Thực hiện chủ trương xã hội hóa trên lĩnh vực văn hóa, thời gian qua, trên địa bàn thành phố đã có nhiều hoạt động văn hóa, trong đó có nhà văn hoá NVH các thôn, tổ dân phố được xây mới,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
PHẠM MẠNH TƯỞNG
QUẢN LÝ HỆ THỐNG NHÀ VĂN HOÁ THÔN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP,
TỈNH NINH BÌNH
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 8310110
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN NHƯ BẰNG
Hà Nội, 2022
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ “Quản lý hệ thống nhà văn hoá thôn trên địa bàn Thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình” là công trình
nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các số liệu khoa học, kết quả nghiên cứu, ý kiến nêu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây./
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới thầy hướng
dẫn Luận văn thạc sĩ của mình, Thầy giáo TS.Nguyễn Như Bằng trong việc
hướng dẫn tôi lựa chọn đề tài và quá trình thực hiện luận văn này Sự hiểu biết sâu sắc về khoa học, cũng như kinh nghiệm của Thầy chính là tiền đề giúp tôi đạt được kết quả này Trong suốt quá trình nghiên cứu, Thầy đã kiên nhẫn hướng dẫn chi tiết, chỉnh sửa và kiểm duyệt tất cả các nội dung của Luận văn
Trong quá trình thực hiện, tôi cũng nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều đồng nghiệp trong và ngoài đơn vị công tác Các cán bộ, nhân viên của Ủy ban Nhân dân Thành phố Tam Điệp, UBND các xã, phường trên địa bàn Thành phố Tam Điệp và đặc biệt là Phòng Văn hóa thông tin Thành phố Tam Điệp đã cung cấp các thông tin, số liệu phục vụ cho quá trình thực hiện Luận văn Cuối cùng, để có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân trong thời gian làm Luận văn, tôi cũng rất biết ơn cán bộ, nhân viên tại UBND phường Tân Bình, nơi tôi đang công tác, đã ủng hộ và tạo điều kiện về thời gian, kinh phí trong quá trình học tập
Mặc dù tôi đã cố gắng hoàn thiện Luận văn nhưng do trình độ nhận thức và hạn chế về mặt thời gian nên Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót hoặc có phần nghiên cứu chưa sâu Rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý và thông cảm của các Thầy cô giáo
Tôi xin trân trọng cảm ơn
Ninh Bình, ngày tháng 7 năm 2022
Phạm Mạnh Tưởng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ NHÀ VĂN HÓA THÔN, TỔ DÂN PHỐ 5
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý hệ thống nhà văn hóa thôn, tổ dân phố 5
1.1.1 Một số khái niệm có liên quan 5
1.1.2 Các tiêu chí của nhà văn hóa thôn, tổ dân phố 7
1.1.3 Sự cần thiết phải quản lý hệ thống nhà văn hóa thôn, tổ dân phố 10
1.1.4 Nội dung công tác quản lý hệ thống nhà văn hóa thôn, tổ dân phố 13
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hệ thống nhà văn hóa thôn, tổ dân phố 17
1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý hệ thống nhà văn hóa thôn, tổ dân phố 20
1.2.1 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 20
1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình 26
Chương 28 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đặc điểm cơ bản của thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình 28
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 28
2.1.2 Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội 30
2.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường ảnh hưởng đến công tác quản lý hệ thống nhà văn hóa thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành Phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình 42
2.2 Phương pháp nghiên cứu 44
Trang 52.2.1 Phương pháp chọn điểm khảo sát 44
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 44
2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 45
2.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá sử dụng trong luận văn 46
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47
3.1 Tình hình hệ thống nhà văn hóa thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình 47
3.2 Thực trạng quản lý hệ thống nhà văn hóa thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình 50
3.2.1 Thực trạng hệ thống văn bản quản lý NVH thôn, tổ dân phố 50
3.2.2 Công tác tuyên truyền và hướng dẫn thực hiện văn bản 52
3.2.3 Công tác quy hoạch, xây dựng nhà văn hoá thôn, tổ dân phố 54
3.2.4 Công tác đầu tư xây dựng, nâng cấp nhà văn hóa thôn, tổ dân phố 58 3.2.5 Công tác tổ chức khai thác, sử dụng, duy tu, bảo dưỡng và sửa chữa hệ thống nhà văn hóa thôn, tổ dân phố 60
3.2.6 Công tác kiểm tra và đánh giá quá trình quản lý sử dụng hệ thống nhà văn hóa thôn, tổ dân phố 66
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hệ thống nhà văn hóa thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình 67
3.3.1 Yếu tố thuộc về cơ chế, chính sách, pháp luật 67
3.3.2 Yếu tố thuộc về năng lực tổ chức quản lý 70
3.3.3 Yếu tố thuộc về người dân 72
3.3.4 Yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội 74
3.4.1 Những kết quả đạt được 74
3.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 76
3.5 Quan điểm, định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hệ thống nhà văn hóa thôn, tổ dân phố trên địa bàn Thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình 82
Trang 63.5.1 Quan điểm, định hướng trong quản lý hệ thống NVH thôn, tổ dân phố
ở TP Tam Điệp 82 3.5.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hệ thống NVH thôn, tổ dân phố ở TP Tam Điệp 84
KẾT LUẬN 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
VH-TT&DL Văn hóa, thể thao và du lịch
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu đất đai thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình 29
Bảng 2.2: Dân số thành phố Tam Điệp phân theo 31
đơn vị hành chính năm 2021 31
Bảng 2.3: Tình hình lao động của thành phố Tam Điệp năm 2021 32
Bảng 2.4: Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất của thành phố Tam Điệp 33
Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu phát triển xã hội của thành phố Tam Điệp năm 2021 38 Bảng 2.6: Dung lượng mẫu điều tra và hình thức điều tra 45
Bảng 3.1: Số lượng nhà văn hoá thôn, tổ dân phố ở TP Tam Điệp năm 2021 48
Bảng 3.2: Quy mô NVH thôn, tổ dân phố ở TP Tam Điệp năm 2021 49
Bảng 3.3: Kết quả công tác tuyên truyền, hướng dẫn văn bản quản lý NVH thôn, tổ trên địa bàn TP Tam Điệp 53
Bảng 3.4: Tình hình quy hoạch và xây dựng NVH trên địa bàn thành phố Tam Điệp 56
Bảng 3.5: Kế hoạch xây mới, nâng cấp NVH thôn, tổ dân phố ở TP Tam Điệp giai đoạn 2021-2025 58
Bảng 3.6: Số lượng NVH thôn, tổ dân phố được xây dựng ở TP Tam Điệp (2016-2021) 59
Bảng 3.7: Kết quả đóng góp của người dân trong xây dựng NVH thôn, tổ ở TP Tam Điệp 60
Bảng 3.8: Thành phần tham gia quản lý NVH thôn, tổ dân phố ở TP Tam Điệp 61 Bảng 3.9: Kết quả công tác duy tu, bảo dưỡng NVH thôn, tổ dân phố ở TP Tam Điệp giai đoạn 2019-2021 65
Bảng 3.10: Đánh giá của người quản lý về chính sách hỗ trợ xây dựng NVH 68
Bảng 3.11: Kết quả đánh giá của người quản lý về cơ chế huy động vốn xây dựng NVH thôn, tổ dân phố 69
Bảng 3.12: Kết quả đánh giá của người dân về năng lực của cán bộ trong quản lý NVH thôn, tổ dân phố 71
Bảng 3.13: Mức độ tham gia quản lý NVH của người dân 72
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 : Bản đồ vị trí địa lý Thành phố Tam Điệp 28
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản
Việt Nam đã định hướng: “Huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm bảo
tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc; khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu văn hóa dân tộc Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy
di sản văn hóa với phát triển KT-XH” và “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Sau hơn 30 mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được thành tựu to lớn và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, góp phần vào những thành tựu to lớn ấy có đóng góp không nhỏ của lĩnh vực văn hoá Trong quá trình phát triển KT-XH, Nhà nước ta luôn coi trọng các chính sách đầu tư cho văn hoá, đầu tư nhân tố con người, khuyến khích và tạo điều kiện để nhân dân tham gia sáng tạo văn hóa
và hưởng thụ văn hóa ngày càng nhiều hơn, các hoạt động văn hóa ngày càng được được khuyến khích đầu tư phát triển, chủ trương xã hội hoá trên lĩnh
vực văn hoá được triển khai rộng rãi
Thực hiện chủ trương xã hội hóa trên lĩnh vực văn hóa, thời gian qua, trên địa bàn thành phố đã có nhiều hoạt động văn hóa, trong đó có nhà văn hoá (NVH) các thôn, tổ dân phố được xây mới, sửa chữa và nâng cấp với tinh thần Nhà nước hỗ trợ và nhân dân cùng làm Qua đây, khẳng định chính sách của Nhà nước ta đã ban hành là kịp thời, phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội và hoạt động văn hóa tại cơ sở được quan tâm nhiều hơn, trong đó có NVH
thôn, tổ dân phố
Trang 11NVH thôn, tổ là nơi để duy trì các hoạt động cộng đồng ở thôn, tổ dân phố,
là nơi tổ chức các buổi sinh hoạt chính trị của khu dân cư, như: Họp thôn, họp chi
bộ; tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ; các hoạt động thể dục thể
Hiện nay thành phố Tam Điệp có 9 đơn vị hành chính cấp xã, với 6 phường và 3 xã, tổng cộng 120 thôn, tổ dân phố, trong đó mỗi thôn tổ, dân phố đều có NVH, tuy nhiên đa số các NVH thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành phố Tam Điệp được xây dựng từ năm 2000 trở về trước với nguồn kinh phí đầu tư còn hạn chế, quy mô xây dựng chưa thống nhất, chất lượng công trình có mặt chưa đảm bảo, thời gian sử dụng kéo dài nên nhiều NVH đã xuống cấp Mặt khác, dân số tăng nhanh, nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân ngày càng cao nên nhiều NVH không đáp ứng yêu cầu sử dụng trước mắt cũng như lâu dài Mặt khác trong quá trình đầu tư chưa được áp dụng theo thiết kế mẫu, đa số có diện tích nhỏ, hẹp do chủ yếu tận dụng những phần đất dôi dư hay những hạng mục phải chuyển đổi mục đích Có những NVH thôn
(nông thôn vùng xa trung tâm) chỉ có diện tích trên 30m2, một số NVH ở các
phường (khu vực trung tâm thành phố) có diện tích lớn hơn, tuy nhiên chưa
đạt tiêu chí do Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch ban hành Trang thiết bị của các NVH vẫn còn hạn chế, nhất là những trang thiết bị có tính chuyên môn như tủ sách, dụng cụ tập luyện thi đấu thể thao và nhạc cụ phổ thông…
Để đánh giá một cách toàn diện, sâu sắc, cụ thể về thực trạng các NVH thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành phố Tam Điệp trong giai đoạn hiện nay cần có những khảo sát và nghiên cứu, đánh giá một cách khách quan, cụ thể, chi tiết hiện trạng từng NVH để từ đó có những đánh giá chất lượng, đồng thời phải nghiên cứu các đặc điểm tình hình địa phương và các cơ chế chính sách huy động tài chính hiện có, để từ đó có cơ sở tìm ra những giải pháp huy động xây dựng, quản lý hệ thống nhà văn hóa thôn, tổ dân phố ở thành phố Tam Điệp trong thời gian tới
Trang 12Hiện nay, tôi đang công tác và giữ chức vụ Phó Chủ tịch UBND phường
là người trực tiếp tham mưu cho Chủ tịch UBND phường, điều hành và thực hiện quản lý nhà nước về công tác văn hóa, thông tin trên địa bàn phường, trong đó có công tác quản lý văn hóa cơ sở, tôi mong muốn được mang những kiến thức đã tiếp thu được trong học tập khảo sát, nghiên cứu đánh giá thực trạng văn hóa cơ sở, cụ thể là thực trạng các nhà văn hóa thôn, tổ dân phố Trên cơ sở đó, thấy được chất lượng từng nhà văn hóa, những tồn tại, hạn chế, khó khăn vướng mắc; nghiên cứu, đề xuất những giải pháp hiệu quả trong thời gian tới
Từ thực tế trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý hệ thống nhà văn
hoá thôn trên địa bàn thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình” để thực hiện
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Phân tích thực trạng quản lý hệ thống nhà văn hóa thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình nhằm đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hệ thống nhà văn hóa thôn, tổ dân phố trên địa bàn nghiên cứu
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Công tác quản lý hệ thống nhà văn hóa thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng công tác
quản lý hệ thống nhà văn hoá thôn, tổ dân phố, gồm: Công tác đầu tư xây dựng, duy tu bảo dưỡng và sử dụng hệ thống nhà văn hoá thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình
Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được tiến hành trên toàn bộ thành
phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình
Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Số liệu thứ cấp thu thập từ năm 2016
đến năm 2020; số liệu sơ cấp điều tra tháng 1-4/2022
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hệ thống nhà văn hoá thôn,
tổ dân phố
- Công tác quản lý hệ thống nhà văn hóa thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình
- Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hệ thống nhà văn hóa thôn,
tổ dân phố trên địa bàn thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình
- Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hệ thống nhà văn hoá thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, Luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hệ thống nhà văn hoá thôn, tổ dân phố
Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG
NHÀ VĂN HÓA THÔN, TỔ DÂN PHỐ
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý hệ thống nhà văn hóa thôn, tổ dân phố
1.1.1 Một số khái niệm có liên quan
1.1.1.1 Khái niệm thôn, tổ dân phố:
Thôn, làng, bản (gọi chung là thôn) và tổ dân phố, khu phố, khối phố (gọi chung là tổ dân phố) là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư có chung
địa bàn cư trú trong một khu vực ở một xã, phường, thị trấn (xã, phường, thị
trấn sau đây gọi chung là cấp xã); nơi thực hiện dân chủ trực tiếp và rộng rãi
để phát huy các hình thức hoạt động tự quản, tổ chức nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ cấp trên giao [32]
Thôn và tổ dân phố không phải là một cấp hành chính, do chính quyền
xã, phường, thị trấn trực tiếp quản lý Thôn được thành lập ở xã, tổ dân phố được thành lập ở phường, thị trấn và ở những khu đô thị, khu nhà ở tập thể của cơ quan trên địa bàn xã khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật [15]; [21]
1.1.1.2 Khái niệm nhà văn hóa, nhà văn hóa thôn, tổ dân phố
NVH thôn, tổ dân phố là nơi giữ vai trò nòng cốt trong xây dựng đời
sống văn hóa cơ sở; là nơi truyền tải và tiếp nhận những thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, cung cấp các kiến thức về khoa học kỹ thuật trong sản xuất và phát triển kinh tế cho mọi người dân; nơi tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, vui chơi, giải trí, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và là cầu nối trực tiếp giữa cấp ủy, chính quyền các cấp với quần chúng nhân dân; góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh
Trang 15tế - xã hội của địa phương, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, NVH là “nơi tổ chức sinh hoạt văn hóa cho đông đảo quần chúng” Trong tập bài giảng “Quản lý thiết chế văn hóa”
PGS Nguyễn Hữu Thức: “NVH là một thiết chế văn hóa tổng hợp, đa chức
năng được chính quyền các cấp thành lập để đảm bảo những hoạt động chuyên môn do ngành dọc hướng dẫn, nhằm tuyên truyền giáo dục và cổ vũ động viên nhân dân thực hiện các nhiệm vụ chính trị của trung ương và địa phương; đồng thời tạo điều kiện cho nhân dân tham gia hưởng thụ và sáng tạo ra các giá trị văn hóa”
NVH nằm trong hệ thống văn hóa phục vụ nhu cầu hưởng thụ đời sống của nhân dân NVH còn có các tên gọi khác như: Trung tâm Văn hóa, đối với đồng bảo Tây Nguyên thì gọi là nhà Rông, nhà Dài NVH là cơ quan giáo dục văn hoá ngoài nhà trường, thông qua các hình thức sinh hoạt văn hoá khác nhau để thu hút công chúng vào các hoạt động xây dựng - văn hoá, khoa học -
kĩ thuật, thể thao chủ yếu trong thời gian rỗi, nhằm bồi dưỡng và nâng cao trình độ văn hoá cho con người Thông qua các hình thức sinh hoạt rộng rãi, NVH tuyên truyền giáo dục tư tưởng, các tri thức khoa học phổ thông và chuyên ngành, đặc biệt là khả năng sáng tạo và hưởng thụ văn hoá NVH là nơi gặp gỡ, giao tiếp, giải trí của những người yêu văn hoá
NVH Việt Nam ra đời vào đầu những năm 60 thế kỉ 20, được tổ chức theo hệ thống 4 cấp: NVH trung ương, NVH trung tâm tỉnh - thành, NVH quận - huyện, NVH phường - xã Ngoài ra còn có hệ thống NVH của quân đội, đoàn thanh niên, công đoàn Ngoài chức năng là tụ điểm sinh hoạt, các NVH cấp trung ương và tỉnh thành còn là trung tâm hướng dẫn phương pháp nghiệp vụ NVH - câu lạc bộ, chỉ đạo phong trào văn hoá quần chúng ở cấp cơ
sở NVH đồng thời là nơi để quần chúng phát triển và sáng tạo ra những giá trị văn hóa để giữ gìn, bảo lưu và xây dựng các nền văn hóa mới nhằm đáp
Trang 16ứng, thỏa mãn nhu cầu của con người NVH cũng là nơi để nâng cao đời sống tinh thần và hiểu biết về pháp luật của nhân dân, từ đó giảm thiểu các tệ nạn
xã hội, như ma túy, mại dâm, trộm cắp, vi phạm trật tự an toàn giao thông, vi phạm cảnh quan đô thị, Đây là loại hình thiết chế văn hóa nhằm đẩy mạnh phong trào văn hóa văn nghệ quần chúng ở cơ sở
NVH thôn, tổ dân phố do Chủ tịch UBND cấp xã quyết định thành lập, lãnh đạo toàn diện; Trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố trực tiếp quản lý; chịu
sự hướng dẫn về nghiệp vụ của Trung tâm Văn hóa Thông tin và Thể thao cấp trên, chịu sự quản lý nhà nước của phòng Văn hoá và Thông tin cấp huyện
1.1.2 Các tiêu chí của nhà văn hóa thôn, tổ dân phố
Theo quy định tại Thông tư số 05/2014/TT-BVHTTDL ngày 30/5/2014 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sửa đổi bổ sung Điều 6 của Thông tư
số 12/2010/TT-BVHTTDL ngày 22/12/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Quy định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của Trung tâm văn hóa - thể thao xã và Thông tư số 06/2011/TT-BVHTTDL ngày 08/3/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Quy định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của Trung tâm văn hóa thôn cụ thể như sau:
Cơ quan có thẩm quyền ở địa phương có trách nhiệm cấp đất xây dựng NVH thôn, tổ dân phố theo quy hoạch đã được duyệt và sử dụng đúng mục đích NVH thôn, tổ dân phố được xây dựng ở vị trí trung tâm tạo thuận lợi cho nhân dân tham gia sinh hoạt Kiến trúc NVH thôn, tổ dân phố phải phù hợp điều kiện KT-XH và bản sắc văn hóa của địa phương Quy hoạch và từng bước triển khai xây dựng sân khấu ngoài trời, sân chơi, bố trí vườn hoa, cây cảnh, non bộ, hồ nước, ghế đá Trang thiết bị tối thiểu cho các hoạt động và
sử dụng của NVH thôn, tổ dân phố gồm hệ thống âm thanh, ánh sáng, phông màn, bàn ghế, sách báo và các loại nhạc cụ phù hợp Tiêu chí của NVH thôn,
tổ dân phố được quy định cụ thể như sau:
Trang 17Bảng 1.1: Các tiêu chí của nhà văn hóa thôn, tổ dân phố
TT Tiêu chí Nội dung tiêu chí Tiêu chí theo vùng
1.2 Diện tích Khu thể thao
Từ 500m2 trở lên
Từ 2.000m2 trở lên
Từ 300m2 trở lên
Từ 1.500m2 trở lên
2.5 Có thể xây dựng những công trình thể thao khác được quy định tại
112/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thể dục, thể thao
Từ 100 chỗ ngồi trở lên
Từ 30m2 trở lên
Từ 250m2 trở lên
Có đủ
Từ 80 chỗ ngồi trở lên
Từ 25m2 trở lên
Từ 200m2 trở lên Đạt 80%
Trang 18TT Tiêu chí Nội dung tiêu chí Tiêu chí theo vùng
Đồng bằng Miền núi
hoạt
- Tủ sách, tranh ảnh tuyên truyền phục vụ thiếu nhi
- Bảng tin, nội quy hoạt động
- Một số nhạc cụ phổ thông, truyền thống phù hợp với địa phương
3.2 Dụng cụ thể thao: Một
số dụng cụ thể thao phổ thông và dụng cụ thể thao truyền thống phù hợp với phong trào thể thao quần chúng ở địa phương
Có đủ các dụng cụ TDTT theo nhu cầu
sử dụng
Có các dụng
cụ thể thao tối thiểu
Tỷ lệ cụ thể do địa phương quy định
Tỷ lệ cụ thể do địa phương quy định
Sơ cấp trở lên
m
Hưởng thù lao theo công việc
Qua lớp bồi dưỡng nghiệp
vụ Hưởng thù lao theo công việc
6.3 Hoạt động văn hóa, vui chơi, giải trí phục vụ cho trẻ em
50% trở lên/tổng số dân 25% trở lên/tổng số dân 30% thời gian hoạt động
30% trở lên/tổng số dân 15% trở lên/tổng số dân 20% thời gian hoạt động
(Nguồn: Thông tư 06 /2011/TT-BVHTTDL)
Trang 19Tuy thành phố Tam Điệp là đô thị miền núi, nhưng các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới cũng như xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật được thống nhất theo tiêu chí của đồng bằng bắc bộ Vì vậy đối với các tiêu chí xây dựng
cụ thể của NVH thôn, tổ dân phố cũng được theo vùng đồng bằng như quy định ở trên
1.1.3 Sự cần thiết phải quản lý hệ thống nhà văn hóa thôn, tổ dân phố
Đảng ta đã khẳng định: Chúng ta phải có trách nhiệm xây dựng một nền văn hóa của dân, do dân, vì dân, việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
có ý nghĩa như bước đi ban đầu của toàn bộ sự nghiệp văn hóa Sự nghiệp văn hóa phải do chính nhân dân xây dựng, nhân dân phải là chủ thể sáng tạo văn hóa chứ không phải là chủ thể tiêu thụ văn hóa
Từ lâu nước ta đã có những quy định, hướng dẫn để xây dựng đời sống văn hóa mới như: NVH, thư viện, nhà truyền thống, bảo tàng, công viên văn hóa Những thiết chế đó đã trở thành nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng, đáp ứng nhu cầu của nhân dân về hưởng thụ, sáng tạo và bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam
NVH thôn, tổ dân phố là nơi hàng ngày đồng hành với đời sống nhân dân và là một phần không thể thiếu của xã hội Vì vậy, NVH có vai trò quan trọng trong việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở tại địa phương
Trong bối cảnh nền kinh tế, khoa học kỹ thuật và xã hội phát triển nhanh chóng, một mặt mang lại những diện mạo mới cho nền kinh tế, cho phát triển
xã hội của đất nước và mỗi địa phương, mặt khác cũng tạo ra nhiều làn sóng văn hoá du nhập làm ảnh hưởng, thậm chí mất dần đi văn hoá truyền thống Do vậy, để giữ gìn, xây dựng văn hoá truyền thống cần được quan tâm từ cơ sở, trong đó có việc tạo ra môi trường, không gian để người dân sinh hoạt văn hoá, tiêu biểu là các NVH thôn, tổ dân phố ở mỗi địa phương
Tuy nhiên để NVH phát huy tác dụng tốt thì cần được các cấp chính quyền và người dân tham gia quản lý bởi các lý do sau:
Trang 20Thứ nhất, NVH đáp ứng nhu cầu sáng tạo, học tập, trao đổi, hưởng thụ,
gìn giữ văn hóa, luyện tập thể dục thể thao của các tầng lớp nhân dân Cơ sở vật chất của hệ thống NVH tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân thường xuyên đến sinh hoạt, trao đổi thông tin, rèn luyện thân thể để có sức khỏe làm việc, lao động, xây dựng, bảo vệ tổ quốc, học hỏi lẫn nhau và thắt chặt thêm tình đoàn kết Những điều này sẽ không có được nếu hệ thống NVH yếu kém, thiếu thốn, lạc hậu, tạm bợ, thực tế đã cho thấy, nhiều giá trị văn hóa quý báu của dân tộc, như hát truyền thống, các trò chơi dân gian đã được giữ gìn, nuôi dưỡng, phát huy từ thế hệ này sang thế hệ khác từ những NVH, trung tâm văn hóa giản dị của thôn, tổ dân phố mà không nhất thiết phải là ở các nhà hát, sân khấu lớn với trang thiết bị hiện đại
Thứ hai, hệ thống NVH thôn, tổ dân phố giữ vai trò nòng cốt trong tổ
chức các hoạt động tuyên truyền nhiệm vụ chính trị, xã hội ở địa phương; là
cơ sở vật chất, công cụ trực tiếp và đắc lực của cấp ủy, chính quyền trong lãnh đạo quần chúng thực hiện các nhiệm vụ chính trị Các quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước có đến được với đại đa số quần chúng nhân dân hay không một phần quan trọng là nhờ ở hệ thống nhà văn hóa ở các địa phương Đây cũng là nơi để nhân dân “tăng thêm sức đề kháng” đối với những luận điệu sai trái, chống phá cách mạng, chống phá Đảng và Nhà nước trong tình hình nước ta vẫn phải cảnh giác, đấu tranh với âm mưu
“diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch
Thứ ba, NVH thôn, tổ dân phố chính là nơi để nâng cao đời sống tinh
thần và hiểu biết về pháp luật của nhân dân, từ đó giảm thiểu các tệ nạn xã hội, như ma túy, mại dâm, trộm cắp, vi phạm trật tự an toàn giao thông, vi phạm cảnh quan đô thị Các buổi sinh hoạt văn hóa ở cơ sở cũng chính là môi trường thuận lợi để nhân dân mạnh dạn đóng góp ý kiến với các cấp ủy đảng, chính quyền, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh Mỗi công dân tốt, mỗi gia đình văn hóa ngay tại địa phương chính là một viên
Trang 21gạch để xây dựng đất nước Việt Nam văn minh giàu đẹp Điều này đã, đang
và sẽ được chứng minh từ hệ thống văn hóa cơ sở, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa khi bà con nhân dân chủ yếu chỉ gần gũi với già làng, trưởng bản, cán bộ xã
Thứ tư, các NVH thôn, tổ dân phố đang góp phần phát triển xã hội một
cách bền vững Cơ sở vật chất của hệ thống NVH là nơi tổ chức các hoạt động văn hóa phù hợp với tư tưởng, chuẩn mực đạo đức, lối sống và nhất là phong tục, tập quán của từng vùng, miền, dân tộc Con người không chỉ có nhu cầu
ăn, mặc, đi lại mà đang ngày càng hướng tới lối sống lành mạnh, chất lượng cuộc sống tốt hơn Các NVH hiện trong hệ thống văn hóa đang góp phần phát huy tác dụng
Thứ năm, hệ thống các NVH thôn, tổ dân phố có ý nghĩa thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, nhất là trong việc xây dựng nông thôn mới Trong 19 tiêu chí để được công nhận là nông thôn mới có tiêu chí: NVH thôn tổ dân phố đạt chuẩn của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, tỷ lệ thôn có NVH đạt chuẩn của Bộ là 100% Tiêu chí này, một mặt góp phần xây dựng nông thôn mới, mặt khác, tạo điều kiện để người dân nông thôn nâng cao mức thụ hưởng văn hóa, khắc phục tình trạng chênh lệch
về mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân giữa thành thị và nông thôn Văn hóa của nông thôn hiện đại không chỉ có cây đa, bến nước, sân đình mà còn
có nhiều cơ sở vật chất khác cũng như đội ngũ cán bộ có tâm, có tầm và nhất
là tha thiết với di sản văn hóa của dân tộc
Thứ sáu, xây dựng và hoàn thiện hệ thống các NVH thôn, tổ dân phố là
góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
mà Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đã đề ra Xây dựng hệ thống NVH thôn, tổ dân phố trở thành một nhu cầu cần thiết, một đòi hỏi chính đáng của nhân dân Mỗi người dân, mỗi thôn, xóm là một minh chứng sống động, trực quan của bản sắc văn hóa dân tộc, bản sắc văn hóa này chỉ có
Trang 22thể hiện hữu, phát triển mạnh mẽ và trường tồn trong điều kiện văn hóa đầy
đủ, vững mạnh, hoạt động hiệu quả
Thứ bảy, nói đến vai trò của hệ thống các NVH thôn, tổ dân phố
không thể không kể đến sự cần thiết, tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động NVH Công tác quản lý phải được tiến hành trên tinh thần dân chủ, xã hội hóa, lấy tư tưởng mỹ học Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam làm kim chỉ nam Lực lượng cán
bộ, cơ quan quản lý hoạt động NVH giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng, có đạo đức sẽ giúp định hướng và tổ chức các hoạt động văn hóa một cách sáng tạo, hiệu quả; đồng thời, đề xuất các cơ quan cấp trên giúp đỡ, tạo điều kiện phát huy tốt vai trò của các công trình văn hóa [1]
1.1.4 Nội dung công tác quản lý hệ thống nhà văn hóa thôn, tổ dân phố
1.1.4.1 Xây dựng hệ thống văn bản quản lý nhà văn hóa thôn, tổ dân phố
NVH thôn, tổ dân phố cũng được xem như Trung tâm văn hoá, Nhà sinh hoạt động đồng, rạp chiếu phim, tượng đài, bảo tàng, thư viện… Để nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng các công trình này, trước hết cần làm rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan quản lý, đặc biệt là việc phân quyền quản
lý rõ ràng của mỗi đơn vị Cùng với đó là nghiên cứu, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về cơ chế, chính sách, đảm bảo điều kiện tổ chức hoạt động văn hóa, thể thao nhằm khai thác và sử dụng tối đa công suất các công trình phục vụ nhân dân đến sinh hoạt, luyện tập
Để hệ thống NVH thôn, tổ dân phố có thể phát huy được vai trò là địa điểm tổ chức các hoạt động văn hoá, là không gian sinh hoạt của người dân thì việc quy định chi tiết về quy mô tối thiểu, thiết kế mô hình NVH kiểu mẫu
là một trong những quy định quan trọng để kiểm soát, nâng cao tính thẩm mỹ, hiệu quả sử dụng công trình
Hệ thống NVH thôn là một công trình công cộng, được đầu tư chủ yếu
từ nguồn vốn ngân sách cấp, đồng thời cũng có thể lồng ghép trong các chương trình như chương trình xây dựng Nông thôn mới, Chương trình kiên
Trang 23cố hoá các công trình ở nông thôn…Do vậy, cũng cần có quy chế, quy định rõ ràng về kinh phí cho đầu tư xây mới, sửa chữa nâng cấp các công trình này Ngoài ra, việc giao quyền tự chủ trong tổ chức hoạt động cho đơn vị quản
lý cơ sở vật chất NVH, việc chủ động huy động các nguồn lực đóng góp cho xây dựng, bảo dưỡng các công trình này cũng cần được đẩy mạnh để các đơn
vị chủ động xây dựng các phương án sử dụng, huy động nguồn lực từ xã hội Như vậy có thể thấy hệ thống văn bản quản lý càng rõ ràng, đầy đủ, phù hợp thì hiệu quả quản lý càng cao, các công trình sẽ phát huy được tác dụng trong phát triển văn hoá, xã hội địa phương và ngược lại
1.1.4.2 Tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện văn bản
Các bản quản lý văn hoá trong đó có NVH thôn, tổ dân phố được ban hành ở nhiều cấp, dưới nhiều hình thức như nghị quyết, chương trình hành động, văn bản hướng dẫn khác…để triển khai được ở các cấp cơ sở thì cần được tổ chức hướng dẫn, tuyên truyền thực hiện để bản thân đơn vị quản lý trực tiếp nắm và hiểu được các quy định; đồng thời cũng cần thông báo rộng rãi đến người dân để người dân tham gia, giám sát, kiểm tra…vì đây là các công trình phúc lợi của người dân
Công tác tuyên truyền tốt cũng góp phần nâng cao ý thức xây dựng, đóng góp xây dựng các công trình này như việc hiến đất, góp công, góp của
để xây dựng như thực tế ở nhiều địa phương trong nước đã thực hiện thời gian qua
1.1.4.3.Công tác quy hoạch nhà văn hoá thôn, tổ dân phố
Quy hoạch xây dựng nói chung và quy hoạch hệ thống nhà văn hóa nói riêng là công việc hết sức quan trọng từ đó định hướng cho các nội dung công việc tiếp theo đó như tìm kiếm nguồn kinh phí, tổ chức xây dựng Công tác quy hoạch tốt sẽ góp phần sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả các nguồn lực
Trong công tác quy hoạch hệ thống NVH thôn, tổ dân phố cần phải nghiên cứu, điều tra kỹ tình hình, điều kiện thực tiễn, căn cứ vào quy mô dân
Trang 24số, nhu cầu sử dụng để tính toán diện tích xây dựng nhà văn hoá bảo đảm hài hoà 2 yếu tố đúng tiêu chuẩn kỹ thuật nhưng không lãng phí Mỗi thôn nên có một nhà văn hoá kết hợp liền kề với sân thể thao thôn để tăng hiệu quả sử dụng
và tiện sinh hoạt cho nhân dân Nơi nào có điều kiện có thể xây dựng nhà văn hoá thôn kết hợp với các công trình văn hoá hiện có như đình, chùa để tiết kiệm đất đai, kinh phí đầu tư Vị trí nhà văn hoá nên quy hoạch ở trung tâm thôn thuận lợi về giao thông, đảm bảo vệ sinh môi trường, quy hoạch gắn liền các công trình công cộng của xã để tạo nên quần thể kiến trúc, cảnh quan đẹp cho thôn Nếu nhà văn hoá thôn gần sân thể thao của xã thì không cần xây dựng sân thể thao riêng mà kết hợp sử dụng chung với sân thể thao để tiết kiệm đất đai, chi phí Sân thể thao nếu có thể nên bố trí gần trường tiểu học, THCS để kết hợp cho học sinh học thể dục, luyện tập thể thao nội khoá nhưng không được bố trí ven đường Quốc lộ
1.1.4.4 Công tác xây dựng nhà văn hóa thôn, tổ dân phố
Trên cơ sở quy hoạch đã được lập cần tiến hành xây dựng hệ thống NVH
để phục vụ nhu cầu của người dân Đối với những nhà văn hoá mới được đầu
tư xây dựng nhưng chưa đạt chuẩn về diện tích thì tập trung đầu tư nâng cấp
mở rộng khuôn viên, mua sắm thêm trang thiết bị phục vụ nhu cầu hội họp, sinh hoạt của nhân dân tốt hơn Những thôn chưa có điều kiện xây dựng nhà văn hoá và sân thể thao, trước mắt có thể tận dụng các công trình kiến trúc văn hoá công cộng như đình, chùa, để có địa điểm sinh hoạt văn hoá, thể thao cho nhân dân
Trong điều kiện nguồn ngân sách hạn hẹp, các địa phương xác định kinh phí đầu tư xây dựng nhà văn hoá và sân thể thao thôn trước hết phải thực theo phương châm xã hội hoá Tích cực đẩy mạnh tuyên truyền, vận động sự đóng góp tự nguyện của nhân dân, con em xa quê ủng hộ, sự tài trợ của các tổ chức
cá nhân để xây dựng kết hợp hỗ trợ một phần nguồn ngân sách địa phương Cùng với việc quy hoạch, đầu tư xây dựng, các địa phương phải chú trọng nâng cao chất lượng hoạt động của các nhà văn hoá thôn: Thành lập Ban chủ
Trang 25nhiệm hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản và xây dựng quy chế hoạt động, cơ chế tài chính rõ ràng Đổi mới, đa dạng nội dung sinh hoạt văn hoá cộng đồng, hoạt động văn hoá-văn nghệ, thể dục thể thao để thu hút đông đảo bà con tham gia, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, thúc đẩy kinh tế-xã hội địa phương phát triển và đầu tư xây dựng cơ sở vật chất -
kỹ thuật cho các văn hoá như NVH thôn, tổ dân phố cần được quan tâm như việc Chính quyền địa phương phải dành quỹ đất ở vị trí thuận lợi để xây dựng
hệ thống NVH thôn, tổ Hàng năm, dựa trên kế hoạch tài chính của xã, chú trọng đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các công trình NVH để đảm bảo phục vụ tốt nhu cầu hoạt động văn hoá phù hợp với từng địa phương Quy định về nguồn kinh phí xây mới, nâng cấp, mở rộng NVH thôn, tổ dân phố cũng được quy định rõ ràng gồm: Nguồn vốn trung ương cấp, nguồn vốn của thành phố, huyện (thị xã), nguồn kinh phí của các xã có công trình thực hiện và nguồn vốn từ đóng góp của người dân, doanh nghiệp
1.1.4.5 Công tác quản lý khai thác, sử dụng, duy tu bảo dưỡng
Các công trình NVH thôn, tổ dân phố sau khi xây dựng hoàn thành và bàn giao thì cần được tổ chức quản lý khai thác, sử dụng hiệu quả cũng như thực hiện tốt công tác duy tu, bảo dưỡng để công trình được bền vững Nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng các NVH thôn, tổ dân phổ cần xây dựng chế
và gắn với trách nhiệm của các tập thể, cá nhân xác định Đồng thời cần đổi
mới nội dung, phương thức quản lý, hoạt động của các thiết chế văn hóa - thể thao gắn với thực tiễn và nhu cầu người dân, tạo điều kiện cho đông đảo quần chúng tham gia hoạt động văn hóa, tập luyện, biểu diễn và thi đấu thể thao đa dạng theo nhu cầu và sở thích của mọi người, phù hợp với địa phương, đơn
vị, tránh dập khuôn máy móc chỉ tổ chức một số hoạt động nhất định
Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao ở các NVH; Tổ chức nhiều loại hình hoạt động để phục vụ các tầng lớp xã hội và mọi lứa tuổi tham gia, chú trọng phát triển nhiều loại hình
Trang 26phục vụ cộng đồng, nhằm huy động nguồn lực trong xã hội đầu tư cho phát triển văn hóa, thể dục, thể thao
Nhu cầu văn hóa của nhân dân là vô cùng phong phú đa dạng Do đó, việc nâng cấp cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng quản lý các hoạt động văn hóa là
vô cùng cần thiết bởi điều đó không chỉ nâng cao đời sống văn hóa của người dân mà còn góp phần ổn định chính trị, kinh tế, quốc phòng an ninh Người dân khi được nâng cao dân trí, rèn luyện sức khỏe, có một nền tảng văn hóa tốt sẽ luôn biết tự hào, nâng niu, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Đó cũng chính là mục tiêu Đảng và Nhà nước đặt ra trong quá trình lãnh đạo, quản lý
1.1.4.6 Kiểm tra, đánh giá quá trình sử dụng
Kiểm tra, đánh giá là khâu cuối cùng trong mọi quá trình quản lý Mục đích của kiểm tra, đánh giá để kịp thời phát hiện những sai sót, những sai trái trong quá trình từ khi xây dựng đến cả quá trình sử dụng các NVH thôn, tổ Việc kiểm tra, giám sát bắt đầu ngày từ khâu quy hoạch, xây dựng để đảm bảo công trình được thực hiện theo đúng thiết kế, đảm bảo chất lượng cộng trình Trong quá trình sử dụng, việc kiểm tra mang tính chất định kỳ nhằm duy trì sự hoạt động tốt của các công trình NVH, đồng thời làm căn cứ để xây dựng kế hoạch duy tu, nâng cấp
Với hệ thống NVH thôn, tổ dân phố, chủ thể tham gia kiểm tra, giám sát ngoài các đơn vị chức năng như các ban quản lý dự án đầu tư xây dựng, chính quyền địa phương, thì một thành phần rất quan trọng là người dân Người dân cần phát huy tinh thần trách nhiệm để tham gia kiểm tra, giám sát các công trình phúc lợi của địa phương như hệ thống NVH
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hệ thống nhà văn hóa thôn, tổ dân phố
1.1.5.1 Yếu tố thuộc về cơ chế, chính sách, pháp luật
Chiến lược phát triển KT-XH nói chung và kế hoạch xây dựng quy chế
hoạt động văn hoá của địa phương là yếu tố quyết định đến quy mô huy động,
sử dụng lực như nguồn vốn, đất đai trong xây dựng NVH Việc huy động, sử
Trang 27dụng các nguồn tài chính luôn phục vụ cho mục tiêu phát triển KT-XH cho
mỗi địa phương nói chung, cho xây dựng NVH thôn, tổ dân phố nói riêng Các chính sách của nhà nước tạo hành lang pháp lý cho việc huy động và
quản lý sử hiệu quả hệ thống NVH Hệ thống chính sách càng đồng bộ, đầy
đủ, có tính đến yếu tố đặc thù của địa phương sẽ nâng cao hiệu quả trong xây
dựng và quản lý sử dụng NVH
Chính sách phân cấp quản lý cũng là một chính sách quan trọng để mỗi cấp, mỗi cá nhân xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, đồng thời nâng cao trách nhiệm trong quản lý NVH, tránh hiện tượng “cha chung không ai khóc” Việc phân cấp, phân quyền rõ ràng sẽ giúp các địa phương chủ động sáng tạo trong việc huy động các nguồn lực của địa phương cho xây dựng, sử dụng NVH
Để áp dụng các chính sách có hiệu quả trong thực tiễn, các cấp chính quyền
cần có sự điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với điều kiện KT-XH cụ thể của mỗi địa phương cấp xã và khu dân cư trong từng giai đoạn cụ thể
1.1.5.2 Yếu tố thuộc về năng lực tổ chức quản lý
Năng lực tổ chức quản lý điều hành của chính quyền cấp xã là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến huy động và sử dụng các nguồn lực (đất đai, tài chính, con người…) cho xây dựng, quản lý sử dụng NVH Nếu trình độ quản lý cao, phù hợp với điều kiện, đặc điểm ở mỗi cấp, mỗi ngành thì công tác huy động nguồn lực sẽ đạt hiệu quả cao hơn; trình độ quản lý thấp sẽ có tác động ngược lại, kết quả huy động nguồn lực sẽ đạt thấp và không đáp ứng được nhu cầu cho xây dựng
Năng lực tổ chức quản lý còn thể hiện ở việc động viên, khuyến khích các tổ chức xã hội địa phương, các tầng lớp dân cư địa phương tham gia xây dựng, quản lý NVH thôn, tổ dân phố Khi năng lực tổ chức của chính quyền địa phương tốt sẽ tạo sự đồng thuận trong nhân dân Chỉ khi nào có được sự đồng thuận trong cộng đồng dân cư thì họ mới ủng hộ xây dựng, giữ gìn NVH
Trang 28Trong yếu tố tổ chức, yếu tố con người lãnh đạo cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến việc quản lý sử dụng NVH thôn, tổ dân phố Đội ngũ cán bộ quản lý có nhận thức tốt, tinh thần trách nhiệm cao có tính đến các yếu tố quyền lợi và nghĩa vụ thiết thực của người dân thì hiệu quả của công tác quản
lý sẽ đạt hiệu quả cao và ngược lại
Sự thành bại của chương trình xây dựng, quản lý sử dụng NVH thôn, tổ dân phố phụ thuộc rất lớn vào quyết tâm chính trị của bộ máy chính quyền ở mỗi cấp, trước hết là chính quyền cấp xã
1.1.5.3 Yếu tố thuộc về người dân
Trình độ lao động, trình độ dân trí của người dân là những nhân tố ảnh hưởng quyết định đến quản lý sử dụng NVH thôn, tổ dân phố Địa phương nào người dân có nhận thức đúng đắn về vai trò chủ thể của mình trong xây dựng NVH thôn, tổ dân phố, sẽ chủ động, tự giác trong việc đóng góp, tham gia quản lý xây dựng, sử dụng NVH Sự tham gia của người dân vào xây dựng NVH thôn, tổ dân phố được đánh giá trên các mức độ: người dân quan tâm; được thông báo; được thảo luận và góp ý; được đưa ra quyết định, được giám sát, đánh giá các phần việc xây dựng NVH Xét trên cả lý luận và thực tiễn cho thấy sự tham gia của người dân là yếu tố then chốt mang lại sự thành công trong quản lý
Việc đóng góp để xây dựng NVH không giới hạn bằng tiền mà người dân có thể đóng góp bằng nhiều hình thức khác như ngày công lao động, tài sản, đất đai… thực tế nhiều thôn, tổ dân phố dù đóng góp tài chính hạn hẹp nhưng vẫn có thể hoàn thành việc xây dựng hệ thống NVH, nhờ vào đóng góp ngày công lao động và tài sản
Việc xây dựng NVH thôn, tổ dân phố có tác động lớn đến lợi ích của người dân nông thôn, vì thế sự tham gia của người dân là nhân tố quan trọng tác động đến thành công của trương trình
Trang 291.1.5.4 Yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội
Sự biến đổi trong tự nhiên ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình xây dựng NVH thôn, tổ dân phố Tài nguyên thiên nhiên dồi dào về nguyên vật liệu với giá rẻ, vị trí địa lý thuận lợi cũng là yếu tố tích cực thu hút các nguồn tài chính cho xây dựng NVH thôn, tổ dân phố Trình độ phát triển KT-XH được thể hiện bằng các tiêu chí cụ thể như: Cơ sở hạ tầng của địa phương, tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp Trình độ phát triển kinh tế ở địa phương ở mức cao, người dân có mức sống tốt thì có thể thực hiện huy động các nguồn lực của địa phương cũng như trong cộng đồng dân cư tốt hơn, xây dựng NVH thôn, tổ dân phố vì thế cũng sẽ thuận lợi hơn Kinh tế càng phát triển thì của cải vật chất được tạo ra ngày càng nhiều, nhu cầu và chất lượng cuộc sống tăng lên Mặt khác, khi kinh tế phát triển, các chủ thể trong nền kinh tế bao gồm các tổ chức, cá nhân có thêm điều kiện và tiềm lực
để đầu tư phát triển các công trình xã hội của địa phương Đồng thời, khi kinh
tế, xã hội phát triển, nhu cầu và nhận thức của người dân về giao lưu văn hoá, giữ gìn văn hoá truyền thống cũng sẽ tăng lên, từ đó thúc đẩy sự tham gia của người dân trong quản lý, sử dụng NVH thôn, tổ dân phố
1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý hệ thống nhà văn hóa thôn, tổ dân phố
1.2.1 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước
1.2.1.1 Kinh nghiệm của thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
Sau 14 năm trở thành thành phố, 2 năm được công nhận là đô thị loại II trực thuộc tỉnh, từ một thị xã nhỏ bé, Thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã chuyển mình dần trở thành một thành phố năng động, hiện đại ở cửa ngõ phía Nam của Thủ đô Hà Nội Diện mạo của thành phố đang thay đổi từng ngày; kinh tế tăng trưởng vượt bậc; hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đô thị
và nông thôn được đầu tư xây dựng, từng bước thay đổi theo hướng hiện đại, văn minh
Hiện tại, trên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam hoàn thành và đưa vào sử dụng 13/21 nhà văn hóa phường, xã; 19 nhà văn hóa thôn, tổ dân phố
Trang 30Đây là con số còn hạn chế so với mong muốn của cán bộ và nhân dân trong thành phố
Thực tế việc xây dựng, tổ chức hoạt động của hệ thống nhà văn hóa phường, quận, thôn, xã, huyện còn bộc lộ những hạn chế, chưa hiệu quả, nội dung không phong phú, không khai thác hết chức năng của công trình Bên cạnh đó, ngân sách đầu tư cho xây dựng, mua sắm trang thiết bị không đồng bộ, dẫn đến tình trạng công trình xây mới, nhưng không có tiền sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động
Chính vì lý do này, thời gian qua, thành phố đã nỗ lực tìm kiếm mô hình hoạt động hiệu quả Cụ thể, Sở Văn hóa và Thể thao phối hợp Trung tâm Nghiên cứu và phát huy di sản văn hóa thực hiện Ðề án “Nghiên cứu, khảo sát thực hiện thí điểm mô hình tổ chức, hoạt động mới cho nhà văn hóa thôn trên địa bàn TP Phủ Lý” tại phường Minh Khai và xã Liêm Tuyền Với diện tích hơn 300 m2, nhiều trang, thiết bị phục vụ cho các hoạt động văn hóa, hội họp , nhà văn hóa tổ dân phố 1, phường Minh Khai là một trong những nhà văn hóa đẹp và đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Kể từ khi được xây dựng trong phong trào xây dựng nông thôn mới, nhà văn hóa vẫn chỉ là nơi diễn ra các cuộc họp hành, các buổi biểu diễn văn nghệ chủ yếu vào các dịp kỷ niệm hay khi có hội nghị Nhưng khi triển khai đề án, hoạt động của nhà văn hóa đã có nhiều thay đổi Từ sự tư vấn, gợi ý của các chuyên gia, Hội Cựu chiến binh tổ dân phố 1, phường Minh Khai đã thành lập Câu lạc bộ Di sản và ký ức; các tổ chức xã hội khác cũng thành lập Câu lạc bộ
Mỹ thuật truyền dạy nghệ thuật hội họa cho thiếu niên và dạy làm hoa cho người lớn tuổi, Câu lạc bộ văn nghệ dân gian, Câu lạc bộ khiêu vũ Tính ra, các câu lạc bộ đã thu hút hàng trăm hội viên tham gia
Vẫn những con người ấy, vẫn cơ sở vật chất ấy, nhưng hoạt động của nhà văn hóa tổ dân phố 1, phường Minh Khai đã thay đổi Một thí dụ có thể
kể đến là hoạt động của Câu lạc bộ Di sản và ký ức Cách đây chưa lâu Câu
Trang 31lạc bộ này đã động viên ba cựu chiến binh kể về những trận đánh, những chuyến quy tập hài cốt liệt sĩ mà họ từng trải qua Buổi nói chuyện khiến lớp trẻ hiểu thêm về những hy sinh, mất mát to lớn mà những người lính đã trải qua trong chiến tranh Ông Trần Văn Phúc, tổ trưởng tổ dân phố 1, phường Minh Khai cho biết, trước đây nhà văn hóa tổ dân phố 1 cũng duy trì một số hoạt động nhưng từ ngày có sự giúp đỡ của các nhà nghiên cứu văn hóa, các hoạt động sôi nổi hẳn và trở thành hoạt động thường xuyên
Mặc dù đã tìm được mô hình hoạt động hiệu quả, nhưng việc nhân rộng
mô hình tương tự như nhà văn hóa tổ dân phố 1, phường Minh Khai còn gặp không ít khó khăn Theo khảo sát Phòng Văn hóa và Thể thao TP Phủ Lý mới công bố, có đến 56% số nhà văn hóa tổ dân phố tổ chức hoạt động mỗi tháng một lần Ngoài ra, ở khu vực các phường trung tâm thành phố, việc xây dựng thêm các nhà văn hóa ở các xã xa thành phố là hết sức khó khăn, do nguồn kinh phí hạn hẹp Hiện tại, Phòng Văn hóa và Thể thao TP Phủ Lý đã xây dựng đề án “Hoàn thiện hệ thống nhà văn hóa thôn, tổ từ thành phố đến cơ sở” Ðề án được triển khai từ nay đến năm 2020 Trong đó, lần đầu tiên, hai vấn đề được nghiên cứu, đánh giá cẩn trọng là kinh phí, nhân lực và nội dung hoạt động Tại những địa bàn còn “trắng” nhà văn hóa, thành phố sẽ cố gắng xây dựng những nhà văn hóa đạt chuẩn, có không gian như một hội trường đa năng; có thể có thêm những phòng nhỏ để thỏa mãn các chức năng hoạt động khác nhau cho các nhóm sở thích hay câu lạc bộ khác nhau
Về tổ chức hoạt động, trong tương lai gần, sẽ lập chức danh chủ nhiệm nhà văn hóa và nghiên cứu xây dựng chế độ cho phù hợp Về nhân lực, có thể tận dụng nguồn nhân lực là sinh viên tốt nghiệp đại học chưa có việc làm Thành phố cũng chú trọng đội ngũ cán bộ hưu trí về hưu tại địa phương, nhất
là cán bộ có trình độ và có kinh nghiệm trong việc tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao
Song, vấn đề nan giải nhất vẫn chính là kinh phí vận hành Hiện chỉ có vài địa phương, thí dụ phường Minh Khai, phường Thanh Châu, phường
Trang 32Liêm Chính có kinh phí hỗ trợ mỗi năm từ 4-5 triệu/nhà văn hóa Phần lớn các nhà văn hóa vẫn tự thân vận động
Mặc dù còn một số vướng mắc, nhưng với những thành quả đạt được trong những năm qua được xem là bước đột phá của cán bộ và nhân dân Thành phố Phủ Lý trong tư duy, để góp phần cải thiện công năng của nhà văn hóa trên địa bàn Thành phố Phủ Lý, góp phần thiết thực thực hiện cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh
1.2.1.2 Kinh nghiệm của huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Huyện Yên Khánh nằm ở phía đông nam tỉnh Ninh Bình Phía bắc giáp thành phố Ninh Bình, phía tây và tây nam giáp huyện Yên Mô, phía nam giáp huyện Kim Sơn, phía đông và đông bắc có sông Đáy bao bọc, là ranh giới tự nhiên với huyện Nghĩa Hưng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Trên bản
đồ địa lý, với diện tích tự nhiên toàn huyện là 137,9 km², dân số 143.131 người, mật độ dân số 1.038 người/km² Gồm 19 xã, thị trấn 100% xã, thị trấn
có nhà văn hóa, sân vận động trung tâm; 265/268 thôn, xóm, phố có nhà văn hóa; phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa được đẩy mạnh huyện Yên Khánh được Thủ tướng Chính phủ công nhận là huyện nông thôn mới năm 2018
Về kinh nghiệm xây dựng NVH thôn, là huyện thuần nông còn nhiều khó khăn, trên cơ sở xác định rõ vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới, trong đó có việc xây dựng NVH thôn, ngay từ khi bắt đầu thực hiện, Huyện ủy, UBND huyện Yên Khánh đã đã thống nhất về nhận thức trong tập thể lãnh đạo, thường xuyên tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt và triển khai đồng bộ, toàn diện, sâu sát, có trọng tâm, trọng điểm; cả hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở đã có sự vào cuộc tích cực Theo đó, công tác tuyên truyền được triển khai sáng tạo, đồng bộ đã tạo sự thay đổi rõ nét trong nhận thức của toàn thể nhân dân về mục tiêu và ý nghĩa của chương trình Huyện đã chủ động tổ
Trang 33chức phát động phong trào “Toàn dân Yên Khánh chung sức xây dựng nông thôn mới” “Toàn dân Yên Khánh chung tay xây dựng NVH” gắn với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân hưởng thụ và bảo vệ thành quả xây dựng” Nhờ vậy, ở các cấp, đặc biệt là tại cấp cơ sở, mọi công việc đều được bàn bạc, thống nhất cao, dân chủ, minh bạch Với những cách làm sáng tạo, tập trung lãnh đạo, tuyên truyền để tạo sự thống nhất trong đảng viên, nhân dân Đặc biệt, quá trình tổ chức thực hiện luôn đảm bảo nguyên tắc dân chủ và người dân là chủ thể Chính quyền và ngành chức năng của huyện cũng chú trọng các giải pháp đảm bảo hiệu quả và chất lượng xây dựng các NVH thôn, nên nhân dân đồng tình, tin tưởng
Để có được 265/268 NVH trong những năm qua huyện Yên Khánh, tỉnh
Ninh Bình đã làm tốt một số công tác sau:
Thứ nhất, phương châm chủ đạo xây dựng NVH xuất phát từ người dân
và phục vụ lợi ích trực tiếp của nhân dân Trong các xã điểm xây dựng nông thôn mới, xây dựng NVH thôn là xã Khánh Thiện, Khánh Công, Khánh Thành…đi đầu trong huy động sức dân để xây dựng NVH Xã đã tổ chức lấy
ý kiến nhân dân trên địa bàn về mức đóng góp kinh phí xây dựng
Thứ hai, huyện Yên Khánh đã đưa ra các chính ưu đãi hấp dẫn doanh
nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, cũng như các công trình phúc lợi cho cộng đồng dân cư: được cung cấp kịp thời nhu cầu điện, nước đúng tiêu chuẩn, chất lượng đến chân hàng rào nhà máy, trong đó, mô hình
“Cánh đồng liên kết” với xây dựng nguyên liệu tập trung, gắn kết giữa DN với nông dân thông qua các hiệp hội ngành hàng là mục tiêu quan trọng nhất Thông qua chính sách này đã giúp doanh nghiệp gắn kết với nông dân, với nhân dân, từ đó đồng cảm và luôn cùng nhau đồng hành với người dân Vì vậy việc đóng góp nguồn lực để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, trong đó việc xây dựng NVH là việc đương nhiên
Trang 341.2.1.3 Kinh nghiệm của huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
Hoa Lư là một huyện nằm ở trung tâm tỉnh Ninh Bình, có vị trí bao bọc phía tây với thành phố Ninh Bình, phía bắc giáp huyện Gia Viễn, phía Nam giáp thị xã Tam Điệp, phía nam giáp huyện Yên Mô, phía đông giáp huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Hoa Lư có diện tích tự nhiên 139,7 km² và dân số 103,9 nghìn người, với 11 đơn vị hành chính cấp xã, với 91 thôn, tổ dân phố trong
đó 91/91 thôn, tổ dân phố có nhà văn hóa, huyện Hoa Lư được Thủ tướng Chính phủ công nhận là huyện nông thôn mới năm 2016, đồng thời là huyện nông thôn mới đầu tiên của cả nước xét theo tiêu chí mới
Trong 6 năm từ 2011 - 2016, huyện Hoa Lư đã huy động được tổng nguồn vốn trên 2.800 tỷ đồng cho xây dựng nông thôn mới, nhân dân đóng góp trên 1.200 tỷ đồng, trong đó dành cho xây dựng thiết chế văn hoá và NVH thôn, tổ dân số với tổng số tiền trên 100 tỷ đồng
Để đạt được là huyện nông thôn mới đầu tiên trong toàn quốc, huyện đã triển khai đồng bộ và đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng để người dân hiểu, nắm được nội dung xây dựng nông thôn mới, từ đó thấy được lợi ích của mình và tự nguyện tham gia; cùng với
đó, xã xác định phải lấy sức dân để lo cho dân, phát huy vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng nông thôn mới, xây dựng NVH, làm tốt công tác huy động nguồn vốn, phát huy nội lực, thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, Huyện đã ban hành các chính sách đặc thù về huy động và sử dụng NTC UBND huyện đã giao các phòng, ban, ngành vận dụng, cụ thể hóa các chính sách, các văn bản, hướng dẫn của tỉnh, trung ương để áp dụng cho phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương; phát huy vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng NVH, thực hiện tốt chủ trương "Dân làm, thôn làm, xã làm là chính", “Nhân dân làm công trình, nhà nước hỗ trợ ca máy” Việc bố trí ưu tiên theo địa bàn trong xây dựng NVH đã tạo điều kiện cho các địa phương này sớm hoàn thành mục tiêu xây dựng NVH theo lộ trình đề ra đồng thời kịp thời khuyến khích được các địa phương làm tốt
Trang 35Phát huy vai trò giám sát của cộng đồng dân cư là yếu tố quan trọng để đảm bảo đầu tư phù hợp với quy hoạch được duyệt, nâng cao hiệu quả đầu tư, nâng cao chất lượng các công trình, dự án Để phát huy vai trò giám sát của cộng đồng, chính quyền các cấp luôn chú trọng kiện toàn tổ chức của Ban phát triển thôn, chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tổ chức tập huấn, nâng cao năng lực giám sát cho các thành viên
1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình
Từ những kinh nghiệm trên, có thể rút ra bài học cho thành phố Tam Điệp trong tổ chức quản lý NVH thôn, tổ dân phố:
Một là, phải thực sự phát huy vai trò chủ thể của người dân Đây là bài
học quan trọng từ kinh nghiệm các địa phương trong triển khai xây dựng NVH Công tác tuyên truyền, vận động quần chúng là giải pháp quan trọng mang tính quyết định sự thành công của việc xây dựng NVH
Hai là, lựa chọn mục tiêu ưu tiên trong chương trình xây dựng NVH Do
nguồn kinh phí hạn hẹp, kinh nghiệm xây dựng NVH ở các địa phương được nghiên cứu cho thấy, điều quan trọng nhất là trong số những tiêu chí NVH, xác định tiêu chí cần ưu tiên, từ đó, có kế hoạch để thực hiện ngay Thực hiện phương châm đầu tư trọng điểm để mỗi NVH sau khi hoàn thành sẽ đạt chuẩn
theo yêu cầu, các NVH các thôn sẽ được đầu tư theo lộ trình đã được xây dựng
Ba là, Tăng cường huy động nguồn lực xã hội hoá trong xây dựng
NVH từ người dân và doanh nghiệp trên địa bàn Cần làm tốt công tác tuyên truyền, vận động để người dân có thể hiến đất, doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ xã hội với địa phương Đồng thời, chính quyền cũng cần quan tâm dành một phần kinh phí hoạt động của địa phương để xây dựng các NVH thôn đủ tiêu chuẩn, đáp ứng được nhu cầu vui chơi thể thao, văn hoá, văn nghệ của người dân
Bốn là, Đa dạng hoá hình thức hoạt động văn hoá, thể thao của địa
phương để thu hút sự quan tâm của các tầng lớp dân cư từ người già đến trẻ
Trang 36em Bài học kinh nghiệm trong xây dựng các câu lạc bộ ở Hà Nội sẽ là một bài học kinh nghiệm quý để người dân đến sinh hoạt tại NVH
Năm là, Cần có cơ chế tạo nguồn kinh phí cho hoạt động thường xuyên
của NVH thôn Nguồn kinh phí này có thể trích từ nguồn tài chính địa phương cho phát triển văn hoá, hay các nguồn dịch vụ có thể như tổ chức đám cưới, điểm gửi xe ban đêm…
Sáu là, Cần xây dựng quy chế quản lý, sử dụng NVH thôn, tổ rõ ràng,
xây dựng bộ máy quản lý hiệu quả
Trang 37Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm cơ bản của thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Tam Điệp nằm ở phía Nam tỉnh Ninh Bình có toạ độ địa lý
từ 200 06’ đến 200 13’ vĩ độ Bắc và từ 1050 47’ đến 1050 58’ kinh độ Đông Với tổng diện tích tự nhiên: 10.493,13 ha Địa giới hành chính được xác định:
- Phía Bắc giáp huyện Hoa Lư và huyện Yên Mô;
- Phía Nam giáp tỉnh Thanh Hoá;
- Phía Đông giáp huyện Yên Mô;
- Phía Tây giáp huyện Nho Quan
Thành phố Tam Điệp cách trung tâm tỉnh Ninh Bình 15km về phía Nam, trên địa bàn Thành phố có tuyến giao thông quan trọng: Quốc lộ 1A dài 11km, tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua địa phận Thành phố từ ga Ghềnh đến dốc Xây dài 11,5km, Quốc lộ 12B dài 7km, nối Thành phố với vùng du lịch phía Bắc Tỉnh lộ 480 dài 6,5km, nối Tam Điệp với vùng kinh tế phía Nam Thành phố Tam Điệp có vị trí thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội
Hình 2.1 : Bản đồ vị trí địa lý Thành phố Tam Điệp
Nguồn: Phòng Tài nguyên và môi trường thành phố Tam Điệp
Trang 38Thành phố Tam Điệp được công nhận là đô thị loại III năm 2015 trên
cơ sở Thị xã Tam Điệp hiện có 6 phường: Bắc Sơn, Trung Sơn, Nam Sơn, Tây Sơn, Tân Bình, Yên Bình và 3 xã Quang Sơn, Yên Sơn và Đông Sơn
2.1.1.2 Các nguồn tài nguyên
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và môi trường thành phố Tam Điệp)
Như vậy, có thể thấy thành phố Tam Điệp có diện tích khá lớn, tuy nhiên chủ yếu là đất sử dụng cho mục đích nông nghiệp với khoảng 70% và
cơ cấu này khá ổn định trong những năm gần đây Qua tình hình sử dụng đất đai cũng cho thấy, ngành nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế của Thành phố
* Tài nguyên nước
- Tài nguyên nước mặt: Thành phố Tam Điệp còn có suối nhỏ và hồ Suối Tam Điệp và suối Đền Rồng chủ yếu phục vụ cho việc thoát nước Hồ Yên Thắng trên địa bàn Thành phố Tam Điệp với diện tích 62,50 ha, dung tích hồ 3.400.000 m3 chủ yếu phục vụ cho nông nghiệp và điều hoà môi trường
Trên địa bàn Thành phố có 2 sông chính chảy qua:
- Sông Bến Đang: Sông Bến Đang đi qua địa bàn thành phố Tam Điệp
từ cầu Vĩnh Khương đến trạm bơm Đàm Khánh, dài 12 km Lòng sông hẹp, nông, nó nhận nước tưới tiêu cho nội đồng và vùng đồi phía Đông Bắc thành phố Tam Điệp
Trang 39Sông Ghềnh: Lòng sông hẹp và nông những năm mưa nhiều, nước trong đồng lớn gặp lũ thì tiêu tự chảy các khu vực lân cận gặp khó khăn Về mùa cạn sông Ghềnh lấy nước từ sông Đáy qua các âu và các sông để cung cấp nước tưới cho các khu vực canh tác
Nhìn chung hiện trạng, hệ thống sông ngòi trên địa bàn thành phố Tam Điệp chưa đảm bảo tưới tiêu tự chảy cho khu vực
- Tài nguyên nước ngầm: Do cấu tạo địa hình Tam Điệp là đồi núi nên Theo kết quả nghiên cứu của Liên đoàn II Tổng cục địa chất: Nguồn nước ngầm ở Tam Điệp rất dồi dào Tổng lượng nước ngầm khoảng 80.000m3/ng.đ Độ sâu nước ngầm 1÷1,9 m nguồn nước chủ yếu phục vụ cho dân sinh và các khu công nghiệp
* Tài nguyên rừng
Tài nguyên rừng chủ yếu là gỗ keo tập trung chủ yếu ở xã Yên Sơn, Quang Sơn, Đông Sơn và phường Nam Sơn; Hiện nay đang tiến hành trồng rừng và khoanh nuôi tái sinh, kết hợp với kinh tế vườn đồi, kinh tế trang trại, tạo bước phát triển lớn trong sản xuất lâm nghiệp
* Tài nguyên khoáng sản
- Đá vôi: Tập trung chủ yếu ở các xã Quang Sơn, Đông Sơn và phường Nam Sơn với diện tích 2.323,61 ha, trữ lượng lớn, chất lượng tốt, sử dụng để sản xuất xi măng, nung vôi và khai thác làm vật liệu xây dựng
- Đá đô lô mít: Tập trung ở xã Đông Sơn, có khả năng sử dụng làm nguyên vật liệu để sản xuất thuỷ tinh, vật liệu chịu lửa, gạch granit
- Đất sét: Tập trung ở xã Yên Sơn, trữ lượng tương đối lớn, chất lượng tốt, đáp ứng nguyên liệu cho phát triển ngành sản xuất xi măng và gạch ngói
2.1.2 Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Dân số, lao động
Thành phố Tam Điệp với dân số 64.644 người, phân bố ở 9 phường xã của Thành phố, trong đó các phường đông dân cư: Phường Bắc Sơn, Phường Trung sơn, Nam sơn với dân số từ 9-11 ngàn người
Trang 40Bảng 2.2: Dân số thành phố Tam Điệp phân theo
2 Phường Trung Sơn 10.021 5.051 4.970 10.021
3 Phường Nam Sơn 8.852 4.467 4.385 8.852
4 Phường Tây Sơn 4.756 2.385 2.371 4.756
(Nguồn: Chi cục thống kê Thành phố Tam Điệp)
Bảng 2.2, cho thấy dân số tập trung tại các phường trung tâm chiếm tỷ trọng lớn như Phường Bắc Sơn có 11.126 người chiếm 17,21%, Phường Trung Sơn có 10.021 người chiếm 15,5% Do 2 phường này là các phường trung tâm của thành phố, nơi tập trung chủ yếu của các khu hành chính thành phố, các khu vui chơi giải trí, mua sắm Trong đó dân số phường Yên Bình có
ít người nhất với 4.655 người, chiếm 7,2% dân số toàn thành phố Phường Yên Bình là phường mới được thành lập và ở xa trung tâm thành phố nên dân
cư thưa thớt và còn nhiều quỹ đất chưa sử dụng đến
Trong đó, theo số liệu thống kê, năm 2021, Thành phố Tam Điệp có lực
lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh là 27.865 người, chiếm 43,1% tổng
dân số Đây là một tiềm năng, lợi thế lớn bởi bên cạnh tư liệu sản xuất, người