biểu hiện thành phong trào đấu tranh chống áp bức dân tộc, thành lập cácquốc gia dân tộc độc lập Xu hướng này phát huy tác động nổi bật trong giai đoạn đầu củachủ nghĩa tư bản và vẫn còn tác động trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa
Xu hướng thứ hai,các dân tộc trong cùng quốc gia, thậm chí các dân tộc ở nhiều quốc
gia muốn liên hiệp lại với nhau Xu hướng này phát huy tác động trong giai đoạn đế quốcchủ nghĩa Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học và công nghệ, củagiao lưu kinh tế và văn hóa trong xã hội tư bản đã xuất hiện nhu cầu xóa bỏ hàng rào