CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
Cơ sở lý luận về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững
Trong nghiên cứu kinh tế - xã hội, các khái niệm như đói nghèo, nghèo khổ, và phân hóa giàu nghèo thường được đề cập Đói nghèo có mối quan hệ mật thiết nhưng cũng có sự khác biệt về cấp độ Năm 1993, Ủy ban Kinh tế - xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) định nghĩa nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán địa phương Định nghĩa này hướng dẫn phương pháp đánh giá sự nghèo đói với các tiêu chí định lượng còn để ngỏ, nhấn mạnh nhu cầu cơ bản như ăn, ở, và mặc Căn cứ xác định đói nghèo là việc con người không được hưởng những nhu cầu thiết yếu này.
Nghèo là tình trạng mà thu nhập thực tế của người dân chỉ đủ để đáp ứng nhu cầu ăn uống cơ bản, thậm chí không đủ cho nhu cầu này Các nhu cầu thiết yếu khác như chỗ ở, quần áo, y tế, văn hóa, giáo dục, đi lại và giao tiếp chỉ được đáp ứng một cách rất hạn chế.
Đói là tình trạng con người không được cung cấp đủ năng lượng cần thiết để duy trì cuộc sống hàng ngày, dẫn đến việc thiếu sức lao động và khả năng tái sản xuất sức lao động.
Ngày nay, hầu hết các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc, Ngân hàng
Khái niệm đói nghèo đã được mở rộng để bao gồm không chỉ những nhu cầu vật chất tối thiểu mà còn cả các nhu cầu xã hội khác Điều này cho thấy đói nghèo không chỉ là thiếu thốn về tài chính mà còn liên quan đến nhiều khía cạnh cơ bản khác trong cuộc sống.
Trước tiên và trên hết là sự khốn cùng về vật chất
Sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế
Nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro
Không có tiếng nói và quyền lực của người nghèo
Yếu tố cơ bản nhất trong các khía cạnh đã nêu là sự khốn cùng về vật chất Ngân hàng Thế giới xác định chuẩn nghèo tuyệt đối là thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với đô la Thế giới để đáp ứng nhu cầu sống.
Trong Chương trình Liên hiệp quốc năm 1997, Ngân hàng Thế giới đã thiết lập chuẩn nghèo tuyệt đối để phân định rõ ranh giới giữa nghèo tuyệt đối, với mức chuẩn được xác định là 2 đô la cho từng địa phương hoặc khu vực.
Mỹ Latinh và Caribbean có mức hỗ trợ từ 4 đô la cho các nước Đông Âu, trong khi các nước công nghiệp nhận được lên đến 14,40 đô la Điều này được quy định trong quyết định số 143/2001/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Vào ngày 27 tháng 9 năm 2001, chương trình mục tiêu quốc gia nhằm xoá đói và giảm nghèo giai đoạn 2001 - 2005 đã được phê duyệt Theo đó, các hộ nghèo ở khu vực nông thôn, miền núi và hải đảo có thu nhập bình quân đầu người dưới 80.000 đồng/tháng (960.000 đồng/năm) được xác định là hộ nghèo Đối với khu vực nông thôn đồng bằng, các hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người dưới 100.000 đồng/tháng (1.200.000 đồng/năm) cũng được coi là hộ nghèo.
6 nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập từ 150.000 đồng/người/tháng (1.800.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
Theo quyết định số 170/2005/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 8 tháng 7 năm 2005, chuẩn nghèo cho giai đoạn 2006 - 2010 được quy định như sau: tại khu vực nông thôn, hộ nghèo là những hộ có thu nhập dưới 200.000 đồng/người/tháng (tương đương 2.400.000 đồng/người/năm), trong khi đó, tại khu vực thành thị, hộ nghèo là những hộ có thu nhập bình quân dưới 260.000 đồng/người/tháng (tương đương 3.120.000 đồng/người/năm).
Theo Chỉ thị số 1752/CT-TTg ngày 21/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ, tiêu chí xác định hộ nghèo trên toàn quốc được quy định như sau: Tại khu vực nông thôn, hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân dưới 400.000 đồng/người/tháng (4.800.000 đồng/người/năm), trong khi tại khu vực thành thị, mức thu nhập này là dưới 500.000 đồng/người/tháng (6.000.000 đồng/người/năm) Đối với hộ cận nghèo, tại nông thôn, mức thu nhập bình quân từ 401.000 - 520.000 đồng/người/tháng được xem là cận nghèo, và tại thành phố, mức thu nhập từ 501.000 - 650.000 đồng/người/tháng Đây là các quy định mới nhất nhằm điều tra và lập danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo trên toàn quốc.
Đói nghèo không phải là khái niệm cố định mà thay đổi theo thời gian, vùng miền và quốc gia Nó là một khái niệm động, được xác định dựa trên quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, nguồn lực tài chính Việt Nam đã đưa ra các chỉ tiêu về đói nghèo phù hợp với tình hình thực tế qua nhiều cuộc điều tra, khảo sát và nghiên cứu trong từng giai đoạn.
- Thu nhập bình quân đầu người theo tháng hoặc năm, đây là chỉ tiêu cơ
Để xác định mức độ đói nghèo, có 7 chỉ tiêu quan trọng, trong đó giá trị hiện vật quy đổi, thường là lương thực quy thóc, được sử dụng để đánh giá Việc áp dụng hình thức quy đổi này giúp loại bỏ ảnh hưởng của yếu tố giá cả trong điều kiện không ổn định, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh mức thu nhập của người dân theo thời gian.
Ngoài ra, còn một số chỉ tiêu quan trọng khác như chế độ dinh dưỡng bữa ăn (kcal/người), điều kiện nhà ở, trang phục, tư liệu sản xuất, điều kiện học tập, khả năng chữa bệnh và phương tiện di chuyển.
1.1.1.2 Các nguyên nhân dẫn đến nghèo
Nghèo đói là một vấn đề xã hội phức tạp, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có điều kiện khắc nghiệt của môi trường tự nhiên Người nghèo thường sống tại các khu vực vùng cao, miền núi và ven biển, nơi chịu ảnh hưởng của khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, lũ lụt và hạn hán Những điều kiện này gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế, đặc biệt là trong ngành nông nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân.
Điều kiện về tài nguyên đất đai hiện nay đang trở nên hạn chế, khan hiếm và cằn cỗi Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp; do đó, việc thiếu đất hoặc đất đai cằn cỗi khiến người nghèo không thể sản xuất hiệu quả, dẫn đến năng suất cây trồng và vật nuôi thấp, từ đó gia tăng tình trạng đói nghèo.
Kinh nghiệm về xoá đói giảm nghèo, giảm nghèo bền vững
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan nhận thức rõ vai trò quan trọng của việc sở hữu đất đai và chuyển dịch tỷ lệ diện tích đất/nước theo hướng có lợi, từ đó tạo ra nhiều cơ hội kiếm tiền.
Thái Lan đã thực hiện chính sách giảm nghèo đói hiệu quả tại các khu vực trọng điểm, đặc biệt là thông qua việc cải cách đất đai và tạo việc làm ưu tiên cho những vùng không có đất Kết quả là tỷ lệ nghèo đói đã giảm mạnh từ 59% vào năm 1962 xuống còn 26% vào năm 1986, cho thấy sự cải thiện đáng kể trong vòng 24 năm.
Thái Lan đã kết hợp chính sách phát triển quốc gia với phát triển nông thôn, tập trung vào việc phát triển xí nghiệp ở vùng quê nghèo và mở rộng trung tâm dạy nghề nhằm giảm nghèo đói, giúp tỷ lệ nghèo đói giảm xuống còn 23% vào năm 1990 Mặc dù không thiếu đất, nhưng nhiều nông dân vẫn không có đủ đất canh tác do tình trạng địa chủ lớn Chính phủ Thái Lan nhận định rằng sự bất bình đẳng trong sở hữu ruộng đất là nguyên nhân chính gây đói nghèo cho nông dân Để giải quyết vấn đề này, từ năm 1975, Thái Lan đã thực hiện cải cách ruộng đất thông qua Đạo luật Cải cách ruộng đất nông nghiệp, nhằm giảm tình trạng tập trung sở hữu đất và cấp đất cho những người không có hoặc thiếu đất canh tác Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ tư đã nhấn mạnh việc thực hiện chính sách ruộng đất phù hợp với phát triển nông nghiệp hàng hóa, tạo việc làm và thu nhập cho nông dân nghèo, đồng thời khuyến khích việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nông dân Quản lý chặt chẽ việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo đúng pháp luật là cần thiết để bảo vệ nông dân nghèo khỏi việc phải bán đất để sinh sống.
Để hạn chế các thủ đoạn chèn ép và cưỡng đoạt ruộng đất của nông dân nghèo, cần thiết phải xây dựng một thị trường đất đai hiệu quả Chính sách của Chính phủ có thể nâng cao hiệu quả của thị trường đất đai bằng cách tăng cường sự tin tưởng của công chúng và giảm thiểu rủi ro cá nhân Có ít nhất ba phương thức để đạt được điều này.
Có nhu cầu rõ ràng về phát triển thị trường đất, cho thuê đất và các phương thức chuyển nhượng đất Quyền sở hữu đất minh bạch sẽ thúc đẩy hoạt động của thị trường tín dụng, trong đó thế chấp đóng vai trò quan trọng trong việc khắc phục tình trạng thiếu thông tin tại các khu vực nông thôn.
Thứ hai, có hệ thống bảo trợ được xây dựng tốt sẽ giúp mọi người vững tin hơn trong việc ứng phó với các tín hiệu của thị trường
Để đảm bảo hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, cần đánh giá thuế đất ở mức hợp lý, chỉ những người tham gia tích cực vào sản xuất nông nghiệp mới có thể giữ đất.
Như vậy, các giải pháp về đất đai và tư liệu sản xuất cho các hộ nghèo đã được Chính phủ Thái Lan triển khai thực hiện hiệu quả
Chính phủ Thái Lan đã áp dụng biện pháp xoá đói giảm nghèo thông qua việc trang bị công nghệ và thiết bị tiên tiến trong nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng và vật nuôi, cũng như sử dụng hợp lý các yếu tố đầu vào như phân bón và thuốc trừ sâu Hướng đi này nhằm cải tạo nền nông nghiệp tự túc thành nền nông nghiệp cơ khí hiện đại, năng suất cao và mang tính hàng hoá Mặc dù gạo vẫn là mặt hàng xuất khẩu lớn của Thái Lan, nhưng đóng góp của nó vào nền kinh tế đang giảm dần, trong khi nông dân đang kiên định đa dạng hoá cây trồng.
30 dạng hoá cây trồng cho thấy các vùng miền núi có khả năng chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp tốt hơn, hướng tới đa canh và chuyên canh với quỹ đất ngày càng tăng Điều này tạo cơ hội cho việc xoá đói giảm nghèo ở nhiều vùng tiến triển khả quan hơn trong thời gian qua.
Khuyến nông đóng vai trò quan trọng trong việc tăng sản lượng nông nghiệp, cung cấp thông tin cần thiết cho nông dân về giá cả, thị trường, giống cây trồng và phương pháp gieo trồng Hệ thống trung tâm khuyến nông tại Thái Lan và Việt Nam rất đa dạng và phổ biến, sử dụng các phương tiện truyền thông như phát thanh, truyền hình và báo chí để tiếp cận cả những vùng sâu, vùng xa Nội dung khuyến nông tập trung vào nghiên cứu hệ thống đất canh tác, giúp nông dân lựa chọn cây trồng phù hợp, phổ biến các giống cây trồng và vật nuôi có năng suất cao, triển khai dịch vụ bảo vệ thực vật và thú y, cũng như hướng dẫn tiếp thị cho nông sản.
Thái Lan có lợi thế trong việc tiếp cận thị trường quốc tế, đặc biệt là các nước tư bản, nhờ vào nền kinh tế thị trường đã phát triển từ lâu Những kinh nghiệm về tiếp thị và mở rộng thị trường của Thái Lan có thể giúp Việt Nam nhận diện các khó khăn và rủi ro để tránh Chính phủ các nước Đông Nam Á, bao gồm Thái Lan, đã thực hiện đa dạng hóa thu nhập nông thôn nhằm xóa đói giảm nghèo, đồng thời tạo ra các biện pháp việc làm ngoài nông nghiệp Các cơ hội việc làm được củng cố thông qua việc áp dụng công nghệ sản xuất dựa trên lao động, đặc biệt trong ngành xây dựng.
Ở Việt Nam, nông dân khá giả có xu hướng đa dạng hóa nguồn thu nhập hơn so với những hộ phụ thuộc hoàn toàn vào nông nghiệp Các hộ gia đình không lệ thuộc vào thu nhập nông nghiệp thường có mức sống cao hơn, ngoại trừ tại đồng bằng sông Cửu Long, nơi mà nông dân giàu có tập trung vào sản xuất nông nghiệp Tỷ lệ đói nghèo cao nhất (65%) thuộc về những hộ hoàn toàn phụ thuộc vào canh tác nông nghiệp, tiếp theo là các hộ vừa làm nông nghiệp vừa có thu nhập từ công việc khác, và cuối cùng là các hộ chỉ sống bằng lương công Cả hai nhóm này đều có khoảng 60% hộ nghèo, trong khi tỷ lệ nghèo ở các hộ làm nghề tư là thấp nhất, chỉ 29%.
Kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là Thái Lan, cho thấy việc phát triển thị trường lao động nông thôn và cải thiện cơ sở hạ tầng ở khu vực này đóng vai trò quan trọng trong nỗ lực xoá đói giảm nghèo.
Malaysia đã áp dụng các biện pháp giảm bớt sự bất bình đẳng về thu nhập thông qua việc kết hợp tăng trưởng kinh tế nhanh với phân phối thu nhập công bằng, nhằm nâng cao mức sống của nhân dân Nước này đặc biệt chú trọng phát triển nông nghiệp như một thế mạnh để thúc đẩy công nghiệp hóa - hiện đại hóa và giải quyết các vấn đề xã hội Kết quả là tỷ lệ người nghèo đói đã giảm từ 20,7% năm 1986 xuống còn 17,1% năm 1990 Đặc biệt, Malaysia coi giáo dục là nền tảng quan trọng để thực hiện phân phối thu nhập bình đẳng.
Dựa trên kinh nghiệm của các quốc gia tương tự như Việt Nam, các chính sách và giải pháp hiệu quả trong việc xoá đói giảm nghèo bền vững thường bao gồm:
Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và nông thôn là ưu tiên hàng đầu, với nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế Khu vực nông thôn cần được chú trọng để nâng cao đời sống người dân và thúc đẩy sự phát triển bền vững.
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về nghèo đói, tái nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo nhằm đề xuất các biện pháp giảm nghèo bền vững cho hộ nghèo tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.
- Đánh giá thực trạng đói nghèo và công tác xoá đói giảm nghèo ở huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình
- Đề xuất một số giải pháp hướng tới giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến đói nghèo và giảm nghèo, bao gồm nguyên nhân gây ra nghèo đói, tình trạng tái nghèo, và những hộ gia đình chưa bao giờ thoát nghèo Bài viết cũng phân tích tình hình thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo tại huyện trong giai đoạn 2000-2010.
- Đánh giá thực trạng đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình
- Đề xuất một số giải pháp hướng tới giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình
- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu được tiến hành trong phạm vi huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình
- Phạm vi về thời gian: Thu thập số liệu về xoá đói, giảm nghèo tập trung chủ yếu ở giai đoạn 2000-2010
Nội dung nghiên cứu
- Hệ thống cơ sở lý luận về đói nghèo và giảm nghèo bền vững
- Đánh giá thực trạng về công tác xoá đói giảm nghèo ở huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình
+ Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Đà Bắc, tỉnh
+ Thực trạng đói nghèo và công tác xoá đói giảm nghèo ở huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình
+ Các nhân tố ảnh hưởng tới đói nghèo
- Đề xuất một số giải pháp hướng tới giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình
+ Quan điểm và mục tiêu giảm nghèo của tỉnh Hoà Bình
+ Đề xuất một số giải pháp