Kĩ năng Vận dụng những vấn đề lí thuyết về ngôn ngữ và lời nói, về chức năng của ngôn ngữ, hệ thống tín hiệu, loại hình ngôn ngữ đơn lập, có kĩ năng phân tích ngữ âm, thực hành phân tích
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Lê Thị Lan Anh (Chủ biên)
Lê Thị Thùy Vinh – Vũ Thị Tuyết
GIÁO TRÌNH TIẾNG VIỆT 1 (Lưu hành nội bộ)
HÀ NỘI - NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Lê Thị Lan Anh (Chủ biên)
Lê Thị Thùy Vinh – Vũ Thị Tuyết
GIÁO TRÌNH TIẾNG VIỆT 1 (Lưu hành nội bộ)
HÀ NỘI - NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Lê Thị Lan Anh (Chủ biên)
Lê Thị Thùy Vinh – Vũ Thị Tuyết
GIÁO TRÌNH TIẾNG VIỆT 1 (Lưu hành nội bộ)
HÀ NỘI - NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Lê Thị Lan Anh (Chủ biên)
Lê Thị Thùy Vinh – Vũ Thị Tuyết
GIÁO TRÌNH TIẾNG VIỆT 1 (Lưu hành nội bộ)
HÀ NỘI - NĂM 2017
Trang 21
Lê Thị Lan Anh (Chủ biên) - Lê Thị Thùy Vinh - Vũ Thị Tuyết
GIÁO TRÌNH TIẾNG VIỆT 1
(Giáo trình dùng cho Đại học chính quy ngành Giáo dục Tiểu học)
HÀ NỘI - NĂM 2017
Lê Thị Lan Anh (Chủ biên) - Lê Thị Thùy Vinh - Vũ Thị Tuyết
GIÁO TRÌNH TIẾNG VIỆT 1
(Giáo trình dùng cho Đại học chính quy ngành Giáo dục Tiểu học)
HÀ NỘI - NĂM 2017
1
Lê Thị Lan Anh (Chủ biên) - Lê Thị Thùy Vinh - Vũ Thị Tuyết
GIÁO TRÌNH TIẾNG VIỆT 1
(Giáo trình dùng cho Đại học chính quy ngành Giáo dục Tiểu học)
HÀ NỘI - NĂM 2017
Lê Thị Lan Anh (Chủ biên) - Lê Thị Thùy Vinh - Vũ Thị Tuyết
GIÁO TRÌNH TIẾNG VIỆT 1
(Giáo trình dùng cho Đại học chính quy ngành Giáo dục Tiểu học)
HÀ NỘI - NĂM 2017
Trang 32
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
NỘI DUNG 6
PHẦN 1 DẪN LUẬN NGÔN NGỮ HỌC 7
1.1 Đại cương về ngôn ngữ và ngôn ngữ học 7
1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ 7
1.1.2 Khái niệm ngôn ngữ học 8
1.1.3 Các bình diện và lĩnh vực nghiên cứu của ngôn ngữ học 13
1.1.4 Ý nghĩa của việc nhận thức những vấn đề của ngôn ngữ và ngôn ngữ học 14
1.2 Bản chất và chức năng của ngôn ngữ 15
1.2.1 Bản chất của ngôn ngữ 15
1.2.2 Chức năng của ngôn ngữ 18
1.3 Sự phân loại ngôn ngữ 19
1.3.1 Khái quát về sự phân loại 19
1.3.2 Sự phân loại ngôn ngữ 20
1.3.3 Hệ thống ngôn ngữ 29
PHẦN 2 NGỮ ÂM HỌC TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI 36
CHƯƠNG 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ NGỮ ÂM VÀ NGỮ ÂM HỌC 36
1.1 Âm thanh của ngôn ngữ 36
1.1.1 Khái niệm ngữ âm 36
1.1.2 Mối quan hệ giữa âm và nghĩa trong âm thanh ngôn ngữ 36
1.2 Cơ sở của ngữ âm 37
1.2.1 Cơ sở tự nhiên 37
1.2.2 Cơ sở xã hội 39
1.3 Khoa học ngữ âm 40
1.3.1 Ngữ âm học và âm vị học 40
1.3.2 Các chi nhánh của ngữ âm học 41
1.3.3 Ích lợi của ngữ âm 42
1.3.4 Kí hiệu ngữ âm 43
CHƯƠNG 2 CÁC ĐƠN VỊ NGỮ ÂM 45
2.1 Các đơn vị đoạn tính 45
2.1.1 Âm tiết 45
2.1.2 Âm tố 46
2.1.3 Âm vị 49
2.2 Các đơn vị siêu đoạn tính 55
2.2.1 Thanh điệu 55
2.2.2 Trọng âm 56
2.2.3 Ngữ điệu 56
MỤC LỤC MỤC LỤC 2
NỘI DUNG 6
PHẦN 1 DẪN LUẬN NGÔN NGỮ HỌC 7
1.1 Đại cương về ngôn ngữ và ngôn ngữ học 7
1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ 7
1.1.2 Khái niệm ngôn ngữ học 8
1.1.3 Các bình diện và lĩnh vực nghiên cứu của ngôn ngữ học 13
1.1.4 Ý nghĩa của việc nhận thức những vấn đề của ngôn ngữ và ngôn ngữ học 14
1.2 Bản chất và chức năng của ngôn ngữ 15
1.2.1 Bản chất của ngôn ngữ 15
1.2.2 Chức năng của ngôn ngữ 18
1.3 Sự phân loại ngôn ngữ 19
1.3.1 Khái quát về sự phân loại 19
1.3.2 Sự phân loại ngôn ngữ 20
1.3.3 Hệ thống ngôn ngữ 29
PHẦN 2 NGỮ ÂM HỌC TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI 36
CHƯƠNG 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ NGỮ ÂM VÀ NGỮ ÂM HỌC 36
1.1 Âm thanh của ngôn ngữ 36
1.1.1 Khái niệm ngữ âm 36
1.1.2 Mối quan hệ giữa âm và nghĩa trong âm thanh ngôn ngữ 36
1.2 Cơ sở của ngữ âm 37
1.2.1 Cơ sở tự nhiên 37
1.2.2 Cơ sở xã hội 39
1.3 Khoa học ngữ âm 40
1.3.1 Ngữ âm học và âm vị học 40
1.3.2 Các chi nhánh của ngữ âm học 41
1.3.3 Ích lợi của ngữ âm 42
1.3.4 Kí hiệu ngữ âm 43
CHƯƠNG 2 CÁC ĐƠN VỊ NGỮ ÂM 45
2.1 Các đơn vị đoạn tính 45
2.1.1 Âm tiết 45
2.1.2 Âm tố 46
2.1.3 Âm vị 49
2.2 Các đơn vị siêu đoạn tính 55
2.2.1 Thanh điệu 55
2.2.2 Trọng âm 56
2.2.3 Ngữ điệu 56
2 MỤC LỤC MỤC LỤC 2
NỘI DUNG 6
PHẦN 1 DẪN LUẬN NGÔN NGỮ HỌC 7
1.1 Đại cương về ngôn ngữ và ngôn ngữ học 7
1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ 7
1.1.2 Khái niệm ngôn ngữ học 8
1.1.3 Các bình diện và lĩnh vực nghiên cứu của ngôn ngữ học 13
1.1.4 Ý nghĩa của việc nhận thức những vấn đề của ngôn ngữ và ngôn ngữ học 14
1.2 Bản chất và chức năng của ngôn ngữ 15
1.2.1 Bản chất của ngôn ngữ 15
1.2.2 Chức năng của ngôn ngữ 18
1.3 Sự phân loại ngôn ngữ 19
1.3.1 Khái quát về sự phân loại 19
1.3.2 Sự phân loại ngôn ngữ 20
1.3.3 Hệ thống ngôn ngữ 29
PHẦN 2 NGỮ ÂM HỌC TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI 36
CHƯƠNG 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ NGỮ ÂM VÀ NGỮ ÂM HỌC 36
1.1 Âm thanh của ngôn ngữ 36
1.1.1 Khái niệm ngữ âm 36
1.1.2 Mối quan hệ giữa âm và nghĩa trong âm thanh ngôn ngữ 36
1.2 Cơ sở của ngữ âm 37
1.2.1 Cơ sở tự nhiên 37
1.2.2 Cơ sở xã hội 39
1.3 Khoa học ngữ âm 40
1.3.1 Ngữ âm học và âm vị học 40
1.3.2 Các chi nhánh của ngữ âm học 41
1.3.3 Ích lợi của ngữ âm 42
1.3.4 Kí hiệu ngữ âm 43
CHƯƠNG 2 CÁC ĐƠN VỊ NGỮ ÂM 45
2.1 Các đơn vị đoạn tính 45
2.1.1 Âm tiết 45
2.1.2 Âm tố 46
2.1.3 Âm vị 49
2.2 Các đơn vị siêu đoạn tính 55
2.2.1 Thanh điệu 55
2.2.2 Trọng âm 56
2.2.3 Ngữ điệu 56
MỤC LỤC MỤC LỤC 2
NỘI DUNG 6
PHẦN 1 DẪN LUẬN NGÔN NGỮ HỌC 7
1.1 Đại cương về ngôn ngữ và ngôn ngữ học 7
1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ 7
1.1.2 Khái niệm ngôn ngữ học 8
1.1.3 Các bình diện và lĩnh vực nghiên cứu của ngôn ngữ học 13
1.1.4 Ý nghĩa của việc nhận thức những vấn đề của ngôn ngữ và ngôn ngữ học 14
1.2 Bản chất và chức năng của ngôn ngữ 15
1.2.1 Bản chất của ngôn ngữ 15
1.2.2 Chức năng của ngôn ngữ 18
1.3 Sự phân loại ngôn ngữ 19
1.3.1 Khái quát về sự phân loại 19
1.3.2 Sự phân loại ngôn ngữ 20
1.3.3 Hệ thống ngôn ngữ 29
PHẦN 2 NGỮ ÂM HỌC TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI 36
CHƯƠNG 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ NGỮ ÂM VÀ NGỮ ÂM HỌC 36
1.1 Âm thanh của ngôn ngữ 36
1.1.1 Khái niệm ngữ âm 36
1.1.2 Mối quan hệ giữa âm và nghĩa trong âm thanh ngôn ngữ 36
1.2 Cơ sở của ngữ âm 37
1.2.1 Cơ sở tự nhiên 37
1.2.2 Cơ sở xã hội 39
1.3 Khoa học ngữ âm 40
1.3.1 Ngữ âm học và âm vị học 40
1.3.2 Các chi nhánh của ngữ âm học 41
1.3.3 Ích lợi của ngữ âm 42
1.3.4 Kí hiệu ngữ âm 43
CHƯƠNG 2 CÁC ĐƠN VỊ NGỮ ÂM 45
2.1 Các đơn vị đoạn tính 45
2.1.1 Âm tiết 45
2.1.2 Âm tố 46
2.1.3 Âm vị 49
2.2 Các đơn vị siêu đoạn tính 55
2.2.1 Thanh điệu 55
2.2.2 Trọng âm 56
2.2.3 Ngữ điệu 56
Trang 43
CHƯƠNG 3 ÂM TIẾT TIẾNG VIỆT 58
3.1 Đặc điểm đặc thù của âm tiết tiếng Việt 58
3.1.1 Đặc điểm ngữ âm 58
3.2 Phân loại âm tiết tiếng Việt 60
3.2.1 Dựa vào âm cuối vần 60
3.2.2 Dựa vào âm đầu và âm đệm 60
CHƯƠNG 4 HỆ THỐNG ÂM VỊ TIẾNG VIỆT 62
4.1 Âm đầu 62
4.1.1 Đặc điểm và số lượng 62
4.1.2 Sự phân bố các âm đầu trong các kiểu âm tiết tiếng Việt 62
4.1.3 Miêu tả các phụ âm đầu tiếng Việt và sự thể hiện trên chữ viết 63
4.2 Âm đệm 65
4.2.1 Đặc điểm và số lượng 65
4.2.2 Sự phân bố của âm đệm trong cấu tạo âm tiết tiếng Việt 66
4.2.3 Sự thể hiện của âm đệm trên chữ viết 66
4.3 Âm chính 66
4.3.1 Đặc điểm và số lượng 66
4.3.2 Sự phân bố của âm chính trong cấu tạo âm tiết 67
4.3.3 Sự thể hiện của âm chính trên chữ viết 67
4.4 Âm cuối 69
4.4.1 Đặc điểm và số lượngvà sự phân bố của âm cuối trong âm tiết tiếng Việt 69
4.4.2 Sự thể hiện của các âm cuối trên chữ viết 69
CHƯƠNG 5 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN NGỮ ÂM HỌC TRONG NHÀ TRƯỜNG 73
5.1 Vấn đề chính âm 73
5.1.1 Khái niệm chính âm 73
5.1.2 Nội dung, yêu cầu của công tác chính âm 73
5.1.3 Sự hình thành hệ thống ngữ âm chuẩn và chuẩn ngữ âm của tiếng Việt 73
5.1.4 Chính âm trong nhà trường 74
5.2 Vấn đề chữ viết 74
5.2.1 Yêu cầu về chữ viết 74
5.2.2 Một số đề nghị về chữ viết trong nhà trường 79
5.3 Vấn đề chính tả 80
5.3.1 Khái niệm chính tả 80
5.3.2 Các nguyên tắc, phương pháp luyện chính tả 80
PHẦN 3 TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI 81
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT 81
1.1.Từ và từ vựng 81
1.1.1Khái niệm từ trong ngôn ngữ 81
1.1.2 Từ vựng 82
CHƯƠNG 3 ÂM TIẾT TIẾNG VIỆT 58
3.1 Đặc điểm đặc thù của âm tiết tiếng Việt 58
3.1.1 Đặc điểm ngữ âm 58
3.2 Phân loại âm tiết tiếng Việt 60
3.2.1 Dựa vào âm cuối vần 60
3.2.2 Dựa vào âm đầu và âm đệm 60
CHƯƠNG 4 HỆ THỐNG ÂM VỊ TIẾNG VIỆT 62
4.1 Âm đầu 62
4.1.1 Đặc điểm và số lượng 62
4.1.2 Sự phân bố các âm đầu trong các kiểu âm tiết tiếng Việt 62
4.1.3 Miêu tả các phụ âm đầu tiếng Việt và sự thể hiện trên chữ viết 63
4.2 Âm đệm 65
4.2.1 Đặc điểm và số lượng 65
4.2.2 Sự phân bố của âm đệm trong cấu tạo âm tiết tiếng Việt 66
4.2.3 Sự thể hiện của âm đệm trên chữ viết 66
4.3 Âm chính 66
4.3.1 Đặc điểm và số lượng 66
4.3.2 Sự phân bố của âm chính trong cấu tạo âm tiết 67
4.3.3 Sự thể hiện của âm chính trên chữ viết 67
4.4 Âm cuối 69
4.4.1 Đặc điểm và số lượngvà sự phân bố của âm cuối trong âm tiết tiếng Việt 69
4.4.2 Sự thể hiện của các âm cuối trên chữ viết 69
CHƯƠNG 5 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN NGỮ ÂM HỌC TRONG NHÀ TRƯỜNG 73
5.1 Vấn đề chính âm 73
5.1.1 Khái niệm chính âm 73
5.1.2 Nội dung, yêu cầu của công tác chính âm 73
5.1.3 Sự hình thành hệ thống ngữ âm chuẩn và chuẩn ngữ âm của tiếng Việt 73
5.1.4 Chính âm trong nhà trường 74
5.2 Vấn đề chữ viết 74
5.2.1 Yêu cầu về chữ viết 74
5.2.2 Một số đề nghị về chữ viết trong nhà trường 79
5.3 Vấn đề chính tả 80
5.3.1 Khái niệm chính tả 80
5.3.2 Các nguyên tắc, phương pháp luyện chính tả 80
PHẦN 3 TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI 81
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT 81
1.1.Từ và từ vựng 81
1.1.1Khái niệm từ trong ngôn ngữ 81
1.1.2 Từ vựng 82
3 CHƯƠNG 3 ÂM TIẾT TIẾNG VIỆT 58
3.1 Đặc điểm đặc thù của âm tiết tiếng Việt 58
3.1.1 Đặc điểm ngữ âm 58
3.2 Phân loại âm tiết tiếng Việt 60
3.2.1 Dựa vào âm cuối vần 60
3.2.2 Dựa vào âm đầu và âm đệm 60
CHƯƠNG 4 HỆ THỐNG ÂM VỊ TIẾNG VIỆT 62
4.1 Âm đầu 62
4.1.1 Đặc điểm và số lượng 62
4.1.2 Sự phân bố các âm đầu trong các kiểu âm tiết tiếng Việt 62
4.1.3 Miêu tả các phụ âm đầu tiếng Việt và sự thể hiện trên chữ viết 63
4.2 Âm đệm 65
4.2.1 Đặc điểm và số lượng 65
4.2.2 Sự phân bố của âm đệm trong cấu tạo âm tiết tiếng Việt 66
4.2.3 Sự thể hiện của âm đệm trên chữ viết 66
4.3 Âm chính 66
4.3.1 Đặc điểm và số lượng 66
4.3.2 Sự phân bố của âm chính trong cấu tạo âm tiết 67
4.3.3 Sự thể hiện của âm chính trên chữ viết 67
4.4 Âm cuối 69
4.4.1 Đặc điểm và số lượngvà sự phân bố của âm cuối trong âm tiết tiếng Việt 69
4.4.2 Sự thể hiện của các âm cuối trên chữ viết 69
CHƯƠNG 5 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN NGỮ ÂM HỌC TRONG NHÀ TRƯỜNG 73
5.1 Vấn đề chính âm 73
5.1.1 Khái niệm chính âm 73
5.1.2 Nội dung, yêu cầu của công tác chính âm 73
5.1.3 Sự hình thành hệ thống ngữ âm chuẩn và chuẩn ngữ âm của tiếng Việt 73
5.1.4 Chính âm trong nhà trường 74
5.2 Vấn đề chữ viết 74
5.2.1 Yêu cầu về chữ viết 74
5.2.2 Một số đề nghị về chữ viết trong nhà trường 79
5.3 Vấn đề chính tả 80
5.3.1 Khái niệm chính tả 80
5.3.2 Các nguyên tắc, phương pháp luyện chính tả 80
PHẦN 3 TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI 81
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT 81
1.1.Từ và từ vựng 81
1.1.1Khái niệm từ trong ngôn ngữ 81
1.1.2 Từ vựng 82
CHƯƠNG 3 ÂM TIẾT TIẾNG VIỆT 58
3.1 Đặc điểm đặc thù của âm tiết tiếng Việt 58
3.1.1 Đặc điểm ngữ âm 58
3.2 Phân loại âm tiết tiếng Việt 60
3.2.1 Dựa vào âm cuối vần 60
3.2.2 Dựa vào âm đầu và âm đệm 60
CHƯƠNG 4 HỆ THỐNG ÂM VỊ TIẾNG VIỆT 62
4.1 Âm đầu 62
4.1.1 Đặc điểm và số lượng 62
4.1.2 Sự phân bố các âm đầu trong các kiểu âm tiết tiếng Việt 62
4.1.3 Miêu tả các phụ âm đầu tiếng Việt và sự thể hiện trên chữ viết 63
4.2 Âm đệm 65
4.2.1 Đặc điểm và số lượng 65
4.2.2 Sự phân bố của âm đệm trong cấu tạo âm tiết tiếng Việt 66
4.2.3 Sự thể hiện của âm đệm trên chữ viết 66
4.3 Âm chính 66
4.3.1 Đặc điểm và số lượng 66
4.3.2 Sự phân bố của âm chính trong cấu tạo âm tiết 67
4.3.3 Sự thể hiện của âm chính trên chữ viết 67
4.4 Âm cuối 69
4.4.1 Đặc điểm và số lượngvà sự phân bố của âm cuối trong âm tiết tiếng Việt 69
4.4.2 Sự thể hiện của các âm cuối trên chữ viết 69
CHƯƠNG 5 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN NGỮ ÂM HỌC TRONG NHÀ TRƯỜNG 73
5.1 Vấn đề chính âm 73
5.1.1 Khái niệm chính âm 73
5.1.2 Nội dung, yêu cầu của công tác chính âm 73
5.1.3 Sự hình thành hệ thống ngữ âm chuẩn và chuẩn ngữ âm của tiếng Việt 73
5.1.4 Chính âm trong nhà trường 74
5.2 Vấn đề chữ viết 74
5.2.1 Yêu cầu về chữ viết 74
5.2.2 Một số đề nghị về chữ viết trong nhà trường 79
5.3 Vấn đề chính tả 80
5.3.1 Khái niệm chính tả 80
5.3.2 Các nguyên tắc, phương pháp luyện chính tả 80
PHẦN 3 TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI 81
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT 81
1.1.Từ và từ vựng 81
1.1.1Khái niệm từ trong ngôn ngữ 81
1.1.2 Từ vựng 82
Trang 54
1.2 Từ vựng - ngữ nghĩa học 83
1.2.1 Khái niệm Từ vựng - ngữ nghĩa học 83
1.2.2 Các ngành thuộc từ vựng - ngữ nghĩa học 83
1.4 Vai trò của từ vựng - ngữ nghĩa học 84
CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT 86
2.1 Đơn vị từ vựng 86
2.1.1 Từ của tiếng Việt 86
2.1.2 Đặc điểm ngữ âm và đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt 86
2.1.3 Đặc điểm cấu tạo của từ tiếng Việt 88
2.1.4 Ngữ cố định 96
2.2 Nghĩa của từ tiếng Việt 98
2.2.1 Khái niệm nghĩa của từ, các thành phần ý nghĩa trong từ 98
2.2.2 Hiện tượng nhiều nghĩa 101
2.2.3 Sự chuyển biến ý nghĩa của từ 105
2.3 Hệ thống từ vựng 107
2.3.1 Những lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa 108
2.3.2 Những lớp từ không có quan hệ về ngữ nghĩa 119
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA TRONG NHÀ TRƯỜNG 133
3.1 Môn Tiếng Việt và chương trình dạy từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt ở Tiểu học 133
3.2 Các nội dung lí thuyết về từ vựng ngữ nghĩa ở Tiểu học 134
3.2.1 Vấn đề cấu tạo từ trong chương trình từ ngữ ở trường Tiểu học 134
3.2.2 Vấn đề ngữ nghĩa của từ trong chương trình từ ngữ ở cấp tiểu học 135
3.2.3 Vấn đề hệ thống từ vựng trong chương trình từ ngữ ở Tiểu học 135
TÀI LIỆU THAM KHẢO 138
1.2 Từ vựng - ngữ nghĩa học 83
1.2.1 Khái niệm Từ vựng - ngữ nghĩa học 83
1.2.2 Các ngành thuộc từ vựng - ngữ nghĩa học 83
1.4 Vai trò của từ vựng - ngữ nghĩa học 84
CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT 86
2.1 Đơn vị từ vựng 86
2.1.1 Từ của tiếng Việt 86
2.1.2 Đặc điểm ngữ âm và đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt 86
2.1.3 Đặc điểm cấu tạo của từ tiếng Việt 88
2.1.4 Ngữ cố định 96
2.2 Nghĩa của từ tiếng Việt 98
2.2.1 Khái niệm nghĩa của từ, các thành phần ý nghĩa trong từ 98
2.2.2 Hiện tượng nhiều nghĩa 101
2.2.3 Sự chuyển biến ý nghĩa của từ 105
2.3 Hệ thống từ vựng 107
2.3.1 Những lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa 108
2.3.2 Những lớp từ không có quan hệ về ngữ nghĩa 119
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA TRONG NHÀ TRƯỜNG 133
3.1 Môn Tiếng Việt và chương trình dạy từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt ở Tiểu học 133
3.2 Các nội dung lí thuyết về từ vựng ngữ nghĩa ở Tiểu học 134
3.2.1 Vấn đề cấu tạo từ trong chương trình từ ngữ ở trường Tiểu học 134
3.2.2 Vấn đề ngữ nghĩa của từ trong chương trình từ ngữ ở cấp tiểu học 135
3.2.3 Vấn đề hệ thống từ vựng trong chương trình từ ngữ ở Tiểu học 135
TÀI LIỆU THAM KHẢO 138
4 1.2 Từ vựng - ngữ nghĩa học 83
1.2.1 Khái niệm Từ vựng - ngữ nghĩa học 83
1.2.2 Các ngành thuộc từ vựng - ngữ nghĩa học 83
1.4 Vai trò của từ vựng - ngữ nghĩa học 84
CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT 86
2.1 Đơn vị từ vựng 86
2.1.1 Từ của tiếng Việt 86
2.1.2 Đặc điểm ngữ âm và đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt 86
2.1.3 Đặc điểm cấu tạo của từ tiếng Việt 88
2.1.4 Ngữ cố định 96
2.2 Nghĩa của từ tiếng Việt 98
2.2.1 Khái niệm nghĩa của từ, các thành phần ý nghĩa trong từ 98
2.2.2 Hiện tượng nhiều nghĩa 101
2.2.3 Sự chuyển biến ý nghĩa của từ 105
2.3 Hệ thống từ vựng 107
2.3.1 Những lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa 108
2.3.2 Những lớp từ không có quan hệ về ngữ nghĩa 119
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA TRONG NHÀ TRƯỜNG 133
3.1 Môn Tiếng Việt và chương trình dạy từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt ở Tiểu học 133
3.2 Các nội dung lí thuyết về từ vựng ngữ nghĩa ở Tiểu học 134
3.2.1 Vấn đề cấu tạo từ trong chương trình từ ngữ ở trường Tiểu học 134
3.2.2 Vấn đề ngữ nghĩa của từ trong chương trình từ ngữ ở cấp tiểu học 135
3.2.3 Vấn đề hệ thống từ vựng trong chương trình từ ngữ ở Tiểu học 135
TÀI LIỆU THAM KHẢO 138
1.2 Từ vựng - ngữ nghĩa học 83
1.2.1 Khái niệm Từ vựng - ngữ nghĩa học 83
1.2.2 Các ngành thuộc từ vựng - ngữ nghĩa học 83
1.4 Vai trò của từ vựng - ngữ nghĩa học 84
CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT 86
2.1 Đơn vị từ vựng 86
2.1.1 Từ của tiếng Việt 86
2.1.2 Đặc điểm ngữ âm và đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt 86
2.1.3 Đặc điểm cấu tạo của từ tiếng Việt 88
2.1.4 Ngữ cố định 96
2.2 Nghĩa của từ tiếng Việt 98
2.2.1 Khái niệm nghĩa của từ, các thành phần ý nghĩa trong từ 98
2.2.2 Hiện tượng nhiều nghĩa 101
2.2.3 Sự chuyển biến ý nghĩa của từ 105
2.3 Hệ thống từ vựng 107
2.3.1 Những lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa 108
2.3.2 Những lớp từ không có quan hệ về ngữ nghĩa 119
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA TRONG NHÀ TRƯỜNG 133
3.1 Môn Tiếng Việt và chương trình dạy từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt ở Tiểu học 133
3.2 Các nội dung lí thuyết về từ vựng ngữ nghĩa ở Tiểu học 134
3.2.1 Vấn đề cấu tạo từ trong chương trình từ ngữ ở trường Tiểu học 134
3.2.2 Vấn đề ngữ nghĩa của từ trong chương trình từ ngữ ở cấp tiểu học 135
3.2.3 Vấn đề hệ thống từ vựng trong chương trình từ ngữ ở Tiểu học 135
TÀI LIỆU THAM KHẢO 138
Trang 65
LỜI NÓI ĐẦU
Giáo trình Tiếng Việt 1 được biên soạn theo chương trình đào tạo giáo viên
Giáo dục Tiểu học của Trường ĐHSP Hà Nội 2 bắt đầu thực hiện từ năm học 2015-
2016 Giáo trình phục vụ cho cả người dạy và người học trong dạy học học phầnTiếng
Việt1 (theo học chế tín chỉ)
Trong khi biên soạn giáo trình, các tác giả luôn quán triệt mục tiêu đào tạo, cố
gắng bám sát chương trình của Nhà trường, đồng thời gắn nội dung dạy học Tiếng
Việt 1 với các môn học khác có liên quan trong đào tạo giáo viên tiểu học trình độ đại
học; đặc biệt cập nhật, gắn kiến thức môn học với thực tế giảng dạy ở trường phổ
thông, chuẩn bị cho sinh viên làm tốt công việc giảng dạy môn Tiếng Việt nói riêng và
giảng dạy ở nhà trường tiểu học nói chung Vì vậy, nội dung các chương, các mục
trong giáo trình không đi sâu vào những vấn đề lí thuyết ngôn ngữ mà cố gắng đáp
ứng những yêu cầu thực tiễn của Nhà Trường, của người học và của ngành học
Cấu trúc của giáo trình Tiếng Việt 1 gồm ba phần: Phần 1 Dẫn luận ngôn ngữ
học: kiến thức cơ bản về ngôn ngữ và ngôn ngữ học, bản chất và chức năng của ngôn
ngữ Phần 2 Ngữ âm học tiếng Việt hiện đại: đại cương về ngữ âm và ngữ âm học, các
đơn vị ngữ âm, âm tiết tiếng Việt, hệ thống âm vị tiếng Việt, một số vấn đề liên quan
đến ngữ âm học trong nhà trường Phần 3 Từ vựng - ngữ nghĩa học hiện đại: khái quát
về từ vựng ngữ nghĩa học, từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, một số vấn đề có liên quan
đến từ vựng ngữ nghĩa học trong nhà trường
Nhằm mục đích gắn kiến thức lí thuyết với thực tiễn, cuối mỗi phần đều có các
câu hỏi và bài tập yêu cầu người học phải kết nối kiến thức Tiếng Việt 1 với yêu cầu
và nhiệm vụ dạy học môn Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học
Giáo trình này dành cho giảng viên và sinh viên trong đào tạo ngành Giáo dục
Tiểu học, có thể sử dụng như một tài liệu tham khảo cho một số ngành khác có học
phần Tiếng Việt trong chương trình đào tạo
Giáo trình này hoàn thành với sự đóng góp ý kiến của các giảng viên trong
Khoa Giáo dục Tiểu học, khoa Ngữ văn và các giảng viên khác trong trường Xin chân
thành cảm ơn các thầy cô và Nhà trường đã giúp đỡ để chúng tôi hoàn thành được
cuốn giáo trình này.Đây là giáo trình có nội dung, bố cục mới, mang tính tổng hợp cao
vì vậy, trong quá trình biên soạn, chúng tôi không tránh khỏi những thiếu sót Chúng
tôi mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp, các em
sinh viên để giáo trình ngày càng hoàn thiện hơn
Nhóm tác giả
LỜI NÓI ĐẦU
Giáo trình Tiếng Việt 1 được biên soạn theo chương trình đào tạo giáo viên
Giáo dục Tiểu học của Trường ĐHSP Hà Nội 2 bắt đầu thực hiện từ năm học 2015-
2016 Giáo trình phục vụ cho cả người dạy và người học trong dạy học học phầnTiếng
Việt1 (theo học chế tín chỉ)
Trong khi biên soạn giáo trình, các tác giả luôn quán triệt mục tiêu đào tạo, cố
gắng bám sát chương trình của Nhà trường, đồng thời gắn nội dung dạy học Tiếng
Việt 1 với các môn học khác có liên quan trong đào tạo giáo viên tiểu học trình độ đại
học; đặc biệt cập nhật, gắn kiến thức môn học với thực tế giảng dạy ở trường phổ
thông, chuẩn bị cho sinh viên làm tốt công việc giảng dạy môn Tiếng Việt nói riêng và
giảng dạy ở nhà trường tiểu học nói chung Vì vậy, nội dung các chương, các mục
trong giáo trình không đi sâu vào những vấn đề lí thuyết ngôn ngữ mà cố gắng đáp
ứng những yêu cầu thực tiễn của Nhà Trường, của người học và của ngành học
Cấu trúc của giáo trình Tiếng Việt 1 gồm ba phần: Phần 1 Dẫn luận ngôn ngữ
học: kiến thức cơ bản về ngôn ngữ và ngôn ngữ học, bản chất và chức năng của ngôn
ngữ Phần 2 Ngữ âm học tiếng Việt hiện đại: đại cương về ngữ âm và ngữ âm học, các
đơn vị ngữ âm, âm tiết tiếng Việt, hệ thống âm vị tiếng Việt, một số vấn đề liên quan
đến ngữ âm học trong nhà trường Phần 3 Từ vựng - ngữ nghĩa học hiện đại: khái quát
về từ vựng ngữ nghĩa học, từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, một số vấn đề có liên quan
đến từ vựng ngữ nghĩa học trong nhà trường
Nhằm mục đích gắn kiến thức lí thuyết với thực tiễn, cuối mỗi phần đều có các
câu hỏi và bài tập yêu cầu người học phải kết nối kiến thức Tiếng Việt 1 với yêu cầu
và nhiệm vụ dạy học môn Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học
Giáo trình này dành cho giảng viên và sinh viên trong đào tạo ngành Giáo dục
Tiểu học, có thể sử dụng như một tài liệu tham khảo cho một số ngành khác có học
phần Tiếng Việt trong chương trình đào tạo
Giáo trình này hoàn thành với sự đóng góp ý kiến của các giảng viên trong
Khoa Giáo dục Tiểu học, khoa Ngữ văn và các giảng viên khác trong trường Xin chân
thành cảm ơn các thầy cô và Nhà trường đã giúp đỡ để chúng tôi hoàn thành được
cuốn giáo trình này.Đây là giáo trình có nội dung, bố cục mới, mang tính tổng hợp cao
vì vậy, trong quá trình biên soạn, chúng tôi không tránh khỏi những thiếu sót Chúng
tôi mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp, các em
sinh viên để giáo trình ngày càng hoàn thiện hơn
Nhóm tác giả
5
LỜI NÓI ĐẦU
Giáo trình Tiếng Việt 1 được biên soạn theo chương trình đào tạo giáo viên
Giáo dục Tiểu học của Trường ĐHSP Hà Nội 2 bắt đầu thực hiện từ năm học 2015-
2016 Giáo trình phục vụ cho cả người dạy và người học trong dạy học học phầnTiếng
Việt1 (theo học chế tín chỉ)
Trong khi biên soạn giáo trình, các tác giả luôn quán triệt mục tiêu đào tạo, cố gắng bám sát chương trình của Nhà trường, đồng thời gắn nội dung dạy học Tiếng Việt 1 với các môn học khác có liên quan trong đào tạo giáo viên tiểu học trình độ đại học; đặc biệt cập nhật, gắn kiến thức môn học với thực tế giảng dạy ở trường phổ thông, chuẩn bị cho sinh viên làm tốt công việc giảng dạy môn Tiếng Việt nói riêng và giảng dạy ở nhà trường tiểu học nói chung Vì vậy, nội dung các chương, các mục trong giáo trình không đi sâu vào những vấn đề lí thuyết ngôn ngữ mà cố gắng đáp ứng những yêu cầu thực tiễn của Nhà Trường, của người học và của ngành học Cấu trúc của giáo trình Tiếng Việt 1 gồm ba phần: Phần 1 Dẫn luận ngôn ngữ học: kiến thức cơ bản về ngôn ngữ và ngôn ngữ học, bản chất và chức năng của ngôn ngữ Phần 2 Ngữ âm học tiếng Việt hiện đại: đại cương về ngữ âm và ngữ âm học, các đơn vị ngữ âm, âm tiết tiếng Việt, hệ thống âm vị tiếng Việt, một số vấn đề liên quan đến ngữ âm học trong nhà trường Phần 3 Từ vựng - ngữ nghĩa học hiện đại: khái quát
về từ vựng ngữ nghĩa học, từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, một số vấn đề có liên quan đến từ vựng ngữ nghĩa học trong nhà trường
Nhằm mục đích gắn kiến thức lí thuyết với thực tiễn, cuối mỗi phần đều có các câu hỏi và bài tập yêu cầu người học phải kết nối kiến thức Tiếng Việt 1 với yêu cầu
và nhiệm vụ dạy học môn Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học
Giáo trình này dành cho giảng viên và sinh viên trong đào tạo ngành Giáo dục Tiểu học, có thể sử dụng như một tài liệu tham khảo cho một số ngành khác có học phần Tiếng Việt trong chương trình đào tạo
Giáo trình này hoàn thành với sự đóng góp ý kiến của các giảng viên trong Khoa Giáo dục Tiểu học, khoa Ngữ văn và các giảng viên khác trong trường Xin chân thành cảm ơn các thầy cô và Nhà trường đã giúp đỡ để chúng tôi hoàn thành được cuốn giáo trình này.Đây là giáo trình có nội dung, bố cục mới, mang tính tổng hợp cao
vì vậy, trong quá trình biên soạn, chúng tôi không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp, các em sinh viên để giáo trình ngày càng hoàn thiện hơn
Nhóm tác giả
LỜI NÓI ĐẦU
Giáo trình Tiếng Việt 1 được biên soạn theo chương trình đào tạo giáo viên
Giáo dục Tiểu học của Trường ĐHSP Hà Nội 2 bắt đầu thực hiện từ năm học 2015-
2016 Giáo trình phục vụ cho cả người dạy và người học trong dạy học học phầnTiếng
Việt1 (theo học chế tín chỉ)
Trong khi biên soạn giáo trình, các tác giả luôn quán triệt mục tiêu đào tạo, cố gắng bám sát chương trình của Nhà trường, đồng thời gắn nội dung dạy học Tiếng Việt 1 với các môn học khác có liên quan trong đào tạo giáo viên tiểu học trình độ đại học; đặc biệt cập nhật, gắn kiến thức môn học với thực tế giảng dạy ở trường phổ thông, chuẩn bị cho sinh viên làm tốt công việc giảng dạy môn Tiếng Việt nói riêng và giảng dạy ở nhà trường tiểu học nói chung Vì vậy, nội dung các chương, các mục trong giáo trình không đi sâu vào những vấn đề lí thuyết ngôn ngữ mà cố gắng đáp ứng những yêu cầu thực tiễn của Nhà Trường, của người học và của ngành học Cấu trúc của giáo trình Tiếng Việt 1 gồm ba phần: Phần 1 Dẫn luận ngôn ngữ học: kiến thức cơ bản về ngôn ngữ và ngôn ngữ học, bản chất và chức năng của ngôn ngữ Phần 2 Ngữ âm học tiếng Việt hiện đại: đại cương về ngữ âm và ngữ âm học, các đơn vị ngữ âm, âm tiết tiếng Việt, hệ thống âm vị tiếng Việt, một số vấn đề liên quan đến ngữ âm học trong nhà trường Phần 3 Từ vựng - ngữ nghĩa học hiện đại: khái quát
về từ vựng ngữ nghĩa học, từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, một số vấn đề có liên quan đến từ vựng ngữ nghĩa học trong nhà trường
Nhằm mục đích gắn kiến thức lí thuyết với thực tiễn, cuối mỗi phần đều có các câu hỏi và bài tập yêu cầu người học phải kết nối kiến thức Tiếng Việt 1 với yêu cầu
và nhiệm vụ dạy học môn Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học
Giáo trình này dành cho giảng viên và sinh viên trong đào tạo ngành Giáo dục Tiểu học, có thể sử dụng như một tài liệu tham khảo cho một số ngành khác có học phần Tiếng Việt trong chương trình đào tạo
Giáo trình này hoàn thành với sự đóng góp ý kiến của các giảng viên trong Khoa Giáo dục Tiểu học, khoa Ngữ văn và các giảng viên khác trong trường Xin chân thành cảm ơn các thầy cô và Nhà trường đã giúp đỡ để chúng tôi hoàn thành được cuốn giáo trình này.Đây là giáo trình có nội dung, bố cục mới, mang tính tổng hợp cao
vì vậy, trong quá trình biên soạn, chúng tôi không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp, các em sinh viên để giáo trình ngày càng hoàn thiện hơn
Nhóm tác giả
Trang 76
NỘI DUNG TIẾNG VIỆT 1
Số tín chỉ: 03
Số tiết lí thuyết: 30
Số tiết thực hành: 30
A MỤC ĐÍCH YÊU CẦU ĐỐI VỚI SINH VIÊN
1 Nội dung môn học
Dẫn luận ngôn ngữ học: kiến thức cơ bản về ngôn ngữ và ngôn ngữ học, bản
chất và chức năng của ngôn ngữ
Ngữ âm học tiếng Việt hiện đại: đại cương về ngữ âm và ngữ âm học, các đơn
vị ngữ âm, âm tiết tiếng Việt, hệ thống âm vị tiếng Việt, một số vấn đề liên quan đến
ngữ âm học trong nhà trường
Từ vựng - ngữ nghĩa học hiện đại: khái quát về từ vựng ngữ nghĩa học, từ vựng
ngữ nghĩa tiếng Việt, một số vấn đề có liên quan đến từ vựng ngữ nghĩa học trong nhà
trường
2 Mục tiêu môn học
2.1 Kiến thức
Sinh viên nắm vững những tri thức lí thuyết cơ bản, hiện đại về dẫn luận ngôn
ngữ học, về ngữ âm học và từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt hiện đại
2.2 Kĩ năng
Vận dụng những vấn đề lí thuyết về ngôn ngữ và lời nói, về chức năng của
ngôn ngữ, hệ thống tín hiệu, loại hình ngôn ngữ đơn lập, có kĩ năng phân tích ngữ âm,
thực hành phân tích nghĩa của từ, xây dựng trường nghĩa, giảiquyết một số vấn đề có
liên quan trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học
2.3 Thái độ
Yêu tiếng Việt, trân trọng và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
NỘI DUNG TIẾNG VIỆT 1
Số tín chỉ: 03
Số tiết lí thuyết: 30
Số tiết thực hành: 30
A MỤC ĐÍCH YÊU CẦU ĐỐI VỚI SINH VIÊN
1 Nội dung môn học
Dẫn luận ngôn ngữ học: kiến thức cơ bản về ngôn ngữ và ngôn ngữ học, bản
chất và chức năng của ngôn ngữ
Ngữ âm học tiếng Việt hiện đại: đại cương về ngữ âm và ngữ âm học, các đơn
vị ngữ âm, âm tiết tiếng Việt, hệ thống âm vị tiếng Việt, một số vấn đề liên quan đến
ngữ âm học trong nhà trường
Từ vựng - ngữ nghĩa học hiện đại: khái quát về từ vựng ngữ nghĩa học, từ vựng
ngữ nghĩa tiếng Việt, một số vấn đề có liên quan đến từ vựng ngữ nghĩa học trong nhà
trường
2 Mục tiêu môn học
2.1 Kiến thức
Sinh viên nắm vững những tri thức lí thuyết cơ bản, hiện đại về dẫn luận ngôn
ngữ học, về ngữ âm học và từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt hiện đại
2.2 Kĩ năng
Vận dụng những vấn đề lí thuyết về ngôn ngữ và lời nói, về chức năng của
ngôn ngữ, hệ thống tín hiệu, loại hình ngôn ngữ đơn lập, có kĩ năng phân tích ngữ âm,
thực hành phân tích nghĩa của từ, xây dựng trường nghĩa, giảiquyết một số vấn đề có
liên quan trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học
2.3 Thái độ
Yêu tiếng Việt, trân trọng và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
6
NỘI DUNG TIẾNG VIỆT 1
Số tín chỉ: 03
Số tiết lí thuyết: 30
Số tiết thực hành: 30
A MỤC ĐÍCH YÊU CẦU ĐỐI VỚI SINH VIÊN
1 Nội dung môn học
Dẫn luận ngôn ngữ học: kiến thức cơ bản về ngôn ngữ và ngôn ngữ học, bản chất và chức năng của ngôn ngữ
Ngữ âm học tiếng Việt hiện đại: đại cương về ngữ âm và ngữ âm học, các đơn
vị ngữ âm, âm tiết tiếng Việt, hệ thống âm vị tiếng Việt, một số vấn đề liên quan đến ngữ âm học trong nhà trường
Từ vựng - ngữ nghĩa học hiện đại: khái quát về từ vựng ngữ nghĩa học, từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, một số vấn đề có liên quan đến từ vựng ngữ nghĩa học trong nhà trường
2 Mục tiêu môn học
2.1 Kiến thức Sinh viên nắm vững những tri thức lí thuyết cơ bản, hiện đại về dẫn luận ngôn ngữ học, về ngữ âm học và từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt hiện đại
2.2 Kĩ năng Vận dụng những vấn đề lí thuyết về ngôn ngữ và lời nói, về chức năng của ngôn ngữ, hệ thống tín hiệu, loại hình ngôn ngữ đơn lập, có kĩ năng phân tích ngữ âm, thực hành phân tích nghĩa của từ, xây dựng trường nghĩa, giảiquyết một số vấn đề có liên quan trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học
2.3 Thái độ Yêu tiếng Việt, trân trọng và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
NỘI DUNG TIẾNG VIỆT 1
Số tín chỉ: 03
Số tiết lí thuyết: 30
Số tiết thực hành: 30
A MỤC ĐÍCH YÊU CẦU ĐỐI VỚI SINH VIÊN
1 Nội dung môn học
Dẫn luận ngôn ngữ học: kiến thức cơ bản về ngôn ngữ và ngôn ngữ học, bản chất và chức năng của ngôn ngữ
Ngữ âm học tiếng Việt hiện đại: đại cương về ngữ âm và ngữ âm học, các đơn
vị ngữ âm, âm tiết tiếng Việt, hệ thống âm vị tiếng Việt, một số vấn đề liên quan đến ngữ âm học trong nhà trường
Từ vựng - ngữ nghĩa học hiện đại: khái quát về từ vựng ngữ nghĩa học, từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, một số vấn đề có liên quan đến từ vựng ngữ nghĩa học trong nhà trường
2 Mục tiêu môn học
2.1 Kiến thức Sinh viên nắm vững những tri thức lí thuyết cơ bản, hiện đại về dẫn luận ngôn ngữ học, về ngữ âm học và từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt hiện đại
2.2 Kĩ năng Vận dụng những vấn đề lí thuyết về ngôn ngữ và lời nói, về chức năng của ngôn ngữ, hệ thống tín hiệu, loại hình ngôn ngữ đơn lập, có kĩ năng phân tích ngữ âm, thực hành phân tích nghĩa của từ, xây dựng trường nghĩa, giảiquyết một số vấn đề có liên quan trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học
2.3 Thái độ Yêu tiếng Việt, trân trọng và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Trang 87
PHẦN 1 DẪN LUẬN NGÔN NGỮ HỌC
1.1 Đại cương về ngôn ngữ và ngôn ngữ học
1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ
1.1.1.1 Ngôn ngữ và lời nói
Ngôn ngữ được xem là sản phẩm đỉnh cao trong sự phát triển của xã hội loài
người Nó là một hệ thống tín hiệu đặc biệt được con người tạo ra trong quá trình diễn
tiến tất yếu của lịch sử Ngôn ngữ là một hệ thống các đơn vị vật chất phục vụ cho việc
giao tiếp của cộng đồng xã hội loài người Xét về mặt xã hội, ngôn ngữ là một thiết
chế xã hội của một cộng đồng người, là công cụ để tiến hành giao tiếp và tư duy Nhìn
từ góc độ cấu trúc hệ thống: ngôn ngữ là một hệ thống bao gồm các đơn vị và các quy
tắc nói năng của một thứ tiếng Ngôn ngữ được hiểu như một thuật ngữ ngôn ngữ học
Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương xuất bản năm 1916 của Saussure đã quan niệm
hoạt động ngôn ngữ gồm hai mặt: mặt ngôn ngữ và mặt lời nói Theo ông, ngôn ngữ
là một hợp thể gồm những quy ước tất yếu được tập thể xã hội chấp nhận,( ) Ðó là
một kho tàng được thực tiễn nói năng của những người thuộc cùng một cộng đồng
ngôn ngữ lưu lại, một hệ thống tín hiệu, một hệ thống ngữ pháp tồn tại dưới dạng tiềm
năng trong mỗi bộ óc, hay, nói cho đúng hơn trong các bộ óc của một tập thể Những
tín hiệu và quy tắc trừu tượng đó tồn tại ở cả mặt ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp
Trên thế giới, ngôn ngữ có rất nhiều loại, nhiều nhóm Sự đa dạng và phong
phú ấy đã phản ánh bức tranh của đời sống xã hội Ngôn ngữ là một hệ thống phức hợp
bao gồm nhiều yếu tố khác nhau Trên cơ sở các yếu tố ấy, ngôn ngữ đã chuyển hóa
thành lời nói và đưa những đơn vị ấy vào vận hành trong giao tiếp hàng ngày
Ngôn ngữ và lời nói có mối quan hệ biện chứng với nhau Lời nói là sự vận
dụng ngôn ngữ của từng cá nhân vào những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể
1.1.1.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói
Ngôn ngữ và lời nói có mối quan hệ khăng khít không thể tách rời Mặc dù giữa
chúng vẫn có những điểm khác biệt nhất định song sự quan hệ giữa chúng là điều
Đặc điểm của lời nói:
- Có tính cá nhân, sáng tạo của từng người
- Có tính cụ thể dễ nhận ra trong đời sống hàng ngày
- Có tính vô hạn
- Không mang tính hệ thống
Ngôn ngữ và lời nói có mối quan hệ thống nhất nhưng không đồng nhất Ngôn
ngữ là vật liệu để tạo ra lời nói vì thế không có ngôn ngữ thì không có lời nói Ngôn
ngữ là cơ sở tập hợp lời nói, xác định lời nói và lời nói là chỗ để ngôn ngữ tồn tại, lời
nói để ngôn ngữ được biểu hiện Lời nói làm cho ngôn ngữ được biến hóa sáng tạo
thành những sắc thái biểu cảm khác nhau của ngôn ngữ từ đó bổ sung và làm phong
PHẦN 1 DẪN LUẬN NGÔN NGỮ HỌC
1.1 Đại cương về ngôn ngữ và ngôn ngữ học
1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ
1.1.1.1 Ngôn ngữ và lời nói
Ngôn ngữ được xem là sản phẩm đỉnh cao trong sự phát triển của xã hội loài
người Nó là một hệ thống tín hiệu đặc biệt được con người tạo ra trong quá trình diễn
tiến tất yếu của lịch sử Ngôn ngữ là một hệ thống các đơn vị vật chất phục vụ cho việc
giao tiếp của cộng đồng xã hội loài người Xét về mặt xã hội, ngôn ngữ là một thiết
chế xã hội của một cộng đồng người, là công cụ để tiến hành giao tiếp và tư duy Nhìn
từ góc độ cấu trúc hệ thống: ngôn ngữ là một hệ thống bao gồm các đơn vị và các quy
tắc nói năng của một thứ tiếng Ngôn ngữ được hiểu như một thuật ngữ ngôn ngữ học
Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương xuất bản năm 1916 của Saussure đã quan niệm
hoạt động ngôn ngữ gồm hai mặt: mặt ngôn ngữ và mặt lời nói Theo ông, ngôn ngữ
là một hợp thể gồm những quy ước tất yếu được tập thể xã hội chấp nhận,( ) Ðó là
một kho tàng được thực tiễn nói năng của những người thuộc cùng một cộng đồng
ngôn ngữ lưu lại, một hệ thống tín hiệu, một hệ thống ngữ pháp tồn tại dưới dạng tiềm
năng trong mỗi bộ óc, hay, nói cho đúng hơn trong các bộ óc của một tập thể Những
tín hiệu và quy tắc trừu tượng đó tồn tại ở cả mặt ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp
Trên thế giới, ngôn ngữ có rất nhiều loại, nhiều nhóm Sự đa dạng và phong
phú ấy đã phản ánh bức tranh của đời sống xã hội Ngôn ngữ là một hệ thống phức hợp
bao gồm nhiều yếu tố khác nhau Trên cơ sở các yếu tố ấy, ngôn ngữ đã chuyển hóa
thành lời nói và đưa những đơn vị ấy vào vận hành trong giao tiếp hàng ngày
Ngôn ngữ và lời nói có mối quan hệ biện chứng với nhau Lời nói là sự vận
dụng ngôn ngữ của từng cá nhân vào những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể
1.1.1.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói
Ngôn ngữ và lời nói có mối quan hệ khăng khít không thể tách rời Mặc dù giữa
chúng vẫn có những điểm khác biệt nhất định song sự quan hệ giữa chúng là điều
Đặc điểm của lời nói:
- Có tính cá nhân, sáng tạo của từng người
- Có tính cụ thể dễ nhận ra trong đời sống hàng ngày
- Có tính vô hạn
- Không mang tính hệ thống
Ngôn ngữ và lời nói có mối quan hệ thống nhất nhưng không đồng nhất Ngôn
ngữ là vật liệu để tạo ra lời nói vì thế không có ngôn ngữ thì không có lời nói Ngôn
ngữ là cơ sở tập hợp lời nói, xác định lời nói và lời nói là chỗ để ngôn ngữ tồn tại, lời
nói để ngôn ngữ được biểu hiện Lời nói làm cho ngôn ngữ được biến hóa sáng tạo
thành những sắc thái biểu cảm khác nhau của ngôn ngữ từ đó bổ sung và làm phong
7
PHẦN 1 DẪN LUẬN NGÔN NGỮ HỌC 1.1 Đại cương về ngôn ngữ và ngôn ngữ học
1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ
1.1.1.1 Ngôn ngữ và lời nói
Ngôn ngữ được xem là sản phẩm đỉnh cao trong sự phát triển của xã hội loài người Nó là một hệ thống tín hiệu đặc biệt được con người tạo ra trong quá trình diễn tiến tất yếu của lịch sử Ngôn ngữ là một hệ thống các đơn vị vật chất phục vụ cho việc giao tiếp của cộng đồng xã hội loài người Xét về mặt xã hội, ngôn ngữ là một thiết chế xã hội của một cộng đồng người, là công cụ để tiến hành giao tiếp và tư duy Nhìn
từ góc độ cấu trúc hệ thống: ngôn ngữ là một hệ thống bao gồm các đơn vị và các quy tắc nói năng của một thứ tiếng Ngôn ngữ được hiểu như một thuật ngữ ngôn ngữ học
Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương xuất bản năm 1916 của Saussure đã quan niệm
hoạt động ngôn ngữ gồm hai mặt: mặt ngôn ngữ và mặt lời nói Theo ông, ngôn ngữ
là một hợp thể gồm những quy ước tất yếu được tập thể xã hội chấp nhận,( ) Ðó là
một kho tàng được thực tiễn nói năng của những người thuộc cùng một cộng đồng ngôn ngữ lưu lại, một hệ thống tín hiệu, một hệ thống ngữ pháp tồn tại dưới dạng tiềm năng trong mỗi bộ óc, hay, nói cho đúng hơn trong các bộ óc của một tập thể Những
tín hiệu và quy tắc trừu tượng đó tồn tại ở cả mặt ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp Trên thế giới, ngôn ngữ có rất nhiều loại, nhiều nhóm Sự đa dạng và phong phú ấy đã phản ánh bức tranh của đời sống xã hội Ngôn ngữ là một hệ thống phức hợp bao gồm nhiều yếu tố khác nhau Trên cơ sở các yếu tố ấy, ngôn ngữ đã chuyển hóa thành lời nói và đưa những đơn vị ấy vào vận hành trong giao tiếp hàng ngày Ngôn ngữ và lời nói có mối quan hệ biện chứng với nhau Lời nói là sự vận dụng ngôn ngữ của từng cá nhân vào những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể
1.1.1.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói
Ngôn ngữ và lời nói có mối quan hệ khăng khít không thể tách rời Mặc dù giữa chúng vẫn có những điểm khác biệt nhất định song sự quan hệ giữa chúng là điều không thể phủ nhận
Đặc điểm của ngôn ngữ:
- Có tính xã hội
- Có tình trừu tượng
- Có tính hữu hạn
- Có tính hệ thống Đặc điểm của lời nói:
- Có tính cá nhân, sáng tạo của từng người
- Có tính cụ thể dễ nhận ra trong đời sống hàng ngày
- Có tính vô hạn
- Không mang tính hệ thống Ngôn ngữ và lời nói có mối quan hệ thống nhất nhưng không đồng nhất Ngôn ngữ là vật liệu để tạo ra lời nói vì thế không có ngôn ngữ thì không có lời nói Ngôn ngữ là cơ sở tập hợp lời nói, xác định lời nói và lời nói là chỗ để ngôn ngữ tồn tại, lời nói để ngôn ngữ được biểu hiện Lời nói làm cho ngôn ngữ được biến hóa sáng tạo thành những sắc thái biểu cảm khác nhau của ngôn ngữ từ đó bổ sung và làm phong
PHẦN 1 DẪN LUẬN NGÔN NGỮ HỌC 1.1 Đại cương về ngôn ngữ và ngôn ngữ học
1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ
1.1.1.1 Ngôn ngữ và lời nói
Ngôn ngữ được xem là sản phẩm đỉnh cao trong sự phát triển của xã hội loài người Nó là một hệ thống tín hiệu đặc biệt được con người tạo ra trong quá trình diễn tiến tất yếu của lịch sử Ngôn ngữ là một hệ thống các đơn vị vật chất phục vụ cho việc giao tiếp của cộng đồng xã hội loài người Xét về mặt xã hội, ngôn ngữ là một thiết chế xã hội của một cộng đồng người, là công cụ để tiến hành giao tiếp và tư duy Nhìn
từ góc độ cấu trúc hệ thống: ngôn ngữ là một hệ thống bao gồm các đơn vị và các quy tắc nói năng của một thứ tiếng Ngôn ngữ được hiểu như một thuật ngữ ngôn ngữ học
Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương xuất bản năm 1916 của Saussure đã quan niệm
hoạt động ngôn ngữ gồm hai mặt: mặt ngôn ngữ và mặt lời nói Theo ông, ngôn ngữ
là một hợp thể gồm những quy ước tất yếu được tập thể xã hội chấp nhận,( ) Ðó là
một kho tàng được thực tiễn nói năng của những người thuộc cùng một cộng đồng ngôn ngữ lưu lại, một hệ thống tín hiệu, một hệ thống ngữ pháp tồn tại dưới dạng tiềm năng trong mỗi bộ óc, hay, nói cho đúng hơn trong các bộ óc của một tập thể Những
tín hiệu và quy tắc trừu tượng đó tồn tại ở cả mặt ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp Trên thế giới, ngôn ngữ có rất nhiều loại, nhiều nhóm Sự đa dạng và phong phú ấy đã phản ánh bức tranh của đời sống xã hội Ngôn ngữ là một hệ thống phức hợp bao gồm nhiều yếu tố khác nhau Trên cơ sở các yếu tố ấy, ngôn ngữ đã chuyển hóa thành lời nói và đưa những đơn vị ấy vào vận hành trong giao tiếp hàng ngày Ngôn ngữ và lời nói có mối quan hệ biện chứng với nhau Lời nói là sự vận dụng ngôn ngữ của từng cá nhân vào những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể
1.1.1.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói
Ngôn ngữ và lời nói có mối quan hệ khăng khít không thể tách rời Mặc dù giữa chúng vẫn có những điểm khác biệt nhất định song sự quan hệ giữa chúng là điều không thể phủ nhận
Đặc điểm của ngôn ngữ:
- Có tính xã hội
- Có tình trừu tượng
- Có tính hữu hạn
- Có tính hệ thống Đặc điểm của lời nói:
- Có tính cá nhân, sáng tạo của từng người
- Có tính cụ thể dễ nhận ra trong đời sống hàng ngày
- Có tính vô hạn
- Không mang tính hệ thống Ngôn ngữ và lời nói có mối quan hệ thống nhất nhưng không đồng nhất Ngôn ngữ là vật liệu để tạo ra lời nói vì thế không có ngôn ngữ thì không có lời nói Ngôn ngữ là cơ sở tập hợp lời nói, xác định lời nói và lời nói là chỗ để ngôn ngữ tồn tại, lời nói để ngôn ngữ được biểu hiện Lời nói làm cho ngôn ngữ được biến hóa sáng tạo thành những sắc thái biểu cảm khác nhau của ngôn ngữ từ đó bổ sung và làm phong
Trang 98
phú cho ngôn ngữ Muốn khám phá ra những đơn vị và những quy luật của hoạt động
ngôn ngữ cần xuất phát từ tất cả những lời nói phong phú và đa dạng
1.1.2 Khái niệm ngôn ngữ học
1.1.2.1 Khái niệm
Ngôn ngữ là người bạn đồng hành không thể thiếu của con người Vì vậy, con
người luôn quan tâm đến ngôn ngữ và xây dựng cả một khoa học về nó Đó là ngôn
ngữ học Ngôn ngữ học là khoa học nghiên cứu ngôn ngữ Đây là một ngành khoa học
có từ lâu đời Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp, ngôn ngữ học ra đời chậm nhất là vào
thế kỉ thứ IV tr.CN Những tài liệu ngôn ngữ học cổ nhất được tìm thấy ở Hi Lạp, Ấn
Độ và Ả rập Ngôn ngữ học ra đời không phải xuất phát từ những suy nghĩ trừu tượng
của các siêu nhân mà xuất phát từ chính những yêu cầu trong đời sống của con người
Nó ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của đời sống Những tiến bộ của ngành ngôn ngữ học
được đánh dấu bằng sự ra đời, thay thế lẫn nhau của các phương pháp nghiên cứu mới
Ngôn ngữ có hai dạng thức tồn tại là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Ngôn ngữ
nói ra đời trước còn ngôn ngữ viết ra đời sau Sự ra đời của ngôn ngữ viết đã đánh dấu
bước phát triển của ngôn ngữ học Bởi muốn truyền thụ chữ viết từ thế hệ này sang thế
hệ khác chẳng những phải hiểu biết bản thân các kí hiệu mà còn phải biết các yếu tố
của kết cấu ngôn ngữ do các kí hiệu đó biểu hiện
Ở đất nước Ấn Độ, việc nghiên cứu ngôn ngữ chủ yếu có tính thực tiễn Còn ở
Hi Lạp, chiều hướng phát triển của ngôn ngữ học ban đầu gắn với những tìm tòi về
triết học trong các lĩnh vực rộng lớn về tư duy và thực tế Về sau môn ngữ pháp học đã
dần tách ra khỏi áp lực của triết học để trở thành một khoa học độc lập Trên cơ sở
những thành tựu ngôn ngữ học Ấn Độ và Hi Lạp mang lại, ngôn ngữ học Ả rập (thế kỉ
VII – Xs.CN) đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển chung của ngôn ngữ học
Người Ả rập nghiên cứu về ngôn ngữ học ở nhiều chiều hướng khác nhau Vượt qua
khỏi giới hạn về không gian, người Ả rập còn nghiên cứu cả tiếng địa phương và tiếng
nước ngoài nữa Tuy nhiên những thành tựu ngôn ngữ học cổ đại đã không phát huy
trong những thời kì tiếp theo
Ngôn ngữ học trải qua nhiều thời kì khác nhau Sự ra đời của phương pháp so
sánh – lịch sử là mốc lớn trên con đường phát triển của ngôn ngữ học Sau đó là
khuynh hướng ngữ pháp trẻ vào những năm 70 của thế kỉ XIX Đến đầu thế kỉ XX
xuất hiện một khuynh hướng gọi là khuynh hướng xã hội học Khuynh hướng mạnh
nhất trong ngôn ngữ học đầu thế kỉ XX là chủ nghĩa cấu trúc Hiện nay, ngôn ngữ học
đã xuất hiện nhiều khuynh hướng mới: nhân chủng – ngôn ngữ học, tâm lí – ngôn ngữ
học và ngôn ngữ học khu vực,…
Ngôn ngữ học so sánh - lịch sử coi ngôn ngữ là một trong những bằng chứng
của lịch sử dân tộc, nó thừa nhận sự biến đổi của ngôn ngữ trong thời gian và phương
pháp so sánh lịch sử được coi là phương pháp chủ đạo trong việc nghiên cứu ngôn ngữ
ở nhiều góc độ khác nhau Ngôn ngữ học so sánh – lịch sử còn xác lập và thừa nhận
tính chất họ hàng về mặt lịch sử của các ngôn ngữ, thừa nhận khả năng và sự cần thiết
phải nghiên cứu ngược lại quá khứ xa xôi của các ngôn ngữ họ hàng ngày nay cho tới
tận thời kì mà người ta giả thiết rằng có một ngôn ngữ cơ sở
Trong ngôn ngữ học so sánh – lịch sử xuất hiện một số trường phái khác nhau
như: trường phái tự nhiên, trường phái tâm lí, trường phái logic ngữ pháp, trường phái
ngữ pháp hình thức,…
phú cho ngôn ngữ Muốn khám phá ra những đơn vị và những quy luật của hoạt động
ngôn ngữ cần xuất phát từ tất cả những lời nói phong phú và đa dạng
1.1.2 Khái niệm ngôn ngữ học
1.1.2.1 Khái niệm
Ngôn ngữ là người bạn đồng hành không thể thiếu của con người Vì vậy, con
người luôn quan tâm đến ngôn ngữ và xây dựng cả một khoa học về nó Đó là ngôn
ngữ học Ngôn ngữ học là khoa học nghiên cứu ngôn ngữ Đây là một ngành khoa học
có từ lâu đời Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp, ngôn ngữ học ra đời chậm nhất là vào
thế kỉ thứ IV tr.CN Những tài liệu ngôn ngữ học cổ nhất được tìm thấy ở Hi Lạp, Ấn
Độ và Ả rập Ngôn ngữ học ra đời không phải xuất phát từ những suy nghĩ trừu tượng
của các siêu nhân mà xuất phát từ chính những yêu cầu trong đời sống của con người
Nó ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của đời sống Những tiến bộ của ngành ngôn ngữ học
được đánh dấu bằng sự ra đời, thay thế lẫn nhau của các phương pháp nghiên cứu mới
Ngôn ngữ có hai dạng thức tồn tại là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Ngôn ngữ
nói ra đời trước còn ngôn ngữ viết ra đời sau Sự ra đời của ngôn ngữ viết đã đánh dấu
bước phát triển của ngôn ngữ học Bởi muốn truyền thụ chữ viết từ thế hệ này sang thế
hệ khác chẳng những phải hiểu biết bản thân các kí hiệu mà còn phải biết các yếu tố
của kết cấu ngôn ngữ do các kí hiệu đó biểu hiện
Ở đất nước Ấn Độ, việc nghiên cứu ngôn ngữ chủ yếu có tính thực tiễn Còn ở
Hi Lạp, chiều hướng phát triển của ngôn ngữ học ban đầu gắn với những tìm tòi về
triết học trong các lĩnh vực rộng lớn về tư duy và thực tế Về sau môn ngữ pháp học đã
dần tách ra khỏi áp lực của triết học để trở thành một khoa học độc lập Trên cơ sở
những thành tựu ngôn ngữ học Ấn Độ và Hi Lạp mang lại, ngôn ngữ học Ả rập (thế kỉ
VII – Xs.CN) đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển chung của ngôn ngữ học
Người Ả rập nghiên cứu về ngôn ngữ học ở nhiều chiều hướng khác nhau Vượt qua
khỏi giới hạn về không gian, người Ả rập còn nghiên cứu cả tiếng địa phương và tiếng
nước ngoài nữa Tuy nhiên những thành tựu ngôn ngữ học cổ đại đã không phát huy
trong những thời kì tiếp theo
Ngôn ngữ học trải qua nhiều thời kì khác nhau Sự ra đời của phương pháp so
sánh – lịch sử là mốc lớn trên con đường phát triển của ngôn ngữ học Sau đó là
khuynh hướng ngữ pháp trẻ vào những năm 70 của thế kỉ XIX Đến đầu thế kỉ XX
xuất hiện một khuynh hướng gọi là khuynh hướng xã hội học Khuynh hướng mạnh
nhất trong ngôn ngữ học đầu thế kỉ XX là chủ nghĩa cấu trúc Hiện nay, ngôn ngữ học
đã xuất hiện nhiều khuynh hướng mới: nhân chủng – ngôn ngữ học, tâm lí – ngôn ngữ
học và ngôn ngữ học khu vực,…
Ngôn ngữ học so sánh - lịch sử coi ngôn ngữ là một trong những bằng chứng
của lịch sử dân tộc, nó thừa nhận sự biến đổi của ngôn ngữ trong thời gian và phương
pháp so sánh lịch sử được coi là phương pháp chủ đạo trong việc nghiên cứu ngôn ngữ
ở nhiều góc độ khác nhau Ngôn ngữ học so sánh – lịch sử còn xác lập và thừa nhận
tính chất họ hàng về mặt lịch sử của các ngôn ngữ, thừa nhận khả năng và sự cần thiết
phải nghiên cứu ngược lại quá khứ xa xôi của các ngôn ngữ họ hàng ngày nay cho tới
tận thời kì mà người ta giả thiết rằng có một ngôn ngữ cơ sở
Trong ngôn ngữ học so sánh – lịch sử xuất hiện một số trường phái khác nhau
như: trường phái tự nhiên, trường phái tâm lí, trường phái logic ngữ pháp, trường phái
có từ lâu đời Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp, ngôn ngữ học ra đời chậm nhất là vào thế kỉ thứ IV tr.CN Những tài liệu ngôn ngữ học cổ nhất được tìm thấy ở Hi Lạp, Ấn
Độ và Ả rập Ngôn ngữ học ra đời không phải xuất phát từ những suy nghĩ trừu tượng của các siêu nhân mà xuất phát từ chính những yêu cầu trong đời sống của con người
Nó ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của đời sống Những tiến bộ của ngành ngôn ngữ học được đánh dấu bằng sự ra đời, thay thế lẫn nhau của các phương pháp nghiên cứu mới Ngôn ngữ có hai dạng thức tồn tại là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Ngôn ngữ nói ra đời trước còn ngôn ngữ viết ra đời sau Sự ra đời của ngôn ngữ viết đã đánh dấu bước phát triển của ngôn ngữ học Bởi muốn truyền thụ chữ viết từ thế hệ này sang thế
hệ khác chẳng những phải hiểu biết bản thân các kí hiệu mà còn phải biết các yếu tố của kết cấu ngôn ngữ do các kí hiệu đó biểu hiện
Ở đất nước Ấn Độ, việc nghiên cứu ngôn ngữ chủ yếu có tính thực tiễn Còn ở
Hi Lạp, chiều hướng phát triển của ngôn ngữ học ban đầu gắn với những tìm tòi về triết học trong các lĩnh vực rộng lớn về tư duy và thực tế Về sau môn ngữ pháp học đã dần tách ra khỏi áp lực của triết học để trở thành một khoa học độc lập Trên cơ sở những thành tựu ngôn ngữ học Ấn Độ và Hi Lạp mang lại, ngôn ngữ học Ả rập (thế kỉ VII – Xs.CN) đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển chung của ngôn ngữ học Người Ả rập nghiên cứu về ngôn ngữ học ở nhiều chiều hướng khác nhau Vượt qua khỏi giới hạn về không gian, người Ả rập còn nghiên cứu cả tiếng địa phương và tiếng nước ngoài nữa Tuy nhiên những thành tựu ngôn ngữ học cổ đại đã không phát huy trong những thời kì tiếp theo
Ngôn ngữ học trải qua nhiều thời kì khác nhau Sự ra đời của phương pháp so sánh – lịch sử là mốc lớn trên con đường phát triển của ngôn ngữ học Sau đó là khuynh hướng ngữ pháp trẻ vào những năm 70 của thế kỉ XIX Đến đầu thế kỉ XX xuất hiện một khuynh hướng gọi là khuynh hướng xã hội học Khuynh hướng mạnh nhất trong ngôn ngữ học đầu thế kỉ XX là chủ nghĩa cấu trúc Hiện nay, ngôn ngữ học
đã xuất hiện nhiều khuynh hướng mới: nhân chủng – ngôn ngữ học, tâm lí – ngôn ngữ học và ngôn ngữ học khu vực,…
Ngôn ngữ học so sánh - lịch sử coi ngôn ngữ là một trong những bằng chứng của lịch sử dân tộc, nó thừa nhận sự biến đổi của ngôn ngữ trong thời gian và phương pháp so sánh lịch sử được coi là phương pháp chủ đạo trong việc nghiên cứu ngôn ngữ
ở nhiều góc độ khác nhau Ngôn ngữ học so sánh – lịch sử còn xác lập và thừa nhận tính chất họ hàng về mặt lịch sử của các ngôn ngữ, thừa nhận khả năng và sự cần thiết phải nghiên cứu ngược lại quá khứ xa xôi của các ngôn ngữ họ hàng ngày nay cho tới tận thời kì mà người ta giả thiết rằng có một ngôn ngữ cơ sở
Trong ngôn ngữ học so sánh – lịch sử xuất hiện một số trường phái khác nhau như: trường phái tự nhiên, trường phái tâm lí, trường phái logic ngữ pháp, trường phái ngữ pháp hình thức,…
phú cho ngôn ngữ Muốn khám phá ra những đơn vị và những quy luật của hoạt động ngôn ngữ cần xuất phát từ tất cả những lời nói phong phú và đa dạng
1.1.2 Khái niệm ngôn ngữ học
1.1.2.1 Khái niệm
Ngôn ngữ là người bạn đồng hành không thể thiếu của con người Vì vậy, con người luôn quan tâm đến ngôn ngữ và xây dựng cả một khoa học về nó Đó là ngôn ngữ học Ngôn ngữ học là khoa học nghiên cứu ngôn ngữ Đây là một ngành khoa học
có từ lâu đời Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp, ngôn ngữ học ra đời chậm nhất là vào thế kỉ thứ IV tr.CN Những tài liệu ngôn ngữ học cổ nhất được tìm thấy ở Hi Lạp, Ấn
Độ và Ả rập Ngôn ngữ học ra đời không phải xuất phát từ những suy nghĩ trừu tượng của các siêu nhân mà xuất phát từ chính những yêu cầu trong đời sống của con người
Nó ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của đời sống Những tiến bộ của ngành ngôn ngữ học được đánh dấu bằng sự ra đời, thay thế lẫn nhau của các phương pháp nghiên cứu mới Ngôn ngữ có hai dạng thức tồn tại là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Ngôn ngữ nói ra đời trước còn ngôn ngữ viết ra đời sau Sự ra đời của ngôn ngữ viết đã đánh dấu bước phát triển của ngôn ngữ học Bởi muốn truyền thụ chữ viết từ thế hệ này sang thế
hệ khác chẳng những phải hiểu biết bản thân các kí hiệu mà còn phải biết các yếu tố của kết cấu ngôn ngữ do các kí hiệu đó biểu hiện
Ở đất nước Ấn Độ, việc nghiên cứu ngôn ngữ chủ yếu có tính thực tiễn Còn ở
Hi Lạp, chiều hướng phát triển của ngôn ngữ học ban đầu gắn với những tìm tòi về triết học trong các lĩnh vực rộng lớn về tư duy và thực tế Về sau môn ngữ pháp học đã dần tách ra khỏi áp lực của triết học để trở thành một khoa học độc lập Trên cơ sở những thành tựu ngôn ngữ học Ấn Độ và Hi Lạp mang lại, ngôn ngữ học Ả rập (thế kỉ VII – Xs.CN) đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển chung của ngôn ngữ học Người Ả rập nghiên cứu về ngôn ngữ học ở nhiều chiều hướng khác nhau Vượt qua khỏi giới hạn về không gian, người Ả rập còn nghiên cứu cả tiếng địa phương và tiếng nước ngoài nữa Tuy nhiên những thành tựu ngôn ngữ học cổ đại đã không phát huy trong những thời kì tiếp theo
Ngôn ngữ học trải qua nhiều thời kì khác nhau Sự ra đời của phương pháp so sánh – lịch sử là mốc lớn trên con đường phát triển của ngôn ngữ học Sau đó là khuynh hướng ngữ pháp trẻ vào những năm 70 của thế kỉ XIX Đến đầu thế kỉ XX xuất hiện một khuynh hướng gọi là khuynh hướng xã hội học Khuynh hướng mạnh nhất trong ngôn ngữ học đầu thế kỉ XX là chủ nghĩa cấu trúc Hiện nay, ngôn ngữ học
đã xuất hiện nhiều khuynh hướng mới: nhân chủng – ngôn ngữ học, tâm lí – ngôn ngữ học và ngôn ngữ học khu vực,…
Ngôn ngữ học so sánh - lịch sử coi ngôn ngữ là một trong những bằng chứng của lịch sử dân tộc, nó thừa nhận sự biến đổi của ngôn ngữ trong thời gian và phương pháp so sánh lịch sử được coi là phương pháp chủ đạo trong việc nghiên cứu ngôn ngữ
ở nhiều góc độ khác nhau Ngôn ngữ học so sánh – lịch sử còn xác lập và thừa nhận tính chất họ hàng về mặt lịch sử của các ngôn ngữ, thừa nhận khả năng và sự cần thiết phải nghiên cứu ngược lại quá khứ xa xôi của các ngôn ngữ họ hàng ngày nay cho tới tận thời kì mà người ta giả thiết rằng có một ngôn ngữ cơ sở
Trong ngôn ngữ học so sánh – lịch sử xuất hiện một số trường phái khác nhau như: trường phái tự nhiên, trường phái tâm lí, trường phái logic ngữ pháp, trường phái ngữ pháp hình thức,…
Trang 109
Sau ngôn ngữ học so sánh – lịch sử là sự ra đời của khuynh hướng ngữ pháp trẻ
vào những năm 70 của thế kỉ XIX Tên gọi này xuất phát từ người đề xướng của
khuynh hướng là một nhà ngôn ngữ học trẻ tuổi người Đứ: F.Xacnơke Phái ngữ pháp
trẻ không thừa nhận khái niệm “ngôn ngữ” nói chung mà đặc biệt chú ý tới các sự kiện
của hoạt động lời nói cá nhân và các tiếng địa phương Họ chú ý tới các cứ liệu, bằng
chứng là các văn tự chứ không tin vào các giả thiết, họ phản đối việc phục hồi các
ngôn ngữ cổ Những nhà ngữ pháp trẻ nghiên cứu các sự kiện ngôn ngữ một cách rời
rạc, riêng lẻ, theo kiểu nguyên tử luận Đồng thời với phái ngữ pháp trẻ, ở Nga có hai
trường phái ngôn ngữ học đặc sắc: trường phái Cadan đứng đầu là giáo sư I Bôduen
dơ Cuatơne (1845-1929) và trường phái Matxcova đứng đầu là viện sĩ
P.P.Phooctunatôp (1848 - 1914)
Đến đầu thế kỉ thứ XX xuất hiện một khuynh hướng mới gọi là khuynh hướng
xã hội học mà người đứng đầu là F đơ Xôtxuya (1857 - 1913), Angtoan Mâyê (1866 -
1936) và Giôdep Vandriet (1857 - 1960) Khuynh hướng này coi ngôn ngữ là một hiện
tượng xã hội, thừa nhận sự tác động của xã hội đối với sự tồn tại và phát triển của
ngôn ngữ, coi trọng việc nghiên cứu các sinh ngữ và tiếng địa phương
Nhưng khuynh hướng mạnh nhất trong ngôn ngữ học đầu thế kỉ XX là chủ
nghĩa cấu trúc Nó xuất phát trực tiếp từ học thuyết của F.Xôtxuya được trình bày
trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của ông Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa cấu
trúc là coi ngôn ngữ như một kết cấu, một thể toàn vẹn, chặt chẽ của các yêu tố khác
nhau Nhiệm vụ hàng đầu của ngôn ngữ học là nghiên cứu “các mối quan hệ” giữa các
yếu tố của ngôn ngữ Ngôn ngữ học cấu trúc phân biệt rạch ròi “ngôn ngữ”, “lời nói”,
“đồng đại” và “lịch đại” Nhiều phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ độc đáo đã được sử
dụng như: phép đối lập, phép phân bố, phép chuyển hóa, phép thay thế,…
Hiện nay ngôn ngữ học lại xuất hiện các khuynh hướng mới như: nhân chủng –
ngôn ngữ học, tâm lí – ngôn ngữ học và ngôn ngữ học khu vực Nhân chủng - ngôn
ngữ học coi ngôn ngữ là một bộ phận quan trọng trong sinh hoạt văn hóa và tinh thần
của dân tộc, nó tác động rõ rệt đến thế giới quan và tư cách của con người Tâm lí –
ngôn ngữ học là khoa học nghiên cứu về các quy luật tâm lí của ngôn ngữ của việc tạo
thành lời nói từ những yếu tố ngôn ngữ và của việc tạo thành lời nói tức là hiểu các
yếu tố tạo thành lời nói Ngôn ngữ học khu vực chú ý tới vai trò của các điều kiện
không gian, địa lí trong lịch sử các ngôn ngữ và trong việc nghiên cứu ngôn ngữ Các
nhà khoa học theo khuynh hướng này đặc biệt chú ý đến các quá trình ảnh hưởng qua
lại phức tạp của các ngôn ngữ được sử dụng đồng thời tại địa phương
Tóm lại, ngôn ngữ học có từ rất lâu Nó ra đời xuất phát từ chính nhu cầu đời
sống đặt ra Những tiến bộ của ngôn ngữ học đánh dấu bằng sự ra đời, thay thế lẫn
nhau của các phương pháp nghiên cứu mới
1.1.2.2 Đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học
Ngôn ngữ học là khoa học nghiên cứu các ngôn ngữ Để nhận diện rõ đối tượng
nghiên cứu của ngôn ngữ học cần phân biệt rõ ba khái niệm: ngôn ngữ, lời nói và hoạt
động ngôn ngữ
Ngôn ngữ (công cụ): là một hệ thống những đơn vị vật chất phục vụ cho việc
giao tiếp của con người và được phản ánh trong ý thức của tập thể một cách độc lập
với những tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng cụ thể của con người, cũng như trừu
tượng hóa khỏi những tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng đó
Sau ngôn ngữ học so sánh – lịch sử là sự ra đời của khuynh hướng ngữ pháp trẻ
vào những năm 70 của thế kỉ XIX Tên gọi này xuất phát từ người đề xướng của
khuynh hướng là một nhà ngôn ngữ học trẻ tuổi người Đứ: F.Xacnơke Phái ngữ pháp
trẻ không thừa nhận khái niệm “ngôn ngữ” nói chung mà đặc biệt chú ý tới các sự kiện
của hoạt động lời nói cá nhân và các tiếng địa phương Họ chú ý tới các cứ liệu, bằng
chứng là các văn tự chứ không tin vào các giả thiết, họ phản đối việc phục hồi các
ngôn ngữ cổ Những nhà ngữ pháp trẻ nghiên cứu các sự kiện ngôn ngữ một cách rời
rạc, riêng lẻ, theo kiểu nguyên tử luận Đồng thời với phái ngữ pháp trẻ, ở Nga có hai
trường phái ngôn ngữ học đặc sắc: trường phái Cadan đứng đầu là giáo sư I Bôduen
dơ Cuatơne (1845-1929) và trường phái Matxcova đứng đầu là viện sĩ
P.P.Phooctunatôp (1848 - 1914)
Đến đầu thế kỉ thứ XX xuất hiện một khuynh hướng mới gọi là khuynh hướng
xã hội học mà người đứng đầu là F đơ Xôtxuya (1857 - 1913), Angtoan Mâyê (1866 -
1936) và Giôdep Vandriet (1857 - 1960) Khuynh hướng này coi ngôn ngữ là một hiện
tượng xã hội, thừa nhận sự tác động của xã hội đối với sự tồn tại và phát triển của
ngôn ngữ, coi trọng việc nghiên cứu các sinh ngữ và tiếng địa phương
Nhưng khuynh hướng mạnh nhất trong ngôn ngữ học đầu thế kỉ XX là chủ
nghĩa cấu trúc Nó xuất phát trực tiếp từ học thuyết của F.Xôtxuya được trình bày
trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của ông Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa cấu
trúc là coi ngôn ngữ như một kết cấu, một thể toàn vẹn, chặt chẽ của các yêu tố khác
nhau Nhiệm vụ hàng đầu của ngôn ngữ học là nghiên cứu “các mối quan hệ” giữa các
yếu tố của ngôn ngữ Ngôn ngữ học cấu trúc phân biệt rạch ròi “ngôn ngữ”, “lời nói”,
“đồng đại” và “lịch đại” Nhiều phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ độc đáo đã được sử
dụng như: phép đối lập, phép phân bố, phép chuyển hóa, phép thay thế,…
Hiện nay ngôn ngữ học lại xuất hiện các khuynh hướng mới như: nhân chủng –
ngôn ngữ học, tâm lí – ngôn ngữ học và ngôn ngữ học khu vực Nhân chủng - ngôn
ngữ học coi ngôn ngữ là một bộ phận quan trọng trong sinh hoạt văn hóa và tinh thần
của dân tộc, nó tác động rõ rệt đến thế giới quan và tư cách của con người Tâm lí –
ngôn ngữ học là khoa học nghiên cứu về các quy luật tâm lí của ngôn ngữ của việc tạo
thành lời nói từ những yếu tố ngôn ngữ và của việc tạo thành lời nói tức là hiểu các
yếu tố tạo thành lời nói Ngôn ngữ học khu vực chú ý tới vai trò của các điều kiện
không gian, địa lí trong lịch sử các ngôn ngữ và trong việc nghiên cứu ngôn ngữ Các
nhà khoa học theo khuynh hướng này đặc biệt chú ý đến các quá trình ảnh hưởng qua
lại phức tạp của các ngôn ngữ được sử dụng đồng thời tại địa phương
Tóm lại, ngôn ngữ học có từ rất lâu Nó ra đời xuất phát từ chính nhu cầu đời
sống đặt ra Những tiến bộ của ngôn ngữ học đánh dấu bằng sự ra đời, thay thế lẫn
nhau của các phương pháp nghiên cứu mới
1.1.2.2 Đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học
Ngôn ngữ học là khoa học nghiên cứu các ngôn ngữ Để nhận diện rõ đối tượng
nghiên cứu của ngôn ngữ học cần phân biệt rõ ba khái niệm: ngôn ngữ, lời nói và hoạt
động ngôn ngữ
Ngôn ngữ (công cụ): là một hệ thống những đơn vị vật chất phục vụ cho việc
giao tiếp của con người và được phản ánh trong ý thức của tập thể một cách độc lập
với những tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng cụ thể của con người, cũng như trừu
tượng hóa khỏi những tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng đó
9
Sau ngôn ngữ học so sánh – lịch sử là sự ra đời của khuynh hướng ngữ pháp trẻ vào những năm 70 của thế kỉ XIX Tên gọi này xuất phát từ người đề xướng của khuynh hướng là một nhà ngôn ngữ học trẻ tuổi người Đứ: F.Xacnơke Phái ngữ pháp trẻ không thừa nhận khái niệm “ngôn ngữ” nói chung mà đặc biệt chú ý tới các sự kiện của hoạt động lời nói cá nhân và các tiếng địa phương Họ chú ý tới các cứ liệu, bằng chứng là các văn tự chứ không tin vào các giả thiết, họ phản đối việc phục hồi các ngôn ngữ cổ Những nhà ngữ pháp trẻ nghiên cứu các sự kiện ngôn ngữ một cách rời rạc, riêng lẻ, theo kiểu nguyên tử luận Đồng thời với phái ngữ pháp trẻ, ở Nga có hai trường phái ngôn ngữ học đặc sắc: trường phái Cadan đứng đầu là giáo sư I Bôduen
dơ Cuatơne (1845-1929) và trường phái Matxcova đứng đầu là viện sĩ P.P.Phooctunatôp (1848 - 1914)
Đến đầu thế kỉ thứ XX xuất hiện một khuynh hướng mới gọi là khuynh hướng
xã hội học mà người đứng đầu là F đơ Xôtxuya (1857 - 1913), Angtoan Mâyê (1866 - 1936) và Giôdep Vandriet (1857 - 1960) Khuynh hướng này coi ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, thừa nhận sự tác động của xã hội đối với sự tồn tại và phát triển của ngôn ngữ, coi trọng việc nghiên cứu các sinh ngữ và tiếng địa phương
Nhưng khuynh hướng mạnh nhất trong ngôn ngữ học đầu thế kỉ XX là chủ nghĩa cấu trúc Nó xuất phát trực tiếp từ học thuyết của F.Xôtxuya được trình bày
trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của ông Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa cấu
trúc là coi ngôn ngữ như một kết cấu, một thể toàn vẹn, chặt chẽ của các yêu tố khác nhau Nhiệm vụ hàng đầu của ngôn ngữ học là nghiên cứu “các mối quan hệ” giữa các yếu tố của ngôn ngữ Ngôn ngữ học cấu trúc phân biệt rạch ròi “ngôn ngữ”, “lời nói”,
“đồng đại” và “lịch đại” Nhiều phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ độc đáo đã được sử dụng như: phép đối lập, phép phân bố, phép chuyển hóa, phép thay thế,…
Hiện nay ngôn ngữ học lại xuất hiện các khuynh hướng mới như: nhân chủng – ngôn ngữ học, tâm lí – ngôn ngữ học và ngôn ngữ học khu vực Nhân chủng - ngôn ngữ học coi ngôn ngữ là một bộ phận quan trọng trong sinh hoạt văn hóa và tinh thần của dân tộc, nó tác động rõ rệt đến thế giới quan và tư cách của con người Tâm lí – ngôn ngữ học là khoa học nghiên cứu về các quy luật tâm lí của ngôn ngữ của việc tạo thành lời nói từ những yếu tố ngôn ngữ và của việc tạo thành lời nói tức là hiểu các yếu tố tạo thành lời nói Ngôn ngữ học khu vực chú ý tới vai trò của các điều kiện không gian, địa lí trong lịch sử các ngôn ngữ và trong việc nghiên cứu ngôn ngữ Các nhà khoa học theo khuynh hướng này đặc biệt chú ý đến các quá trình ảnh hưởng qua lại phức tạp của các ngôn ngữ được sử dụng đồng thời tại địa phương
Tóm lại, ngôn ngữ học có từ rất lâu Nó ra đời xuất phát từ chính nhu cầu đời sống đặt ra Những tiến bộ của ngôn ngữ học đánh dấu bằng sự ra đời, thay thế lẫn nhau của các phương pháp nghiên cứu mới
1.1.2.2 Đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học
Ngôn ngữ học là khoa học nghiên cứu các ngôn ngữ Để nhận diện rõ đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học cần phân biệt rõ ba khái niệm: ngôn ngữ, lời nói và hoạt động ngôn ngữ
Ngôn ngữ (công cụ): là một hệ thống những đơn vị vật chất phục vụ cho việc giao tiếp của con người và được phản ánh trong ý thức của tập thể một cách độc lập với những tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng cụ thể của con người, cũng như trừu tượng hóa khỏi những tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng đó
Sau ngôn ngữ học so sánh – lịch sử là sự ra đời của khuynh hướng ngữ pháp trẻ vào những năm 70 của thế kỉ XIX Tên gọi này xuất phát từ người đề xướng của khuynh hướng là một nhà ngôn ngữ học trẻ tuổi người Đứ: F.Xacnơke Phái ngữ pháp trẻ không thừa nhận khái niệm “ngôn ngữ” nói chung mà đặc biệt chú ý tới các sự kiện của hoạt động lời nói cá nhân và các tiếng địa phương Họ chú ý tới các cứ liệu, bằng chứng là các văn tự chứ không tin vào các giả thiết, họ phản đối việc phục hồi các ngôn ngữ cổ Những nhà ngữ pháp trẻ nghiên cứu các sự kiện ngôn ngữ một cách rời rạc, riêng lẻ, theo kiểu nguyên tử luận Đồng thời với phái ngữ pháp trẻ, ở Nga có hai trường phái ngôn ngữ học đặc sắc: trường phái Cadan đứng đầu là giáo sư I Bôduen
dơ Cuatơne (1845-1929) và trường phái Matxcova đứng đầu là viện sĩ P.P.Phooctunatôp (1848 - 1914)
Đến đầu thế kỉ thứ XX xuất hiện một khuynh hướng mới gọi là khuynh hướng
xã hội học mà người đứng đầu là F đơ Xôtxuya (1857 - 1913), Angtoan Mâyê (1866 - 1936) và Giôdep Vandriet (1857 - 1960) Khuynh hướng này coi ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, thừa nhận sự tác động của xã hội đối với sự tồn tại và phát triển của ngôn ngữ, coi trọng việc nghiên cứu các sinh ngữ và tiếng địa phương
Nhưng khuynh hướng mạnh nhất trong ngôn ngữ học đầu thế kỉ XX là chủ nghĩa cấu trúc Nó xuất phát trực tiếp từ học thuyết của F.Xôtxuya được trình bày
trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của ông Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa cấu
trúc là coi ngôn ngữ như một kết cấu, một thể toàn vẹn, chặt chẽ của các yêu tố khác nhau Nhiệm vụ hàng đầu của ngôn ngữ học là nghiên cứu “các mối quan hệ” giữa các yếu tố của ngôn ngữ Ngôn ngữ học cấu trúc phân biệt rạch ròi “ngôn ngữ”, “lời nói”,
“đồng đại” và “lịch đại” Nhiều phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ độc đáo đã được sử dụng như: phép đối lập, phép phân bố, phép chuyển hóa, phép thay thế,…
Hiện nay ngôn ngữ học lại xuất hiện các khuynh hướng mới như: nhân chủng – ngôn ngữ học, tâm lí – ngôn ngữ học và ngôn ngữ học khu vực Nhân chủng - ngôn ngữ học coi ngôn ngữ là một bộ phận quan trọng trong sinh hoạt văn hóa và tinh thần của dân tộc, nó tác động rõ rệt đến thế giới quan và tư cách của con người Tâm lí – ngôn ngữ học là khoa học nghiên cứu về các quy luật tâm lí của ngôn ngữ của việc tạo thành lời nói từ những yếu tố ngôn ngữ và của việc tạo thành lời nói tức là hiểu các yếu tố tạo thành lời nói Ngôn ngữ học khu vực chú ý tới vai trò của các điều kiện không gian, địa lí trong lịch sử các ngôn ngữ và trong việc nghiên cứu ngôn ngữ Các nhà khoa học theo khuynh hướng này đặc biệt chú ý đến các quá trình ảnh hưởng qua lại phức tạp của các ngôn ngữ được sử dụng đồng thời tại địa phương
Tóm lại, ngôn ngữ học có từ rất lâu Nó ra đời xuất phát từ chính nhu cầu đời sống đặt ra Những tiến bộ của ngôn ngữ học đánh dấu bằng sự ra đời, thay thế lẫn nhau của các phương pháp nghiên cứu mới
1.1.2.2 Đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học
Ngôn ngữ học là khoa học nghiên cứu các ngôn ngữ Để nhận diện rõ đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học cần phân biệt rõ ba khái niệm: ngôn ngữ, lời nói và hoạt động ngôn ngữ
Ngôn ngữ (công cụ): là một hệ thống những đơn vị vật chất phục vụ cho việc giao tiếp của con người và được phản ánh trong ý thức của tập thể một cách độc lập với những tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng cụ thể của con người, cũng như trừu tượng hóa khỏi những tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng đó
Trang 1110
Lời nói (sản phẩm, phương tiện) là kết quả của việc vận dụng các phương tiện
khác nhau của ngôn ngữ để truyền đạt thông tin, kêu gọi người nghe có hành động
tương ứng
Hành động ngôn ngữ: là quá trình (hành động) người nói dùng ngôn ngữ để
truyền đạt những hiểu biết, tư tưởng, tình cảm, thái độ về một thực tế khách quan nào
đó nhằm làm cho người nghe, mong muốn người nghe có ý định hành động và hành
động như người nói
Quá trình trên bao gồm các yếu tố sau đây:
Nhân vật giao tiếp: người nói và người nghe (người phát tin, người nhận tin)
Đó là những con người xã hội lịch sử cụ thể có tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính, trình
độ và những đặc điểm tâm sinh lí riêng Người nói là một, người nghe có thể là một
hoặc nhiều hơn Nhân vật giao tiếp là điều kiện quan trọng quyết định sự tồn tại của
một cuộc giao tiếp Trong giao tiếp những yếu tố liên quan đến nhân tố này sẽ quyết
định rất lớn đến chất lượng của một hoạt động giao tiếp
Đối tượng giao tiếp (hiện thực được nói tới): rất đa dạng có thể là những sự vật
hiện tượng tồn tại trong thực tế khách quan ở xung quanh con người được con người
nhận thức Đối tượng giao tiếp là tất cả những gì mà các nhân vật giao tiếp đề cập đến,
nó có thể rộng, có thể hẹp, có thể đơn giản, có thể phức tạp, có thể là những sự kiện
vật chất nhưng cũng có thể là các vấn đề thuộc về đời sống tinh thần, tâm tư tình cảm
của con người,…
Hoàn cảnh giao tiếp: là không gian, thời gian diễn ra cuộc giao tiếp Nó là nhân
tố phức tạp vì nó bao gồm những điều kiện về mặt không gian, thời gian, địa lí, lịch sử,
dân tộc, phong tục, tập quán bao gồm cả những hiện thực bên trong và bên ngoài con
người Hoàn cảnh giao tiếp được chia làm hai loại là hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn
cảnh giao tiếp hẹp Hoàn cảnh giao tiếp hẹp là bối cảnh cụ thể về thời gian và không
gian nơi diễn ra cuộc giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp rộng là bối cảnh rộng về thời gian
và không gian liên quan và ảnh hưởng đến cuộc giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp được
coi là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giao tiếp vì đây là nhân tố bên ngoài
song lại có ảnh hưởng không nhỏ đến nhân vật giao tiếp và như vậy sẽ quyết định chất
lượng của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Mục đích giao tiếp: giao tiếp bao giờ cũng phải có mục đích có mục đích thông
tin, thông báo, có mục đích nhận thức, cung cấp những hiểu biết cho nhau trong quá
trình giao tiếp Phần lớn là các mục đích: biểu hiện (bộc lộ những thái độ, nhận xét,
tình cảm của người nói với bản thân của người nói), mục đích quan hệ (nói với nhau
để tạo lập các quan hệ), mục đích giải trí,… Tất cả các mục đích đều có nội dung nhận
thức và hành động
Bốn nhân tố trên gọi là 4 nhân tố bên ngoài ngôn ngữ (nằm ngoài văn bản) đóng
vai trò làm tiền đề cho cuộc giao tiếp) Các yếu tố này có quan hệ với nhau, tác động
lẫn nhau và điều chỉnh lẫn nhau cùng tác động vào văn bản
Nhân tố ngôn ngữ: bao gồm các quy tắc: âm, từ, câu, tạo lời nói Nó vừa là
phương tiện nhưng cũng là sản phẩm của hoạt động giao tiếp Yếu tố ngôn ngữ này có
mặt trực tiếp trong văn bản Khi phân tích một văn bản ta phải thông qua ngôn ngữ để
người ta phát hiện ra các nhân tố phi ngôn ngữ
Ví dụ: Các nhân tố giao tiếp trong bài thơ “Bánh trôi nước”:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bẩy nổi ba chìm với nước non
Lời nói (sản phẩm, phương tiện) là kết quả của việc vận dụng các phương tiện
khác nhau của ngôn ngữ để truyền đạt thông tin, kêu gọi người nghe có hành động
tương ứng
Hành động ngôn ngữ: là quá trình (hành động) người nói dùng ngôn ngữ để
truyền đạt những hiểu biết, tư tưởng, tình cảm, thái độ về một thực tế khách quan nào
đó nhằm làm cho người nghe, mong muốn người nghe có ý định hành động và hành
động như người nói
Quá trình trên bao gồm các yếu tố sau đây:
Nhân vật giao tiếp: người nói và người nghe (người phát tin, người nhận tin)
Đó là những con người xã hội lịch sử cụ thể có tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính, trình
độ và những đặc điểm tâm sinh lí riêng Người nói là một, người nghe có thể là một
hoặc nhiều hơn Nhân vật giao tiếp là điều kiện quan trọng quyết định sự tồn tại của
một cuộc giao tiếp Trong giao tiếp những yếu tố liên quan đến nhân tố này sẽ quyết
định rất lớn đến chất lượng của một hoạt động giao tiếp
Đối tượng giao tiếp (hiện thực được nói tới): rất đa dạng có thể là những sự vật
hiện tượng tồn tại trong thực tế khách quan ở xung quanh con người được con người
nhận thức Đối tượng giao tiếp là tất cả những gì mà các nhân vật giao tiếp đề cập đến,
nó có thể rộng, có thể hẹp, có thể đơn giản, có thể phức tạp, có thể là những sự kiện
vật chất nhưng cũng có thể là các vấn đề thuộc về đời sống tinh thần, tâm tư tình cảm
của con người,…
Hoàn cảnh giao tiếp: là không gian, thời gian diễn ra cuộc giao tiếp Nó là nhân
tố phức tạp vì nó bao gồm những điều kiện về mặt không gian, thời gian, địa lí, lịch sử,
dân tộc, phong tục, tập quán bao gồm cả những hiện thực bên trong và bên ngoài con
người Hoàn cảnh giao tiếp được chia làm hai loại là hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn
cảnh giao tiếp hẹp Hoàn cảnh giao tiếp hẹp là bối cảnh cụ thể về thời gian và không
gian nơi diễn ra cuộc giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp rộng là bối cảnh rộng về thời gian
và không gian liên quan và ảnh hưởng đến cuộc giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp được
coi là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giao tiếp vì đây là nhân tố bên ngoài
song lại có ảnh hưởng không nhỏ đến nhân vật giao tiếp và như vậy sẽ quyết định chất
lượng của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Mục đích giao tiếp: giao tiếp bao giờ cũng phải có mục đích có mục đích thông
tin, thông báo, có mục đích nhận thức, cung cấp những hiểu biết cho nhau trong quá
trình giao tiếp Phần lớn là các mục đích: biểu hiện (bộc lộ những thái độ, nhận xét,
tình cảm của người nói với bản thân của người nói), mục đích quan hệ (nói với nhau
để tạo lập các quan hệ), mục đích giải trí,… Tất cả các mục đích đều có nội dung nhận
thức và hành động
Bốn nhân tố trên gọi là 4 nhân tố bên ngoài ngôn ngữ (nằm ngoài văn bản) đóng
vai trò làm tiền đề cho cuộc giao tiếp) Các yếu tố này có quan hệ với nhau, tác động
lẫn nhau và điều chỉnh lẫn nhau cùng tác động vào văn bản
Nhân tố ngôn ngữ: bao gồm các quy tắc: âm, từ, câu, tạo lời nói Nó vừa là
phương tiện nhưng cũng là sản phẩm của hoạt động giao tiếp Yếu tố ngôn ngữ này có
mặt trực tiếp trong văn bản Khi phân tích một văn bản ta phải thông qua ngôn ngữ để
người ta phát hiện ra các nhân tố phi ngôn ngữ
Ví dụ: Các nhân tố giao tiếp trong bài thơ “Bánh trôi nước”:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bẩy nổi ba chìm với nước non
10
Lời nói (sản phẩm, phương tiện) là kết quả của việc vận dụng các phương tiện khác nhau của ngôn ngữ để truyền đạt thông tin, kêu gọi người nghe có hành động tương ứng
Hành động ngôn ngữ: là quá trình (hành động) người nói dùng ngôn ngữ để truyền đạt những hiểu biết, tư tưởng, tình cảm, thái độ về một thực tế khách quan nào
đó nhằm làm cho người nghe, mong muốn người nghe có ý định hành động và hành động như người nói
Quá trình trên bao gồm các yếu tố sau đây:
Nhân vật giao tiếp: người nói và người nghe (người phát tin, người nhận tin)
Đó là những con người xã hội lịch sử cụ thể có tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính, trình
độ và những đặc điểm tâm sinh lí riêng Người nói là một, người nghe có thể là một hoặc nhiều hơn Nhân vật giao tiếp là điều kiện quan trọng quyết định sự tồn tại của một cuộc giao tiếp Trong giao tiếp những yếu tố liên quan đến nhân tố này sẽ quyết định rất lớn đến chất lượng của một hoạt động giao tiếp
Đối tượng giao tiếp (hiện thực được nói tới): rất đa dạng có thể là những sự vật hiện tượng tồn tại trong thực tế khách quan ở xung quanh con người được con người nhận thức Đối tượng giao tiếp là tất cả những gì mà các nhân vật giao tiếp đề cập đến,
nó có thể rộng, có thể hẹp, có thể đơn giản, có thể phức tạp, có thể là những sự kiện vật chất nhưng cũng có thể là các vấn đề thuộc về đời sống tinh thần, tâm tư tình cảm của con người,…
Hoàn cảnh giao tiếp: là không gian, thời gian diễn ra cuộc giao tiếp Nó là nhân
tố phức tạp vì nó bao gồm những điều kiện về mặt không gian, thời gian, địa lí, lịch sử, dân tộc, phong tục, tập quán bao gồm cả những hiện thực bên trong và bên ngoài con người Hoàn cảnh giao tiếp được chia làm hai loại là hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp Hoàn cảnh giao tiếp hẹp là bối cảnh cụ thể về thời gian và không gian nơi diễn ra cuộc giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp rộng là bối cảnh rộng về thời gian
và không gian liên quan và ảnh hưởng đến cuộc giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp được coi là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giao tiếp vì đây là nhân tố bên ngoài song lại có ảnh hưởng không nhỏ đến nhân vật giao tiếp và như vậy sẽ quyết định chất lượng của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Mục đích giao tiếp: giao tiếp bao giờ cũng phải có mục đích có mục đích thông tin, thông báo, có mục đích nhận thức, cung cấp những hiểu biết cho nhau trong quá trình giao tiếp Phần lớn là các mục đích: biểu hiện (bộc lộ những thái độ, nhận xét, tình cảm của người nói với bản thân của người nói), mục đích quan hệ (nói với nhau
để tạo lập các quan hệ), mục đích giải trí,… Tất cả các mục đích đều có nội dung nhận thức và hành động
Bốn nhân tố trên gọi là 4 nhân tố bên ngoài ngôn ngữ (nằm ngoài văn bản) đóng vai trò làm tiền đề cho cuộc giao tiếp) Các yếu tố này có quan hệ với nhau, tác động lẫn nhau và điều chỉnh lẫn nhau cùng tác động vào văn bản
Nhân tố ngôn ngữ: bao gồm các quy tắc: âm, từ, câu, tạo lời nói Nó vừa là phương tiện nhưng cũng là sản phẩm của hoạt động giao tiếp Yếu tố ngôn ngữ này có mặt trực tiếp trong văn bản Khi phân tích một văn bản ta phải thông qua ngôn ngữ để người ta phát hiện ra các nhân tố phi ngôn ngữ
Ví dụ: Các nhân tố giao tiếp trong bài thơ “Bánh trôi nước”:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bẩy nổi ba chìm với nước non
Lời nói (sản phẩm, phương tiện) là kết quả của việc vận dụng các phương tiện khác nhau của ngôn ngữ để truyền đạt thông tin, kêu gọi người nghe có hành động tương ứng
Hành động ngôn ngữ: là quá trình (hành động) người nói dùng ngôn ngữ để truyền đạt những hiểu biết, tư tưởng, tình cảm, thái độ về một thực tế khách quan nào
đó nhằm làm cho người nghe, mong muốn người nghe có ý định hành động và hành động như người nói
Quá trình trên bao gồm các yếu tố sau đây:
Nhân vật giao tiếp: người nói và người nghe (người phát tin, người nhận tin)
Đó là những con người xã hội lịch sử cụ thể có tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính, trình
độ và những đặc điểm tâm sinh lí riêng Người nói là một, người nghe có thể là một hoặc nhiều hơn Nhân vật giao tiếp là điều kiện quan trọng quyết định sự tồn tại của một cuộc giao tiếp Trong giao tiếp những yếu tố liên quan đến nhân tố này sẽ quyết định rất lớn đến chất lượng của một hoạt động giao tiếp
Đối tượng giao tiếp (hiện thực được nói tới): rất đa dạng có thể là những sự vật hiện tượng tồn tại trong thực tế khách quan ở xung quanh con người được con người nhận thức Đối tượng giao tiếp là tất cả những gì mà các nhân vật giao tiếp đề cập đến,
nó có thể rộng, có thể hẹp, có thể đơn giản, có thể phức tạp, có thể là những sự kiện vật chất nhưng cũng có thể là các vấn đề thuộc về đời sống tinh thần, tâm tư tình cảm của con người,…
Hoàn cảnh giao tiếp: là không gian, thời gian diễn ra cuộc giao tiếp Nó là nhân
tố phức tạp vì nó bao gồm những điều kiện về mặt không gian, thời gian, địa lí, lịch sử, dân tộc, phong tục, tập quán bao gồm cả những hiện thực bên trong và bên ngoài con người Hoàn cảnh giao tiếp được chia làm hai loại là hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp Hoàn cảnh giao tiếp hẹp là bối cảnh cụ thể về thời gian và không gian nơi diễn ra cuộc giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp rộng là bối cảnh rộng về thời gian
và không gian liên quan và ảnh hưởng đến cuộc giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp được coi là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giao tiếp vì đây là nhân tố bên ngoài song lại có ảnh hưởng không nhỏ đến nhân vật giao tiếp và như vậy sẽ quyết định chất lượng của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Mục đích giao tiếp: giao tiếp bao giờ cũng phải có mục đích có mục đích thông tin, thông báo, có mục đích nhận thức, cung cấp những hiểu biết cho nhau trong quá trình giao tiếp Phần lớn là các mục đích: biểu hiện (bộc lộ những thái độ, nhận xét, tình cảm của người nói với bản thân của người nói), mục đích quan hệ (nói với nhau
để tạo lập các quan hệ), mục đích giải trí,… Tất cả các mục đích đều có nội dung nhận thức và hành động
Bốn nhân tố trên gọi là 4 nhân tố bên ngoài ngôn ngữ (nằm ngoài văn bản) đóng vai trò làm tiền đề cho cuộc giao tiếp) Các yếu tố này có quan hệ với nhau, tác động lẫn nhau và điều chỉnh lẫn nhau cùng tác động vào văn bản
Nhân tố ngôn ngữ: bao gồm các quy tắc: âm, từ, câu, tạo lời nói Nó vừa là phương tiện nhưng cũng là sản phẩm của hoạt động giao tiếp Yếu tố ngôn ngữ này có mặt trực tiếp trong văn bản Khi phân tích một văn bản ta phải thông qua ngôn ngữ để người ta phát hiện ra các nhân tố phi ngôn ngữ
Ví dụ: Các nhân tố giao tiếp trong bài thơ “Bánh trôi nước”:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bẩy nổi ba chìm với nước non
Trang 1211
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son
(Hồ Xuân Hương) Nhân vật giao tiếp trong bài thơ với người nói là chủ thể trữ tình, tác giả Còn
người nghe chính là độc giả Hoàn cảnh giao tiếp của bài thơ “Bánh trôi nước” là xã
hội phong kiến trọng nam khinh nữ, số phận người phụ nữ đầy éo le và chịu cảnh bất
công Đối tượng giao tiếp hay nội dung của bài thơ, đó là việc miêu tả hình ảnh chiếc
bánh trôi nước về nhiều phương diện như hình dáng, cách chế biến,… Qua đó, hiện lên
hình ảnh người phụ nữ có diện mạo đẹp đẽ, tâm hồn trong sáng, mang tấm lòng chung
thủy nhưng cuộc đời lận đận, chịu cảnh bất công ngang trái Mục đích giao tiếp của bài
thơ chính là thông qua việc miêu tả chiếc bánh trôi nước, người nói muốn người nghe
nhận thức được vẻ đẹp cả về hình thức và nội tâm của người phụ nữ trong xã hội xưa
Cùng với đó, là tiếng nói cảm thông với thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ, họ là
những người không tự quyết định được vấn mệnh, hôn nhân, hạnh phúc của mình Bài
thơ cũng bày tỏ ước mơ khát vọng về sự bình đẳng Đây là tiếng nói của người phụ nữ
tự bộc bạch mình, là lời oán ghét sự bất công đối với người phụ nữ Bài thơ sử dụng từ
ngữ gần gũi, lối nói quen thuộc của ca dao và biện pháp ẩn dụ tu từ
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Câu hỏi
a Phân tích các nhân tố giao tiếp trong một hoạt động giao tiếp thông thường
và trong một văn bản văn chương Từ đó so sánh sự giống và khác nhau của
hai hoạt động đó
b Nêu rõ sự tác động của từng nhân tố trong hoạt động giao tiếp đến hiệu quả
của cuộc giao tiếp
2 Bài tập
1 Phân tích các nhân tố của hoạt động giao tiếp trong bài thơ sau:
Nói với em
Nếu nhắm mắt trong vườn lộng gió,
Sẽ được nghe nhiều tiếng chim hay,
Tiếng lích rích chim sâu trong lá,
Chim chìa vôi vừa hót vừa bay
Nếu nhắm mắt nghe bà kể chuyện,
Sẽ được nhìn thấy các bà tiên,
Thấy chú bé đi hài bảy dặm,
Quả thị thơm cô Tấm rất hiền
người nghe chính là độc giả Hoàn cảnh giao tiếp của bài thơ “Bánh trôi nước” là xã
hội phong kiến trọng nam khinh nữ, số phận người phụ nữ đầy éo le và chịu cảnh bất
công Đối tượng giao tiếp hay nội dung của bài thơ, đó là việc miêu tả hình ảnh chiếc
bánh trôi nước về nhiều phương diện như hình dáng, cách chế biến,… Qua đó, hiện lên
hình ảnh người phụ nữ có diện mạo đẹp đẽ, tâm hồn trong sáng, mang tấm lòng chung
thủy nhưng cuộc đời lận đận, chịu cảnh bất công ngang trái Mục đích giao tiếp của bài
thơ chính là thông qua việc miêu tả chiếc bánh trôi nước, người nói muốn người nghe
nhận thức được vẻ đẹp cả về hình thức và nội tâm của người phụ nữ trong xã hội xưa
Cùng với đó, là tiếng nói cảm thông với thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ, họ là
những người không tự quyết định được vấn mệnh, hôn nhân, hạnh phúc của mình Bài
thơ cũng bày tỏ ước mơ khát vọng về sự bình đẳng Đây là tiếng nói của người phụ nữ
tự bộc bạch mình, là lời oán ghét sự bất công đối với người phụ nữ Bài thơ sử dụng từ
ngữ gần gũi, lối nói quen thuộc của ca dao và biện pháp ẩn dụ tu từ
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Câu hỏi
a Phân tích các nhân tố giao tiếp trong một hoạt động giao tiếp thông thường
và trong một văn bản văn chương Từ đó so sánh sự giống và khác nhau của
hai hoạt động đó
b Nêu rõ sự tác động của từng nhân tố trong hoạt động giao tiếp đến hiệu quả
của cuộc giao tiếp
2 Bài tập
1 Phân tích các nhân tố của hoạt động giao tiếp trong bài thơ sau:
Nói với em
Nếu nhắm mắt trong vườn lộng gió,
Sẽ được nghe nhiều tiếng chim hay,
Tiếng lích rích chim sâu trong lá,
Chim chìa vôi vừa hót vừa bay
Nếu nhắm mắt nghe bà kể chuyện,
Sẽ được nhìn thấy các bà tiên,
Thấy chú bé đi hài bảy dặm,
Quả thị thơm cô Tấm rất hiền
tự bộc bạch mình, là lời oán ghét sự bất công đối với người phụ nữ Bài thơ sử dụng từ ngữ gần gũi, lối nói quen thuộc của ca dao và biện pháp ẩn dụ tu từ
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Câu hỏi
a Phân tích các nhân tố giao tiếp trong một hoạt động giao tiếp thông thường
và trong một văn bản văn chương Từ đó so sánh sự giống và khác nhau của hai hoạt động đó
b Nêu rõ sự tác động của từng nhân tố trong hoạt động giao tiếp đến hiệu quả của cuộc giao tiếp
2 Bài tập
1 Phân tích các nhân tố của hoạt động giao tiếp trong bài thơ sau:
Nói với em
Nếu nhắm mắt trong vườn lộng gió,
Sẽ được nghe nhiều tiếng chim hay, Tiếng lích rích chim sâu trong lá, Chim chìa vôi vừa hót vừa bay
Nếu nhắm mắt nghe bà kể chuyện,
Sẽ được nhìn thấy các bà tiên, Thấy chú bé đi hài bảy dặm, Quả thị thơm cô Tấm rất hiền
tự bộc bạch mình, là lời oán ghét sự bất công đối với người phụ nữ Bài thơ sử dụng từ ngữ gần gũi, lối nói quen thuộc của ca dao và biện pháp ẩn dụ tu từ
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Câu hỏi
a Phân tích các nhân tố giao tiếp trong một hoạt động giao tiếp thông thường
và trong một văn bản văn chương Từ đó so sánh sự giống và khác nhau của hai hoạt động đó
b Nêu rõ sự tác động của từng nhân tố trong hoạt động giao tiếp đến hiệu quả của cuộc giao tiếp
2 Bài tập
1 Phân tích các nhân tố của hoạt động giao tiếp trong bài thơ sau:
Nói với em
Nếu nhắm mắt trong vườn lộng gió,
Sẽ được nghe nhiều tiếng chim hay, Tiếng lích rích chim sâu trong lá, Chim chìa vôi vừa hót vừa bay
Nếu nhắm mắt nghe bà kể chuyện,
Sẽ được nhìn thấy các bà tiên, Thấy chú bé đi hài bảy dặm, Quả thị thơm cô Tấm rất hiền
Nếu nhắm mắt nghĩ về cha mẹ,
Đã nuôi em khôn lớn từng ngày,
Trang 13Trăng hồng như quả chín
Lửng lơ lên trước nhà
Trăng ơi từ đâu đến?
Hay biển xanh diệu kì
Trăng bay như quả bóng
Bạn nào đá lên trời
Trăng ơi từ đâu đến?
Hay từ lời mẹ ru
Thương Cuội không được học
Hú gọi trâu đến giờ!
Trăng ơi từ đâu đến ?
Hay từ đường hành quân
Trăng soi chú bộ đội
Và soi vàng góc sân
Trăng ơi từ đâu đến?
Trăng đi khắp mọi miền
Trăng ơi, có nơi nào
Sáng hơn đất nước em
Trăng hồng như quả chín
Lửng lơ lên trước nhà
Trăng ơi từ đâu đến?
Hay biển xanh diệu kì
Trăng bay như quả bóng
Bạn nào đá lên trời
Trăng ơi từ đâu đến?
Hay từ lời mẹ ru
Thương Cuội không được học
Hú gọi trâu đến giờ!
Trăng ơi từ đâu đến ?
Hay từ đường hành quân
Trăng soi chú bộ đội
Và soi vàng góc sân
Trăng ơi từ đâu đến?
Trăng đi khắp mọi miền
Trăng ơi, có nơi nào
Sáng hơn đất nước em
(Trần Đăng Khoa)
12
Tay bồng bế sớm khuya vất vả, Mắt nhắm rồi lại mở ra ngay
Trăng ơi từ đâu đến?
Hay biển xanh diệu kì Trăng tròn như mắt cá Chẳng bao giờ chớp mi
Trăng ơi từ đâu đến?
Hay từ một sàn chơi Trăng bay như quả bóng Bạn nào đá lên trời
Trăng ơi từ đâu đến?
Hay từ lời mẹ ru Thương Cuội không được học
Hú gọi trâu đến giờ!
Trăng ơi từ đâu đến ? Hay từ đường hành quân Trăng soi chú bộ đội
Và soi vàng góc sân
Trăng ơi từ đâu đến?
Trăng đi khắp mọi miền Trăng ơi, có nơi nào Sáng hơn đất nước em
(Trần Đăng Khoa)
Tay bồng bế sớm khuya vất vả, Mắt nhắm rồi lại mở ra ngay
Trăng ơi từ đâu đến?
Hay biển xanh diệu kì Trăng tròn như mắt cá Chẳng bao giờ chớp mi
Trăng ơi từ đâu đến?
Hay từ một sàn chơi Trăng bay như quả bóng Bạn nào đá lên trời
Trăng ơi từ đâu đến?
Hay từ lời mẹ ru Thương Cuội không được học
Hú gọi trâu đến giờ!
Trăng ơi từ đâu đến ? Hay từ đường hành quân Trăng soi chú bộ đội
Và soi vàng góc sân
Trăng ơi từ đâu đến?
Trăng đi khắp mọi miền Trăng ơi, có nơi nào Sáng hơn đất nước em
(Trần Đăng Khoa)
Trang 1413
1.1.2.3 Nhiệm vụ và ứng dụng của ngành ngôn ngữ học
Ngành ngôn ngữ học có nhiệm vụ trọng tâm trong việc miêu tả và phân tích
những hiện tượng của một ngôn ngữ như: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách
giúp người học hiểu biết chính xác về ngôn ngữ đó Những kiến thức, mọi vấn đề liên
quan đến ngôn ngữ sẽ được bộ môn ngôn ngữ học làm sáng tỏ Nói một cách khái
quát, ngôn ngữ học có những nhiệm vụ sau:
- Phải miêu tả và làm lịch sử cho tất cả các ngôn ngữ, các ngữ tộc mà nó với tới
được
- Phải tìm ra những quy luật tác động thường xuyên và phổ biến trong các ngôn
ngữ, rút ra những quy luật khái quát có thể giải thích tất cả những hiện tượng cá biệt
Nhiệm vụ đa dạng và phức tạp trên đây của ngành ngôn ngữ học sẽ được thực
hiện trong các ngành, các bộ môn ngôn ngữ học khác nhau Từ đó đề xuất lý thuyết
nghiên cứu về ngôn ngữ, có tác động tích cực đến quá trình phát triển của ngôn ngữ để
làm cho nó phục vụ tốt hơn cho xã hội
1.1.3 Các bình diện và lĩnh vực nghiên cứu của ngôn ngữ học
1.1.3.1 Ngôn ngữ học đại cương và ngôn ngữ học bộ phận
Ngôn ngữ học nghiên cứu các vấn đề của ngôn ngữ trên nhiều bình diện và khía
cạnh khác nhau Đó là ngôn ngữ học đại cương với đặc trưng là nghiên cứu tất cả các
đặc tính phổ quát của các ngôn ngữ trên thế giới Trong khi đó, ngôn ngữ học bộ phận
lại nghiên cứu các ngữ hệ và từng thứ tiếng cụ thể Trên cơ sở vận dụng các nội dung
của ngôn ngữ học đại cương, ngôn ngữ học bộ phận có nhiệm vụ phân tích cái riêng
của các ngữ hệ và các thứ tiếng Thông qua đó, chỉ ra được các điểm tương đồng và dị
biệt của các loại ngôn ngữ
1.1.3.2 Các lĩnh vực của ngôn ngữ học
Ngôn ngữ học có nhiều lĩnh vực khác nhau Việc nghiên cứu ngôn ngữ có thể
triển khai theo nhiều hướng tiếp cận
Thứ nhất đó là ngôn ngữ học đồng đại (AB) Ở hướng này, sự nghiên cứu ngôn
ngữ ngôn ngữ được triển khai theo hướng các ngôn ngữ đồng thời xảy ra ở một giai
đoạn lịch sử nhất định, xác định hay còn gọi là ngôn ngữ học miêu tả
Thứ hai đó là ngôn ngữ học lịch đại (CD) Với hướng nghiên cứu này, các hiện
tượng ngôn ngữ qua các chặng đường lịch sử ngôn ngữ được đặc biệt quan tâm Lịch
đại là trục của những hiện tượng kế tục, trên đoa bao giờ cũng chỉ xem xét một sự vật
trong một lúc mà thôi nhưng trên đó có tất cả những sự vật của trục thứ nhất với
những sự thay đổi của nó F Xôtxuya so sánh đồng đại và lịch đại với nhát cắt dọc
trên một thân cây: khi cắt dọc, ta trông thấy bản thân các thớ gỗ làm thành thân cây,
khi cắt ngang ta thấy cách tập hợp các thớ đó trên một bình diện đặc biệt Nhưng cách
cắt thứ hai khác hẳn cách cắt thứ nhất vì nó cho thấy rõ giữa các thớ cây có các quan
hệ đặc biệt mà khi cắt dọc không thể nào thấy được
1.1.2.3 Nhiệm vụ và ứng dụng của ngành ngôn ngữ học
Ngành ngôn ngữ học có nhiệm vụ trọng tâm trong việc miêu tả và phân tích
những hiện tượng của một ngôn ngữ như: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách
giúp người học hiểu biết chính xác về ngôn ngữ đó Những kiến thức, mọi vấn đề liên
quan đến ngôn ngữ sẽ được bộ môn ngôn ngữ học làm sáng tỏ Nói một cách khái
quát, ngôn ngữ học có những nhiệm vụ sau:
- Phải miêu tả và làm lịch sử cho tất cả các ngôn ngữ, các ngữ tộc mà nó với tới
được
- Phải tìm ra những quy luật tác động thường xuyên và phổ biến trong các ngôn
ngữ, rút ra những quy luật khái quát có thể giải thích tất cả những hiện tượng cá biệt
Nhiệm vụ đa dạng và phức tạp trên đây của ngành ngôn ngữ học sẽ được thực
hiện trong các ngành, các bộ môn ngôn ngữ học khác nhau Từ đó đề xuất lý thuyết
nghiên cứu về ngôn ngữ, có tác động tích cực đến quá trình phát triển của ngôn ngữ để
làm cho nó phục vụ tốt hơn cho xã hội
1.1.3 Các bình diện và lĩnh vực nghiên cứu của ngôn ngữ học
1.1.3.1 Ngôn ngữ học đại cương và ngôn ngữ học bộ phận
Ngôn ngữ học nghiên cứu các vấn đề của ngôn ngữ trên nhiều bình diện và khía
cạnh khác nhau Đó là ngôn ngữ học đại cương với đặc trưng là nghiên cứu tất cả các
đặc tính phổ quát của các ngôn ngữ trên thế giới Trong khi đó, ngôn ngữ học bộ phận
lại nghiên cứu các ngữ hệ và từng thứ tiếng cụ thể Trên cơ sở vận dụng các nội dung
của ngôn ngữ học đại cương, ngôn ngữ học bộ phận có nhiệm vụ phân tích cái riêng
của các ngữ hệ và các thứ tiếng Thông qua đó, chỉ ra được các điểm tương đồng và dị
biệt của các loại ngôn ngữ
1.1.3.2 Các lĩnh vực của ngôn ngữ học
Ngôn ngữ học có nhiều lĩnh vực khác nhau Việc nghiên cứu ngôn ngữ có thể
triển khai theo nhiều hướng tiếp cận
Thứ nhất đó là ngôn ngữ học đồng đại (AB) Ở hướng này, sự nghiên cứu ngôn
ngữ ngôn ngữ được triển khai theo hướng các ngôn ngữ đồng thời xảy ra ở một giai
đoạn lịch sử nhất định, xác định hay còn gọi là ngôn ngữ học miêu tả
Thứ hai đó là ngôn ngữ học lịch đại (CD) Với hướng nghiên cứu này, các hiện
tượng ngôn ngữ qua các chặng đường lịch sử ngôn ngữ được đặc biệt quan tâm Lịch
đại là trục của những hiện tượng kế tục, trên đoa bao giờ cũng chỉ xem xét một sự vật
trong một lúc mà thôi nhưng trên đó có tất cả những sự vật của trục thứ nhất với
những sự thay đổi của nó F Xôtxuya so sánh đồng đại và lịch đại với nhát cắt dọc
trên một thân cây: khi cắt dọc, ta trông thấy bản thân các thớ gỗ làm thành thân cây,
khi cắt ngang ta thấy cách tập hợp các thớ đó trên một bình diện đặc biệt Nhưng cách
cắt thứ hai khác hẳn cách cắt thứ nhất vì nó cho thấy rõ giữa các thớ cây có các quan
hệ đặc biệt mà khi cắt dọc không thể nào thấy được
13
1.1.2.3 Nhiệm vụ và ứng dụng của ngành ngôn ngữ học
Ngành ngôn ngữ học có nhiệm vụ trọng tâm trong việc miêu tả và phân tích những hiện tượng của một ngôn ngữ như: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách giúp người học hiểu biết chính xác về ngôn ngữ đó Những kiến thức, mọi vấn đề liên quan đến ngôn ngữ sẽ được bộ môn ngôn ngữ học làm sáng tỏ Nói một cách khái quát, ngôn ngữ học có những nhiệm vụ sau:
- Phải miêu tả và làm lịch sử cho tất cả các ngôn ngữ, các ngữ tộc mà nó với tới được
- Phải tìm ra những quy luật tác động thường xuyên và phổ biến trong các ngôn ngữ, rút ra những quy luật khái quát có thể giải thích tất cả những hiện tượng cá biệt Nhiệm vụ đa dạng và phức tạp trên đây của ngành ngôn ngữ học sẽ được thực hiện trong các ngành, các bộ môn ngôn ngữ học khác nhau Từ đó đề xuất lý thuyết nghiên cứu về ngôn ngữ, có tác động tích cực đến quá trình phát triển của ngôn ngữ để làm cho nó phục vụ tốt hơn cho xã hội
1.1.3 Các bình diện và lĩnh vực nghiên cứu của ngôn ngữ học
1.1.3.1 Ngôn ngữ học đại cương và ngôn ngữ học bộ phận
Ngôn ngữ học nghiên cứu các vấn đề của ngôn ngữ trên nhiều bình diện và khía cạnh khác nhau Đó là ngôn ngữ học đại cương với đặc trưng là nghiên cứu tất cả các đặc tính phổ quát của các ngôn ngữ trên thế giới Trong khi đó, ngôn ngữ học bộ phận lại nghiên cứu các ngữ hệ và từng thứ tiếng cụ thể Trên cơ sở vận dụng các nội dung của ngôn ngữ học đại cương, ngôn ngữ học bộ phận có nhiệm vụ phân tích cái riêng của các ngữ hệ và các thứ tiếng Thông qua đó, chỉ ra được các điểm tương đồng và dị biệt của các loại ngôn ngữ
Thứ hai đó là ngôn ngữ học lịch đại (CD) Với hướng nghiên cứu này, các hiện tượng ngôn ngữ qua các chặng đường lịch sử ngôn ngữ được đặc biệt quan tâm Lịch đại là trục của những hiện tượng kế tục, trên đoa bao giờ cũng chỉ xem xét một sự vật trong một lúc mà thôi nhưng trên đó có tất cả những sự vật của trục thứ nhất với những sự thay đổi của nó F Xôtxuya so sánh đồng đại và lịch đại với nhát cắt dọc trên một thân cây: khi cắt dọc, ta trông thấy bản thân các thớ gỗ làm thành thân cây, khi cắt ngang ta thấy cách tập hợp các thớ đó trên một bình diện đặc biệt Nhưng cách cắt thứ hai khác hẳn cách cắt thứ nhất vì nó cho thấy rõ giữa các thớ cây có các quan
hệ đặc biệt mà khi cắt dọc không thể nào thấy được
1.1.2.3 Nhiệm vụ và ứng dụng của ngành ngôn ngữ học
Ngành ngôn ngữ học có nhiệm vụ trọng tâm trong việc miêu tả và phân tích những hiện tượng của một ngôn ngữ như: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách giúp người học hiểu biết chính xác về ngôn ngữ đó Những kiến thức, mọi vấn đề liên quan đến ngôn ngữ sẽ được bộ môn ngôn ngữ học làm sáng tỏ Nói một cách khái quát, ngôn ngữ học có những nhiệm vụ sau:
- Phải miêu tả và làm lịch sử cho tất cả các ngôn ngữ, các ngữ tộc mà nó với tới được
- Phải tìm ra những quy luật tác động thường xuyên và phổ biến trong các ngôn ngữ, rút ra những quy luật khái quát có thể giải thích tất cả những hiện tượng cá biệt Nhiệm vụ đa dạng và phức tạp trên đây của ngành ngôn ngữ học sẽ được thực hiện trong các ngành, các bộ môn ngôn ngữ học khác nhau Từ đó đề xuất lý thuyết nghiên cứu về ngôn ngữ, có tác động tích cực đến quá trình phát triển của ngôn ngữ để làm cho nó phục vụ tốt hơn cho xã hội
1.1.3 Các bình diện và lĩnh vực nghiên cứu của ngôn ngữ học
1.1.3.1 Ngôn ngữ học đại cương và ngôn ngữ học bộ phận
Ngôn ngữ học nghiên cứu các vấn đề của ngôn ngữ trên nhiều bình diện và khía cạnh khác nhau Đó là ngôn ngữ học đại cương với đặc trưng là nghiên cứu tất cả các đặc tính phổ quát của các ngôn ngữ trên thế giới Trong khi đó, ngôn ngữ học bộ phận lại nghiên cứu các ngữ hệ và từng thứ tiếng cụ thể Trên cơ sở vận dụng các nội dung của ngôn ngữ học đại cương, ngôn ngữ học bộ phận có nhiệm vụ phân tích cái riêng của các ngữ hệ và các thứ tiếng Thông qua đó, chỉ ra được các điểm tương đồng và dị biệt của các loại ngôn ngữ
Thứ hai đó là ngôn ngữ học lịch đại (CD) Với hướng nghiên cứu này, các hiện tượng ngôn ngữ qua các chặng đường lịch sử ngôn ngữ được đặc biệt quan tâm Lịch đại là trục của những hiện tượng kế tục, trên đoa bao giờ cũng chỉ xem xét một sự vật trong một lúc mà thôi nhưng trên đó có tất cả những sự vật của trục thứ nhất với những sự thay đổi của nó F Xôtxuya so sánh đồng đại và lịch đại với nhát cắt dọc trên một thân cây: khi cắt dọc, ta trông thấy bản thân các thớ gỗ làm thành thân cây, khi cắt ngang ta thấy cách tập hợp các thớ đó trên một bình diện đặc biệt Nhưng cách cắt thứ hai khác hẳn cách cắt thứ nhất vì nó cho thấy rõ giữa các thớ cây có các quan
hệ đặc biệt mà khi cắt dọc không thể nào thấy được
Trang 1514
C
A B
D Cần phân biệt ngôn ngữ học đồng đại và ngôn ngữ học lịch đại song không nên
đối lập chúng một cách tuyệt đối Cần phải nghiên cứu các hiện tượng ngôn ngữ trong
cả mối liên hệ lẫn nhau lẫn trong sự phát triển một cách đồng thời
Thứ ba là ngôn ngữ học so sánh Đó là việc nghiên cứu và so sánh các hiện
tượng ngôn ngữ của hai hay nhiều ngôn ngữ Ngoài ra trong thời kì hiện nay xuất hiện
nhiều liên ngành (tâm lí ngôn ngữ học, ngôn ngữ học thần kinh,…)
1.1.3.3 Các hướng nghiên cứu mới của ngôn ngữ học
Bên cạnh các hướng nghiên cứu ngôn ngữ mang tính truyền thống, hiện nay đã
có nhiều hướng nghiên cứu mới được triển khai và đạt được nhiều thành tựu đáng kể
Cùng với sự phát triển của tư duy và sự phát triển của xã hội loài người, sự ra đời của
các hướng nghiên cứu mới trong ngôn ngữ học được xem là điều tất yếu Điều này
hoàn toàn phù hợp với quy luật của nội tại bản thân ngôn ngữ và của chính quy luật
vận động xã hội loài người Cụ thể đó là các hướng:
Loại hình học nghiên cứu các ngôn ngữ trên cơ sở một cấu trúc và nội dung của
các đơn vị ngôn ngữ đặc biệt là từ và biến hình từ của một thứ tiếng
Ngữ nghĩa học nghiên cứu riêng thành phần ý nghĩa của ngôn ngữ
Ngữ dụng học: nghiên cứu hiệu quả của việc sử dụng ngôn ngữ của người dùng
ngôn ngữ
1.1.4 Ý nghĩa của việc nhận thức những vấn đề của ngôn ngữ và ngôn ngữ
học
1.1.4.1 Ý nghĩa của vấn đề trong nghiên cứu tiếng Việt
Đối với người nghiên cứu hiểu biết những vấn đề lý luận chung về ngôn ngữ và
ngôn ngữ học vào việc nghiên cứu tiếng Việt, vận dụng những quan điểm, những lí
luận chung để nghiên cứu tiếng Việt Việc nhận thức các vấn đề trên còn được vận
dụng để nghiên cứu từng bộ phận của tiếng Việt: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp,…
Những vấn đề của ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ học nói riêng là những nền tảng
khoa học vững chắc để trên cơ sở đó sự nghiên cứu các vấn đề tiếng Việt được triển
khai rõ ràng và sâu sắc hơn Những kiến thức nền ấy là khởi phát của mọi sự nghiên
cứu Trên cơ sở ấy sự nhận thức về tiếng Việt trong nghiên cứu đầy đủ và chính xác
C
A B
D Cần phân biệt ngôn ngữ học đồng đại và ngôn ngữ học lịch đại song không nên
đối lập chúng một cách tuyệt đối Cần phải nghiên cứu các hiện tượng ngôn ngữ trong
cả mối liên hệ lẫn nhau lẫn trong sự phát triển một cách đồng thời
Thứ ba là ngôn ngữ học so sánh Đó là việc nghiên cứu và so sánh các hiện
tượng ngôn ngữ của hai hay nhiều ngôn ngữ Ngoài ra trong thời kì hiện nay xuất hiện
nhiều liên ngành (tâm lí ngôn ngữ học, ngôn ngữ học thần kinh,…)
1.1.3.3 Các hướng nghiên cứu mới của ngôn ngữ học
Bên cạnh các hướng nghiên cứu ngôn ngữ mang tính truyền thống, hiện nay đã
có nhiều hướng nghiên cứu mới được triển khai và đạt được nhiều thành tựu đáng kể
Cùng với sự phát triển của tư duy và sự phát triển của xã hội loài người, sự ra đời của
các hướng nghiên cứu mới trong ngôn ngữ học được xem là điều tất yếu Điều này
hoàn toàn phù hợp với quy luật của nội tại bản thân ngôn ngữ và của chính quy luật
vận động xã hội loài người Cụ thể đó là các hướng:
Loại hình học nghiên cứu các ngôn ngữ trên cơ sở một cấu trúc và nội dung của
các đơn vị ngôn ngữ đặc biệt là từ và biến hình từ của một thứ tiếng
Ngữ nghĩa học nghiên cứu riêng thành phần ý nghĩa của ngôn ngữ
Ngữ dụng học: nghiên cứu hiệu quả của việc sử dụng ngôn ngữ của người dùng
ngôn ngữ
1.1.4 Ý nghĩa của việc nhận thức những vấn đề của ngôn ngữ và ngôn ngữ
học
1.1.4.1 Ý nghĩa của vấn đề trong nghiên cứu tiếng Việt
Đối với người nghiên cứu hiểu biết những vấn đề lý luận chung về ngôn ngữ và
ngôn ngữ học vào việc nghiên cứu tiếng Việt, vận dụng những quan điểm, những lí
luận chung để nghiên cứu tiếng Việt Việc nhận thức các vấn đề trên còn được vận
dụng để nghiên cứu từng bộ phận của tiếng Việt: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp,…
Những vấn đề của ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ học nói riêng là những nền tảng
khoa học vững chắc để trên cơ sở đó sự nghiên cứu các vấn đề tiếng Việt được triển
khai rõ ràng và sâu sắc hơn Những kiến thức nền ấy là khởi phát của mọi sự nghiên
cứu Trên cơ sở ấy sự nhận thức về tiếng Việt trong nghiên cứu đầy đủ và chính xác
14
C
A B
D Cần phân biệt ngôn ngữ học đồng đại và ngôn ngữ học lịch đại song không nên đối lập chúng một cách tuyệt đối Cần phải nghiên cứu các hiện tượng ngôn ngữ trong
cả mối liên hệ lẫn nhau lẫn trong sự phát triển một cách đồng thời
Thứ ba là ngôn ngữ học so sánh Đó là việc nghiên cứu và so sánh các hiện tượng ngôn ngữ của hai hay nhiều ngôn ngữ Ngoài ra trong thời kì hiện nay xuất hiện nhiều liên ngành (tâm lí ngôn ngữ học, ngôn ngữ học thần kinh,…)
1.1.3.3 Các hướng nghiên cứu mới của ngôn ngữ học
Bên cạnh các hướng nghiên cứu ngôn ngữ mang tính truyền thống, hiện nay đã
có nhiều hướng nghiên cứu mới được triển khai và đạt được nhiều thành tựu đáng kể Cùng với sự phát triển của tư duy và sự phát triển của xã hội loài người, sự ra đời của các hướng nghiên cứu mới trong ngôn ngữ học được xem là điều tất yếu Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật của nội tại bản thân ngôn ngữ và của chính quy luật vận động xã hội loài người Cụ thể đó là các hướng:
Loại hình học nghiên cứu các ngôn ngữ trên cơ sở một cấu trúc và nội dung của các đơn vị ngôn ngữ đặc biệt là từ và biến hình từ của một thứ tiếng
Ngữ nghĩa học nghiên cứu riêng thành phần ý nghĩa của ngôn ngữ
Ngữ dụng học: nghiên cứu hiệu quả của việc sử dụng ngôn ngữ của người dùng ngôn ngữ
1.1.4 Ý nghĩa của việc nhận thức những vấn đề của ngôn ngữ và ngôn ngữ học
1.1.4.1 Ý nghĩa của vấn đề trong nghiên cứu tiếng Việt
Đối với người nghiên cứu hiểu biết những vấn đề lý luận chung về ngôn ngữ và ngôn ngữ học vào việc nghiên cứu tiếng Việt, vận dụng những quan điểm, những lí luận chung để nghiên cứu tiếng Việt Việc nhận thức các vấn đề trên còn được vận dụng để nghiên cứu từng bộ phận của tiếng Việt: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp,… Những vấn đề của ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ học nói riêng là những nền tảng khoa học vững chắc để trên cơ sở đó sự nghiên cứu các vấn đề tiếng Việt được triển khai rõ ràng và sâu sắc hơn Những kiến thức nền ấy là khởi phát của mọi sự nghiên cứu Trên cơ sở ấy sự nhận thức về tiếng Việt trong nghiên cứu đầy đủ và chính xác
C
A B
D Cần phân biệt ngôn ngữ học đồng đại và ngôn ngữ học lịch đại song không nên đối lập chúng một cách tuyệt đối Cần phải nghiên cứu các hiện tượng ngôn ngữ trong
cả mối liên hệ lẫn nhau lẫn trong sự phát triển một cách đồng thời
Thứ ba là ngôn ngữ học so sánh Đó là việc nghiên cứu và so sánh các hiện tượng ngôn ngữ của hai hay nhiều ngôn ngữ Ngoài ra trong thời kì hiện nay xuất hiện nhiều liên ngành (tâm lí ngôn ngữ học, ngôn ngữ học thần kinh,…)
1.1.3.3 Các hướng nghiên cứu mới của ngôn ngữ học
Bên cạnh các hướng nghiên cứu ngôn ngữ mang tính truyền thống, hiện nay đã
có nhiều hướng nghiên cứu mới được triển khai và đạt được nhiều thành tựu đáng kể Cùng với sự phát triển của tư duy và sự phát triển của xã hội loài người, sự ra đời của các hướng nghiên cứu mới trong ngôn ngữ học được xem là điều tất yếu Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật của nội tại bản thân ngôn ngữ và của chính quy luật vận động xã hội loài người Cụ thể đó là các hướng:
Loại hình học nghiên cứu các ngôn ngữ trên cơ sở một cấu trúc và nội dung của các đơn vị ngôn ngữ đặc biệt là từ và biến hình từ của một thứ tiếng
Ngữ nghĩa học nghiên cứu riêng thành phần ý nghĩa của ngôn ngữ
Ngữ dụng học: nghiên cứu hiệu quả của việc sử dụng ngôn ngữ của người dùng ngôn ngữ
1.1.4 Ý nghĩa của việc nhận thức những vấn đề của ngôn ngữ và ngôn ngữ học
1.1.4.1 Ý nghĩa của vấn đề trong nghiên cứu tiếng Việt
Đối với người nghiên cứu hiểu biết những vấn đề lý luận chung về ngôn ngữ và ngôn ngữ học vào việc nghiên cứu tiếng Việt, vận dụng những quan điểm, những lí luận chung để nghiên cứu tiếng Việt Việc nhận thức các vấn đề trên còn được vận dụng để nghiên cứu từng bộ phận của tiếng Việt: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp,… Những vấn đề của ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ học nói riêng là những nền tảng khoa học vững chắc để trên cơ sở đó sự nghiên cứu các vấn đề tiếng Việt được triển khai rõ ràng và sâu sắc hơn Những kiến thức nền ấy là khởi phát của mọi sự nghiên cứu Trên cơ sở ấy sự nhận thức về tiếng Việt trong nghiên cứu đầy đủ và chính xác
Trang 1615
hơn Vì vậy, việc nhận thức những kiến thức về ngôn ngữ và ngôn ngữ học có vị trí
đặc biệt trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu
1.1.4.2 Ý nghĩa của vấn đề trong giảng dạy tiếng Việt
Đối với người dạy tiếng Việt thì nắm được những quy luật chung và những quy
luật có tính đặc thù của một thứ tiếng để vận dụng vào việc truyền đạt và giáo dục tư
tưởng thẩm mĩ về tiếng Việt cho học sinh Việt Nam: vấn đề giữ gìn, bảo vệ và phát
triển sự trong sáng của tiếng Việt trong và ngoài trường, giúp học sinh Việt Nam nắm
được những quy phạm về tiếng Việt như cách phát âm, dùng từ, đặt câu,… Đó được
coi là khoa học cơ sở để phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt nói
chung và tiếng Việt trong nhà trường nói riêng Tiếng Việt cũng được coi là một bộ
phận của ngôn ngữ bởi vậy việc nhận thức các kiến thức về ngôn ngữ có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng
Bài tập:
Thảo luận về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói và việc vận dụng mối quan
hệ này vào dạy tiếng Việt ở tiểu học
a Nội dung lí thuyết phát triển lời nói trong dạy tiếng mẹ đẻ
b Phân tích một ví dụ trong giờ dạy tiếng Việt ở tiểu học để minh họa
1.2 Bản chất và chức năng của ngôn ngữ
1.2.1 Bản chất của ngôn ngữ
1.2.1.1 Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội
Các hiện tượng xung quanh con người vô cùng phong phú và đa dạng Các hiện
tượng này có thể phân biệt làm hai loại: các hiện tượng tự nhiên và các hiện tượng xã
hội Do ảnh hưởng của thuyết tiến hóa của nhà bác học Đacuyn mà trong một thời gian
khá dài nhiều nhà khoa học đã cố gắng tìm cách chứng minh ngôn ngữ là một hiện
tượng tự nhiên Sự ảnh hưởng và lan tỏa trong thuyết tiến hóa của Đacuyn đã khiến
cho sự nhìn nhận ngôn ngữ theo một hướng không hoàn toàn đúng với bản chất của
ngôn ngữ và như vậy sự nhìn nhận về ngôn ngữ đã đi theo một hướng khác
Do ảnh hưởng của thuyết tiến hóa của Đacuyn, một số người cho rằng ngôn ngữ
cũng giống như một cơ thể sống như động vật hay thực vật Ngôn ngữ hoạt động và
phát triển theo đúng quy luật tụ nhiên, nghĩa là tất cả các ngôn ngữ ở khắp mọi nơi đều
trải qua các giai đoạn nảy sinh, trưởng thành, hưng thịnh, suy tàn và diệt vong
Một số người khác lại đồng nhất ngôn ngữ với bản năng sinh vật của con người
Nghĩa là họ cho hoạt động nói năng cũng có tính chất bản năng như các hoạt động ăn,
ngủ, khóc, cười, chạy, nhảy,… của con người Họ thấy rằng đứa trẻ nào cũng có những
hoạt động bản năng như trên rồi chúng cũng biết nói với nhau và trẻ con trên tất cả thế
giới đều bắt đầu bằng các âm giống nhau như ma ma, pa pa, ba ba,… Thực ra những
bản năng sinh vật có thể phát triển ngoài xã hội còn ngôn ngữ không thể có được trong
những điều kiện như thế Lịch sử đã có rất nhiều người chứng minh điều đó Vào thời
kì Hi Lạp cổ đại nhà vua cùng nhà sử học Hêrôđôt đã cố gắng làm rõ điều đó bằng một
hoạt động thực nghiệm của mình Họ tiến hành bắt có mười hai đứa trẻ sơ sinh thuộc
nhiều dân tộc, tôn giáo khác nhau và đưa chúng vào nuôi dưỡng trong một tòa tháp kín
không cho tiếp xúc với thế giới của xã hội loài người Và kết quả là sau 12 năm những
đứa trẻ đó vẫn phát triển bình thường về thể chất nhưng lại không có tiếng nói của một
con người Sau đó hàng loạt những câu chuyện khác đã xảy ra trên thế giới như chuyện
hơn Vì vậy, việc nhận thức những kiến thức về ngôn ngữ và ngôn ngữ học có vị trí
đặc biệt trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu
1.1.4.2 Ý nghĩa của vấn đề trong giảng dạy tiếng Việt
Đối với người dạy tiếng Việt thì nắm được những quy luật chung và những quy
luật có tính đặc thù của một thứ tiếng để vận dụng vào việc truyền đạt và giáo dục tư
tưởng thẩm mĩ về tiếng Việt cho học sinh Việt Nam: vấn đề giữ gìn, bảo vệ và phát
triển sự trong sáng của tiếng Việt trong và ngoài trường, giúp học sinh Việt Nam nắm
được những quy phạm về tiếng Việt như cách phát âm, dùng từ, đặt câu,… Đó được
coi là khoa học cơ sở để phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt nói
chung và tiếng Việt trong nhà trường nói riêng Tiếng Việt cũng được coi là một bộ
phận của ngôn ngữ bởi vậy việc nhận thức các kiến thức về ngôn ngữ có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng
Bài tập:
Thảo luận về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói và việc vận dụng mối quan
hệ này vào dạy tiếng Việt ở tiểu học
a Nội dung lí thuyết phát triển lời nói trong dạy tiếng mẹ đẻ
b Phân tích một ví dụ trong giờ dạy tiếng Việt ở tiểu học để minh họa
1.2 Bản chất và chức năng của ngôn ngữ
1.2.1 Bản chất của ngôn ngữ
1.2.1.1 Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội
Các hiện tượng xung quanh con người vô cùng phong phú và đa dạng Các hiện
tượng này có thể phân biệt làm hai loại: các hiện tượng tự nhiên và các hiện tượng xã
hội Do ảnh hưởng của thuyết tiến hóa của nhà bác học Đacuyn mà trong một thời gian
khá dài nhiều nhà khoa học đã cố gắng tìm cách chứng minh ngôn ngữ là một hiện
tượng tự nhiên Sự ảnh hưởng và lan tỏa trong thuyết tiến hóa của Đacuyn đã khiến
cho sự nhìn nhận ngôn ngữ theo một hướng không hoàn toàn đúng với bản chất của
ngôn ngữ và như vậy sự nhìn nhận về ngôn ngữ đã đi theo một hướng khác
Do ảnh hưởng của thuyết tiến hóa của Đacuyn, một số người cho rằng ngôn ngữ
cũng giống như một cơ thể sống như động vật hay thực vật Ngôn ngữ hoạt động và
phát triển theo đúng quy luật tụ nhiên, nghĩa là tất cả các ngôn ngữ ở khắp mọi nơi đều
trải qua các giai đoạn nảy sinh, trưởng thành, hưng thịnh, suy tàn và diệt vong
Một số người khác lại đồng nhất ngôn ngữ với bản năng sinh vật của con người
Nghĩa là họ cho hoạt động nói năng cũng có tính chất bản năng như các hoạt động ăn,
ngủ, khóc, cười, chạy, nhảy,… của con người Họ thấy rằng đứa trẻ nào cũng có những
hoạt động bản năng như trên rồi chúng cũng biết nói với nhau và trẻ con trên tất cả thế
giới đều bắt đầu bằng các âm giống nhau như ma ma, pa pa, ba ba,… Thực ra những
bản năng sinh vật có thể phát triển ngoài xã hội còn ngôn ngữ không thể có được trong
những điều kiện như thế Lịch sử đã có rất nhiều người chứng minh điều đó Vào thời
kì Hi Lạp cổ đại nhà vua cùng nhà sử học Hêrôđôt đã cố gắng làm rõ điều đó bằng một
hoạt động thực nghiệm của mình Họ tiến hành bắt có mười hai đứa trẻ sơ sinh thuộc
nhiều dân tộc, tôn giáo khác nhau và đưa chúng vào nuôi dưỡng trong một tòa tháp kín
không cho tiếp xúc với thế giới của xã hội loài người Và kết quả là sau 12 năm những
đứa trẻ đó vẫn phát triển bình thường về thể chất nhưng lại không có tiếng nói của một
con người Sau đó hàng loạt những câu chuyện khác đã xảy ra trên thế giới như chuyện
15
hơn Vì vậy, việc nhận thức những kiến thức về ngôn ngữ và ngôn ngữ học có vị trí đặc biệt trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu
1.1.4.2 Ý nghĩa của vấn đề trong giảng dạy tiếng Việt
Đối với người dạy tiếng Việt thì nắm được những quy luật chung và những quy luật có tính đặc thù của một thứ tiếng để vận dụng vào việc truyền đạt và giáo dục tư tưởng thẩm mĩ về tiếng Việt cho học sinh Việt Nam: vấn đề giữ gìn, bảo vệ và phát triển sự trong sáng của tiếng Việt trong và ngoài trường, giúp học sinh Việt Nam nắm được những quy phạm về tiếng Việt như cách phát âm, dùng từ, đặt câu,… Đó được coi là khoa học cơ sở để phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt nói chung và tiếng Việt trong nhà trường nói riêng Tiếng Việt cũng được coi là một bộ phận của ngôn ngữ bởi vậy việc nhận thức các kiến thức về ngôn ngữ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Bài tập:
Thảo luận về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói và việc vận dụng mối quan
hệ này vào dạy tiếng Việt ở tiểu học
a Nội dung lí thuyết phát triển lời nói trong dạy tiếng mẹ đẻ
b Phân tích một ví dụ trong giờ dạy tiếng Việt ở tiểu học để minh họa
1.2 Bản chất và chức năng của ngôn ngữ
1.2.1 Bản chất của ngôn ngữ
1.2.1.1 Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội
Các hiện tượng xung quanh con người vô cùng phong phú và đa dạng Các hiện tượng này có thể phân biệt làm hai loại: các hiện tượng tự nhiên và các hiện tượng xã hội Do ảnh hưởng của thuyết tiến hóa của nhà bác học Đacuyn mà trong một thời gian khá dài nhiều nhà khoa học đã cố gắng tìm cách chứng minh ngôn ngữ là một hiện tượng tự nhiên Sự ảnh hưởng và lan tỏa trong thuyết tiến hóa của Đacuyn đã khiến cho sự nhìn nhận ngôn ngữ theo một hướng không hoàn toàn đúng với bản chất của ngôn ngữ và như vậy sự nhìn nhận về ngôn ngữ đã đi theo một hướng khác
Do ảnh hưởng của thuyết tiến hóa của Đacuyn, một số người cho rằng ngôn ngữ cũng giống như một cơ thể sống như động vật hay thực vật Ngôn ngữ hoạt động và phát triển theo đúng quy luật tụ nhiên, nghĩa là tất cả các ngôn ngữ ở khắp mọi nơi đều trải qua các giai đoạn nảy sinh, trưởng thành, hưng thịnh, suy tàn và diệt vong Một số người khác lại đồng nhất ngôn ngữ với bản năng sinh vật của con người Nghĩa là họ cho hoạt động nói năng cũng có tính chất bản năng như các hoạt động ăn, ngủ, khóc, cười, chạy, nhảy,… của con người Họ thấy rằng đứa trẻ nào cũng có những hoạt động bản năng như trên rồi chúng cũng biết nói với nhau và trẻ con trên tất cả thế giới đều bắt đầu bằng các âm giống nhau như ma ma, pa pa, ba ba,… Thực ra những bản năng sinh vật có thể phát triển ngoài xã hội còn ngôn ngữ không thể có được trong những điều kiện như thế Lịch sử đã có rất nhiều người chứng minh điều đó Vào thời
kì Hi Lạp cổ đại nhà vua cùng nhà sử học Hêrôđôt đã cố gắng làm rõ điều đó bằng một hoạt động thực nghiệm của mình Họ tiến hành bắt có mười hai đứa trẻ sơ sinh thuộc nhiều dân tộc, tôn giáo khác nhau và đưa chúng vào nuôi dưỡng trong một tòa tháp kín không cho tiếp xúc với thế giới của xã hội loài người Và kết quả là sau 12 năm những đứa trẻ đó vẫn phát triển bình thường về thể chất nhưng lại không có tiếng nói của một con người Sau đó hàng loạt những câu chuyện khác đã xảy ra trên thế giới như chuyện
hơn Vì vậy, việc nhận thức những kiến thức về ngôn ngữ và ngôn ngữ học có vị trí đặc biệt trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu
1.1.4.2 Ý nghĩa của vấn đề trong giảng dạy tiếng Việt
Đối với người dạy tiếng Việt thì nắm được những quy luật chung và những quy luật có tính đặc thù của một thứ tiếng để vận dụng vào việc truyền đạt và giáo dục tư tưởng thẩm mĩ về tiếng Việt cho học sinh Việt Nam: vấn đề giữ gìn, bảo vệ và phát triển sự trong sáng của tiếng Việt trong và ngoài trường, giúp học sinh Việt Nam nắm được những quy phạm về tiếng Việt như cách phát âm, dùng từ, đặt câu,… Đó được coi là khoa học cơ sở để phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt nói chung và tiếng Việt trong nhà trường nói riêng Tiếng Việt cũng được coi là một bộ phận của ngôn ngữ bởi vậy việc nhận thức các kiến thức về ngôn ngữ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Bài tập:
Thảo luận về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói và việc vận dụng mối quan
hệ này vào dạy tiếng Việt ở tiểu học
a Nội dung lí thuyết phát triển lời nói trong dạy tiếng mẹ đẻ
b Phân tích một ví dụ trong giờ dạy tiếng Việt ở tiểu học để minh họa
1.2 Bản chất và chức năng của ngôn ngữ
1.2.1 Bản chất của ngôn ngữ
1.2.1.1 Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội
Các hiện tượng xung quanh con người vô cùng phong phú và đa dạng Các hiện tượng này có thể phân biệt làm hai loại: các hiện tượng tự nhiên và các hiện tượng xã hội Do ảnh hưởng của thuyết tiến hóa của nhà bác học Đacuyn mà trong một thời gian khá dài nhiều nhà khoa học đã cố gắng tìm cách chứng minh ngôn ngữ là một hiện tượng tự nhiên Sự ảnh hưởng và lan tỏa trong thuyết tiến hóa của Đacuyn đã khiến cho sự nhìn nhận ngôn ngữ theo một hướng không hoàn toàn đúng với bản chất của ngôn ngữ và như vậy sự nhìn nhận về ngôn ngữ đã đi theo một hướng khác
Do ảnh hưởng của thuyết tiến hóa của Đacuyn, một số người cho rằng ngôn ngữ cũng giống như một cơ thể sống như động vật hay thực vật Ngôn ngữ hoạt động và phát triển theo đúng quy luật tụ nhiên, nghĩa là tất cả các ngôn ngữ ở khắp mọi nơi đều trải qua các giai đoạn nảy sinh, trưởng thành, hưng thịnh, suy tàn và diệt vong Một số người khác lại đồng nhất ngôn ngữ với bản năng sinh vật của con người Nghĩa là họ cho hoạt động nói năng cũng có tính chất bản năng như các hoạt động ăn, ngủ, khóc, cười, chạy, nhảy,… của con người Họ thấy rằng đứa trẻ nào cũng có những hoạt động bản năng như trên rồi chúng cũng biết nói với nhau và trẻ con trên tất cả thế giới đều bắt đầu bằng các âm giống nhau như ma ma, pa pa, ba ba,… Thực ra những bản năng sinh vật có thể phát triển ngoài xã hội còn ngôn ngữ không thể có được trong những điều kiện như thế Lịch sử đã có rất nhiều người chứng minh điều đó Vào thời
kì Hi Lạp cổ đại nhà vua cùng nhà sử học Hêrôđôt đã cố gắng làm rõ điều đó bằng một hoạt động thực nghiệm của mình Họ tiến hành bắt có mười hai đứa trẻ sơ sinh thuộc nhiều dân tộc, tôn giáo khác nhau và đưa chúng vào nuôi dưỡng trong một tòa tháp kín không cho tiếp xúc với thế giới của xã hội loài người Và kết quả là sau 12 năm những đứa trẻ đó vẫn phát triển bình thường về thể chất nhưng lại không có tiếng nói của một con người Sau đó hàng loạt những câu chuyện khác đã xảy ra trên thế giới như chuyện
Trang 1716
hai em bé gái Ấn Độ được Ridơ Xing phát hiện ra trong một cái hang có sói con vào
năm 1920 cũng chứng minh cho điều đó
Cái gọi là ngôn ngữ trẻ con cũng không chứng tỏ ngôn ngữ là hiện tượng sinh
vật vì thực ra nhưng âm trẻ em tập nói chưa phải là ngôn ngữ mà chỉ là những âm vô
nghĩa Những âm này chỉ trở thành sự kiện ngôn ngữ khi được liên hệ với ý nghĩa nào
đó, khi ấy cái gọi là sự thống nhất của ngôn ngữ trẻ con với thế giới không còn nữa
Nghĩa của các từ giống nhau về ngữ âm nhưng lại khác nhau về ý nghĩa trong các ngôn
ngữ trong tiếng Nga, ma ma nghĩa là mẹ nhưng trong tiếng Grudi lại có nghĩa là bố,…
Sở dĩ trẻ con tập nói thường phát âm những âm giống nhau vì đó là những âm dễ phát
âm hơn
Một biểu hiện khác trong việc các nhà ngôn ngữ giải thích bản chất tự nhiên của
ngôn ngữ là đồng nhất ngôn ngữ với những đặc trưng về chủng tộc Những đặc trưng
chủng tộc về màu da, màu mắt, hình thể,… có tính di truyền Nếu bố mẹ là người Việt
Nam da vàng thì con cái sinh ra cũng da vàng Còn nếu bố mẹ là người da đen thì con
sinh ra cũng mang màu da đen,… Trong khi đó ngôn ngữ lại khác Nếu đứa trẻ bố mẹ
là người Việt nhưng lại sinh sống với cộng đồng người Nhật Bản thì sẽ không nói
tiếng Việt mà sẽ nói tiếng Nhật Bản Ranh giới của ngôn ngữ và ranh giới về đặc trưng
chủng tộc là không trùng nhau
Những người bảo vệ quan điểm sinh vật học đối với ngôn ngữ còn đồng nhất
ngôn ngữ với tiếng kêu của động vật Tiếng kêu của động vật hay một số hoạt động
của nó có thể có tính chất thông báo Nhiều khi con người cảm thấy động vật còn có
thể hiểu được tiếng nói của con người Ví dụ như con chó còn có thể có phản xạ được
đối với âm thanh ngôn ngữ do con người phát ra Hay như con vẹt còn có khả năng bắt
chước được tiếng nói của con người Tuy vậy, đây chỉ là những phản xạ có điều kiện
được lặp đi lặp lại Những phản xạ này được I.P.Páplôp gọi là hệ thống tín hiệu thứ
nhất Hệ thống này có cả ở người và động vật Tiếng nói của con người thuộc hệ thống
tín hiệu thứ hai, tức là tín hiệu của những tín hiệu thứ nhất Hệ thống tín hiệu thứ hai
gắn liền với tư duy trừu tượng, với việc tạo ra các khái niệm chung và các từ Ưu thế
lớn nhất của con người đối với loài vật là ở khả năng có những khái niệm chung do từ
tạo thành Ngôn ngữ của con người không phải là hiện tượng mang tính sinh vật Việc
đồng nhất ngôn ngữ của loài người với các phản xạ có điều kiện của động vật là không
thể được
Trong khi phê phán quan điểm sinh vật học đối với ngôn ngữ, một số nhà bác
học vẫn không thừa nhận bản chất xã hội của ngôn ngữ mà lại cho ngôn ngữ là một
hiện tượng cá nhân Viện sĩ Sakhơmatốp đã khẳng định có ngôn ngữ của mỗi cá nhân,
còn ngôn ngữ của một làng, của một thành phố, một khu, một dân tộc, theo ông, theo
ông chỉ là sự bày đặt của khoa học, là kết luận trung tính từ một số ngôn ngữ cá nhân
nhất định Sự thực, mỗi cá nhân có thể vận dụng ngôn ngữ một cách khác nhau nhưng
không có ngôn ngữ chung thống nhất thì làm sao con người có thể giao tiếp được với
nhau Trong đời sống, con người có nhu cầu thống nhất chung về mặt ngôn ngữ để mọi
người ai cũng có thể hiểu được tiếng nói của nhau cũng như nhân loại hiện nay cần có
chung ngôn ngữ cũng như có sự thống nhất chung về tiền tệ
Như vậy không thể đồng nhất ngôn ngữ với các hiện tượng tự nhiên hay hiện
tượng cá nhân được bởi:
Các hiện tượng tự nhiên là các hiện tượng có thể nảy sinh, tồn tại, phát triển và
tiêu hủy một cách tự nhiên, không phụ thuộc vào sự tồn tại của con người hay xã hội
hai em bé gái Ấn Độ được Ridơ Xing phát hiện ra trong một cái hang có sói con vào
năm 1920 cũng chứng minh cho điều đó
Cái gọi là ngôn ngữ trẻ con cũng không chứng tỏ ngôn ngữ là hiện tượng sinh
vật vì thực ra nhưng âm trẻ em tập nói chưa phải là ngôn ngữ mà chỉ là những âm vô
nghĩa Những âm này chỉ trở thành sự kiện ngôn ngữ khi được liên hệ với ý nghĩa nào
đó, khi ấy cái gọi là sự thống nhất của ngôn ngữ trẻ con với thế giới không còn nữa
Nghĩa của các từ giống nhau về ngữ âm nhưng lại khác nhau về ý nghĩa trong các ngôn
ngữ trong tiếng Nga, ma ma nghĩa là mẹ nhưng trong tiếng Grudi lại có nghĩa là bố,…
Sở dĩ trẻ con tập nói thường phát âm những âm giống nhau vì đó là những âm dễ phát
âm hơn
Một biểu hiện khác trong việc các nhà ngôn ngữ giải thích bản chất tự nhiên của
ngôn ngữ là đồng nhất ngôn ngữ với những đặc trưng về chủng tộc Những đặc trưng
chủng tộc về màu da, màu mắt, hình thể,… có tính di truyền Nếu bố mẹ là người Việt
Nam da vàng thì con cái sinh ra cũng da vàng Còn nếu bố mẹ là người da đen thì con
sinh ra cũng mang màu da đen,… Trong khi đó ngôn ngữ lại khác Nếu đứa trẻ bố mẹ
là người Việt nhưng lại sinh sống với cộng đồng người Nhật Bản thì sẽ không nói
tiếng Việt mà sẽ nói tiếng Nhật Bản Ranh giới của ngôn ngữ và ranh giới về đặc trưng
chủng tộc là không trùng nhau
Những người bảo vệ quan điểm sinh vật học đối với ngôn ngữ còn đồng nhất
ngôn ngữ với tiếng kêu của động vật Tiếng kêu của động vật hay một số hoạt động
của nó có thể có tính chất thông báo Nhiều khi con người cảm thấy động vật còn có
thể hiểu được tiếng nói của con người Ví dụ như con chó còn có thể có phản xạ được
đối với âm thanh ngôn ngữ do con người phát ra Hay như con vẹt còn có khả năng bắt
chước được tiếng nói của con người Tuy vậy, đây chỉ là những phản xạ có điều kiện
được lặp đi lặp lại Những phản xạ này được I.P.Páplôp gọi là hệ thống tín hiệu thứ
nhất Hệ thống này có cả ở người và động vật Tiếng nói của con người thuộc hệ thống
tín hiệu thứ hai, tức là tín hiệu của những tín hiệu thứ nhất Hệ thống tín hiệu thứ hai
gắn liền với tư duy trừu tượng, với việc tạo ra các khái niệm chung và các từ Ưu thế
lớn nhất của con người đối với loài vật là ở khả năng có những khái niệm chung do từ
tạo thành Ngôn ngữ của con người không phải là hiện tượng mang tính sinh vật Việc
đồng nhất ngôn ngữ của loài người với các phản xạ có điều kiện của động vật là không
thể được
Trong khi phê phán quan điểm sinh vật học đối với ngôn ngữ, một số nhà bác
học vẫn không thừa nhận bản chất xã hội của ngôn ngữ mà lại cho ngôn ngữ là một
hiện tượng cá nhân Viện sĩ Sakhơmatốp đã khẳng định có ngôn ngữ của mỗi cá nhân,
còn ngôn ngữ của một làng, của một thành phố, một khu, một dân tộc, theo ông, theo
ông chỉ là sự bày đặt của khoa học, là kết luận trung tính từ một số ngôn ngữ cá nhân
nhất định Sự thực, mỗi cá nhân có thể vận dụng ngôn ngữ một cách khác nhau nhưng
không có ngôn ngữ chung thống nhất thì làm sao con người có thể giao tiếp được với
nhau Trong đời sống, con người có nhu cầu thống nhất chung về mặt ngôn ngữ để mọi
người ai cũng có thể hiểu được tiếng nói của nhau cũng như nhân loại hiện nay cần có
chung ngôn ngữ cũng như có sự thống nhất chung về tiền tệ
Như vậy không thể đồng nhất ngôn ngữ với các hiện tượng tự nhiên hay hiện
tượng cá nhân được bởi:
Các hiện tượng tự nhiên là các hiện tượng có thể nảy sinh, tồn tại, phát triển và
tiêu hủy một cách tự nhiên, không phụ thuộc vào sự tồn tại của con người hay xã hội
đó, khi ấy cái gọi là sự thống nhất của ngôn ngữ trẻ con với thế giới không còn nữa Nghĩa của các từ giống nhau về ngữ âm nhưng lại khác nhau về ý nghĩa trong các ngôn
ngữ trong tiếng Nga, ma ma nghĩa là mẹ nhưng trong tiếng Grudi lại có nghĩa là bố,…
Sở dĩ trẻ con tập nói thường phát âm những âm giống nhau vì đó là những âm dễ phát
âm hơn
Một biểu hiện khác trong việc các nhà ngôn ngữ giải thích bản chất tự nhiên của ngôn ngữ là đồng nhất ngôn ngữ với những đặc trưng về chủng tộc Những đặc trưng chủng tộc về màu da, màu mắt, hình thể,… có tính di truyền Nếu bố mẹ là người Việt Nam da vàng thì con cái sinh ra cũng da vàng Còn nếu bố mẹ là người da đen thì con sinh ra cũng mang màu da đen,… Trong khi đó ngôn ngữ lại khác Nếu đứa trẻ bố mẹ
là người Việt nhưng lại sinh sống với cộng đồng người Nhật Bản thì sẽ không nói tiếng Việt mà sẽ nói tiếng Nhật Bản Ranh giới của ngôn ngữ và ranh giới về đặc trưng chủng tộc là không trùng nhau
Những người bảo vệ quan điểm sinh vật học đối với ngôn ngữ còn đồng nhất ngôn ngữ với tiếng kêu của động vật Tiếng kêu của động vật hay một số hoạt động của nó có thể có tính chất thông báo Nhiều khi con người cảm thấy động vật còn có thể hiểu được tiếng nói của con người Ví dụ như con chó còn có thể có phản xạ được đối với âm thanh ngôn ngữ do con người phát ra Hay như con vẹt còn có khả năng bắt chước được tiếng nói của con người Tuy vậy, đây chỉ là những phản xạ có điều kiện được lặp đi lặp lại Những phản xạ này được I.P.Páplôp gọi là hệ thống tín hiệu thứ nhất Hệ thống này có cả ở người và động vật Tiếng nói của con người thuộc hệ thống tín hiệu thứ hai, tức là tín hiệu của những tín hiệu thứ nhất Hệ thống tín hiệu thứ hai gắn liền với tư duy trừu tượng, với việc tạo ra các khái niệm chung và các từ Ưu thế lớn nhất của con người đối với loài vật là ở khả năng có những khái niệm chung do từ tạo thành Ngôn ngữ của con người không phải là hiện tượng mang tính sinh vật Việc đồng nhất ngôn ngữ của loài người với các phản xạ có điều kiện của động vật là không thể được
Trong khi phê phán quan điểm sinh vật học đối với ngôn ngữ, một số nhà bác học vẫn không thừa nhận bản chất xã hội của ngôn ngữ mà lại cho ngôn ngữ là một hiện tượng cá nhân Viện sĩ Sakhơmatốp đã khẳng định có ngôn ngữ của mỗi cá nhân, còn ngôn ngữ của một làng, của một thành phố, một khu, một dân tộc, theo ông, theo ông chỉ là sự bày đặt của khoa học, là kết luận trung tính từ một số ngôn ngữ cá nhân nhất định Sự thực, mỗi cá nhân có thể vận dụng ngôn ngữ một cách khác nhau nhưng không có ngôn ngữ chung thống nhất thì làm sao con người có thể giao tiếp được với nhau Trong đời sống, con người có nhu cầu thống nhất chung về mặt ngôn ngữ để mọi người ai cũng có thể hiểu được tiếng nói của nhau cũng như nhân loại hiện nay cần có chung ngôn ngữ cũng như có sự thống nhất chung về tiền tệ
Như vậy không thể đồng nhất ngôn ngữ với các hiện tượng tự nhiên hay hiện tượng cá nhân được bởi:
Các hiện tượng tự nhiên là các hiện tượng có thể nảy sinh, tồn tại, phát triển và tiêu hủy một cách tự nhiên, không phụ thuộc vào sự tồn tại của con người hay xã hội
hai em bé gái Ấn Độ được Ridơ Xing phát hiện ra trong một cái hang có sói con vào năm 1920 cũng chứng minh cho điều đó
Cái gọi là ngôn ngữ trẻ con cũng không chứng tỏ ngôn ngữ là hiện tượng sinh vật vì thực ra nhưng âm trẻ em tập nói chưa phải là ngôn ngữ mà chỉ là những âm vô nghĩa Những âm này chỉ trở thành sự kiện ngôn ngữ khi được liên hệ với ý nghĩa nào
đó, khi ấy cái gọi là sự thống nhất của ngôn ngữ trẻ con với thế giới không còn nữa Nghĩa của các từ giống nhau về ngữ âm nhưng lại khác nhau về ý nghĩa trong các ngôn
ngữ trong tiếng Nga, ma ma nghĩa là mẹ nhưng trong tiếng Grudi lại có nghĩa là bố,…
Sở dĩ trẻ con tập nói thường phát âm những âm giống nhau vì đó là những âm dễ phát
âm hơn
Một biểu hiện khác trong việc các nhà ngôn ngữ giải thích bản chất tự nhiên của ngôn ngữ là đồng nhất ngôn ngữ với những đặc trưng về chủng tộc Những đặc trưng chủng tộc về màu da, màu mắt, hình thể,… có tính di truyền Nếu bố mẹ là người Việt Nam da vàng thì con cái sinh ra cũng da vàng Còn nếu bố mẹ là người da đen thì con sinh ra cũng mang màu da đen,… Trong khi đó ngôn ngữ lại khác Nếu đứa trẻ bố mẹ
là người Việt nhưng lại sinh sống với cộng đồng người Nhật Bản thì sẽ không nói tiếng Việt mà sẽ nói tiếng Nhật Bản Ranh giới của ngôn ngữ và ranh giới về đặc trưng chủng tộc là không trùng nhau
Những người bảo vệ quan điểm sinh vật học đối với ngôn ngữ còn đồng nhất ngôn ngữ với tiếng kêu của động vật Tiếng kêu của động vật hay một số hoạt động của nó có thể có tính chất thông báo Nhiều khi con người cảm thấy động vật còn có thể hiểu được tiếng nói của con người Ví dụ như con chó còn có thể có phản xạ được đối với âm thanh ngôn ngữ do con người phát ra Hay như con vẹt còn có khả năng bắt chước được tiếng nói của con người Tuy vậy, đây chỉ là những phản xạ có điều kiện được lặp đi lặp lại Những phản xạ này được I.P.Páplôp gọi là hệ thống tín hiệu thứ nhất Hệ thống này có cả ở người và động vật Tiếng nói của con người thuộc hệ thống tín hiệu thứ hai, tức là tín hiệu của những tín hiệu thứ nhất Hệ thống tín hiệu thứ hai gắn liền với tư duy trừu tượng, với việc tạo ra các khái niệm chung và các từ Ưu thế lớn nhất của con người đối với loài vật là ở khả năng có những khái niệm chung do từ tạo thành Ngôn ngữ của con người không phải là hiện tượng mang tính sinh vật Việc đồng nhất ngôn ngữ của loài người với các phản xạ có điều kiện của động vật là không thể được
Trong khi phê phán quan điểm sinh vật học đối với ngôn ngữ, một số nhà bác học vẫn không thừa nhận bản chất xã hội của ngôn ngữ mà lại cho ngôn ngữ là một hiện tượng cá nhân Viện sĩ Sakhơmatốp đã khẳng định có ngôn ngữ của mỗi cá nhân, còn ngôn ngữ của một làng, của một thành phố, một khu, một dân tộc, theo ông, theo ông chỉ là sự bày đặt của khoa học, là kết luận trung tính từ một số ngôn ngữ cá nhân nhất định Sự thực, mỗi cá nhân có thể vận dụng ngôn ngữ một cách khác nhau nhưng không có ngôn ngữ chung thống nhất thì làm sao con người có thể giao tiếp được với nhau Trong đời sống, con người có nhu cầu thống nhất chung về mặt ngôn ngữ để mọi người ai cũng có thể hiểu được tiếng nói của nhau cũng như nhân loại hiện nay cần có chung ngôn ngữ cũng như có sự thống nhất chung về tiền tệ
Như vậy không thể đồng nhất ngôn ngữ với các hiện tượng tự nhiên hay hiện tượng cá nhân được bởi:
Các hiện tượng tự nhiên là các hiện tượng có thể nảy sinh, tồn tại, phát triển và tiêu hủy một cách tự nhiên, không phụ thuộc vào sự tồn tại của con người hay xã hội
Trang 1817
loài người, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, ví du: mưa, bão,
động đất, lũ lụt,…
Các hiện tượng xã hội là các hiện tượng mà sự nảy sinh, tồn tại, phát triển hay
hủy diệt phụ thược vào nhu cầu, ý muốn chủ quan của con người, phụ thuộc vào chính
xã hội loài người, ví dụ: cưới xin, luật lệ,…
Ngôn ngữ phục vụ xã hội với tư cách là phương tiện giao tiếp, thể hiện ý thức
xã hội Sự tồn tại và phát triển của ngôn ngữ gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã
hội Ngôn ngữ là của con người, tồn tại trong xã hội loài người: quy luật phát triển của
ngôn ngữ là kế thừa cái cũ, phát triển cái mới, nó không phải là hiện tượng sinh vật,
không có tính bẩm sinh, di truyền, nó không phải là hiện tượng cá nhân mà là của
chung toàn xã hội Trong quá trình phát triển, ngôn ngữ luôn luôn tiếp thu các yếu tố
mới để phong phú và hoàn thiện thêm Nhưng những yếu tố như vậy ít khi là của một
cá nhân Khi một nhu cầu nào đó của xã hội nảy sinh, ngôn ngữ thường mách bảo cho
con người một phương tiện ngôn ngữ nào đó có thể được dùng một cách mới mẻ trong
lời nói
1.2.1.2 Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt
Trong các hiện tượng xã hội, Chủ nghĩa Mác phân biệt cơ sở hạ tầng và kiến
trúc thượng tầng Cơ sở hạ tầng là toàn bộ quan hệ sản xuất của xã hội ở một giai đoạn
phát triển nào đó; kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp
quyền, tôn giáo, nghệ thuật,… của xã hội và các cơ quan tương ứng với chúng
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của tập thể xã hội được hình thành và bảo vệ
qua các thời đại chứ không phải sinh ra từ cơ sở hạ tầng nào Mỗi kiến trúc thượng
tầng lại đều là sản phẩm của một cơ sở hạ tầng Khi cơ sở hạ tầng cũ bị thủ tiêu thì
kiến trúc thượng tầng của nó cũng sụp đổ theo và thay vào đó là kiến trúc thượng tầng
mới tương ứng với cơ sở hạ tầng mới Ngôn ngữ biến đổi liên tục, không đếm xỉa đến
tình trạng của cơ sở hạ tầng, nhưng nó không tạo ra một ngôn ngữ mới mà chỉ là hoàn
thiện cái đã có mà thôi Do vậy ngôn ngữ không thuộc kiến trúc thượng tầng
Ngôn ngữ là một hiện tượng tồn tại lâu hơn bất cứ một hiện tượng xã hội nào
Các hiện tượng xã hội có thể thay đổi theo thời đại song ngôn ngữ lại có sức sống lâu
bền, nó có sự tồn tại lâu dài theo dòng lịch sử Khi các hiện tượng xã hội khác thay đổi
chưa chắc ngôn ngữ đã thay đổi theo
Kiến trúc thượng tầng luôn phục vụ cho một giai cấp nào đó, còn ngôn ngữ
không có tính giai cấp (ít nhiều ở biệt ngữ và tiếng lóng), nó là công cụ chung của toàn
giai cấp
Kiến trúc thượng tầng không trực tiếp liên hệ với sản xuất, nó chỉ liên hệ gián
tiếp với sản xuất một cách gián tiếp qua cơ sở hạ tầng Cho nên kiến trúc thượng tầng
không phản ánh tức thì và trực tiếp những thay đổi trình độ phát triển của các lực
lượng sản xuất, mà chỉ phản ánh sau khi cơ sở hạ tầng đã có những thay đổi, khi
những thay đổi trong sản xuất đã gây ra những thay đổi trong cơ sở hạ tầng Điều đó
chứng tỏ phạm vi tác động của kiến trúc thượng tầng là nhỏ hẹp và có hạn Trong khi
đó, ngôn ngữ liên hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất của con người và không những
với hoạt động sản xuất mà còn với mọi hoạt động khác của con người, trên mọi lĩnh
vực công tác từ sản xuất đến hạ tầng, từ hạ tầng đến thượng tầng Cho nên, ngôn ngữ
phản ánh tức thì và trực tiếp những thay đổi trong sản xuất, chứ không đợi những thay
đổi phải xảy ra trong hạ tầng trước đã Phạm vi tác động của ngôn ngữ rộng hơn
loài người, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, ví du: mưa, bão,
động đất, lũ lụt,…
Các hiện tượng xã hội là các hiện tượng mà sự nảy sinh, tồn tại, phát triển hay
hủy diệt phụ thược vào nhu cầu, ý muốn chủ quan của con người, phụ thuộc vào chính
xã hội loài người, ví dụ: cưới xin, luật lệ,…
Ngôn ngữ phục vụ xã hội với tư cách là phương tiện giao tiếp, thể hiện ý thức
xã hội Sự tồn tại và phát triển của ngôn ngữ gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã
hội Ngôn ngữ là của con người, tồn tại trong xã hội loài người: quy luật phát triển của
ngôn ngữ là kế thừa cái cũ, phát triển cái mới, nó không phải là hiện tượng sinh vật,
không có tính bẩm sinh, di truyền, nó không phải là hiện tượng cá nhân mà là của
chung toàn xã hội Trong quá trình phát triển, ngôn ngữ luôn luôn tiếp thu các yếu tố
mới để phong phú và hoàn thiện thêm Nhưng những yếu tố như vậy ít khi là của một
cá nhân Khi một nhu cầu nào đó của xã hội nảy sinh, ngôn ngữ thường mách bảo cho
con người một phương tiện ngôn ngữ nào đó có thể được dùng một cách mới mẻ trong
lời nói
1.2.1.2 Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt
Trong các hiện tượng xã hội, Chủ nghĩa Mác phân biệt cơ sở hạ tầng và kiến
trúc thượng tầng Cơ sở hạ tầng là toàn bộ quan hệ sản xuất của xã hội ở một giai đoạn
phát triển nào đó; kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp
quyền, tôn giáo, nghệ thuật,… của xã hội và các cơ quan tương ứng với chúng
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của tập thể xã hội được hình thành và bảo vệ
qua các thời đại chứ không phải sinh ra từ cơ sở hạ tầng nào Mỗi kiến trúc thượng
tầng lại đều là sản phẩm của một cơ sở hạ tầng Khi cơ sở hạ tầng cũ bị thủ tiêu thì
kiến trúc thượng tầng của nó cũng sụp đổ theo và thay vào đó là kiến trúc thượng tầng
mới tương ứng với cơ sở hạ tầng mới Ngôn ngữ biến đổi liên tục, không đếm xỉa đến
tình trạng của cơ sở hạ tầng, nhưng nó không tạo ra một ngôn ngữ mới mà chỉ là hoàn
thiện cái đã có mà thôi Do vậy ngôn ngữ không thuộc kiến trúc thượng tầng
Ngôn ngữ là một hiện tượng tồn tại lâu hơn bất cứ một hiện tượng xã hội nào
Các hiện tượng xã hội có thể thay đổi theo thời đại song ngôn ngữ lại có sức sống lâu
bền, nó có sự tồn tại lâu dài theo dòng lịch sử Khi các hiện tượng xã hội khác thay đổi
chưa chắc ngôn ngữ đã thay đổi theo
Kiến trúc thượng tầng luôn phục vụ cho một giai cấp nào đó, còn ngôn ngữ
không có tính giai cấp (ít nhiều ở biệt ngữ và tiếng lóng), nó là công cụ chung của toàn
giai cấp
Kiến trúc thượng tầng không trực tiếp liên hệ với sản xuất, nó chỉ liên hệ gián
tiếp với sản xuất một cách gián tiếp qua cơ sở hạ tầng Cho nên kiến trúc thượng tầng
không phản ánh tức thì và trực tiếp những thay đổi trình độ phát triển của các lực
lượng sản xuất, mà chỉ phản ánh sau khi cơ sở hạ tầng đã có những thay đổi, khi
những thay đổi trong sản xuất đã gây ra những thay đổi trong cơ sở hạ tầng Điều đó
chứng tỏ phạm vi tác động của kiến trúc thượng tầng là nhỏ hẹp và có hạn Trong khi
đó, ngôn ngữ liên hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất của con người và không những
với hoạt động sản xuất mà còn với mọi hoạt động khác của con người, trên mọi lĩnh
vực công tác từ sản xuất đến hạ tầng, từ hạ tầng đến thượng tầng Cho nên, ngôn ngữ
phản ánh tức thì và trực tiếp những thay đổi trong sản xuất, chứ không đợi những thay
đổi phải xảy ra trong hạ tầng trước đã Phạm vi tác động của ngôn ngữ rộng hơn
xã hội loài người, ví dụ: cưới xin, luật lệ,…
Ngôn ngữ phục vụ xã hội với tư cách là phương tiện giao tiếp, thể hiện ý thức
xã hội Sự tồn tại và phát triển của ngôn ngữ gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội Ngôn ngữ là của con người, tồn tại trong xã hội loài người: quy luật phát triển của ngôn ngữ là kế thừa cái cũ, phát triển cái mới, nó không phải là hiện tượng sinh vật, không có tính bẩm sinh, di truyền, nó không phải là hiện tượng cá nhân mà là của chung toàn xã hội Trong quá trình phát triển, ngôn ngữ luôn luôn tiếp thu các yếu tố mới để phong phú và hoàn thiện thêm Nhưng những yếu tố như vậy ít khi là của một
cá nhân Khi một nhu cầu nào đó của xã hội nảy sinh, ngôn ngữ thường mách bảo cho con người một phương tiện ngôn ngữ nào đó có thể được dùng một cách mới mẻ trong lời nói
1.2.1.2 Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt
Trong các hiện tượng xã hội, Chủ nghĩa Mác phân biệt cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Cơ sở hạ tầng là toàn bộ quan hệ sản xuất của xã hội ở một giai đoạn phát triển nào đó; kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, tôn giáo, nghệ thuật,… của xã hội và các cơ quan tương ứng với chúng Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của tập thể xã hội được hình thành và bảo vệ qua các thời đại chứ không phải sinh ra từ cơ sở hạ tầng nào Mỗi kiến trúc thượng tầng lại đều là sản phẩm của một cơ sở hạ tầng Khi cơ sở hạ tầng cũ bị thủ tiêu thì kiến trúc thượng tầng của nó cũng sụp đổ theo và thay vào đó là kiến trúc thượng tầng mới tương ứng với cơ sở hạ tầng mới Ngôn ngữ biến đổi liên tục, không đếm xỉa đến tình trạng của cơ sở hạ tầng, nhưng nó không tạo ra một ngôn ngữ mới mà chỉ là hoàn thiện cái đã có mà thôi Do vậy ngôn ngữ không thuộc kiến trúc thượng tầng Ngôn ngữ là một hiện tượng tồn tại lâu hơn bất cứ một hiện tượng xã hội nào Các hiện tượng xã hội có thể thay đổi theo thời đại song ngôn ngữ lại có sức sống lâu bền, nó có sự tồn tại lâu dài theo dòng lịch sử Khi các hiện tượng xã hội khác thay đổi chưa chắc ngôn ngữ đã thay đổi theo
Kiến trúc thượng tầng luôn phục vụ cho một giai cấp nào đó, còn ngôn ngữ không có tính giai cấp (ít nhiều ở biệt ngữ và tiếng lóng), nó là công cụ chung của toàn giai cấp
Kiến trúc thượng tầng không trực tiếp liên hệ với sản xuất, nó chỉ liên hệ gián tiếp với sản xuất một cách gián tiếp qua cơ sở hạ tầng Cho nên kiến trúc thượng tầng không phản ánh tức thì và trực tiếp những thay đổi trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất, mà chỉ phản ánh sau khi cơ sở hạ tầng đã có những thay đổi, khi những thay đổi trong sản xuất đã gây ra những thay đổi trong cơ sở hạ tầng Điều đó chứng tỏ phạm vi tác động của kiến trúc thượng tầng là nhỏ hẹp và có hạn Trong khi
đó, ngôn ngữ liên hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất của con người và không những với hoạt động sản xuất mà còn với mọi hoạt động khác của con người, trên mọi lĩnh vực công tác từ sản xuất đến hạ tầng, từ hạ tầng đến thượng tầng Cho nên, ngôn ngữ phản ánh tức thì và trực tiếp những thay đổi trong sản xuất, chứ không đợi những thay đổi phải xảy ra trong hạ tầng trước đã Phạm vi tác động của ngôn ngữ rộng hơn
loài người, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, ví du: mưa, bão, động đất, lũ lụt,…
Các hiện tượng xã hội là các hiện tượng mà sự nảy sinh, tồn tại, phát triển hay hủy diệt phụ thược vào nhu cầu, ý muốn chủ quan của con người, phụ thuộc vào chính
xã hội loài người, ví dụ: cưới xin, luật lệ,…
Ngôn ngữ phục vụ xã hội với tư cách là phương tiện giao tiếp, thể hiện ý thức
xã hội Sự tồn tại và phát triển của ngôn ngữ gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội Ngôn ngữ là của con người, tồn tại trong xã hội loài người: quy luật phát triển của ngôn ngữ là kế thừa cái cũ, phát triển cái mới, nó không phải là hiện tượng sinh vật, không có tính bẩm sinh, di truyền, nó không phải là hiện tượng cá nhân mà là của chung toàn xã hội Trong quá trình phát triển, ngôn ngữ luôn luôn tiếp thu các yếu tố mới để phong phú và hoàn thiện thêm Nhưng những yếu tố như vậy ít khi là của một
cá nhân Khi một nhu cầu nào đó của xã hội nảy sinh, ngôn ngữ thường mách bảo cho con người một phương tiện ngôn ngữ nào đó có thể được dùng một cách mới mẻ trong lời nói
1.2.1.2 Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt
Trong các hiện tượng xã hội, Chủ nghĩa Mác phân biệt cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Cơ sở hạ tầng là toàn bộ quan hệ sản xuất của xã hội ở một giai đoạn phát triển nào đó; kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, tôn giáo, nghệ thuật,… của xã hội và các cơ quan tương ứng với chúng Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của tập thể xã hội được hình thành và bảo vệ qua các thời đại chứ không phải sinh ra từ cơ sở hạ tầng nào Mỗi kiến trúc thượng tầng lại đều là sản phẩm của một cơ sở hạ tầng Khi cơ sở hạ tầng cũ bị thủ tiêu thì kiến trúc thượng tầng của nó cũng sụp đổ theo và thay vào đó là kiến trúc thượng tầng mới tương ứng với cơ sở hạ tầng mới Ngôn ngữ biến đổi liên tục, không đếm xỉa đến tình trạng của cơ sở hạ tầng, nhưng nó không tạo ra một ngôn ngữ mới mà chỉ là hoàn thiện cái đã có mà thôi Do vậy ngôn ngữ không thuộc kiến trúc thượng tầng Ngôn ngữ là một hiện tượng tồn tại lâu hơn bất cứ một hiện tượng xã hội nào Các hiện tượng xã hội có thể thay đổi theo thời đại song ngôn ngữ lại có sức sống lâu bền, nó có sự tồn tại lâu dài theo dòng lịch sử Khi các hiện tượng xã hội khác thay đổi chưa chắc ngôn ngữ đã thay đổi theo
Kiến trúc thượng tầng luôn phục vụ cho một giai cấp nào đó, còn ngôn ngữ không có tính giai cấp (ít nhiều ở biệt ngữ và tiếng lóng), nó là công cụ chung của toàn giai cấp
Kiến trúc thượng tầng không trực tiếp liên hệ với sản xuất, nó chỉ liên hệ gián tiếp với sản xuất một cách gián tiếp qua cơ sở hạ tầng Cho nên kiến trúc thượng tầng không phản ánh tức thì và trực tiếp những thay đổi trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất, mà chỉ phản ánh sau khi cơ sở hạ tầng đã có những thay đổi, khi những thay đổi trong sản xuất đã gây ra những thay đổi trong cơ sở hạ tầng Điều đó chứng tỏ phạm vi tác động của kiến trúc thượng tầng là nhỏ hẹp và có hạn Trong khi
đó, ngôn ngữ liên hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất của con người và không những với hoạt động sản xuất mà còn với mọi hoạt động khác của con người, trên mọi lĩnh vực công tác từ sản xuất đến hạ tầng, từ hạ tầng đến thượng tầng Cho nên, ngôn ngữ phản ánh tức thì và trực tiếp những thay đổi trong sản xuất, chứ không đợi những thay đổi phải xảy ra trong hạ tầng trước đã Phạm vi tác động của ngôn ngữ rộng hơn
Trang 1918
thượng tầng rất nhiều và hầu như không có giới hạn nào cả Như vậy, ngôn ngữ là một
hiện tượng xã hội đặc biệt
Ngôn ngữ phục vụ xã hội, làm phương tiện giao tiếp giữa mọi người, làm
phương tiện giao tiếp trao đổi ý kiến trong xã hội, làm phương tiện giúp con người
hiểu biết lẫn nhau và cùng nhau tổ chức công tác chung trong mọi lĩnh vực sản xuất
lẫn quan hệ sản xuất, cả trên lĩnh vực chính trị lẫn văn hóa, cả trên lĩnh vực sinh hoạt
xã hội lẫn sinh hoạt thường ngày Những đặc thù ấy chỉ riêng ngôn ngữ mới có
1.2.2 Chức năng của ngôn ngữ
1.2.2.1 Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu của con người
Con người có thể sử dụng rất nhiều các phương tiện khác nhau để giao tiếp như
ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ, ngữ điệu,… nhưng ngôn ngữ được coi là phương tiện giao
tiếp quan trọng nhất Lê – nin đã từng khẳng định điều này thông qua luận điểm “ngôn
ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người” Sống trong xã hội, con
người có nhu cầu giao tiếp với nhau Giao tiếp chính là hoạt động trao đổi thông tin
hay truyền đạt nhận thức, tư tưởng, tình cảm từ người này sang người khác
Những phương tiện giao tiếp của con người rất đa dạng: cử chỉ, điệu bộ, nét
mặt, ánh mắt,… Trong đó ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, bởi lẽ:
Thứ nhất, xét về mặt lịch sử, ngôn ngữ là phương tiện ra đời sớm nhất Ngay cả
những bộ lạc lạc hậu nhất người ta còn dùng ngôn ngữ để nói chuyện với nhau
Thứ hai, xét về mặt không gian và phạm vi hoạt động, ngôn ngữ hoạt động rộng
nhất, toàn diện nhất ở mọi lĩnh vực hoạt động của con người: nghề nghiệp, lứa tuổi,…
Ở bất kì không gian nào hay phạm vi nào, ngôn ngữ vẫn được coi là phương tiện giao
tiếp tối ưu nhất
Thứ ba, xét về khả năng, nó giúp con người giao tiếp với nhau và trao đổi nhận
thức, tư tưởng, tình cảm với những sắc thái tinh vi và tế nhị nhất Những phương tiện
giao tiếp khác không phải là ngôn ngữ chỉ áp dụng trong những phạm vi rất hạn chế
chứ không phải phương tiện giao tiếp toàn xã hội Bản thân những dấu hiệu, kí hiệu
như thế muốn hiểu được phải dùng ngôn ngữ thành tiếng để giải thích Chính vì vậy,
của chỉ và những dấu hiệu, kí hiệu khác nhau chỉ là những phương tiện giao tiếp phụ,
bổ sung cho ngôn ngữ thành tiếng Âm nhạc, hộ họa hay một số loại hình nghệ thuật
khác có khả năng vĩ đại nhưng nó vẫn rất hạn chế và phiến diện so với ngôn ngữ
Thứ tư, xét trong mối quan hệ với các phương tiện giao tiếp khác: ngôn ngữ là
phương tiện giao tiếp gốc (dùng để quy ước các biển báo, công thức)
Như vậy, có thể khẳng định rằng ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng
nhất, là cơ sở hình thành các phương tiện giao tiếp khác Ngôn ngữ có khả năng vô hạn
trong việc bày tỏ tư tưởng, tình cảm, thái độ với tất cả những sắc thái tình cảm tinh vi
và tế nhị nhất
1.2.2.2 Ngôn ngữ là công cụ của tư duy
Tư duy là một quá trình nhận thức bao gồm hàng loạt các thao tác: phân tích,
tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa Tư duy có nhiều loại trong đó có tư duy trừu
tượng và tư duy không trừu tượng, tư duy sáng tạo và tư duy không sáng tạo,…Tư duy
trừu tượng không có ngôn ngữ thì không làm được
Chức năng giao tiếp và tư duy của ngôn ngữ có mối liên hệ mật thiết với nhau
Ngôn ngữ được coi là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội loài người và
ngôn ngữ cũng chính là công cụ của tư duy Ngôn ngữ và tư duy cùng ra đời một lúc,
thượng tầng rất nhiều và hầu như không có giới hạn nào cả Như vậy, ngôn ngữ là một
hiện tượng xã hội đặc biệt
Ngôn ngữ phục vụ xã hội, làm phương tiện giao tiếp giữa mọi người, làm
phương tiện giao tiếp trao đổi ý kiến trong xã hội, làm phương tiện giúp con người
hiểu biết lẫn nhau và cùng nhau tổ chức công tác chung trong mọi lĩnh vực sản xuất
lẫn quan hệ sản xuất, cả trên lĩnh vực chính trị lẫn văn hóa, cả trên lĩnh vực sinh hoạt
xã hội lẫn sinh hoạt thường ngày Những đặc thù ấy chỉ riêng ngôn ngữ mới có
1.2.2 Chức năng của ngôn ngữ
1.2.2.1 Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu của con người
Con người có thể sử dụng rất nhiều các phương tiện khác nhau để giao tiếp như
ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ, ngữ điệu,… nhưng ngôn ngữ được coi là phương tiện giao
tiếp quan trọng nhất Lê – nin đã từng khẳng định điều này thông qua luận điểm “ngôn
ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người” Sống trong xã hội, con
người có nhu cầu giao tiếp với nhau Giao tiếp chính là hoạt động trao đổi thông tin
hay truyền đạt nhận thức, tư tưởng, tình cảm từ người này sang người khác
Những phương tiện giao tiếp của con người rất đa dạng: cử chỉ, điệu bộ, nét
mặt, ánh mắt,… Trong đó ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, bởi lẽ:
Thứ nhất, xét về mặt lịch sử, ngôn ngữ là phương tiện ra đời sớm nhất Ngay cả
những bộ lạc lạc hậu nhất người ta còn dùng ngôn ngữ để nói chuyện với nhau
Thứ hai, xét về mặt không gian và phạm vi hoạt động, ngôn ngữ hoạt động rộng
nhất, toàn diện nhất ở mọi lĩnh vực hoạt động của con người: nghề nghiệp, lứa tuổi,…
Ở bất kì không gian nào hay phạm vi nào, ngôn ngữ vẫn được coi là phương tiện giao
tiếp tối ưu nhất
Thứ ba, xét về khả năng, nó giúp con người giao tiếp với nhau và trao đổi nhận
thức, tư tưởng, tình cảm với những sắc thái tinh vi và tế nhị nhất Những phương tiện
giao tiếp khác không phải là ngôn ngữ chỉ áp dụng trong những phạm vi rất hạn chế
chứ không phải phương tiện giao tiếp toàn xã hội Bản thân những dấu hiệu, kí hiệu
như thế muốn hiểu được phải dùng ngôn ngữ thành tiếng để giải thích Chính vì vậy,
của chỉ và những dấu hiệu, kí hiệu khác nhau chỉ là những phương tiện giao tiếp phụ,
bổ sung cho ngôn ngữ thành tiếng Âm nhạc, hộ họa hay một số loại hình nghệ thuật
khác có khả năng vĩ đại nhưng nó vẫn rất hạn chế và phiến diện so với ngôn ngữ
Thứ tư, xét trong mối quan hệ với các phương tiện giao tiếp khác: ngôn ngữ là
phương tiện giao tiếp gốc (dùng để quy ước các biển báo, công thức)
Như vậy, có thể khẳng định rằng ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng
nhất, là cơ sở hình thành các phương tiện giao tiếp khác Ngôn ngữ có khả năng vô hạn
trong việc bày tỏ tư tưởng, tình cảm, thái độ với tất cả những sắc thái tình cảm tinh vi
và tế nhị nhất
1.2.2.2 Ngôn ngữ là công cụ của tư duy
Tư duy là một quá trình nhận thức bao gồm hàng loạt các thao tác: phân tích,
tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa Tư duy có nhiều loại trong đó có tư duy trừu
tượng và tư duy không trừu tượng, tư duy sáng tạo và tư duy không sáng tạo,…Tư duy
trừu tượng không có ngôn ngữ thì không làm được
Chức năng giao tiếp và tư duy của ngôn ngữ có mối liên hệ mật thiết với nhau
Ngôn ngữ được coi là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội loài người và
ngôn ngữ cũng chính là công cụ của tư duy Ngôn ngữ và tư duy cùng ra đời một lúc,
xã hội lẫn sinh hoạt thường ngày Những đặc thù ấy chỉ riêng ngôn ngữ mới có
1.2.2 Chức năng của ngôn ngữ
1.2.2.1 Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu của con người
Con người có thể sử dụng rất nhiều các phương tiện khác nhau để giao tiếp như ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ, ngữ điệu,… nhưng ngôn ngữ được coi là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất Lê – nin đã từng khẳng định điều này thông qua luận điểm “ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người” Sống trong xã hội, con người có nhu cầu giao tiếp với nhau Giao tiếp chính là hoạt động trao đổi thông tin hay truyền đạt nhận thức, tư tưởng, tình cảm từ người này sang người khác Những phương tiện giao tiếp của con người rất đa dạng: cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, ánh mắt,… Trong đó ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, bởi lẽ: Thứ nhất, xét về mặt lịch sử, ngôn ngữ là phương tiện ra đời sớm nhất Ngay cả những bộ lạc lạc hậu nhất người ta còn dùng ngôn ngữ để nói chuyện với nhau Thứ hai, xét về mặt không gian và phạm vi hoạt động, ngôn ngữ hoạt động rộng nhất, toàn diện nhất ở mọi lĩnh vực hoạt động của con người: nghề nghiệp, lứa tuổi,…
Ở bất kì không gian nào hay phạm vi nào, ngôn ngữ vẫn được coi là phương tiện giao tiếp tối ưu nhất
Thứ ba, xét về khả năng, nó giúp con người giao tiếp với nhau và trao đổi nhận thức, tư tưởng, tình cảm với những sắc thái tinh vi và tế nhị nhất Những phương tiện giao tiếp khác không phải là ngôn ngữ chỉ áp dụng trong những phạm vi rất hạn chế chứ không phải phương tiện giao tiếp toàn xã hội Bản thân những dấu hiệu, kí hiệu như thế muốn hiểu được phải dùng ngôn ngữ thành tiếng để giải thích Chính vì vậy, của chỉ và những dấu hiệu, kí hiệu khác nhau chỉ là những phương tiện giao tiếp phụ,
bổ sung cho ngôn ngữ thành tiếng Âm nhạc, hộ họa hay một số loại hình nghệ thuật khác có khả năng vĩ đại nhưng nó vẫn rất hạn chế và phiến diện so với ngôn ngữ Thứ tư, xét trong mối quan hệ với các phương tiện giao tiếp khác: ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp gốc (dùng để quy ước các biển báo, công thức)
Như vậy, có thể khẳng định rằng ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, là cơ sở hình thành các phương tiện giao tiếp khác Ngôn ngữ có khả năng vô hạn trong việc bày tỏ tư tưởng, tình cảm, thái độ với tất cả những sắc thái tình cảm tinh vi
và tế nhị nhất
1.2.2.2 Ngôn ngữ là công cụ của tư duy
Tư duy là một quá trình nhận thức bao gồm hàng loạt các thao tác: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa Tư duy có nhiều loại trong đó có tư duy trừu tượng và tư duy không trừu tượng, tư duy sáng tạo và tư duy không sáng tạo,…Tư duy trừu tượng không có ngôn ngữ thì không làm được
Chức năng giao tiếp và tư duy của ngôn ngữ có mối liên hệ mật thiết với nhau Ngôn ngữ được coi là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội loài người và ngôn ngữ cũng chính là công cụ của tư duy Ngôn ngữ và tư duy cùng ra đời một lúc,
thượng tầng rất nhiều và hầu như không có giới hạn nào cả Như vậy, ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt
Ngôn ngữ phục vụ xã hội, làm phương tiện giao tiếp giữa mọi người, làm phương tiện giao tiếp trao đổi ý kiến trong xã hội, làm phương tiện giúp con người hiểu biết lẫn nhau và cùng nhau tổ chức công tác chung trong mọi lĩnh vực sản xuất lẫn quan hệ sản xuất, cả trên lĩnh vực chính trị lẫn văn hóa, cả trên lĩnh vực sinh hoạt
xã hội lẫn sinh hoạt thường ngày Những đặc thù ấy chỉ riêng ngôn ngữ mới có
1.2.2 Chức năng của ngôn ngữ
1.2.2.1 Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu của con người
Con người có thể sử dụng rất nhiều các phương tiện khác nhau để giao tiếp như ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ, ngữ điệu,… nhưng ngôn ngữ được coi là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất Lê – nin đã từng khẳng định điều này thông qua luận điểm “ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người” Sống trong xã hội, con người có nhu cầu giao tiếp với nhau Giao tiếp chính là hoạt động trao đổi thông tin hay truyền đạt nhận thức, tư tưởng, tình cảm từ người này sang người khác Những phương tiện giao tiếp của con người rất đa dạng: cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, ánh mắt,… Trong đó ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, bởi lẽ: Thứ nhất, xét về mặt lịch sử, ngôn ngữ là phương tiện ra đời sớm nhất Ngay cả những bộ lạc lạc hậu nhất người ta còn dùng ngôn ngữ để nói chuyện với nhau Thứ hai, xét về mặt không gian và phạm vi hoạt động, ngôn ngữ hoạt động rộng nhất, toàn diện nhất ở mọi lĩnh vực hoạt động của con người: nghề nghiệp, lứa tuổi,…
Ở bất kì không gian nào hay phạm vi nào, ngôn ngữ vẫn được coi là phương tiện giao tiếp tối ưu nhất
Thứ ba, xét về khả năng, nó giúp con người giao tiếp với nhau và trao đổi nhận thức, tư tưởng, tình cảm với những sắc thái tinh vi và tế nhị nhất Những phương tiện giao tiếp khác không phải là ngôn ngữ chỉ áp dụng trong những phạm vi rất hạn chế chứ không phải phương tiện giao tiếp toàn xã hội Bản thân những dấu hiệu, kí hiệu như thế muốn hiểu được phải dùng ngôn ngữ thành tiếng để giải thích Chính vì vậy, của chỉ và những dấu hiệu, kí hiệu khác nhau chỉ là những phương tiện giao tiếp phụ,
bổ sung cho ngôn ngữ thành tiếng Âm nhạc, hộ họa hay một số loại hình nghệ thuật khác có khả năng vĩ đại nhưng nó vẫn rất hạn chế và phiến diện so với ngôn ngữ Thứ tư, xét trong mối quan hệ với các phương tiện giao tiếp khác: ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp gốc (dùng để quy ước các biển báo, công thức)
Như vậy, có thể khẳng định rằng ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, là cơ sở hình thành các phương tiện giao tiếp khác Ngôn ngữ có khả năng vô hạn trong việc bày tỏ tư tưởng, tình cảm, thái độ với tất cả những sắc thái tình cảm tinh vi
và tế nhị nhất
1.2.2.2 Ngôn ngữ là công cụ của tư duy
Tư duy là một quá trình nhận thức bao gồm hàng loạt các thao tác: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa Tư duy có nhiều loại trong đó có tư duy trừu tượng và tư duy không trừu tượng, tư duy sáng tạo và tư duy không sáng tạo,…Tư duy trừu tượng không có ngôn ngữ thì không làm được
Chức năng giao tiếp và tư duy của ngôn ngữ có mối liên hệ mật thiết với nhau Ngôn ngữ được coi là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội loài người và ngôn ngữ cũng chính là công cụ của tư duy Ngôn ngữ và tư duy cùng ra đời một lúc,
Trang 2019
ngay từ đầu đã có quan hệ chặt chẽ, ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy Chức
năng tư duy của ngôn ngữ biểu hiện cụ thể như sau:
Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng Không có từ nào hay câu nào mà
lại không biểu hiện khái niệm hay tư tưởng Ngược lại, không có ý nghĩ hay tư tưởng
nào không tồn tại dưới dạng ngôn ngữ Ngôn ngữ là biểu hiện thực tế của tư tưởng
Ngôn ngữ trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tư tưởng Mọi ý nghĩ, tư
tưởng chỉ trở nên rõ ràng khi được biểu hiện bằng ngôn ngữ
Ngôn ngữ và tư duy thống nhất nhưng không đồng nhất với nhau Sự khác nhau
giữa ngôn ngữ và tư duy được thể hiện ở những điểm sau:
Ngôn ngữ là vật chất còn tư duy là tinh thần Ngôn ngữ là vật chất bởi vì tất cả
các đơn vị của nó: hình vị, từ, câu,… đều là âm thanh, có những thuộc tính vật chất
nhất định Tư duy nảy sinh và phụ thuộc vào một tổ chức đặc biệt là não, nhưng bản
thân nó lại có tính tinh thần
Tư duy có tính nhân loại còn ngôn ngữ có tính dân tộc Mọi người đều suy
nghĩ như nhau nên quy luật tư duy là quy luật chung cho toàn nhân loại Nhưng các
ý nghĩ, tư tưởng lại được biểu hiện bằng những cách khác nhau Ngôn ngữ nào
cũng biểu hiện cho tư duy nhưng mỗi ngôn ngữ biểu hiện theo cách riêng của mình,
cho nên ngôn ngữ có tính dân tộc Những đơn vị của tư duy không đồng nhất với
các đơn vị của ngôn ngữ
Ngoài ra ngôn ngữ còn có chức năng siêu ngôn ngữ, giải trí, bộc lộ, kết nối các
mối quan hệ Với những chức năng này, ngôn ngữ đã khẳng định được vai trò và tầm
quan trọng của nó với con người cũng như với sự tiến hóa của nhân loại
1.3 Sự phân loại ngôn ngữ
1.3.1 Khái quát về sự phân loại
Hiện nay trên thế giới có khoảng 5650 thứ tiếng được phân bố ở 5 châu lục Đó
là kết quả của sự phát triển lâu dài hàng chục vạn năm của ngôn ngữ loài người Trong
quá trình phát triển, con người có nhu cầu giao tiếp với nhau, tiếp xúc, học tập các
ngôn ngữ khác nhau vì thế, người ta cần phân loại các ngôn ngữ trên thế giới Trong
quá trình phân loại người ta áp dụng 2 phương pháp sau đây:
Phương pháp so sánh lịch sử: phương pháp này áp dụng cho việc phân loại các
ngôn ngữ theo nguồn gốc Phương pháp này nhằm phát hiện ra sự thân thuộc giữa các
ngôn ngữ Nội dung của phương pháp này là so sánh các từ tương tự nhau về ý nghĩa
và âm thanh trong các ngôn ngữ khác nhau dựa vào tài liệu ngôn ngữ cũng như những
sự kiện, hiện tượng được ghi trên văn bia và các thư tịch cổ Qua việc so sánh tìm ra
các quy luật tương ứng về ngữ âm từ vựng và ngữ pháp, rồi qua đấy xác định quan hệ
thân thuộc giữa các ngôn ngữ
Phương pháp so sánh loại hình: Phương pháp này hướng vào hiện tại, vào hoạt
động của kết cấu ngôn ngữ Phương pháp này dựa trên những đặc trưng về mặt cấu
trúc và nội dung của hai hoặc nhiều ngôn ngữ đem so sánh với nhau để rút ra sự giống
nhau và khác nhau về loại hình giữa các ngôn ngữ này Khi so sánh, người ta có thể
xuất phát từ các mặt khác nhau của ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhưng
ngay từ đầu đã có quan hệ chặt chẽ, ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy Chức
năng tư duy của ngôn ngữ biểu hiện cụ thể như sau:
Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng Không có từ nào hay câu nào mà
lại không biểu hiện khái niệm hay tư tưởng Ngược lại, không có ý nghĩ hay tư tưởng
nào không tồn tại dưới dạng ngôn ngữ Ngôn ngữ là biểu hiện thực tế của tư tưởng
Ngôn ngữ trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tư tưởng Mọi ý nghĩ, tư
tưởng chỉ trở nên rõ ràng khi được biểu hiện bằng ngôn ngữ
Ngôn ngữ và tư duy thống nhất nhưng không đồng nhất với nhau Sự khác nhau
giữa ngôn ngữ và tư duy được thể hiện ở những điểm sau:
Ngôn ngữ là vật chất còn tư duy là tinh thần Ngôn ngữ là vật chất bởi vì tất cả
các đơn vị của nó: hình vị, từ, câu,… đều là âm thanh, có những thuộc tính vật chất
nhất định Tư duy nảy sinh và phụ thuộc vào một tổ chức đặc biệt là não, nhưng bản
thân nó lại có tính tinh thần
Tư duy có tính nhân loại còn ngôn ngữ có tính dân tộc Mọi người đều suy
nghĩ như nhau nên quy luật tư duy là quy luật chung cho toàn nhân loại Nhưng các
ý nghĩ, tư tưởng lại được biểu hiện bằng những cách khác nhau Ngôn ngữ nào
cũng biểu hiện cho tư duy nhưng mỗi ngôn ngữ biểu hiện theo cách riêng của mình,
cho nên ngôn ngữ có tính dân tộc Những đơn vị của tư duy không đồng nhất với
các đơn vị của ngôn ngữ
Ngoài ra ngôn ngữ còn có chức năng siêu ngôn ngữ, giải trí, bộc lộ, kết nối các
mối quan hệ Với những chức năng này, ngôn ngữ đã khẳng định được vai trò và tầm
quan trọng của nó với con người cũng như với sự tiến hóa của nhân loại
1.3 Sự phân loại ngôn ngữ
1.3.1 Khái quát về sự phân loại
Hiện nay trên thế giới có khoảng 5650 thứ tiếng được phân bố ở 5 châu lục Đó
là kết quả của sự phát triển lâu dài hàng chục vạn năm của ngôn ngữ loài người Trong
quá trình phát triển, con người có nhu cầu giao tiếp với nhau, tiếp xúc, học tập các
ngôn ngữ khác nhau vì thế, người ta cần phân loại các ngôn ngữ trên thế giới Trong
quá trình phân loại người ta áp dụng 2 phương pháp sau đây:
Phương pháp so sánh lịch sử: phương pháp này áp dụng cho việc phân loại các
ngôn ngữ theo nguồn gốc Phương pháp này nhằm phát hiện ra sự thân thuộc giữa các
ngôn ngữ Nội dung của phương pháp này là so sánh các từ tương tự nhau về ý nghĩa
và âm thanh trong các ngôn ngữ khác nhau dựa vào tài liệu ngôn ngữ cũng như những
sự kiện, hiện tượng được ghi trên văn bia và các thư tịch cổ Qua việc so sánh tìm ra
các quy luật tương ứng về ngữ âm từ vựng và ngữ pháp, rồi qua đấy xác định quan hệ
thân thuộc giữa các ngôn ngữ
Phương pháp so sánh loại hình: Phương pháp này hướng vào hiện tại, vào hoạt
động của kết cấu ngôn ngữ Phương pháp này dựa trên những đặc trưng về mặt cấu
trúc và nội dung của hai hoặc nhiều ngôn ngữ đem so sánh với nhau để rút ra sự giống
nhau và khác nhau về loại hình giữa các ngôn ngữ này Khi so sánh, người ta có thể
xuất phát từ các mặt khác nhau của ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhưng
Ngôn ngữ và tư duy thống nhất nhưng không đồng nhất với nhau Sự khác nhau giữa ngôn ngữ và tư duy được thể hiện ở những điểm sau:
Ngôn ngữ là vật chất còn tư duy là tinh thần Ngôn ngữ là vật chất bởi vì tất cả các đơn vị của nó: hình vị, từ, câu,… đều là âm thanh, có những thuộc tính vật chất nhất định Tư duy nảy sinh và phụ thuộc vào một tổ chức đặc biệt là não, nhưng bản thân nó lại có tính tinh thần
Tư duy có tính nhân loại còn ngôn ngữ có tính dân tộc Mọi người đều suy nghĩ như nhau nên quy luật tư duy là quy luật chung cho toàn nhân loại Nhưng các
ý nghĩ, tư tưởng lại được biểu hiện bằng những cách khác nhau Ngôn ngữ nào cũng biểu hiện cho tư duy nhưng mỗi ngôn ngữ biểu hiện theo cách riêng của mình, cho nên ngôn ngữ có tính dân tộc Những đơn vị của tư duy không đồng nhất với các đơn vị của ngôn ngữ
Ngoài ra ngôn ngữ còn có chức năng siêu ngôn ngữ, giải trí, bộc lộ, kết nối các mối quan hệ Với những chức năng này, ngôn ngữ đã khẳng định được vai trò và tầm quan trọng của nó với con người cũng như với sự tiến hóa của nhân loại
1.3 Sự phân loại ngôn ngữ
1.3.1 Khái quát về sự phân loại
Hiện nay trên thế giới có khoảng 5650 thứ tiếng được phân bố ở 5 châu lục Đó
là kết quả của sự phát triển lâu dài hàng chục vạn năm của ngôn ngữ loài người Trong quá trình phát triển, con người có nhu cầu giao tiếp với nhau, tiếp xúc, học tập các ngôn ngữ khác nhau vì thế, người ta cần phân loại các ngôn ngữ trên thế giới Trong quá trình phân loại người ta áp dụng 2 phương pháp sau đây:
Phương pháp so sánh lịch sử: phương pháp này áp dụng cho việc phân loại các ngôn ngữ theo nguồn gốc Phương pháp này nhằm phát hiện ra sự thân thuộc giữa các ngôn ngữ Nội dung của phương pháp này là so sánh các từ tương tự nhau về ý nghĩa
và âm thanh trong các ngôn ngữ khác nhau dựa vào tài liệu ngôn ngữ cũng như những
sự kiện, hiện tượng được ghi trên văn bia và các thư tịch cổ Qua việc so sánh tìm ra các quy luật tương ứng về ngữ âm từ vựng và ngữ pháp, rồi qua đấy xác định quan hệ thân thuộc giữa các ngôn ngữ
Phương pháp so sánh loại hình: Phương pháp này hướng vào hiện tại, vào hoạt động của kết cấu ngôn ngữ Phương pháp này dựa trên những đặc trưng về mặt cấu trúc và nội dung của hai hoặc nhiều ngôn ngữ đem so sánh với nhau để rút ra sự giống nhau và khác nhau về loại hình giữa các ngôn ngữ này Khi so sánh, người ta có thể xuất phát từ các mặt khác nhau của ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhưng
ngay từ đầu đã có quan hệ chặt chẽ, ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy Chức năng tư duy của ngôn ngữ biểu hiện cụ thể như sau:
Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng Không có từ nào hay câu nào mà lại không biểu hiện khái niệm hay tư tưởng Ngược lại, không có ý nghĩ hay tư tưởng nào không tồn tại dưới dạng ngôn ngữ Ngôn ngữ là biểu hiện thực tế của tư tưởng Ngôn ngữ trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tư tưởng Mọi ý nghĩ, tư tưởng chỉ trở nên rõ ràng khi được biểu hiện bằng ngôn ngữ
Ngôn ngữ và tư duy thống nhất nhưng không đồng nhất với nhau Sự khác nhau giữa ngôn ngữ và tư duy được thể hiện ở những điểm sau:
Ngôn ngữ là vật chất còn tư duy là tinh thần Ngôn ngữ là vật chất bởi vì tất cả các đơn vị của nó: hình vị, từ, câu,… đều là âm thanh, có những thuộc tính vật chất nhất định Tư duy nảy sinh và phụ thuộc vào một tổ chức đặc biệt là não, nhưng bản thân nó lại có tính tinh thần
Tư duy có tính nhân loại còn ngôn ngữ có tính dân tộc Mọi người đều suy nghĩ như nhau nên quy luật tư duy là quy luật chung cho toàn nhân loại Nhưng các
ý nghĩ, tư tưởng lại được biểu hiện bằng những cách khác nhau Ngôn ngữ nào cũng biểu hiện cho tư duy nhưng mỗi ngôn ngữ biểu hiện theo cách riêng của mình, cho nên ngôn ngữ có tính dân tộc Những đơn vị của tư duy không đồng nhất với các đơn vị của ngôn ngữ
Ngoài ra ngôn ngữ còn có chức năng siêu ngôn ngữ, giải trí, bộc lộ, kết nối các mối quan hệ Với những chức năng này, ngôn ngữ đã khẳng định được vai trò và tầm quan trọng của nó với con người cũng như với sự tiến hóa của nhân loại
1.3 Sự phân loại ngôn ngữ
1.3.1 Khái quát về sự phân loại
Hiện nay trên thế giới có khoảng 5650 thứ tiếng được phân bố ở 5 châu lục Đó
là kết quả của sự phát triển lâu dài hàng chục vạn năm của ngôn ngữ loài người Trong quá trình phát triển, con người có nhu cầu giao tiếp với nhau, tiếp xúc, học tập các ngôn ngữ khác nhau vì thế, người ta cần phân loại các ngôn ngữ trên thế giới Trong quá trình phân loại người ta áp dụng 2 phương pháp sau đây:
Phương pháp so sánh lịch sử: phương pháp này áp dụng cho việc phân loại các ngôn ngữ theo nguồn gốc Phương pháp này nhằm phát hiện ra sự thân thuộc giữa các ngôn ngữ Nội dung của phương pháp này là so sánh các từ tương tự nhau về ý nghĩa
và âm thanh trong các ngôn ngữ khác nhau dựa vào tài liệu ngôn ngữ cũng như những
sự kiện, hiện tượng được ghi trên văn bia và các thư tịch cổ Qua việc so sánh tìm ra các quy luật tương ứng về ngữ âm từ vựng và ngữ pháp, rồi qua đấy xác định quan hệ thân thuộc giữa các ngôn ngữ
Phương pháp so sánh loại hình: Phương pháp này hướng vào hiện tại, vào hoạt động của kết cấu ngôn ngữ Phương pháp này dựa trên những đặc trưng về mặt cấu trúc và nội dung của hai hoặc nhiều ngôn ngữ đem so sánh với nhau để rút ra sự giống nhau và khác nhau về loại hình giữa các ngôn ngữ này Khi so sánh, người ta có thể xuất phát từ các mặt khác nhau của ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhưng
Trang 2120
sự so sánh về các cấu trúc ngữ pháp có ý nghĩa to lớn nhất, bởi vì cấu trúc ngữ pháp
và vốn từ cơ bản là cơ sở của các ngôn ngữ, tạo nên tính riêng biệt của chúng
1.3.2 Sự phân loại ngôn ngữ
1.3.2.1 Các loại ngôn ngữ theo loại hình
Loại hình là kiểu cấu trúc và kiểu nội dung của ngôn ngữ đó, xét theo kiểu cấu
trúc có thể các ngôn ngữ không cùng nguồn gốc vẫn có thể cùng loại hình Người ta
dựa và phương pháp so sánh loại hình để chia các ngôn ngữ thành các loại hình ngôn
ngữ khác nhau về mặt cấu trúc và nội dung của ngôn ngữ Người ta chia thành 4 nhóm
loại hình sau:
a Loại hình ngôn ngữ hòa kết (tổng hợp tính): loại hình này thuộc các ngôn ngữ Ấn –
Âu, Semit như tiếng Nga, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,… Từ trong các
ngôn ngữ này biến đổi hình thái cho phù hợp với ý nghĩa ngữ pháp và dạng thức ngữ
pháp ở trong câu nói Từ trong hệ thống sẽ có cơ sở ngữ âm khác với vỏ ngữ âm trong
lời nói
Ví dụ:
I love her (Tôi yêu cô ấy)
She loves me (Cô ấy yêu tôi)
Trong ví dụ trên, khi tôi làm chủ ngữ thì tôi mang hình thức I, nhưng khi làm
tân ngữ là me Tương tự như vậy, cô ấy là chủ ngữ có hình thức she nhưng khi làm tân
ngữ là her Động từ đi với chủ ngữ ngôi thứ nhất số ít ở dạng nguyên thể love nhưng
khi đi với chủ ngữ ngôi thứ ba số ít mang theo đuôi e, es: loves
Từ được chia làm 2 phần một phần cố định không biến đổi người ta gọi là căn
tố (yếu tố gốc) và phụ tố là yếu tố biến đổi theo đặc trưng ngữ pháp trong câu
Ví dụ: từ tiếng Pháp manger (ăn) gồm căn tố mang và phụ tố er (động từ chỉ
hoạt động ở nguyên dạng)
Một phụ tố có thể biểu diễn nhiều ý nghĩa ngữ pháp và ngược lại một ý nghĩa
ngữ pháp có thể biểu diễn bằng nhiều phụ tố
b Loại hình ngôn ngữ chắp dính: bao gồm các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Thổ và một số
ngôn ngữ khác như tiếng Nhật, Mông Cổ, Triều Tiên
Ở loại hình ngôn ngữ này, ý nghĩa ngữ pháp và quan hệ ngữ pháp được biểu
hiện trong từ bằng các phụ tố
Từ của ngôn ngữ chắp dính có căn tố và phụ tố, khác là căn tố ghép với phụ tố
thì không có sự biến đổi hình thái và căn tố đứng một mình vẫn có nghĩa
Mỗi một phụ tố chỉ biểu diễn một ý nghĩa ngữ pháp và ngược lại mỗi ý nghĩa
ngữ pháp cũng chỉ được biểu diễn bằng một phụ tố
Ví dụ:
ev (căn tố): căn phòng
evi (ev – i): căn phòng của tôi
eviden (ev – i – den ): từ căn phòng của tôi ra
evleriden (ev – ler – i – den): từ những căn phòng của tôi ra
Căn tố và phụ tố trong từ của ngôn ngữ này được chắp dính với nhau một cách
cơ giới, lỏng lẻo thiếu sự chặt chẽ
sự so sánh về các cấu trúc ngữ pháp có ý nghĩa to lớn nhất, bởi vì cấu trúc ngữ pháp
và vốn từ cơ bản là cơ sở của các ngôn ngữ, tạo nên tính riêng biệt của chúng
1.3.2 Sự phân loại ngôn ngữ
1.3.2.1 Các loại ngôn ngữ theo loại hình
Loại hình là kiểu cấu trúc và kiểu nội dung của ngôn ngữ đó, xét theo kiểu cấu
trúc có thể các ngôn ngữ không cùng nguồn gốc vẫn có thể cùng loại hình Người ta
dựa và phương pháp so sánh loại hình để chia các ngôn ngữ thành các loại hình ngôn
ngữ khác nhau về mặt cấu trúc và nội dung của ngôn ngữ Người ta chia thành 4 nhóm
loại hình sau:
a Loại hình ngôn ngữ hòa kết (tổng hợp tính): loại hình này thuộc các ngôn ngữ Ấn –
Âu, Semit như tiếng Nga, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,… Từ trong các
ngôn ngữ này biến đổi hình thái cho phù hợp với ý nghĩa ngữ pháp và dạng thức ngữ
pháp ở trong câu nói Từ trong hệ thống sẽ có cơ sở ngữ âm khác với vỏ ngữ âm trong
lời nói
Ví dụ:
I love her (Tôi yêu cô ấy)
She loves me (Cô ấy yêu tôi)
Trong ví dụ trên, khi tôi làm chủ ngữ thì tôi mang hình thức I, nhưng khi làm
tân ngữ là me Tương tự như vậy, cô ấy là chủ ngữ có hình thức she nhưng khi làm tân
ngữ là her Động từ đi với chủ ngữ ngôi thứ nhất số ít ở dạng nguyên thể love nhưng
khi đi với chủ ngữ ngôi thứ ba số ít mang theo đuôi e, es: loves
Từ được chia làm 2 phần một phần cố định không biến đổi người ta gọi là căn
tố (yếu tố gốc) và phụ tố là yếu tố biến đổi theo đặc trưng ngữ pháp trong câu
Ví dụ: từ tiếng Pháp manger (ăn) gồm căn tố mang và phụ tố er (động từ chỉ
hoạt động ở nguyên dạng)
Một phụ tố có thể biểu diễn nhiều ý nghĩa ngữ pháp và ngược lại một ý nghĩa
ngữ pháp có thể biểu diễn bằng nhiều phụ tố
b Loại hình ngôn ngữ chắp dính: bao gồm các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Thổ và một số
ngôn ngữ khác như tiếng Nhật, Mông Cổ, Triều Tiên
Ở loại hình ngôn ngữ này, ý nghĩa ngữ pháp và quan hệ ngữ pháp được biểu
hiện trong từ bằng các phụ tố
Từ của ngôn ngữ chắp dính có căn tố và phụ tố, khác là căn tố ghép với phụ tố
thì không có sự biến đổi hình thái và căn tố đứng một mình vẫn có nghĩa
Mỗi một phụ tố chỉ biểu diễn một ý nghĩa ngữ pháp và ngược lại mỗi ý nghĩa
ngữ pháp cũng chỉ được biểu diễn bằng một phụ tố
Ví dụ:
ev (căn tố): căn phòng
evi (ev – i): căn phòng của tôi
eviden (ev – i – den ): từ căn phòng của tôi ra
evleriden (ev – ler – i – den): từ những căn phòng của tôi ra
Căn tố và phụ tố trong từ của ngôn ngữ này được chắp dính với nhau một cách
cơ giới, lỏng lẻo thiếu sự chặt chẽ
20
sự so sánh về các cấu trúc ngữ pháp có ý nghĩa to lớn nhất, bởi vì cấu trúc ngữ pháp
và vốn từ cơ bản là cơ sở của các ngôn ngữ, tạo nên tính riêng biệt của chúng
1.3.2 Sự phân loại ngôn ngữ
1.3.2.1 Các loại ngôn ngữ theo loại hình
Loại hình là kiểu cấu trúc và kiểu nội dung của ngôn ngữ đó, xét theo kiểu cấu trúc có thể các ngôn ngữ không cùng nguồn gốc vẫn có thể cùng loại hình Người ta dựa và phương pháp so sánh loại hình để chia các ngôn ngữ thành các loại hình ngôn ngữ khác nhau về mặt cấu trúc và nội dung của ngôn ngữ Người ta chia thành 4 nhóm loại hình sau:
a Loại hình ngôn ngữ hòa kết (tổng hợp tính): loại hình này thuộc các ngôn ngữ Ấn –
Âu, Semit như tiếng Nga, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,… Từ trong các ngôn ngữ này biến đổi hình thái cho phù hợp với ý nghĩa ngữ pháp và dạng thức ngữ pháp ở trong câu nói Từ trong hệ thống sẽ có cơ sở ngữ âm khác với vỏ ngữ âm trong lời nói
Từ được chia làm 2 phần một phần cố định không biến đổi người ta gọi là căn
tố (yếu tố gốc) và phụ tố là yếu tố biến đổi theo đặc trưng ngữ pháp trong câu
Ví dụ: từ tiếng Pháp manger (ăn) gồm căn tố mang và phụ tố er (động từ chỉ hoạt động ở nguyên dạng)
Một phụ tố có thể biểu diễn nhiều ý nghĩa ngữ pháp và ngược lại một ý nghĩa ngữ pháp có thể biểu diễn bằng nhiều phụ tố
b Loại hình ngôn ngữ chắp dính: bao gồm các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Thổ và một số
ngôn ngữ khác như tiếng Nhật, Mông Cổ, Triều Tiên
Ở loại hình ngôn ngữ này, ý nghĩa ngữ pháp và quan hệ ngữ pháp được biểu hiện trong từ bằng các phụ tố
Từ của ngôn ngữ chắp dính có căn tố và phụ tố, khác là căn tố ghép với phụ tố thì không có sự biến đổi hình thái và căn tố đứng một mình vẫn có nghĩa
Mỗi một phụ tố chỉ biểu diễn một ý nghĩa ngữ pháp và ngược lại mỗi ý nghĩa ngữ pháp cũng chỉ được biểu diễn bằng một phụ tố
Ví dụ:
ev (căn tố): căn phòng evi (ev – i): căn phòng của tôi eviden (ev – i – den ): từ căn phòng của tôi ra evleriden (ev – ler – i – den): từ những căn phòng của tôi ra Căn tố và phụ tố trong từ của ngôn ngữ này được chắp dính với nhau một cách
cơ giới, lỏng lẻo thiếu sự chặt chẽ
sự so sánh về các cấu trúc ngữ pháp có ý nghĩa to lớn nhất, bởi vì cấu trúc ngữ pháp
và vốn từ cơ bản là cơ sở của các ngôn ngữ, tạo nên tính riêng biệt của chúng
1.3.2 Sự phân loại ngôn ngữ
1.3.2.1 Các loại ngôn ngữ theo loại hình
Loại hình là kiểu cấu trúc và kiểu nội dung của ngôn ngữ đó, xét theo kiểu cấu trúc có thể các ngôn ngữ không cùng nguồn gốc vẫn có thể cùng loại hình Người ta dựa và phương pháp so sánh loại hình để chia các ngôn ngữ thành các loại hình ngôn ngữ khác nhau về mặt cấu trúc và nội dung của ngôn ngữ Người ta chia thành 4 nhóm loại hình sau:
a Loại hình ngôn ngữ hòa kết (tổng hợp tính): loại hình này thuộc các ngôn ngữ Ấn –
Âu, Semit như tiếng Nga, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,… Từ trong các ngôn ngữ này biến đổi hình thái cho phù hợp với ý nghĩa ngữ pháp và dạng thức ngữ pháp ở trong câu nói Từ trong hệ thống sẽ có cơ sở ngữ âm khác với vỏ ngữ âm trong lời nói
Từ được chia làm 2 phần một phần cố định không biến đổi người ta gọi là căn
tố (yếu tố gốc) và phụ tố là yếu tố biến đổi theo đặc trưng ngữ pháp trong câu
Ví dụ: từ tiếng Pháp manger (ăn) gồm căn tố mang và phụ tố er (động từ chỉ hoạt động ở nguyên dạng)
Một phụ tố có thể biểu diễn nhiều ý nghĩa ngữ pháp và ngược lại một ý nghĩa ngữ pháp có thể biểu diễn bằng nhiều phụ tố
b Loại hình ngôn ngữ chắp dính: bao gồm các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Thổ và một số
ngôn ngữ khác như tiếng Nhật, Mông Cổ, Triều Tiên
Ở loại hình ngôn ngữ này, ý nghĩa ngữ pháp và quan hệ ngữ pháp được biểu hiện trong từ bằng các phụ tố
Từ của ngôn ngữ chắp dính có căn tố và phụ tố, khác là căn tố ghép với phụ tố thì không có sự biến đổi hình thái và căn tố đứng một mình vẫn có nghĩa
Mỗi một phụ tố chỉ biểu diễn một ý nghĩa ngữ pháp và ngược lại mỗi ý nghĩa ngữ pháp cũng chỉ được biểu diễn bằng một phụ tố
Ví dụ:
ev (căn tố): căn phòng evi (ev – i): căn phòng của tôi eviden (ev – i – den ): từ căn phòng của tôi ra evleriden (ev – ler – i – den): từ những căn phòng của tôi ra Căn tố và phụ tố trong từ của ngôn ngữ này được chắp dính với nhau một cách
cơ giới, lỏng lẻo thiếu sự chặt chẽ
Trang 2221
c Loại hình ngôn ngữ đa tổng hợp: gồm một số ít các ngôn ngữ thuộc vùng bám đảo
Cáp – ka – zơ Nó là những ngôn ngữ vừa có những đặc điểm giống ngôn ngữ hòa kết
lại vừa giống ngôn ngữ chắp dính Ngôn ngữ này có hai đặc điểm cơ bản:
Trong ngôn ngữ đa tổng hợp, có một loại đơn vị đặc biệt vừa là từ vừa là câu,
được tạo ra trên cơ sở động từ Nó có thể bao gồm cả bổ ngữ, trạng ngữ và cả chủ ngữ
Vì vậy, cơ cấu ngữ pháp của từ cũng có thể xem là cơ cấu ngữ pháp của câu Người ta
gọi đó là đơn vị lập khuôn
Ví dụ: từ tiếng Sa - a - khi - li:
Nitampenda (Ni - ta - m - khi - li): Tôi sẽ yêu nó
Atakupenda (A - ta - ku - penda): Nó sẽ yêu anh
Trong đó: penda (yêu), ni: tôi (chủ ngữ), a (nó): chủ ngữ, m (nó): bổ ngữ, ku
(anh): bổ ngữ, yếu tố chỉ thời gian của động từ: ta (sẽ)
Ở loại hình ngôn ngữ này vừa có sự chắp nối các yếu tố (giống chắp dính), vừa
có thể có biến đổi ngữ âm khi kết hợp (giống hòa kết)
d Loại hình ngôn ngữ đơn lập: gồm các ngôn ngữ thuộc họ Nam Phương trong đó
điển hình là tiếng Hán và tiếng Việt Đặc điểm của loại hình ngôn ngữ này là:
- Từ không biến đổi hình thái
- Các ý nghĩa ngữ pháp, quan hệ ngữ pháp và chức năng ngữ pháp trong câu
được biểu hiện chủ yếu bằng hư từ, trật tự từ và ngữ điệu
- Âm tiết được tách bạch rõ rệt và thường là đơn vị có nghĩa Do đó, nó vừa có
khả năng là yếu tố cấu tạo từ (như một hình vị) lại vừa có khả năng hoạt động độc lập
trong tư cách một từ đơn Người ta gọi bằng đơn vị riêng là hình tiết
1.3.2.3 Loại hình học tiếng Việt
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập hoặc âm tiết tính
a Tính phân tiết, đặc điểm, vai trò của âm tiết
Âm tiết tiếng Việt là đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất trong chuỗi lời nói Mỗi
âm tiết được phát âm tách bạch, không có hiện tượng nối âm, nuốt âm Người Việt có
thể dễ dàng xác định được số lượng âm tiết trong lời nói
Âm tiết tiếng Việt có cấu trúc chặt chẽ, rõ ràng Mỗi âm tiết ở dạng tối đa sẽ
gồm ba phần: âm đầu, vần và thanh điệu
Mỗi âm tiết mang một thanh điệu nhất định Tiếng Việt gồm 6 thanh, được
phân bố ở tất cả các âm tiết
Mỗi âm tiết tiếng Việt thường tương ứng với một hình vị Nhiều âm tiết vừa có
nghĩa vừa được dùng độc lập như từ đơn Hoặc âm tiết được dùng như một thành tố
cấu tọa nên từ (hình vị)
Về mặt ngữ pháp, mỗi âm tiết tiếng Việt thường xuất hiện trong tư cách một từ
Nhất là trong thời kì lịch sử cổ xưa, đại đa số các từ trong tiếng Việt đều là các từ đơn
tiết
Ví dụ hai câu thơ sau đều là các từ đơn đơn tiết:
Đầu nhà khói tỏa lồng sương bạc
Sườn núi chim gù ẩn lá xanh
(Hồng Đức quốc âm thi tập)
c Loại hình ngôn ngữ đa tổng hợp: gồm một số ít các ngôn ngữ thuộc vùng bám đảo
Cáp – ka – zơ Nó là những ngôn ngữ vừa có những đặc điểm giống ngôn ngữ hòa kết
lại vừa giống ngôn ngữ chắp dính Ngôn ngữ này có hai đặc điểm cơ bản:
Trong ngôn ngữ đa tổng hợp, có một loại đơn vị đặc biệt vừa là từ vừa là câu,
được tạo ra trên cơ sở động từ Nó có thể bao gồm cả bổ ngữ, trạng ngữ và cả chủ ngữ
Vì vậy, cơ cấu ngữ pháp của từ cũng có thể xem là cơ cấu ngữ pháp của câu Người ta
gọi đó là đơn vị lập khuôn
Ví dụ: từ tiếng Sa - a - khi - li:
Nitampenda (Ni - ta - m - khi - li): Tôi sẽ yêu nó
Atakupenda (A - ta - ku - penda): Nó sẽ yêu anh
Trong đó: penda (yêu), ni: tôi (chủ ngữ), a (nó): chủ ngữ, m (nó): bổ ngữ, ku
(anh): bổ ngữ, yếu tố chỉ thời gian của động từ: ta (sẽ)
Ở loại hình ngôn ngữ này vừa có sự chắp nối các yếu tố (giống chắp dính), vừa
có thể có biến đổi ngữ âm khi kết hợp (giống hòa kết)
d Loại hình ngôn ngữ đơn lập: gồm các ngôn ngữ thuộc họ Nam Phương trong đó
điển hình là tiếng Hán và tiếng Việt Đặc điểm của loại hình ngôn ngữ này là:
- Từ không biến đổi hình thái
- Các ý nghĩa ngữ pháp, quan hệ ngữ pháp và chức năng ngữ pháp trong câu
được biểu hiện chủ yếu bằng hư từ, trật tự từ và ngữ điệu
- Âm tiết được tách bạch rõ rệt và thường là đơn vị có nghĩa Do đó, nó vừa có
khả năng là yếu tố cấu tạo từ (như một hình vị) lại vừa có khả năng hoạt động độc lập
trong tư cách một từ đơn Người ta gọi bằng đơn vị riêng là hình tiết
1.3.2.3 Loại hình học tiếng Việt
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập hoặc âm tiết tính
a Tính phân tiết, đặc điểm, vai trò của âm tiết
Âm tiết tiếng Việt là đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất trong chuỗi lời nói Mỗi
âm tiết được phát âm tách bạch, không có hiện tượng nối âm, nuốt âm Người Việt có
thể dễ dàng xác định được số lượng âm tiết trong lời nói
Âm tiết tiếng Việt có cấu trúc chặt chẽ, rõ ràng Mỗi âm tiết ở dạng tối đa sẽ
gồm ba phần: âm đầu, vần và thanh điệu
Mỗi âm tiết mang một thanh điệu nhất định Tiếng Việt gồm 6 thanh, được
phân bố ở tất cả các âm tiết
Mỗi âm tiết tiếng Việt thường tương ứng với một hình vị Nhiều âm tiết vừa có
nghĩa vừa được dùng độc lập như từ đơn Hoặc âm tiết được dùng như một thành tố
cấu tọa nên từ (hình vị)
Về mặt ngữ pháp, mỗi âm tiết tiếng Việt thường xuất hiện trong tư cách một từ
Nhất là trong thời kì lịch sử cổ xưa, đại đa số các từ trong tiếng Việt đều là các từ đơn
tiết
Ví dụ hai câu thơ sau đều là các từ đơn đơn tiết:
Đầu nhà khói tỏa lồng sương bạc
Sườn núi chim gù ẩn lá xanh
(Hồng Đức quốc âm thi tập)
21
c Loại hình ngôn ngữ đa tổng hợp: gồm một số ít các ngôn ngữ thuộc vùng bám đảo
Cáp – ka – zơ Nó là những ngôn ngữ vừa có những đặc điểm giống ngôn ngữ hòa kết lại vừa giống ngôn ngữ chắp dính Ngôn ngữ này có hai đặc điểm cơ bản:
Trong ngôn ngữ đa tổng hợp, có một loại đơn vị đặc biệt vừa là từ vừa là câu, được tạo ra trên cơ sở động từ Nó có thể bao gồm cả bổ ngữ, trạng ngữ và cả chủ ngữ
Vì vậy, cơ cấu ngữ pháp của từ cũng có thể xem là cơ cấu ngữ pháp của câu Người ta gọi đó là đơn vị lập khuôn
Ví dụ: từ tiếng Sa - a - khi - li:
Nitampenda (Ni - ta - m - khi - li): Tôi sẽ yêu nó
Atakupenda (A - ta - ku - penda): Nó sẽ yêu anh
Trong đó: penda (yêu), ni: tôi (chủ ngữ), a (nó): chủ ngữ, m (nó): bổ ngữ, ku (anh): bổ ngữ, yếu tố chỉ thời gian của động từ: ta (sẽ)
Ở loại hình ngôn ngữ này vừa có sự chắp nối các yếu tố (giống chắp dính), vừa
có thể có biến đổi ngữ âm khi kết hợp (giống hòa kết)
d Loại hình ngôn ngữ đơn lập: gồm các ngôn ngữ thuộc họ Nam Phương trong đó
điển hình là tiếng Hán và tiếng Việt Đặc điểm của loại hình ngôn ngữ này là:
- Từ không biến đổi hình thái
- Các ý nghĩa ngữ pháp, quan hệ ngữ pháp và chức năng ngữ pháp trong câu được biểu hiện chủ yếu bằng hư từ, trật tự từ và ngữ điệu
- Âm tiết được tách bạch rõ rệt và thường là đơn vị có nghĩa Do đó, nó vừa có khả năng là yếu tố cấu tạo từ (như một hình vị) lại vừa có khả năng hoạt động độc lập trong tư cách một từ đơn Người ta gọi bằng đơn vị riêng là hình tiết
1.3.2.3 Loại hình học tiếng Việt
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập hoặc âm tiết tính
a Tính phân tiết, đặc điểm, vai trò của âm tiết
Âm tiết tiếng Việt là đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất trong chuỗi lời nói Mỗi
âm tiết được phát âm tách bạch, không có hiện tượng nối âm, nuốt âm Người Việt có thể dễ dàng xác định được số lượng âm tiết trong lời nói
Âm tiết tiếng Việt có cấu trúc chặt chẽ, rõ ràng Mỗi âm tiết ở dạng tối đa sẽ gồm ba phần: âm đầu, vần và thanh điệu
Mỗi âm tiết mang một thanh điệu nhất định Tiếng Việt gồm 6 thanh, được phân bố ở tất cả các âm tiết
Mỗi âm tiết tiếng Việt thường tương ứng với một hình vị Nhiều âm tiết vừa có nghĩa vừa được dùng độc lập như từ đơn Hoặc âm tiết được dùng như một thành tố cấu tọa nên từ (hình vị)
Về mặt ngữ pháp, mỗi âm tiết tiếng Việt thường xuất hiện trong tư cách một từ Nhất là trong thời kì lịch sử cổ xưa, đại đa số các từ trong tiếng Việt đều là các từ đơn tiết
Ví dụ hai câu thơ sau đều là các từ đơn đơn tiết:
Đầu nhà khói tỏa lồng sương bạc Sườn núi chim gù ẩn lá xanh
(Hồng Đức quốc âm thi tập)
c Loại hình ngôn ngữ đa tổng hợp: gồm một số ít các ngôn ngữ thuộc vùng bám đảo
Cáp – ka – zơ Nó là những ngôn ngữ vừa có những đặc điểm giống ngôn ngữ hòa kết lại vừa giống ngôn ngữ chắp dính Ngôn ngữ này có hai đặc điểm cơ bản:
Trong ngôn ngữ đa tổng hợp, có một loại đơn vị đặc biệt vừa là từ vừa là câu, được tạo ra trên cơ sở động từ Nó có thể bao gồm cả bổ ngữ, trạng ngữ và cả chủ ngữ
Vì vậy, cơ cấu ngữ pháp của từ cũng có thể xem là cơ cấu ngữ pháp của câu Người ta gọi đó là đơn vị lập khuôn
Ví dụ: từ tiếng Sa - a - khi - li:
Nitampenda (Ni - ta - m - khi - li): Tôi sẽ yêu nó
Atakupenda (A - ta - ku - penda): Nó sẽ yêu anh
Trong đó: penda (yêu), ni: tôi (chủ ngữ), a (nó): chủ ngữ, m (nó): bổ ngữ, ku (anh): bổ ngữ, yếu tố chỉ thời gian của động từ: ta (sẽ)
Ở loại hình ngôn ngữ này vừa có sự chắp nối các yếu tố (giống chắp dính), vừa
có thể có biến đổi ngữ âm khi kết hợp (giống hòa kết)
d Loại hình ngôn ngữ đơn lập: gồm các ngôn ngữ thuộc họ Nam Phương trong đó
điển hình là tiếng Hán và tiếng Việt Đặc điểm của loại hình ngôn ngữ này là:
- Từ không biến đổi hình thái
- Các ý nghĩa ngữ pháp, quan hệ ngữ pháp và chức năng ngữ pháp trong câu được biểu hiện chủ yếu bằng hư từ, trật tự từ và ngữ điệu
- Âm tiết được tách bạch rõ rệt và thường là đơn vị có nghĩa Do đó, nó vừa có khả năng là yếu tố cấu tạo từ (như một hình vị) lại vừa có khả năng hoạt động độc lập trong tư cách một từ đơn Người ta gọi bằng đơn vị riêng là hình tiết
1.3.2.3 Loại hình học tiếng Việt
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập hoặc âm tiết tính
a Tính phân tiết, đặc điểm, vai trò của âm tiết
Âm tiết tiếng Việt là đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất trong chuỗi lời nói Mỗi
âm tiết được phát âm tách bạch, không có hiện tượng nối âm, nuốt âm Người Việt có thể dễ dàng xác định được số lượng âm tiết trong lời nói
Âm tiết tiếng Việt có cấu trúc chặt chẽ, rõ ràng Mỗi âm tiết ở dạng tối đa sẽ gồm ba phần: âm đầu, vần và thanh điệu
Mỗi âm tiết mang một thanh điệu nhất định Tiếng Việt gồm 6 thanh, được phân bố ở tất cả các âm tiết
Mỗi âm tiết tiếng Việt thường tương ứng với một hình vị Nhiều âm tiết vừa có nghĩa vừa được dùng độc lập như từ đơn Hoặc âm tiết được dùng như một thành tố cấu tọa nên từ (hình vị)
Về mặt ngữ pháp, mỗi âm tiết tiếng Việt thường xuất hiện trong tư cách một từ Nhất là trong thời kì lịch sử cổ xưa, đại đa số các từ trong tiếng Việt đều là các từ đơn tiết
Ví dụ hai câu thơ sau đều là các từ đơn đơn tiết:
Đầu nhà khói tỏa lồng sương bạc Sườn núi chim gù ẩn lá xanh
(Hồng Đức quốc âm thi tập)
Trang 2322
b Từ không biến đổi hình thái
Từ tiếng Việt dù thuộc loại nào, hay thực hiện chức năng gì cũng luôn có một hình
thức ngữ âm ổn định, duy nhất Từ không biến đổi hình thái theo ý nghĩa ngữ pháp và
quan hệ ngữ pháp trong lời nói, có nghĩa là vỏ âm tiết mang tính cố định, bất biến
Ví dụ:
Tôi yêu cô ấy
Cô ấy yêu tôi
Dù đứng ở bất kì vị trí nào, từ tiếng Việt cũng không có sự biến đổi về mặt hình
thức Hình thái của bản thân từ không biến đổi, cho dù các ý nghĩa, quan hệ, chức năng
ngữ pháp của từ có thể thay đổi
Với đặc điểm này, ngôn ngữ đơn lập tiếng Việt có ưu điểm là từ của tiếng Việt
dễ nhận ra trong hệ thống, đối với việc dạy và học tiếng Việt đơn giản hơn những tiếng
khác
Tuy vậy, với đặc điểm từ không biến đổi hình thá nên từ tiếng Việt lại khó nhận
ra từ trong lời nói Đặc điểm này dẫn đến hiện tượng chuyển loại của từ tiếng Việt,
hiện tượng đồng âm Và quan trọng hơn là nó quyết định những phương thức ngữ pháp
chủ yếu của tiếng Việt
c Các phương thức ngữ pháp chủ yếu
Vì từ có hình thức ngữ âm cố định cho nên các ý nghĩa ngữ pháp của từ được
biểu hiện ở bên ngoài từ trong mối quan hệ với các từ khác ở trong câu nói bằng hai
phương thức ngữ pháp là trật tự từ và hư từ
Trật tự từ: trong câu, từ và cụm từ cần được sắp xếp theo một trình tự phục vụ
cho việc biểu hiện các ý nghĩa, các quan hệ và các chức năng ngữ pháp nhất định Nếu
thay đổi trật tự này sẽ làm cho các tổ hợp trở nên vô nghĩa hoặc thay đổi về ý nghĩa
Ví dụ: Tôi hát hay khác với Tôi hay hát
Hư từ: hư từ là những từ không mang ý nghĩa từ vựng, không dùng để định
danh các sự vật hiện tượng trong thực tế khách quan Chúng chỉ làm dấu hiệu cho một
ý nghĩa ngữ pháp nào đó hoặc ý nghĩa về tình thái Chúng không thực hiện vai trò
Tôi vừa chơi bóng đá
Nhờ sự tham gia của các hư từ: đã, sẽ, đang, vừa mà các câu đã có nội dung
thông báo khác nhau Trong khi đó, với các ngôn ngữ hòa kết, để thể hiện nội dung
khác nhau này sẽ xảy ra sự biến đổi về mặt hình thái trong nội bộ các động từ
Ví dụ:
I am playing football
I played football…
d Ngữ điệu
Ngữ điệu là một yếu tố siêu đoạn tính Nó không được phát âm riêng và được
thể hiện đồng thời cùng với việc phát âm các từ ngữ khác trong câu
b Từ không biến đổi hình thái
Từ tiếng Việt dù thuộc loại nào, hay thực hiện chức năng gì cũng luôn có một hình
thức ngữ âm ổn định, duy nhất Từ không biến đổi hình thái theo ý nghĩa ngữ pháp và
quan hệ ngữ pháp trong lời nói, có nghĩa là vỏ âm tiết mang tính cố định, bất biến
Ví dụ:
Tôi yêu cô ấy
Cô ấy yêu tôi
Dù đứng ở bất kì vị trí nào, từ tiếng Việt cũng không có sự biến đổi về mặt hình
thức Hình thái của bản thân từ không biến đổi, cho dù các ý nghĩa, quan hệ, chức năng
ngữ pháp của từ có thể thay đổi
Với đặc điểm này, ngôn ngữ đơn lập tiếng Việt có ưu điểm là từ của tiếng Việt
dễ nhận ra trong hệ thống, đối với việc dạy và học tiếng Việt đơn giản hơn những tiếng
khác
Tuy vậy, với đặc điểm từ không biến đổi hình thá nên từ tiếng Việt lại khó nhận
ra từ trong lời nói Đặc điểm này dẫn đến hiện tượng chuyển loại của từ tiếng Việt,
hiện tượng đồng âm Và quan trọng hơn là nó quyết định những phương thức ngữ pháp
chủ yếu của tiếng Việt
c Các phương thức ngữ pháp chủ yếu
Vì từ có hình thức ngữ âm cố định cho nên các ý nghĩa ngữ pháp của từ được
biểu hiện ở bên ngoài từ trong mối quan hệ với các từ khác ở trong câu nói bằng hai
phương thức ngữ pháp là trật tự từ và hư từ
Trật tự từ: trong câu, từ và cụm từ cần được sắp xếp theo một trình tự phục vụ
cho việc biểu hiện các ý nghĩa, các quan hệ và các chức năng ngữ pháp nhất định Nếu
thay đổi trật tự này sẽ làm cho các tổ hợp trở nên vô nghĩa hoặc thay đổi về ý nghĩa
Ví dụ: Tôi hát hay khác với Tôi hay hát
Hư từ: hư từ là những từ không mang ý nghĩa từ vựng, không dùng để định
danh các sự vật hiện tượng trong thực tế khách quan Chúng chỉ làm dấu hiệu cho một
ý nghĩa ngữ pháp nào đó hoặc ý nghĩa về tình thái Chúng không thực hiện vai trò
Tôi vừa chơi bóng đá
Nhờ sự tham gia của các hư từ: đã, sẽ, đang, vừa mà các câu đã có nội dung
thông báo khác nhau Trong khi đó, với các ngôn ngữ hòa kết, để thể hiện nội dung
khác nhau này sẽ xảy ra sự biến đổi về mặt hình thái trong nội bộ các động từ
Ví dụ:
I am playing football
I played football…
d Ngữ điệu
Ngữ điệu là một yếu tố siêu đoạn tính Nó không được phát âm riêng và được
thể hiện đồng thời cùng với việc phát âm các từ ngữ khác trong câu
22
b Từ không biến đổi hình thái
Từ tiếng Việt dù thuộc loại nào, hay thực hiện chức năng gì cũng luôn có một hình thức ngữ âm ổn định, duy nhất Từ không biến đổi hình thái theo ý nghĩa ngữ pháp và quan hệ ngữ pháp trong lời nói, có nghĩa là vỏ âm tiết mang tính cố định, bất biến
Ví dụ:
Tôi yêu cô ấy
Cô ấy yêu tôi
Dù đứng ở bất kì vị trí nào, từ tiếng Việt cũng không có sự biến đổi về mặt hình thức Hình thái của bản thân từ không biến đổi, cho dù các ý nghĩa, quan hệ, chức năng ngữ pháp của từ có thể thay đổi
Với đặc điểm này, ngôn ngữ đơn lập tiếng Việt có ưu điểm là từ của tiếng Việt
dễ nhận ra trong hệ thống, đối với việc dạy và học tiếng Việt đơn giản hơn những tiếng khác
Tuy vậy, với đặc điểm từ không biến đổi hình thá nên từ tiếng Việt lại khó nhận
ra từ trong lời nói Đặc điểm này dẫn đến hiện tượng chuyển loại của từ tiếng Việt, hiện tượng đồng âm Và quan trọng hơn là nó quyết định những phương thức ngữ pháp chủ yếu của tiếng Việt
c Các phương thức ngữ pháp chủ yếu
Vì từ có hình thức ngữ âm cố định cho nên các ý nghĩa ngữ pháp của từ được biểu hiện ở bên ngoài từ trong mối quan hệ với các từ khác ở trong câu nói bằng hai phương thức ngữ pháp là trật tự từ và hư từ
Trật tự từ: trong câu, từ và cụm từ cần được sắp xếp theo một trình tự phục vụ cho việc biểu hiện các ý nghĩa, các quan hệ và các chức năng ngữ pháp nhất định Nếu thay đổi trật tự này sẽ làm cho các tổ hợp trở nên vô nghĩa hoặc thay đổi về ý nghĩa
Ví dụ: Tôi hát hay khác với Tôi hay hát
Hư từ: hư từ là những từ không mang ý nghĩa từ vựng, không dùng để định danh các sự vật hiện tượng trong thực tế khách quan Chúng chỉ làm dấu hiệu cho một
ý nghĩa ngữ pháp nào đó hoặc ý nghĩa về tình thái Chúng không thực hiện vai trò thành phần chính trong các từ và cụm từ mà chỉ đóng vai trò thành phần phụ
Ví dụ:
Tôi sẽ chơi bóng đá
Tôi đang chơi bóng đá
Tôi đã chơi bóng đá
Tôi vừa chơi bóng đá
Nhờ sự tham gia của các hư từ: đã, sẽ, đang, vừa mà các câu đã có nội dung thông báo khác nhau Trong khi đó, với các ngôn ngữ hòa kết, để thể hiện nội dung khác nhau này sẽ xảy ra sự biến đổi về mặt hình thái trong nội bộ các động từ
b Từ không biến đổi hình thái
Từ tiếng Việt dù thuộc loại nào, hay thực hiện chức năng gì cũng luôn có một hình thức ngữ âm ổn định, duy nhất Từ không biến đổi hình thái theo ý nghĩa ngữ pháp và quan hệ ngữ pháp trong lời nói, có nghĩa là vỏ âm tiết mang tính cố định, bất biến
Ví dụ:
Tôi yêu cô ấy
Cô ấy yêu tôi
Dù đứng ở bất kì vị trí nào, từ tiếng Việt cũng không có sự biến đổi về mặt hình thức Hình thái của bản thân từ không biến đổi, cho dù các ý nghĩa, quan hệ, chức năng ngữ pháp của từ có thể thay đổi
Với đặc điểm này, ngôn ngữ đơn lập tiếng Việt có ưu điểm là từ của tiếng Việt
dễ nhận ra trong hệ thống, đối với việc dạy và học tiếng Việt đơn giản hơn những tiếng khác
Tuy vậy, với đặc điểm từ không biến đổi hình thá nên từ tiếng Việt lại khó nhận
ra từ trong lời nói Đặc điểm này dẫn đến hiện tượng chuyển loại của từ tiếng Việt, hiện tượng đồng âm Và quan trọng hơn là nó quyết định những phương thức ngữ pháp chủ yếu của tiếng Việt
c Các phương thức ngữ pháp chủ yếu
Vì từ có hình thức ngữ âm cố định cho nên các ý nghĩa ngữ pháp của từ được biểu hiện ở bên ngoài từ trong mối quan hệ với các từ khác ở trong câu nói bằng hai phương thức ngữ pháp là trật tự từ và hư từ
Trật tự từ: trong câu, từ và cụm từ cần được sắp xếp theo một trình tự phục vụ cho việc biểu hiện các ý nghĩa, các quan hệ và các chức năng ngữ pháp nhất định Nếu thay đổi trật tự này sẽ làm cho các tổ hợp trở nên vô nghĩa hoặc thay đổi về ý nghĩa
Ví dụ: Tôi hát hay khác với Tôi hay hát
Hư từ: hư từ là những từ không mang ý nghĩa từ vựng, không dùng để định danh các sự vật hiện tượng trong thực tế khách quan Chúng chỉ làm dấu hiệu cho một
ý nghĩa ngữ pháp nào đó hoặc ý nghĩa về tình thái Chúng không thực hiện vai trò thành phần chính trong các từ và cụm từ mà chỉ đóng vai trò thành phần phụ
Ví dụ:
Tôi sẽ chơi bóng đá
Tôi đang chơi bóng đá
Tôi đã chơi bóng đá
Tôi vừa chơi bóng đá
Nhờ sự tham gia của các hư từ: đã, sẽ, đang, vừa mà các câu đã có nội dung thông báo khác nhau Trong khi đó, với các ngôn ngữ hòa kết, để thể hiện nội dung khác nhau này sẽ xảy ra sự biến đổi về mặt hình thái trong nội bộ các động từ
Trang 2423
Ngữ điệu là đặc điểm của giọng nói, thể hiện khi nói một câu Nó bộc lộ ở sự
phát âm mạnh hay yếu, lên giọng hay xuống giọng, trầm hay bổng, liên tục hay ngắt
quãng,… đối với các từ ngữ trong câu Cũng là các yếu tố siêu đoạn tính, nhưng khác
với thanh điệu (gắn với âm tiết), trọng âm (gắn với từ), ngữ điệu là yếu tố gắn với câu
Trong tiếng Việt, ngữ điệu là một phương thức ngữ pháp chủ yếu góp phần biểu
hiện các ý nghĩa khác nhau
Sự khác biệt trong ngữ điệu có thể phân biệt các câu có mục đích nói khác
nhau, nghĩa là có ý nghĩa khác nhau
Ví dụ:
Anh về (câu tường thuật, ngữ điệu kết thúc, hạ giọng ở cuối câu
Anh về? (câu nghi vấn, giọng hồ nghi, thiếu sự quả quyết)
Anh về! (câu cảm thán, giọng reo vui)
Sự liên tục hay ngắt quãng và vị trí của mỗi chỗ ngắt là một biểu hiện của ngữ
điệu Nó có thể phân biệt các ý nghĩa khác nhau:
Ví dụ: Hổ mang bò lên núi
Nếu ngắt ở trước từ bò thì câu này có nghĩa là có một loại rắn được gọi là hổ
mang thực hiện hành động bò lên núi
Nếu ngắt trước từ mang thì câu này có nghĩa là con hổ thực hiện việc mang con
bò lên núi
Nếu ngắt hai lần trước từ bò và trước từ lên thì câu này có nghĩa là có hai con là
con hổ mang và con bò cùng nhau lên núi
Tóm lại, ba phương thức ngữ pháp trên đã tạo ra những thuận lợi và cũng gây ra
không ít khó khăn đối với quá trình dạy và học tiếng Việt Từ tiếng Việt không có sự
biến tố, biến đổi hình thái thì ở vị trí nào trong câu từ cũng giữ nguyên Muốn biểu
hiện một ý nghĩa ngữ pháp nào đó chỉ cần cho những từ đúng để kết hợp Trong khi
dạy và học tiếng Việt cũng như khi nói thì yếu tố trật tự sắp xếp các từ sẽ giúp người
dạy và người học hiểu biết nhanh hơn
Tuy vậy ý nghĩa ngữ pháp không biểu hiện ở trong từ chính vì vậy xuất hiện
hiện tượng nhất từ đa loại Hiện tượng này lại cũng gây ra khó khăn trong việc nhận
diện và phân loại các từ theo đặc điểm ngữ pháp
Trong tiếng Việt cũng như tiếng Hán và một số thứ tiếng cùng loại hình có một
loại vừa là âm tiết vừa là hình vị vừa là từ đơn Người ta gọi đơn vị ấy là hình tiết
Người ta dựa trên lý thuyết về cấp độ: tiếng và âm tiết thuộc cấp độ ngữ âm,
hình vị thuộc cấp độ hình vị, từ thuộc cấp độ từ Mỗi một cấp độ có một chức năng
nhất định: cấp độ ngữ âm tạo nên vỏ vật chất trong ngôn ngữ, cấp độ hình vị tạo từ,
cấp độ từ là cấp độ gọi tên các sự vật hiện tượng
Bản thể vẫn là một chức năng được xét ở các cấp độ khác nhau Theo quan
điểm này thì vẫn tồn tại 4 thứ tiếng tùy theo những cấp độ khác nhau Người ta gọi đây
là những đơn vị cùng bản thể nhưng khác nhau về chức năng Giải quyết theo quan
điểm chức năng, không giải quyết theo quan điểm bản thể Vì vậy từ tiếng Việt ở trong
lời nói nó không gắn chặt với nhau cho nên nó là loại hình ngôn ngữ đơn lẻ tức là mỗi
đơn vị, mỗi từ là một khối riêng biệt, rời rạc, không gắn liền và không ràng buộc
Ngữ điệu là đặc điểm của giọng nói, thể hiện khi nói một câu Nó bộc lộ ở sự
phát âm mạnh hay yếu, lên giọng hay xuống giọng, trầm hay bổng, liên tục hay ngắt
quãng,… đối với các từ ngữ trong câu Cũng là các yếu tố siêu đoạn tính, nhưng khác
với thanh điệu (gắn với âm tiết), trọng âm (gắn với từ), ngữ điệu là yếu tố gắn với câu
Trong tiếng Việt, ngữ điệu là một phương thức ngữ pháp chủ yếu góp phần biểu
hiện các ý nghĩa khác nhau
Sự khác biệt trong ngữ điệu có thể phân biệt các câu có mục đích nói khác
nhau, nghĩa là có ý nghĩa khác nhau
Ví dụ:
Anh về (câu tường thuật, ngữ điệu kết thúc, hạ giọng ở cuối câu
Anh về? (câu nghi vấn, giọng hồ nghi, thiếu sự quả quyết)
Anh về! (câu cảm thán, giọng reo vui)
Sự liên tục hay ngắt quãng và vị trí của mỗi chỗ ngắt là một biểu hiện của ngữ
điệu Nó có thể phân biệt các ý nghĩa khác nhau:
Ví dụ: Hổ mang bò lên núi
Nếu ngắt ở trước từ bò thì câu này có nghĩa là có một loại rắn được gọi là hổ
mang thực hiện hành động bò lên núi
Nếu ngắt trước từ mang thì câu này có nghĩa là con hổ thực hiện việc mang con
bò lên núi
Nếu ngắt hai lần trước từ bò và trước từ lên thì câu này có nghĩa là có hai con là
con hổ mang và con bò cùng nhau lên núi
Tóm lại, ba phương thức ngữ pháp trên đã tạo ra những thuận lợi và cũng gây ra
không ít khó khăn đối với quá trình dạy và học tiếng Việt Từ tiếng Việt không có sự
biến tố, biến đổi hình thái thì ở vị trí nào trong câu từ cũng giữ nguyên Muốn biểu
hiện một ý nghĩa ngữ pháp nào đó chỉ cần cho những từ đúng để kết hợp Trong khi
dạy và học tiếng Việt cũng như khi nói thì yếu tố trật tự sắp xếp các từ sẽ giúp người
dạy và người học hiểu biết nhanh hơn
Tuy vậy ý nghĩa ngữ pháp không biểu hiện ở trong từ chính vì vậy xuất hiện
hiện tượng nhất từ đa loại Hiện tượng này lại cũng gây ra khó khăn trong việc nhận
diện và phân loại các từ theo đặc điểm ngữ pháp
Trong tiếng Việt cũng như tiếng Hán và một số thứ tiếng cùng loại hình có một
loại vừa là âm tiết vừa là hình vị vừa là từ đơn Người ta gọi đơn vị ấy là hình tiết
Người ta dựa trên lý thuyết về cấp độ: tiếng và âm tiết thuộc cấp độ ngữ âm,
hình vị thuộc cấp độ hình vị, từ thuộc cấp độ từ Mỗi một cấp độ có một chức năng
nhất định: cấp độ ngữ âm tạo nên vỏ vật chất trong ngôn ngữ, cấp độ hình vị tạo từ,
cấp độ từ là cấp độ gọi tên các sự vật hiện tượng
Bản thể vẫn là một chức năng được xét ở các cấp độ khác nhau Theo quan
điểm này thì vẫn tồn tại 4 thứ tiếng tùy theo những cấp độ khác nhau Người ta gọi đây
là những đơn vị cùng bản thể nhưng khác nhau về chức năng Giải quyết theo quan
điểm chức năng, không giải quyết theo quan điểm bản thể Vì vậy từ tiếng Việt ở trong
lời nói nó không gắn chặt với nhau cho nên nó là loại hình ngôn ngữ đơn lẻ tức là mỗi
đơn vị, mỗi từ là một khối riêng biệt, rời rạc, không gắn liền và không ràng buộc
23
Ngữ điệu là đặc điểm của giọng nói, thể hiện khi nói một câu Nó bộc lộ ở sự phát âm mạnh hay yếu, lên giọng hay xuống giọng, trầm hay bổng, liên tục hay ngắt quãng,… đối với các từ ngữ trong câu Cũng là các yếu tố siêu đoạn tính, nhưng khác với thanh điệu (gắn với âm tiết), trọng âm (gắn với từ), ngữ điệu là yếu tố gắn với câu Trong tiếng Việt, ngữ điệu là một phương thức ngữ pháp chủ yếu góp phần biểu hiện các ý nghĩa khác nhau
Sự khác biệt trong ngữ điệu có thể phân biệt các câu có mục đích nói khác nhau, nghĩa là có ý nghĩa khác nhau
Ví dụ:
Anh về (câu tường thuật, ngữ điệu kết thúc, hạ giọng ở cuối câu Anh về? (câu nghi vấn, giọng hồ nghi, thiếu sự quả quyết) Anh về! (câu cảm thán, giọng reo vui)
Sự liên tục hay ngắt quãng và vị trí của mỗi chỗ ngắt là một biểu hiện của ngữ điệu Nó có thể phân biệt các ý nghĩa khác nhau:
Ví dụ: Hổ mang bò lên núi
Nếu ngắt ở trước từ bò thì câu này có nghĩa là có một loại rắn được gọi là hổ
mang thực hiện hành động bò lên núi
Nếu ngắt trước từ mang thì câu này có nghĩa là con hổ thực hiện việc mang con
bò lên núi
Nếu ngắt hai lần trước từ bò và trước từ lên thì câu này có nghĩa là có hai con là
con hổ mang và con bò cùng nhau lên núi
Tóm lại, ba phương thức ngữ pháp trên đã tạo ra những thuận lợi và cũng gây ra không ít khó khăn đối với quá trình dạy và học tiếng Việt Từ tiếng Việt không có sự biến tố, biến đổi hình thái thì ở vị trí nào trong câu từ cũng giữ nguyên Muốn biểu hiện một ý nghĩa ngữ pháp nào đó chỉ cần cho những từ đúng để kết hợp Trong khi dạy và học tiếng Việt cũng như khi nói thì yếu tố trật tự sắp xếp các từ sẽ giúp người dạy và người học hiểu biết nhanh hơn
Tuy vậy ý nghĩa ngữ pháp không biểu hiện ở trong từ chính vì vậy xuất hiện hiện tượng nhất từ đa loại Hiện tượng này lại cũng gây ra khó khăn trong việc nhận diện và phân loại các từ theo đặc điểm ngữ pháp
Trong tiếng Việt cũng như tiếng Hán và một số thứ tiếng cùng loại hình có một loại vừa là âm tiết vừa là hình vị vừa là từ đơn Người ta gọi đơn vị ấy là hình tiết Người ta dựa trên lý thuyết về cấp độ: tiếng và âm tiết thuộc cấp độ ngữ âm, hình vị thuộc cấp độ hình vị, từ thuộc cấp độ từ Mỗi một cấp độ có một chức năng nhất định: cấp độ ngữ âm tạo nên vỏ vật chất trong ngôn ngữ, cấp độ hình vị tạo từ, cấp độ từ là cấp độ gọi tên các sự vật hiện tượng
Bản thể vẫn là một chức năng được xét ở các cấp độ khác nhau Theo quan điểm này thì vẫn tồn tại 4 thứ tiếng tùy theo những cấp độ khác nhau Người ta gọi đây
là những đơn vị cùng bản thể nhưng khác nhau về chức năng Giải quyết theo quan điểm chức năng, không giải quyết theo quan điểm bản thể Vì vậy từ tiếng Việt ở trong lời nói nó không gắn chặt với nhau cho nên nó là loại hình ngôn ngữ đơn lẻ tức là mỗi đơn vị, mỗi từ là một khối riêng biệt, rời rạc, không gắn liền và không ràng buộc
Ngữ điệu là đặc điểm của giọng nói, thể hiện khi nói một câu Nó bộc lộ ở sự phát âm mạnh hay yếu, lên giọng hay xuống giọng, trầm hay bổng, liên tục hay ngắt quãng,… đối với các từ ngữ trong câu Cũng là các yếu tố siêu đoạn tính, nhưng khác với thanh điệu (gắn với âm tiết), trọng âm (gắn với từ), ngữ điệu là yếu tố gắn với câu Trong tiếng Việt, ngữ điệu là một phương thức ngữ pháp chủ yếu góp phần biểu hiện các ý nghĩa khác nhau
Sự khác biệt trong ngữ điệu có thể phân biệt các câu có mục đích nói khác nhau, nghĩa là có ý nghĩa khác nhau
Ví dụ:
Anh về (câu tường thuật, ngữ điệu kết thúc, hạ giọng ở cuối câu Anh về? (câu nghi vấn, giọng hồ nghi, thiếu sự quả quyết) Anh về! (câu cảm thán, giọng reo vui)
Sự liên tục hay ngắt quãng và vị trí của mỗi chỗ ngắt là một biểu hiện của ngữ điệu Nó có thể phân biệt các ý nghĩa khác nhau:
Ví dụ: Hổ mang bò lên núi
Nếu ngắt ở trước từ bò thì câu này có nghĩa là có một loại rắn được gọi là hổ
mang thực hiện hành động bò lên núi
Nếu ngắt trước từ mang thì câu này có nghĩa là con hổ thực hiện việc mang con
bò lên núi
Nếu ngắt hai lần trước từ bò và trước từ lên thì câu này có nghĩa là có hai con là
con hổ mang và con bò cùng nhau lên núi
Tóm lại, ba phương thức ngữ pháp trên đã tạo ra những thuận lợi và cũng gây ra không ít khó khăn đối với quá trình dạy và học tiếng Việt Từ tiếng Việt không có sự biến tố, biến đổi hình thái thì ở vị trí nào trong câu từ cũng giữ nguyên Muốn biểu hiện một ý nghĩa ngữ pháp nào đó chỉ cần cho những từ đúng để kết hợp Trong khi dạy và học tiếng Việt cũng như khi nói thì yếu tố trật tự sắp xếp các từ sẽ giúp người dạy và người học hiểu biết nhanh hơn
Tuy vậy ý nghĩa ngữ pháp không biểu hiện ở trong từ chính vì vậy xuất hiện hiện tượng nhất từ đa loại Hiện tượng này lại cũng gây ra khó khăn trong việc nhận diện và phân loại các từ theo đặc điểm ngữ pháp
Trong tiếng Việt cũng như tiếng Hán và một số thứ tiếng cùng loại hình có một loại vừa là âm tiết vừa là hình vị vừa là từ đơn Người ta gọi đơn vị ấy là hình tiết Người ta dựa trên lý thuyết về cấp độ: tiếng và âm tiết thuộc cấp độ ngữ âm, hình vị thuộc cấp độ hình vị, từ thuộc cấp độ từ Mỗi một cấp độ có một chức năng nhất định: cấp độ ngữ âm tạo nên vỏ vật chất trong ngôn ngữ, cấp độ hình vị tạo từ, cấp độ từ là cấp độ gọi tên các sự vật hiện tượng
Bản thể vẫn là một chức năng được xét ở các cấp độ khác nhau Theo quan điểm này thì vẫn tồn tại 4 thứ tiếng tùy theo những cấp độ khác nhau Người ta gọi đây
là những đơn vị cùng bản thể nhưng khác nhau về chức năng Giải quyết theo quan điểm chức năng, không giải quyết theo quan điểm bản thể Vì vậy từ tiếng Việt ở trong lời nói nó không gắn chặt với nhau cho nên nó là loại hình ngôn ngữ đơn lẻ tức là mỗi đơn vị, mỗi từ là một khối riêng biệt, rời rạc, không gắn liền và không ràng buộc
Trang 2524
1.3.2.4 Các loại ngôn ngữ theo nguồn gốc
Trong lịch sử phát triển của ngôn ngữ, ở vào một thời điểm nhất định, một ngôn
ngữ có thể dần dần chia tách thành nhiều ngôn ngữ Các ngôn ngữ đó ngày càng dầ xa
nhau và trở thành các ngôn ngữ độc lập Song giữa chúng vẫn có nhữn vết tích giống
nhau được tách ra từu cùng ngôn ngữ gốc Ngôn ngữ gốc được gọi là ngôn ngữ mẹ,
các ngôn ngữ cùng một ngôn ngữ mẹ tạo ra tạo thành một họ ngôn ngữ hay một ngữ
hệ Quan hệ giữa các ngôn ngữ cùng một họ và quan hệ giữa chúng và ngôn ngữ mẹ
gọi là quan hệ nguồn gốc
Ngôn ngữ học đã xác định được nhiều họ ngôn ngữ trên thế giới và phân loại
các ngôn ngữ theo mối quan hệ họ hàng, nguồn gốc
a Về tiêu chí xác định:
Tiêu chí ngữ âm: khi chia tách các ngôn ngữ, mặt ngữ âm của ngôn ngữ mẹ
cũng dần biến đổi trong các ngôn ngữ cùng họ, nhưng là sự biến đổi có quy luật, theo
những mối quan hệ hệ thống Ngay ở một ngôn ngữ, trải qua quá trình phát triển lịch
sử, mặt ngữ âm có những biến đổi nhưng theo quy luật nhất định Ví dụ: tiếng Việt có
phụ âm kép là ml hiện nay chuyển thành nh trong phương ngữ Bắc Bộ và âm l trong
phương ngữ Bắc Trung Bộ và Nam Bộ
So sánh
Tiếng Việt cổ Tiếng Bắc Bộ Tiếng Trung Bộ, Nam Bộ
Ví dụ: tiếng Việt và tiếng Mường là hai ngôn ngữ độc lập ngày nay nhưng cùng
một gốc nên nhiều từ tương ứng về nghĩa có sự khác biệt đều đặn về ngữ âm, như cặp
/t/ và /l/ trong các từ sau:
Hoặc /m/ và /b/
Tiêu chí từ vựng – ngữ nghĩa: ở tiêu chí này, người ta sẽ quan tâm đến lớp từ cơ
bản, là lớp từ hình thành từ xa xưa, biểu hiện những nội dung, những đối tượng, những
khái niệm thiết yếu nhất của cuộc sống con người: từ chỉ các hiện tượng thiên nhiên,
chỉ các bộ phận trên cơ thể, các từ chỉ màu sắc, chỉ các đồ vật quen thuộc,… Đó là các
từ quan trọng, cần thiết cho nhận thức, tư duy và giao tiếp với mọi người ở mọi lúc,
mọi nơi
1.3.2.4 Các loại ngôn ngữ theo nguồn gốc
Trong lịch sử phát triển của ngôn ngữ, ở vào một thời điểm nhất định, một ngôn
ngữ có thể dần dần chia tách thành nhiều ngôn ngữ Các ngôn ngữ đó ngày càng dầ xa
nhau và trở thành các ngôn ngữ độc lập Song giữa chúng vẫn có nhữn vết tích giống
nhau được tách ra từu cùng ngôn ngữ gốc Ngôn ngữ gốc được gọi là ngôn ngữ mẹ,
các ngôn ngữ cùng một ngôn ngữ mẹ tạo ra tạo thành một họ ngôn ngữ hay một ngữ
hệ Quan hệ giữa các ngôn ngữ cùng một họ và quan hệ giữa chúng và ngôn ngữ mẹ
gọi là quan hệ nguồn gốc
Ngôn ngữ học đã xác định được nhiều họ ngôn ngữ trên thế giới và phân loại
các ngôn ngữ theo mối quan hệ họ hàng, nguồn gốc
a Về tiêu chí xác định:
Tiêu chí ngữ âm: khi chia tách các ngôn ngữ, mặt ngữ âm của ngôn ngữ mẹ
cũng dần biến đổi trong các ngôn ngữ cùng họ, nhưng là sự biến đổi có quy luật, theo
những mối quan hệ hệ thống Ngay ở một ngôn ngữ, trải qua quá trình phát triển lịch
sử, mặt ngữ âm có những biến đổi nhưng theo quy luật nhất định Ví dụ: tiếng Việt có
phụ âm kép là ml hiện nay chuyển thành nh trong phương ngữ Bắc Bộ và âm l trong
phương ngữ Bắc Trung Bộ và Nam Bộ
So sánh
Tiếng Việt cổ Tiếng Bắc Bộ Tiếng Trung Bộ, Nam Bộ
Ví dụ: tiếng Việt và tiếng Mường là hai ngôn ngữ độc lập ngày nay nhưng cùng
một gốc nên nhiều từ tương ứng về nghĩa có sự khác biệt đều đặn về ngữ âm, như cặp
/t/ và /l/ trong các từ sau:
Hoặc /m/ và /b/
Tiêu chí từ vựng – ngữ nghĩa: ở tiêu chí này, người ta sẽ quan tâm đến lớp từ cơ
bản, là lớp từ hình thành từ xa xưa, biểu hiện những nội dung, những đối tượng, những
khái niệm thiết yếu nhất của cuộc sống con người: từ chỉ các hiện tượng thiên nhiên,
chỉ các bộ phận trên cơ thể, các từ chỉ màu sắc, chỉ các đồ vật quen thuộc,… Đó là các
từ quan trọng, cần thiết cho nhận thức, tư duy và giao tiếp với mọi người ở mọi lúc,
mọi nơi
24
1.3.2.4 Các loại ngôn ngữ theo nguồn gốc
Trong lịch sử phát triển của ngôn ngữ, ở vào một thời điểm nhất định, một ngôn ngữ có thể dần dần chia tách thành nhiều ngôn ngữ Các ngôn ngữ đó ngày càng dầ xa nhau và trở thành các ngôn ngữ độc lập Song giữa chúng vẫn có nhữn vết tích giống nhau được tách ra từu cùng ngôn ngữ gốc Ngôn ngữ gốc được gọi là ngôn ngữ mẹ, các ngôn ngữ cùng một ngôn ngữ mẹ tạo ra tạo thành một họ ngôn ngữ hay một ngữ
hệ Quan hệ giữa các ngôn ngữ cùng một họ và quan hệ giữa chúng và ngôn ngữ mẹ gọi là quan hệ nguồn gốc
Ngôn ngữ học đã xác định được nhiều họ ngôn ngữ trên thế giới và phân loại các ngôn ngữ theo mối quan hệ họ hàng, nguồn gốc
a Về tiêu chí xác định:
Tiêu chí ngữ âm: khi chia tách các ngôn ngữ, mặt ngữ âm của ngôn ngữ mẹ cũng dần biến đổi trong các ngôn ngữ cùng họ, nhưng là sự biến đổi có quy luật, theo những mối quan hệ hệ thống Ngay ở một ngôn ngữ, trải qua quá trình phát triển lịch
sử, mặt ngữ âm có những biến đổi nhưng theo quy luật nhất định Ví dụ: tiếng Việt có phụ âm kép là ml hiện nay chuyển thành nh trong phương ngữ Bắc Bộ và âm l trong phương ngữ Bắc Trung Bộ và Nam Bộ
So sánh Tiếng Việt cổ Tiếng Bắc Bộ Tiếng Trung Bộ, Nam Bộ
Hoặc /m/ và /b/
Tiêu chí từ vựng – ngữ nghĩa: ở tiêu chí này, người ta sẽ quan tâm đến lớp từ cơ
bản, là lớp từ hình thành từ xa xưa, biểu hiện những nội dung, những đối tượng, những khái niệm thiết yếu nhất của cuộc sống con người: từ chỉ các hiện tượng thiên nhiên, chỉ các bộ phận trên cơ thể, các từ chỉ màu sắc, chỉ các đồ vật quen thuộc,… Đó là các
từ quan trọng, cần thiết cho nhận thức, tư duy và giao tiếp với mọi người ở mọi lúc, mọi nơi
1.3.2.4 Các loại ngôn ngữ theo nguồn gốc
Trong lịch sử phát triển của ngôn ngữ, ở vào một thời điểm nhất định, một ngôn ngữ có thể dần dần chia tách thành nhiều ngôn ngữ Các ngôn ngữ đó ngày càng dầ xa nhau và trở thành các ngôn ngữ độc lập Song giữa chúng vẫn có nhữn vết tích giống nhau được tách ra từu cùng ngôn ngữ gốc Ngôn ngữ gốc được gọi là ngôn ngữ mẹ, các ngôn ngữ cùng một ngôn ngữ mẹ tạo ra tạo thành một họ ngôn ngữ hay một ngữ
hệ Quan hệ giữa các ngôn ngữ cùng một họ và quan hệ giữa chúng và ngôn ngữ mẹ gọi là quan hệ nguồn gốc
Ngôn ngữ học đã xác định được nhiều họ ngôn ngữ trên thế giới và phân loại các ngôn ngữ theo mối quan hệ họ hàng, nguồn gốc
a Về tiêu chí xác định:
Tiêu chí ngữ âm: khi chia tách các ngôn ngữ, mặt ngữ âm của ngôn ngữ mẹ cũng dần biến đổi trong các ngôn ngữ cùng họ, nhưng là sự biến đổi có quy luật, theo những mối quan hệ hệ thống Ngay ở một ngôn ngữ, trải qua quá trình phát triển lịch
sử, mặt ngữ âm có những biến đổi nhưng theo quy luật nhất định Ví dụ: tiếng Việt có phụ âm kép là ml hiện nay chuyển thành nh trong phương ngữ Bắc Bộ và âm l trong phương ngữ Bắc Trung Bộ và Nam Bộ
So sánh Tiếng Việt cổ Tiếng Bắc Bộ Tiếng Trung Bộ, Nam Bộ
Hoặc /m/ và /b/
Tiêu chí từ vựng – ngữ nghĩa: ở tiêu chí này, người ta sẽ quan tâm đến lớp từ cơ
bản, là lớp từ hình thành từ xa xưa, biểu hiện những nội dung, những đối tượng, những khái niệm thiết yếu nhất của cuộc sống con người: từ chỉ các hiện tượng thiên nhiên, chỉ các bộ phận trên cơ thể, các từ chỉ màu sắc, chỉ các đồ vật quen thuộc,… Đó là các
từ quan trọng, cần thiết cho nhận thức, tư duy và giao tiếp với mọi người ở mọi lúc, mọi nơi
Trang 2625
Cần so sánh, đối chiếu các từ này cả về mặt âm thanh và ý nghĩa để rút ra sự
giống và khác nhau theo quy luật của chúng:
Ví dụ:
Trong ví dụ trên, các từ cùng hàng ngang là khác nhau song chúng vẫn có quan
hệ tương đương với nhau về ý nghĩa và âm thanh Hàng thứ nhất, các từ có quan hệ ở
chỗ: đều là âm tiết có âm đầu, âm chính và âm cuối Các từ trong hàng một đều có
nghĩa là nước
Tiêu chí ngữ pháp: các hiện tượng ngữ pháp, các phạm trù ngữ pháp, hình thức
ngữ pháp,…Các sự tương ứng về ngữ pháp rất có giá trị để xác định quan hệ nguồn gốc vì
lĩnh vực này thường có tính ổn định, ít thay đổi, bảo thủ và ít vay mượn về ngữ pháp
Môn - Khmer Các ngôn ngữ của thổ dân châu Phi
Mã Lai – Đa Đảo
Các ngôn ngữ Trung Mĩ Các ngôn ngữ Nam Mĩ Ugo – Phần Lan
Cần so sánh, đối chiếu các từ này cả về mặt âm thanh và ý nghĩa để rút ra sự
giống và khác nhau theo quy luật của chúng:
Ví dụ:
Trong ví dụ trên, các từ cùng hàng ngang là khác nhau song chúng vẫn có quan
hệ tương đương với nhau về ý nghĩa và âm thanh Hàng thứ nhất, các từ có quan hệ ở
chỗ: đều là âm tiết có âm đầu, âm chính và âm cuối Các từ trong hàng một đều có
nghĩa là nước
Tiêu chí ngữ pháp: các hiện tượng ngữ pháp, các phạm trù ngữ pháp, hình thức
ngữ pháp,…Các sự tương ứng về ngữ pháp rất có giá trị để xác định quan hệ nguồn gốc vì
lĩnh vực này thường có tính ổn định, ít thay đổi, bảo thủ và ít vay mượn về ngữ pháp
Môn - Khmer Các ngôn ngữ của thổ dân châu Phi
Mã Lai – Đa Đảo
Các ngôn ngữ Trung Mĩ Các ngôn ngữ Nam Mĩ Ugo – Phần Lan
25
Cần so sánh, đối chiếu các từ này cả về mặt âm thanh và ý nghĩa để rút ra sự giống và khác nhau theo quy luật của chúng:
Ví dụ:
Trong ví dụ trên, các từ cùng hàng ngang là khác nhau song chúng vẫn có quan
hệ tương đương với nhau về ý nghĩa và âm thanh Hàng thứ nhất, các từ có quan hệ ở chỗ: đều là âm tiết có âm đầu, âm chính và âm cuối Các từ trong hàng một đều có nghĩa là nước
Tiêu chí ngữ pháp: các hiện tượng ngữ pháp, các phạm trù ngữ pháp, hình thức
ngữ pháp,…Các sự tương ứng về ngữ pháp rất có giá trị để xác định quan hệ nguồn gốc vì lĩnh vực này thường có tính ổn định, ít thay đổi, bảo thủ và ít vay mượn về ngữ pháp
Môn - Khmer Các ngôn ngữ của thổ dân châu Phi
Mã Lai – Đa Đảo
Các ngôn ngữ Trung Mĩ Các ngôn ngữ Nam Mĩ Ugo – Phần Lan
Cần so sánh, đối chiếu các từ này cả về mặt âm thanh và ý nghĩa để rút ra sự giống và khác nhau theo quy luật của chúng:
Ví dụ:
Trong ví dụ trên, các từ cùng hàng ngang là khác nhau song chúng vẫn có quan
hệ tương đương với nhau về ý nghĩa và âm thanh Hàng thứ nhất, các từ có quan hệ ở chỗ: đều là âm tiết có âm đầu, âm chính và âm cuối Các từ trong hàng một đều có nghĩa là nước
Tiêu chí ngữ pháp: các hiện tượng ngữ pháp, các phạm trù ngữ pháp, hình thức
ngữ pháp,…Các sự tương ứng về ngữ pháp rất có giá trị để xác định quan hệ nguồn gốc vì lĩnh vực này thường có tính ổn định, ít thay đổi, bảo thủ và ít vay mượn về ngữ pháp
Môn - Khmer Các ngôn ngữ của thổ dân châu Phi
Mã Lai – Đa Đảo
Các ngôn ngữ Trung Mĩ Các ngôn ngữ Nam Mĩ Ugo – Phần Lan
Trang 2726
Thứ nhất: Họ Ấn – Âu: đây là ngôn ngữ lớn nhất trên thế giới bao gồm nhiều
dòng nhiều ngành: Ấn Độ, Iran, Xlavơ, Gecman, Rơman Ngữ hệ này gồm các dòng:
Ba Tư, Pastô (ngôn ngữ quốc gia của Apganixtan), Bulachi, Tagic, Osetin,
Tatxki, các phương ngữ Prikaspi, các ngôn ngữ Pamia,…
• Dòng Sla vơ:
- Nhánh đông: Nga, Ukrain, Bêlôrusi
- Nhánh nam: Bungari, Makêđôn, Xloven,…
- Nhánh tây: Tiệp, Slovac, Ba Lan,…
• Dòng Ban tich: Litva, Latviam Latgan
• Dòng Giecman:
- Nhánh bắc: Đan Mạch, Thụy Điển, Nauy, Aixlen
- Nhánh tây: Anh, Hà Lan, Phridơ, Đức, Idiso
• Dòng Roman: Pháp, Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Rumani, Xacdin,
Thứ hai: Họ Xmit - Hmit: gồm
• Dòng Xmit: Arap, Amkharo, Gugare, Kharari,…
• Dòng Kusit: Gala, Xomaili, Agay,…
• Dòng Bechec: Tuarego, Kabin, Sinkho, Ripho, Saviia,…
• Dòng Sa đô – Hmit: Khausa, Angac, Mubi,…
Thứ ba: họ Kapkadơ
• Dòng tây: Apkhado, Abadin,…
• Dòng Nas cơ: Chec hên, Bacxbia,…
Thứ nhất: Họ Ấn – Âu: đây là ngôn ngữ lớn nhất trên thế giới bao gồm nhiều
dòng nhiều ngành: Ấn Độ, Iran, Xlavơ, Gecman, Rơman Ngữ hệ này gồm các dòng:
Ba Tư, Pastô (ngôn ngữ quốc gia của Apganixtan), Bulachi, Tagic, Osetin,
Tatxki, các phương ngữ Prikaspi, các ngôn ngữ Pamia,…
• Dòng Sla vơ:
- Nhánh đông: Nga, Ukrain, Bêlôrusi
- Nhánh nam: Bungari, Makêđôn, Xloven,…
- Nhánh tây: Tiệp, Slovac, Ba Lan,…
• Dòng Ban tich: Litva, Latviam Latgan
• Dòng Giecman:
- Nhánh bắc: Đan Mạch, Thụy Điển, Nauy, Aixlen
- Nhánh tây: Anh, Hà Lan, Phridơ, Đức, Idiso
• Dòng Roman: Pháp, Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Rumani, Xacdin,
Thứ hai: Họ Xmit - Hmit: gồm
• Dòng Xmit: Arap, Amkharo, Gugare, Kharari,…
• Dòng Kusit: Gala, Xomaili, Agay,…
• Dòng Bechec: Tuarego, Kabin, Sinkho, Ripho, Saviia,…
• Dòng Sa đô – Hmit: Khausa, Angac, Mubi,…
Thứ ba: họ Kapkadơ
• Dòng tây: Apkhado, Abadin,…
• Dòng Nas cơ: Chec hên, Bacxbia,…
- Nhánh đông: Nga, Ukrain, Bêlôrusi
- Nhánh nam: Bungari, Makêđôn, Xloven,…
- Nhánh tây: Tiệp, Slovac, Ba Lan,…
• Dòng Ban tich: Litva, Latviam Latgan
• Dòng Giecman:
- Nhánh bắc: Đan Mạch, Thụy Điển, Nauy, Aixlen
- Nhánh tây: Anh, Hà Lan, Phridơ, Đức, Idiso
• Dòng Roman: Pháp, Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Rumani, Xacdin, Aromun,…
• Dòng Ken tơ: Xcotlen, ngôn ngữ đảo Man, Breton, Gali, Irolen
• Dòng Hi Lạp: tiếng Hi Lạp
• Dòng Anbani
• Dòng Aromian
Thứ hai: Họ Xmit - Hmit: gồm
• Dòng Xmit: Arap, Amkharo, Gugare, Kharari,…
• Dòng Kusit: Gala, Xomaili, Agay,…
• Dòng Bechec: Tuarego, Kabin, Sinkho, Ripho, Saviia,…
• Dòng Sa đô – Hmit: Khausa, Angac, Mubi,…
Thứ ba: họ Kapkadơ
• Dòng tây: Apkhado, Abadin,…
• Dòng Nas cơ: Chec hên, Bacxbia,…
• Dòng Đaghextan
• Dòng Kactơven Thứ tư: họ Ugo – Phần Lan
• Dòng Ugo
• Dòng Phần Lan Thứ năm: họ Tuyếc Gồm các tiếng Thổ Nhĩ Kì, Adecbaigiang, Tuyecmenia, Gagaudo, Bankado, Nogia,…
Thứ sáu: họ Mông Cổ Gồm các tiếng: Khanka, Buriat, Kanmuc Thứ bẩy: họ Hán – Tạng
• Dòng Hán Thái: Thái, Lào, Sán Chỉ, Dáy, Cao Lan, La Ha, Tày – Nùng, Choang,…
Thứ nhất: Họ Ấn – Âu: đây là ngôn ngữ lớn nhất trên thế giới bao gồm nhiều dòng nhiều ngành: Ấn Độ, Iran, Xlavơ, Gecman, Rơman Ngữ hệ này gồm các dòng:
- Nhánh đông: Nga, Ukrain, Bêlôrusi
- Nhánh nam: Bungari, Makêđôn, Xloven,…
- Nhánh tây: Tiệp, Slovac, Ba Lan,…
• Dòng Ban tich: Litva, Latviam Latgan
• Dòng Giecman:
- Nhánh bắc: Đan Mạch, Thụy Điển, Nauy, Aixlen
- Nhánh tây: Anh, Hà Lan, Phridơ, Đức, Idiso
• Dòng Roman: Pháp, Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Rumani, Xacdin, Aromun,…
• Dòng Ken tơ: Xcotlen, ngôn ngữ đảo Man, Breton, Gali, Irolen
• Dòng Hi Lạp: tiếng Hi Lạp
• Dòng Anbani
• Dòng Aromian
Thứ hai: Họ Xmit - Hmit: gồm
• Dòng Xmit: Arap, Amkharo, Gugare, Kharari,…
• Dòng Kusit: Gala, Xomaili, Agay,…
• Dòng Bechec: Tuarego, Kabin, Sinkho, Ripho, Saviia,…
• Dòng Sa đô – Hmit: Khausa, Angac, Mubi,…
Thứ ba: họ Kapkadơ
• Dòng tây: Apkhado, Abadin,…
• Dòng Nas cơ: Chec hên, Bacxbia,…
• Dòng Đaghextan
• Dòng Kactơven Thứ tư: họ Ugo – Phần Lan
• Dòng Ugo
• Dòng Phần Lan Thứ năm: họ Tuyếc Gồm các tiếng Thổ Nhĩ Kì, Adecbaigiang, Tuyecmenia, Gagaudo, Bankado, Nogia,…
Thứ sáu: họ Mông Cổ Gồm các tiếng: Khanka, Buriat, Kanmuc Thứ bẩy: họ Hán – Tạng
• Dòng Hán Thái: Thái, Lào, Sán Chỉ, Dáy, Cao Lan, La Ha, Tày – Nùng, Choang,…
Trang 28Thứ chín: họ Mã Lai – Đa Đảo
• Dòng Mã Lai: Indonexia, Bali, Bugi,…
• Dòng Pôlinê đi: Ma ô ri, Gavai, Xamoa, Uvea,…
Thứ mười: các ngôn ngữ của thổ dân châu Phi:
• Các ngôn ngữ Băng tu: Bube, Lundu, Fang, Benga,…
• Các ngôn ngữ Bantôít (đông): Típ, Bli,…
• Các ngôn ngữ Man đơ: Mandingo, Malinke, Bombara,…
• Các ngôn ngữ Gvinaya, Kru, Kva, Akan, Eve, Nupe,…
• Các ngôn ngữ Xongai: Xongai, Dacma, Đêni,…
• Các ngôn ngữ trung và đông Xu đăng: Zanda, Banda, Mintu,…
• Các ngôn ngữ Kocdophang: Talodi, Kaphopha, Tageli,…
• Các ngôn ngữ Nilot: Siluc, Bari,…
Thứ mười một: các ngôn ngữ Bắc Mĩ
Gồm các tiếng: Angonkin, Xiu, Phô ka,…
Thứ mười hai: các ngôn ngữ Trung Mỹ
Gồm các tiếng: Maija, Utoaxtec, Chipcha,…
Thứ mười ba: các ngôn ngữ Nam Mĩ
Gồm các tiếng Tubi, Anavac, Araukan,…
Các họ ngôn ngữ trên thế giới được sơ đồ hóa như sau:
Ngữ hệ Nam phương: bao gồm các thứ tiếng vùng Đông Nam Á trong đó có
tiếng Việt Về mặt vị trí, ngữ hệ này bắt đầu từ vùng phía nam sông Trường Giang
(Trung Quốc) chạy qua vùng núi của cao nguyên Đông Dương đến gần quần đảo Nam
Dương (Indonexia) cho đến giáp châu Đại Dương (Oxtraylia) Đây là một ngữ hệ lớn
bao gồm hai dòng lớn là Nam Á và Nam Thái Dòng Nam Á có 4 ngành (4 nhánh):
Mun đa, Nahali, Nicô ba, Môn – Khơ me Trong 4 ngành này, ngành Môn - Khơ me là
quan trọng gồm nhóm Khơ me (Tây Ninh), Ba na (Tây Nguyên), Ka tu, Khơ mú và
nhóm Việt Mường sau đó Việt Mường lại được tách thành tiếng Việt và tiếng Mường:
Mường Bắc và Mường Trung, tiếng Việt cùng với các thứ tiếng Boong, Chứt, tày,
Thái, Thà vựng
Mỗi ngữ hệ thường được biểu diễn dưới dạng sơ đồ hình cây Với ngữ hệ Nam
Phương, sơ đồ này được nhà nghiên cứu M Ferlus biểu diễn như sau (theo sách Cơ sở
ngôn ngữ học và tiếng Việt, tác giả Mai Ngọc Chừ):
• Dòng Tạng – Miến: gồm tiếng Tạng và tiếng Miến Điện Các tiếng Hà Nhì,
Thứ chín: họ Mã Lai – Đa Đảo
• Dòng Mã Lai: Indonexia, Bali, Bugi,…
• Dòng Pôlinê đi: Ma ô ri, Gavai, Xamoa, Uvea,…
Thứ mười: các ngôn ngữ của thổ dân châu Phi:
• Các ngôn ngữ Băng tu: Bube, Lundu, Fang, Benga,…
• Các ngôn ngữ Bantôít (đông): Típ, Bli,…
• Các ngôn ngữ Man đơ: Mandingo, Malinke, Bombara,…
• Các ngôn ngữ Gvinaya, Kru, Kva, Akan, Eve, Nupe,…
• Các ngôn ngữ Xongai: Xongai, Dacma, Đêni,…
• Các ngôn ngữ trung và đông Xu đăng: Zanda, Banda, Mintu,…
• Các ngôn ngữ Kocdophang: Talodi, Kaphopha, Tageli,…
• Các ngôn ngữ Nilot: Siluc, Bari,…
Thứ mười một: các ngôn ngữ Bắc Mĩ
Gồm các tiếng: Angonkin, Xiu, Phô ka,…
Thứ mười hai: các ngôn ngữ Trung Mỹ
Gồm các tiếng: Maija, Utoaxtec, Chipcha,…
Thứ mười ba: các ngôn ngữ Nam Mĩ
Gồm các tiếng Tubi, Anavac, Araukan,…
Các họ ngôn ngữ trên thế giới được sơ đồ hóa như sau:
Ngữ hệ Nam phương: bao gồm các thứ tiếng vùng Đông Nam Á trong đó có
tiếng Việt Về mặt vị trí, ngữ hệ này bắt đầu từ vùng phía nam sông Trường Giang
(Trung Quốc) chạy qua vùng núi của cao nguyên Đông Dương đến gần quần đảo Nam
Dương (Indonexia) cho đến giáp châu Đại Dương (Oxtraylia) Đây là một ngữ hệ lớn
bao gồm hai dòng lớn là Nam Á và Nam Thái Dòng Nam Á có 4 ngành (4 nhánh):
Mun đa, Nahali, Nicô ba, Môn – Khơ me Trong 4 ngành này, ngành Môn - Khơ me là
quan trọng gồm nhóm Khơ me (Tây Ninh), Ba na (Tây Nguyên), Ka tu, Khơ mú và
nhóm Việt Mường sau đó Việt Mường lại được tách thành tiếng Việt và tiếng Mường:
Mường Bắc và Mường Trung, tiếng Việt cùng với các thứ tiếng Boong, Chứt, tày,
Thái, Thà vựng
Mỗi ngữ hệ thường được biểu diễn dưới dạng sơ đồ hình cây Với ngữ hệ Nam
Phương, sơ đồ này được nhà nghiên cứu M Ferlus biểu diễn như sau (theo sách Cơ sở
ngôn ngữ học và tiếng Việt, tác giả Mai Ngọc Chừ):
Thứ chín: họ Mã Lai – Đa Đảo
• Dòng Mã Lai: Indonexia, Bali, Bugi,…
• Dòng Pôlinê đi: Ma ô ri, Gavai, Xamoa, Uvea,…
Thứ mười: các ngôn ngữ của thổ dân châu Phi:
• Các ngôn ngữ Băng tu: Bube, Lundu, Fang, Benga,…
• Các ngôn ngữ Bantôít (đông): Típ, Bli,…
• Các ngôn ngữ Man đơ: Mandingo, Malinke, Bombara,…
• Các ngôn ngữ Gvinaya, Kru, Kva, Akan, Eve, Nupe,…
• Các ngôn ngữ Xongai: Xongai, Dacma, Đêni,…
• Các ngôn ngữ trung và đông Xu đăng: Zanda, Banda, Mintu,…
• Các ngôn ngữ Kocdophang: Talodi, Kaphopha, Tageli,…
• Các ngôn ngữ Nilot: Siluc, Bari,…
Thứ mười một: các ngôn ngữ Bắc Mĩ Gồm các tiếng: Angonkin, Xiu, Phô ka,…
Thứ mười hai: các ngôn ngữ Trung Mỹ Gồm các tiếng: Maija, Utoaxtec, Chipcha,…
Thứ mười ba: các ngôn ngữ Nam Mĩ Gồm các tiếng Tubi, Anavac, Araukan,…
Các họ ngôn ngữ trên thế giới được sơ đồ hóa như sau:
Ngữ hệ Nam phương: bao gồm các thứ tiếng vùng Đông Nam Á trong đó có tiếng Việt Về mặt vị trí, ngữ hệ này bắt đầu từ vùng phía nam sông Trường Giang (Trung Quốc) chạy qua vùng núi của cao nguyên Đông Dương đến gần quần đảo Nam Dương (Indonexia) cho đến giáp châu Đại Dương (Oxtraylia) Đây là một ngữ hệ lớn bao gồm hai dòng lớn là Nam Á và Nam Thái Dòng Nam Á có 4 ngành (4 nhánh): Mun đa, Nahali, Nicô ba, Môn – Khơ me Trong 4 ngành này, ngành Môn - Khơ me là quan trọng gồm nhóm Khơ me (Tây Ninh), Ba na (Tây Nguyên), Ka tu, Khơ mú và nhóm Việt Mường sau đó Việt Mường lại được tách thành tiếng Việt và tiếng Mường: Mường Bắc và Mường Trung, tiếng Việt cùng với các thứ tiếng Boong, Chứt, tày, Thái, Thà vựng
Mỗi ngữ hệ thường được biểu diễn dưới dạng sơ đồ hình cây Với ngữ hệ Nam Phương, sơ đồ này được nhà nghiên cứu M Ferlus biểu diễn như sau (theo sách Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, tác giả Mai Ngọc Chừ):
• Dòng Tạng – Miến: gồm tiếng Tạng và tiếng Miến Điện Các tiếng Hà Nhì,
Thứ chín: họ Mã Lai – Đa Đảo
• Dòng Mã Lai: Indonexia, Bali, Bugi,…
• Dòng Pôlinê đi: Ma ô ri, Gavai, Xamoa, Uvea,…
Thứ mười: các ngôn ngữ của thổ dân châu Phi:
• Các ngôn ngữ Băng tu: Bube, Lundu, Fang, Benga,…
• Các ngôn ngữ Bantôít (đông): Típ, Bli,…
• Các ngôn ngữ Man đơ: Mandingo, Malinke, Bombara,…
• Các ngôn ngữ Gvinaya, Kru, Kva, Akan, Eve, Nupe,…
• Các ngôn ngữ Xongai: Xongai, Dacma, Đêni,…
• Các ngôn ngữ trung và đông Xu đăng: Zanda, Banda, Mintu,…
• Các ngôn ngữ Kocdophang: Talodi, Kaphopha, Tageli,…
• Các ngôn ngữ Nilot: Siluc, Bari,…
Thứ mười một: các ngôn ngữ Bắc Mĩ Gồm các tiếng: Angonkin, Xiu, Phô ka,…
Thứ mười hai: các ngôn ngữ Trung Mỹ Gồm các tiếng: Maija, Utoaxtec, Chipcha,…
Thứ mười ba: các ngôn ngữ Nam Mĩ Gồm các tiếng Tubi, Anavac, Araukan,…
Các họ ngôn ngữ trên thế giới được sơ đồ hóa như sau:
Ngữ hệ Nam phương: bao gồm các thứ tiếng vùng Đông Nam Á trong đó có tiếng Việt Về mặt vị trí, ngữ hệ này bắt đầu từ vùng phía nam sông Trường Giang (Trung Quốc) chạy qua vùng núi của cao nguyên Đông Dương đến gần quần đảo Nam Dương (Indonexia) cho đến giáp châu Đại Dương (Oxtraylia) Đây là một ngữ hệ lớn bao gồm hai dòng lớn là Nam Á và Nam Thái Dòng Nam Á có 4 ngành (4 nhánh): Mun đa, Nahali, Nicô ba, Môn – Khơ me Trong 4 ngành này, ngành Môn - Khơ me là quan trọng gồm nhóm Khơ me (Tây Ninh), Ba na (Tây Nguyên), Ka tu, Khơ mú và nhóm Việt Mường sau đó Việt Mường lại được tách thành tiếng Việt và tiếng Mường: Mường Bắc và Mường Trung, tiếng Việt cùng với các thứ tiếng Boong, Chứt, tày, Thái, Thà vựng
Mỗi ngữ hệ thường được biểu diễn dưới dạng sơ đồ hình cây Với ngữ hệ Nam Phương, sơ đồ này được nhà nghiên cứu M Ferlus biểu diễn như sau (theo sách Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, tác giả Mai Ngọc Chừ):
Trang 29Môn - Khơme Pear - Mường
Việt – Mường - Mường Khơ mú (Úy lô) Palong
Khasi Các ngôn ngữ khác (Mang, - Pọng, Thổ
Môn - Khơme Pear - Mường
Việt – Mường - Mường Khơ mú (Úy lô) Palong
Khasi Các ngôn ngữ khác (Mang, - Pọng, Thổ
- Việt
- Nguồn
Môn - Mường Khơme (bắc) Môn - Khơme Pear - Mường
Việt – Mường - Mường Khơ mú (Úy lô) Palong
Khasi Các ngôn ngữ khác (Mang, - Pọng, Thổ
- Việt
- Nguồn
Môn - Mường Khơme (bắc) Môn - Khơme Pear - Mường
Việt – Mường - Mường Khơ mú (Úy lô) Palong
Khasi Các ngôn ngữ khác (Mang, - Pọng, Thổ
Mrabri) - Chứt
- Patakan
- Phôn- soung
- Thà vựng
Trang 30Hệ thống bao gồm tổng thể các yếu tố có quan hệ qua lại, quy định lẫn nhau
Cần chú ý đến hai phương diện:
Hệ thống phải bao gồm ít nhất là hai yếu tố Nếu chỉ có 1 yếu tố thì không tạo
thành hệ thống
Các yếu tố có quan hệ qua lại, tác động và quy định lẫn nhau và tổ chức thành
một chỉnh thể
1.3.3.2 Hệ thống ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một tổng thể bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ qua lại với nhau
Các yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ chính là các đơn vị ngôn ngữ
a Âm vị: yếu tố nhỏ nhất trong hệ thống ngôn ngữ
Ví dụ : [b], [v],…
Âm vị là đơn vị âm thanh nhỏ nhất có giá trị phân biệt nghĩa và cấu tạo nên mặt
biểu đạt cho các đơn vị ngôn ngữ khác
Ví dụ: tân # tâm vì tân = t + â + n và tâm = t + â + m
Toàn bộ các âm vị của một ngôn ngữ tạo thành hệ thống âm vị Hệ thống này
tạo nên một cấp độ trong hệ thống ngôn ngữ là cấp độ âm vị
b Hình vị: là yếu tố ở cấp độ cao hơn sau âm vị, hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất
có nghĩa dùng để cấu tạo từ và biến đổi từ ví dụ: xe đạp gồm hai hình vị là xe và đạp
c Từ là chuỗi kết hợp của một hoặc một vài hình vị mang chức năng gọi tên và ngữ
nghĩa Ví dụ: nhà, con lợn, ghế,… Từ được phân chia thành nhiều loại khác nhau, xét
theo các tiêu chí, chẳng hạn:
Xét về mặt cấu tạo: từ đơn, từ phức (từ láy, từ ghép)
Xét về mặt ý nghĩa: từ một nghĩa, từ đồng nghĩa,…
Xét về mặt ngữ pháp: danh từ, động từ, tính từ, quan hệ từ, phụ từ, tình thái từ,
đại từ, số từ
Xét về mặt phạm vi sử dụng: từ toàn dân, từ địa phương
Xét về nguồn gốc: từ thuần Việt, từ vay mượn
d Cụm từ: là đơn vị trung gian giữa từ và câu, bao gồm một hoặc một số từ kết hợp
với nhau theo những quan hệ ngữ pháp, ngữ nghĩa nhất định Cụm từ gồm hai loại là
cụm từ cố định và cụm từ tự do
e Câu: Câu là chuỗi kết hợp của một hay nhiều từ, chức năng của nó là thông báo
Câu được chia thành nhiều loại khác nhau:
Xét theo mục đích nói, câu được chia thành bốn loại: câu trần thuật, câu nghi
vấn, câu cầu khiến và câu cảm thán
Xét theo cấu tạo, câu được chia thành: câu đơn, câu phức và câu ghép
Hệ thống bao gồm tổng thể các yếu tố có quan hệ qua lại, quy định lẫn nhau
Cần chú ý đến hai phương diện:
Hệ thống phải bao gồm ít nhất là hai yếu tố Nếu chỉ có 1 yếu tố thì không tạo
thành hệ thống
Các yếu tố có quan hệ qua lại, tác động và quy định lẫn nhau và tổ chức thành
một chỉnh thể
1.3.3.2 Hệ thống ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một tổng thể bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ qua lại với nhau
Các yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ chính là các đơn vị ngôn ngữ
a Âm vị: yếu tố nhỏ nhất trong hệ thống ngôn ngữ
Ví dụ : [b], [v],…
Âm vị là đơn vị âm thanh nhỏ nhất có giá trị phân biệt nghĩa và cấu tạo nên mặt
biểu đạt cho các đơn vị ngôn ngữ khác
Ví dụ: tân # tâm vì tân = t + â + n và tâm = t + â + m
Toàn bộ các âm vị của một ngôn ngữ tạo thành hệ thống âm vị Hệ thống này
tạo nên một cấp độ trong hệ thống ngôn ngữ là cấp độ âm vị
b Hình vị: là yếu tố ở cấp độ cao hơn sau âm vị, hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất
có nghĩa dùng để cấu tạo từ và biến đổi từ ví dụ: xe đạp gồm hai hình vị là xe và đạp
c Từ là chuỗi kết hợp của một hoặc một vài hình vị mang chức năng gọi tên và ngữ
nghĩa Ví dụ: nhà, con lợn, ghế,… Từ được phân chia thành nhiều loại khác nhau, xét
theo các tiêu chí, chẳng hạn:
Xét về mặt cấu tạo: từ đơn, từ phức (từ láy, từ ghép)
Xét về mặt ý nghĩa: từ một nghĩa, từ đồng nghĩa,…
Xét về mặt ngữ pháp: danh từ, động từ, tính từ, quan hệ từ, phụ từ, tình thái từ,
đại từ, số từ
Xét về mặt phạm vi sử dụng: từ toàn dân, từ địa phương
Xét về nguồn gốc: từ thuần Việt, từ vay mượn
d Cụm từ: là đơn vị trung gian giữa từ và câu, bao gồm một hoặc một số từ kết hợp
với nhau theo những quan hệ ngữ pháp, ngữ nghĩa nhất định Cụm từ gồm hai loại là
cụm từ cố định và cụm từ tự do
e Câu: Câu là chuỗi kết hợp của một hay nhiều từ, chức năng của nó là thông báo
Câu được chia thành nhiều loại khác nhau:
Xét theo mục đích nói, câu được chia thành bốn loại: câu trần thuật, câu nghi
vấn, câu cầu khiến và câu cảm thán
Xét theo cấu tạo, câu được chia thành: câu đơn, câu phức và câu ghép
Ví dụ: tân # tâm vì tân = t + â + n và tâm = t + â + m
Toàn bộ các âm vị của một ngôn ngữ tạo thành hệ thống âm vị Hệ thống này tạo nên một cấp độ trong hệ thống ngôn ngữ là cấp độ âm vị
b Hình vị: là yếu tố ở cấp độ cao hơn sau âm vị, hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất
có nghĩa dùng để cấu tạo từ và biến đổi từ ví dụ: xe đạp gồm hai hình vị là xe và đạp
c Từ là chuỗi kết hợp của một hoặc một vài hình vị mang chức năng gọi tên và ngữ nghĩa Ví dụ: nhà, con lợn, ghế,… Từ được phân chia thành nhiều loại khác nhau, xét theo các tiêu chí, chẳng hạn:
Xét về mặt cấu tạo: từ đơn, từ phức (từ láy, từ ghép)
Xét về mặt ý nghĩa: từ một nghĩa, từ đồng nghĩa,…
Xét về mặt ngữ pháp: danh từ, động từ, tính từ, quan hệ từ, phụ từ, tình thái từ, đại từ, số từ
Xét về mặt phạm vi sử dụng: từ toàn dân, từ địa phương
Xét về nguồn gốc: từ thuần Việt, từ vay mượn
d Cụm từ: là đơn vị trung gian giữa từ và câu, bao gồm một hoặc một số từ kết hợp với nhau theo những quan hệ ngữ pháp, ngữ nghĩa nhất định Cụm từ gồm hai loại là cụm từ cố định và cụm từ tự do
e Câu: Câu là chuỗi kết hợp của một hay nhiều từ, chức năng của nó là thông báo Câu được chia thành nhiều loại khác nhau:
Xét theo mục đích nói, câu được chia thành bốn loại: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến và câu cảm thán
Xét theo cấu tạo, câu được chia thành: câu đơn, câu phức và câu ghép
Ví dụ: tân # tâm vì tân = t + â + n và tâm = t + â + m
Toàn bộ các âm vị của một ngôn ngữ tạo thành hệ thống âm vị Hệ thống này tạo nên một cấp độ trong hệ thống ngôn ngữ là cấp độ âm vị
b Hình vị: là yếu tố ở cấp độ cao hơn sau âm vị, hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất
có nghĩa dùng để cấu tạo từ và biến đổi từ ví dụ: xe đạp gồm hai hình vị là xe và đạp
c Từ là chuỗi kết hợp của một hoặc một vài hình vị mang chức năng gọi tên và ngữ nghĩa Ví dụ: nhà, con lợn, ghế,… Từ được phân chia thành nhiều loại khác nhau, xét theo các tiêu chí, chẳng hạn:
Xét về mặt cấu tạo: từ đơn, từ phức (từ láy, từ ghép)
Xét về mặt ý nghĩa: từ một nghĩa, từ đồng nghĩa,…
Xét về mặt ngữ pháp: danh từ, động từ, tính từ, quan hệ từ, phụ từ, tình thái từ, đại từ, số từ
Xét về mặt phạm vi sử dụng: từ toàn dân, từ địa phương
Xét về nguồn gốc: từ thuần Việt, từ vay mượn
d Cụm từ: là đơn vị trung gian giữa từ và câu, bao gồm một hoặc một số từ kết hợp với nhau theo những quan hệ ngữ pháp, ngữ nghĩa nhất định Cụm từ gồm hai loại là cụm từ cố định và cụm từ tự do
e Câu: Câu là chuỗi kết hợp của một hay nhiều từ, chức năng của nó là thông báo Câu được chia thành nhiều loại khác nhau:
Xét theo mục đích nói, câu được chia thành bốn loại: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến và câu cảm thán
Xét theo cấu tạo, câu được chia thành: câu đơn, câu phức và câu ghép
Trang 3130
1.3.3.3 Các quan hệ của các yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ:
a Quan hệ câp độ (cấp bậc, tầng bậc):
Các yếu tố ngôn ngữ nằm ở các cấp độ khác nhau Quan hệ cấp độ của chúng
được thể hiện ở chỗ: yếu tố ở cấp độ cao luôn luôn bao hàm các yếu tố ở cấp độ thấp
hơn Ngược lại các yếu tố ở cấp độ thấp hơn luôn nằm trong thành phần của các yếu tố
thuộc cấp cao hơn và là thành tố tạo nên yếu tố ở cấp độ cao hơn Quan hệ cấp độ bao
gồm quan hệ giữa các yếu tố nằm ở các cấp độ khác nhau và quan hệ giữa các cấp độ
Ví dụ:
Ngôi nhà này rất đẹp: cấp độ câu
Trong câu có các cụm từ: Ngôi nhà này – rất đẹp: cấp độ cụm từ
Trong các cụm từ chứa các từ: ngôi nhà – này – rất – đẹp
Trong các cụm từ chứa các hình vị: ngôi – nhà – này – rất – đẹp
Trong các hình vị chứa các âm vị: ngôi = ng + ô + i, nhà = nha = a,…
Đi từ thấp đến cao thì âm vị tạo nên các hình vị, hình vị tạo nên từ, các từ tạo nên các
cụm từ và các câu, các câu tạo nên các đoạn văn và các văn bản
Tuy nhiên vẫn có trường hợp một đơn vị cấp trên chỉ bao gồm một đơn vị của cấp
dưới Ví dụ từ chỉ có một hình vị: ăn, uống, chạy,… Câu chỉ có một từ: Mưa! Lúc này,
đơn vị ở cấp dưới đã thực hiện chức năng của đơn vị ở cấp trên
b Quan hệ ngữ đoạn (tuyến tính, hàng ngang)
Quan hệ ngữ đoạn là quan hệ giữa các yếu tố ngôn ngữ khi kết hợp với nhau
thành một chuỗi Nó được hình thành trên cơ sở đặc tính hình tuyến của ngôn ngữ Các
yếu tố ngôn ngữ khi kế tiếp nhau trong chuỗi hình tuyến thì nằm trong quan hệ ngữ
đoạn với nhau
Ngôi nhà kia quá vững chắc
Ngôi nhà kia – quá vững chắc (cụm – cụm)
Ngôi nhà – kia – quá – vững chắc (từ - từ)
Ngôi – nhà – kia – quá – vững – chắc (hình vị - hình vị)
Các yếu tố ngôn ngữ nằm ở các cấp độ khác nhau Quan hệ cấp độ của chúng
được thể hiện ở chỗ: yếu tố ở cấp độ cao luôn luôn bao hàm các yếu tố ở cấp độ thấp
hơn Ngược lại các yếu tố ở cấp độ thấp hơn luôn nằm trong thành phần của các yếu tố
thuộc cấp cao hơn và là thành tố tạo nên yếu tố ở cấp độ cao hơn Quan hệ cấp độ bao
gồm quan hệ giữa các yếu tố nằm ở các cấp độ khác nhau và quan hệ giữa các cấp độ
Ví dụ:
Ngôi nhà này rất đẹp: cấp độ câu
Trong câu có các cụm từ: Ngôi nhà này – rất đẹp: cấp độ cụm từ
Trong các cụm từ chứa các từ: ngôi nhà – này – rất – đẹp
Trong các cụm từ chứa các hình vị: ngôi – nhà – này – rất – đẹp
Trong các hình vị chứa các âm vị: ngôi = ng + ô + i, nhà = nha = a,…
Đi từ thấp đến cao thì âm vị tạo nên các hình vị, hình vị tạo nên từ, các từ tạo nên các
cụm từ và các câu, các câu tạo nên các đoạn văn và các văn bản
Tuy nhiên vẫn có trường hợp một đơn vị cấp trên chỉ bao gồm một đơn vị của cấp
dưới Ví dụ từ chỉ có một hình vị: ăn, uống, chạy,… Câu chỉ có một từ: Mưa! Lúc này,
đơn vị ở cấp dưới đã thực hiện chức năng của đơn vị ở cấp trên
b Quan hệ ngữ đoạn (tuyến tính, hàng ngang)
Quan hệ ngữ đoạn là quan hệ giữa các yếu tố ngôn ngữ khi kết hợp với nhau
thành một chuỗi Nó được hình thành trên cơ sở đặc tính hình tuyến của ngôn ngữ Các
yếu tố ngôn ngữ khi kế tiếp nhau trong chuỗi hình tuyến thì nằm trong quan hệ ngữ
đoạn với nhau
Ngôi nhà kia quá vững chắc
Ngôi nhà kia – quá vững chắc (cụm – cụm)
Ngôi nhà – kia – quá – vững chắc (từ - từ)
Ngôi – nhà – kia – quá – vững – chắc (hình vị - hình vị)
Ví dụ:
Ngôi nhà này rất đẹp: cấp độ câu
Trong câu có các cụm từ: Ngôi nhà này – rất đẹp: cấp độ cụm từ
Trong các cụm từ chứa các từ: ngôi nhà – này – rất – đẹp Trong các cụm từ chứa các hình vị: ngôi – nhà – này – rất – đẹp Trong các hình vị chứa các âm vị: ngôi = ng + ô + i, nhà = nha = a,…
Đi từ thấp đến cao thì âm vị tạo nên các hình vị, hình vị tạo nên từ, các từ tạo nên các cụm từ và các câu, các câu tạo nên các đoạn văn và các văn bản
Tuy nhiên vẫn có trường hợp một đơn vị cấp trên chỉ bao gồm một đơn vị của cấp
dưới Ví dụ từ chỉ có một hình vị: ăn, uống, chạy,… Câu chỉ có một từ: Mưa! Lúc này,
đơn vị ở cấp dưới đã thực hiện chức năng của đơn vị ở cấp trên
b Quan hệ ngữ đoạn (tuyến tính, hàng ngang)
Quan hệ ngữ đoạn là quan hệ giữa các yếu tố ngôn ngữ khi kết hợp với nhau thành một chuỗi Nó được hình thành trên cơ sở đặc tính hình tuyến của ngôn ngữ Các yếu tố ngôn ngữ khi kế tiếp nhau trong chuỗi hình tuyến thì nằm trong quan hệ ngữ đoạn với nhau
Ví dụ:
Con chó này đẹp
Quan hệ ngữ đoạn:
con chó này – rất đẹp (cụm – cụm) con chó – này – rất – đẹp (từ - từ) con – chó – này – rất – đẹp (hình vị - hình vị)
Ngôi nhà kia quá vững chắc
Ngôi nhà kia – quá vững chắc (cụm – cụm) Ngôi nhà – kia – quá – vững chắc (từ - từ) Ngôi – nhà – kia – quá – vững – chắc (hình vị - hình vị)
Ví dụ:
Ngôi nhà này rất đẹp: cấp độ câu
Trong câu có các cụm từ: Ngôi nhà này – rất đẹp: cấp độ cụm từ
Trong các cụm từ chứa các từ: ngôi nhà – này – rất – đẹp Trong các cụm từ chứa các hình vị: ngôi – nhà – này – rất – đẹp Trong các hình vị chứa các âm vị: ngôi = ng + ô + i, nhà = nha = a,…
Đi từ thấp đến cao thì âm vị tạo nên các hình vị, hình vị tạo nên từ, các từ tạo nên các cụm từ và các câu, các câu tạo nên các đoạn văn và các văn bản
Tuy nhiên vẫn có trường hợp một đơn vị cấp trên chỉ bao gồm một đơn vị của cấp
dưới Ví dụ từ chỉ có một hình vị: ăn, uống, chạy,… Câu chỉ có một từ: Mưa! Lúc này,
đơn vị ở cấp dưới đã thực hiện chức năng của đơn vị ở cấp trên
b Quan hệ ngữ đoạn (tuyến tính, hàng ngang)
Quan hệ ngữ đoạn là quan hệ giữa các yếu tố ngôn ngữ khi kết hợp với nhau thành một chuỗi Nó được hình thành trên cơ sở đặc tính hình tuyến của ngôn ngữ Các yếu tố ngôn ngữ khi kế tiếp nhau trong chuỗi hình tuyến thì nằm trong quan hệ ngữ đoạn với nhau
Ví dụ:
Con chó này đẹp
Quan hệ ngữ đoạn:
con chó này – rất đẹp (cụm – cụm) con chó – này – rất – đẹp (từ - từ) con – chó – này – rất – đẹp (hình vị - hình vị)
Ngôi nhà kia quá vững chắc
Ngôi nhà kia – quá vững chắc (cụm – cụm) Ngôi nhà – kia – quá – vững chắc (từ - từ) Ngôi – nhà – kia – quá – vững – chắc (hình vị - hình vị)
ng – ô – i
nh – a
k – ie
Trang 32Những yếu tố ngôn ngữ đi liền nhau nhưng không trực tiếp tạo thành các đơn vị
ngôn ngữ ở cấp độ cao hơn thì không có quan hệ ngữ đoạn với nhau
c Quan hệ liên tưởng (quan hệ hàng dọc, quan hệ hệ hình)
Quan hệ liên tưởng là quan hệ giữa các yếu tố ngôn ngữ không cùng hiện diện
với nhau nhưng có những thuộc tính nào đó giống nhau do đó dễ gợi ra những sự liên
tưởng đối với nhau và về nguyên tắc chúng có thể thay thế được cho nhau ở cùng một
vị trí trong chuỗi hình tuyến của ngôn ngữ
Tại vị trí của từ nó có thể thay bằng các danh từ hoặc các đại từ khác: anh, em,
Lan, chúng nó… để đảm nhận vai trò chủ ngữ của câu Và đi chơi có thể thay bằng các
động từ khác: đi làm, đi nhảy, đi ngủ,…
Các yếu tố có quan hệ liên tưởng với nhau có thể biểu diễn trên một trục dọc
còn các yếu tố có quan hệ ngữ đoạn thì biểu diễn trên một trục ngang
Các yếu tố nằm trong quan hệ liên tưởng có thể thay thế cho nhau và cùng
thuộc về một loại, một hệ thống nhỏ (về ngữ âm, ngữ pháp hoặc ngữ nghĩa) Do đó,
quan hệ liên tưởng là cơ sở cho sự lựa chọn yếu tố khi sử dụng và là cơ sở cho sự phân
loại các yếu tố trong nghiên cứu
Quan hệ hàng ngang (tuyến tính) và quan hệ hàng dọc (liên tưởng) được thể
hiện trên hai trục:
Những yếu tố ngôn ngữ đi liền nhau nhưng không trực tiếp tạo thành các đơn vị
ngôn ngữ ở cấp độ cao hơn thì không có quan hệ ngữ đoạn với nhau
c Quan hệ liên tưởng (quan hệ hàng dọc, quan hệ hệ hình)
Quan hệ liên tưởng là quan hệ giữa các yếu tố ngôn ngữ không cùng hiện diện
với nhau nhưng có những thuộc tính nào đó giống nhau do đó dễ gợi ra những sự liên
tưởng đối với nhau và về nguyên tắc chúng có thể thay thế được cho nhau ở cùng một
vị trí trong chuỗi hình tuyến của ngôn ngữ
Tại vị trí của từ nó có thể thay bằng các danh từ hoặc các đại từ khác: anh, em,
Lan, chúng nó… để đảm nhận vai trò chủ ngữ của câu Và đi chơi có thể thay bằng các
động từ khác: đi làm, đi nhảy, đi ngủ,…
Các yếu tố có quan hệ liên tưởng với nhau có thể biểu diễn trên một trục dọc
còn các yếu tố có quan hệ ngữ đoạn thì biểu diễn trên một trục ngang
Các yếu tố nằm trong quan hệ liên tưởng có thể thay thế cho nhau và cùng
thuộc về một loại, một hệ thống nhỏ (về ngữ âm, ngữ pháp hoặc ngữ nghĩa) Do đó,
quan hệ liên tưởng là cơ sở cho sự lựa chọn yếu tố khi sử dụng và là cơ sở cho sự phân
loại các yếu tố trong nghiên cứu
Quan hệ hàng ngang (tuyến tính) và quan hệ hàng dọc (liên tưởng) được thể
hiện trên hai trục:
c Quan hệ liên tưởng (quan hệ hàng dọc, quan hệ hệ hình)
Quan hệ liên tưởng là quan hệ giữa các yếu tố ngôn ngữ không cùng hiện diện với nhau nhưng có những thuộc tính nào đó giống nhau do đó dễ gợi ra những sự liên tưởng đối với nhau và về nguyên tắc chúng có thể thay thế được cho nhau ở cùng một
vị trí trong chuỗi hình tuyến của ngôn ngữ
Tại vị trí của từ nó có thể thay bằng các danh từ hoặc các đại từ khác: anh, em,
Lan, chúng nó… để đảm nhận vai trò chủ ngữ của câu Và đi chơi có thể thay bằng các
động từ khác: đi làm, đi nhảy, đi ngủ,…
Các yếu tố có quan hệ liên tưởng với nhau có thể biểu diễn trên một trục dọc còn các yếu tố có quan hệ ngữ đoạn thì biểu diễn trên một trục ngang
Các yếu tố nằm trong quan hệ liên tưởng có thể thay thế cho nhau và cùng thuộc về một loại, một hệ thống nhỏ (về ngữ âm, ngữ pháp hoặc ngữ nghĩa) Do đó, quan hệ liên tưởng là cơ sở cho sự lựa chọn yếu tố khi sử dụng và là cơ sở cho sự phân loại các yếu tố trong nghiên cứu
Quan hệ hàng ngang (tuyến tính) và quan hệ hàng dọc (liên tưởng) được thể hiện trên hai trục:
c Quan hệ liên tưởng (quan hệ hàng dọc, quan hệ hệ hình)
Quan hệ liên tưởng là quan hệ giữa các yếu tố ngôn ngữ không cùng hiện diện với nhau nhưng có những thuộc tính nào đó giống nhau do đó dễ gợi ra những sự liên tưởng đối với nhau và về nguyên tắc chúng có thể thay thế được cho nhau ở cùng một
vị trí trong chuỗi hình tuyến của ngôn ngữ
Tại vị trí của từ nó có thể thay bằng các danh từ hoặc các đại từ khác: anh, em,
Lan, chúng nó… để đảm nhận vai trò chủ ngữ của câu Và đi chơi có thể thay bằng các
động từ khác: đi làm, đi nhảy, đi ngủ,…
Các yếu tố có quan hệ liên tưởng với nhau có thể biểu diễn trên một trục dọc còn các yếu tố có quan hệ ngữ đoạn thì biểu diễn trên một trục ngang
Các yếu tố nằm trong quan hệ liên tưởng có thể thay thế cho nhau và cùng thuộc về một loại, một hệ thống nhỏ (về ngữ âm, ngữ pháp hoặc ngữ nghĩa) Do đó, quan hệ liên tưởng là cơ sở cho sự lựa chọn yếu tố khi sử dụng và là cơ sở cho sự phân loại các yếu tố trong nghiên cứu
Quan hệ hàng ngang (tuyến tính) và quan hệ hàng dọc (liên tưởng) được thể hiện trên hai trục:
Trục ngang
Trục dọc
Trang 3332
Tóm lại, toàn bộ hoạt động của hệ thống ngôn ngữ được thể hiện ở ba quan hệ:
cấp độ, tuyến tính và quan hệ liên tưởng Chính các quan hệ này đã tạo nên mối quan
hệ chặt chẽ giữa các yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ Các quan hệ trong hệ thống ngôn
ngữ đã tạo nên một mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố Nhìn vào mối quan hệ
giữa các yếu tố trong hệ thống có thể nhận thức được nhiều vấn đề mang tính then chốt
trong hệ thống ngôn ngữ Hệ thống ngôn ngữ được xem là đầy phức tạp Vì vậy khi
nhìn nhận các vấn đề của ngôn ngư trong tương quan cũng như mối quan hệ của
chúng, các nhà nghiên cứu sẽ dần cải thiện vấn đề này rõ hơn Để từ đó người đọc,
người nghe có thể hiểu hơn về bản chất của chính các hệ giữa các yếu tố trong hệ
thống ấy
Bài tập
1 Phân tích và cho ví dụ về các quan hệ trong hệ thống ngôn ngữ
2 Phân tích quan hệ tuyến tính của các đơn vị ngôn ngữ trong bài thơ “Cây dừa”:
Cây dừa xanh tỏa nhiều tàu
Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng
Thân dừa bạc phếch tháng năm
Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao
Đêm hè hoa nở cùng sao
Tàu dừa – chiếc lược chải vào mây xanh
Ai mang nước ngọt, nước lành
Ai đeo bao hũ rượu quanh cổ dừa
Tiếng dừa làm dịu nắng trưa
Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo
Trời trong đầy tiếng rì rào
Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra
Đứng canh trời đất bao la
Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi
(Trần Đăng Khoa)
3 Phân tích quan hệ cấp bậc trong bài thơ “Tiếng ru”:
Con ong làm mật yêu hoa
Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời
Con người muốn sống, con ơi
Phải yêu đồng chí, yêu người anh em
Một ngôi sao, chẳng sáng đêm
Một thân lúa chín, chẳng nên mùa vàng
Tóm lại, toàn bộ hoạt động của hệ thống ngôn ngữ được thể hiện ở ba quan hệ:
cấp độ, tuyến tính và quan hệ liên tưởng Chính các quan hệ này đã tạo nên mối quan
hệ chặt chẽ giữa các yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ Các quan hệ trong hệ thống ngôn
ngữ đã tạo nên một mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố Nhìn vào mối quan hệ
giữa các yếu tố trong hệ thống có thể nhận thức được nhiều vấn đề mang tính then chốt
trong hệ thống ngôn ngữ Hệ thống ngôn ngữ được xem là đầy phức tạp Vì vậy khi
nhìn nhận các vấn đề của ngôn ngư trong tương quan cũng như mối quan hệ của
chúng, các nhà nghiên cứu sẽ dần cải thiện vấn đề này rõ hơn Để từ đó người đọc,
người nghe có thể hiểu hơn về bản chất của chính các hệ giữa các yếu tố trong hệ
thống ấy
Bài tập
1 Phân tích và cho ví dụ về các quan hệ trong hệ thống ngôn ngữ
2 Phân tích quan hệ tuyến tính của các đơn vị ngôn ngữ trong bài thơ “Cây dừa”:
Cây dừa xanh tỏa nhiều tàu
Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng
Thân dừa bạc phếch tháng năm
Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao
Đêm hè hoa nở cùng sao
Tàu dừa – chiếc lược chải vào mây xanh
Ai mang nước ngọt, nước lành
Ai đeo bao hũ rượu quanh cổ dừa
Tiếng dừa làm dịu nắng trưa
Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo
Trời trong đầy tiếng rì rào
Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra
Đứng canh trời đất bao la
Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi
(Trần Đăng Khoa)
3 Phân tích quan hệ cấp bậc trong bài thơ “Tiếng ru”:
Con ong làm mật yêu hoa
Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời
Con người muốn sống, con ơi
Phải yêu đồng chí, yêu người anh em
Một ngôi sao, chẳng sáng đêm
Một thân lúa chín, chẳng nên mùa vàng
Bài tập
1 Phân tích và cho ví dụ về các quan hệ trong hệ thống ngôn ngữ
2 Phân tích quan hệ tuyến tính của các đơn vị ngôn ngữ trong bài thơ “Cây dừa”:
Cây dừa xanh tỏa nhiều tàu Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng Thân dừa bạc phếch tháng năm Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao
Đêm hè hoa nở cùng sao Tàu dừa – chiếc lược chải vào mây xanh
Ai mang nước ngọt, nước lành
Ai đeo bao hũ rượu quanh cổ dừa
Tiếng dừa làm dịu nắng trưa Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo Trời trong đầy tiếng rì rào Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra
Đứng canh trời đất bao la
Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi
(Trần Đăng Khoa)
3 Phân tích quan hệ cấp bậc trong bài thơ “Tiếng ru”:
Con ong làm mật yêu hoa Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời Con người muốn sống, con ơi Phải yêu đồng chí, yêu người anh em
Một ngôi sao, chẳng sáng đêm Một thân lúa chín, chẳng nên mùa vàng
Tóm lại, toàn bộ hoạt động của hệ thống ngôn ngữ được thể hiện ở ba quan hệ: cấp độ, tuyến tính và quan hệ liên tưởng Chính các quan hệ này đã tạo nên mối quan
hệ chặt chẽ giữa các yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ Các quan hệ trong hệ thống ngôn ngữ đã tạo nên một mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố Nhìn vào mối quan hệ giữa các yếu tố trong hệ thống có thể nhận thức được nhiều vấn đề mang tính then chốt trong hệ thống ngôn ngữ Hệ thống ngôn ngữ được xem là đầy phức tạp Vì vậy khi nhìn nhận các vấn đề của ngôn ngư trong tương quan cũng như mối quan hệ của chúng, các nhà nghiên cứu sẽ dần cải thiện vấn đề này rõ hơn Để từ đó người đọc, người nghe có thể hiểu hơn về bản chất của chính các hệ giữa các yếu tố trong hệ thống ấy
Bài tập
1 Phân tích và cho ví dụ về các quan hệ trong hệ thống ngôn ngữ
2 Phân tích quan hệ tuyến tính của các đơn vị ngôn ngữ trong bài thơ “Cây dừa”:
Cây dừa xanh tỏa nhiều tàu Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng Thân dừa bạc phếch tháng năm Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao
Đêm hè hoa nở cùng sao Tàu dừa – chiếc lược chải vào mây xanh
Ai mang nước ngọt, nước lành
Ai đeo bao hũ rượu quanh cổ dừa
Tiếng dừa làm dịu nắng trưa Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo Trời trong đầy tiếng rì rào Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra
Đứng canh trời đất bao la
Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi
(Trần Đăng Khoa)
3 Phân tích quan hệ cấp bậc trong bài thơ “Tiếng ru”:
Con ong làm mật yêu hoa Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời Con người muốn sống, con ơi Phải yêu đồng chí, yêu người anh em
Một ngôi sao, chẳng sáng đêm Một thân lúa chín, chẳng nên mùa vàng
Trang 3433
Một người – đâu phải nhân gian?
Sống chăng một đốm lửa tàn mà thôi!
Núi cao bởi có đất bồi
Núi chê đất thấp, núi ngồi ở đâu?
Muôn dòng sông đổ biển sâu
Biển chê sông nhỏ, biển đâu nước còn?
(Tố Hữu)
4 Phân tích các đơn vị của hệ thống ngôn ngữ trong đoạn thơ sau:
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Ðêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về!
Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu
Từ những năm đau thương chiến đấu
Ðã ngời lên nét mặt quê hương
Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu
Ðã bật lên những tiếng căm hờn
(trích “Đất nước” – Nguyễn Đình Thi)
5 Chứng minh về mối quan hệ giữa hai trục dọc và ngang trong hệ thống ngôn
ngữ và cho ví dụ
6 Chứng minh đặc điểm của hệ thống ngôn ngữ qua bài thơ “Tre Việt Nam”:
Tre xanh
Xanh tự bao giờ?
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh
Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu
Có gì đâu, có gì đâu
Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều
Rễ siêng không ngại đất nghèo
Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù
Vươn mình trong gió tre đu
Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành
Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh
Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm
Một người – đâu phải nhân gian?
Sống chăng một đốm lửa tàn mà thôi!
Núi cao bởi có đất bồi
Núi chê đất thấp, núi ngồi ở đâu?
Muôn dòng sông đổ biển sâu
Biển chê sông nhỏ, biển đâu nước còn?
(Tố Hữu)
4 Phân tích các đơn vị của hệ thống ngôn ngữ trong đoạn thơ sau:
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Ðêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về!
Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu
Từ những năm đau thương chiến đấu
Ðã ngời lên nét mặt quê hương
Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu
Ðã bật lên những tiếng căm hờn
(trích “Đất nước” – Nguyễn Đình Thi)
5 Chứng minh về mối quan hệ giữa hai trục dọc và ngang trong hệ thống ngôn
ngữ và cho ví dụ
6 Chứng minh đặc điểm của hệ thống ngôn ngữ qua bài thơ “Tre Việt Nam”:
Tre xanh
Xanh tự bao giờ?
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh
Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu
Có gì đâu, có gì đâu
Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều
Rễ siêng không ngại đất nghèo
Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù
Vươn mình trong gió tre đu
Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành
Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh
Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm
33
Một người – đâu phải nhân gian?
Sống chăng một đốm lửa tàn mà thôi!
Núi cao bởi có đất bồi Núi chê đất thấp, núi ngồi ở đâu?
Muôn dòng sông đổ biển sâu Biển chê sông nhỏ, biển đâu nước còn?
(Tố Hữu)
4 Phân tích các đơn vị của hệ thống ngôn ngữ trong đoạn thơ sau:
Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất Ðêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về!
Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu
Từ những năm đau thương chiến đấu
Ðã ngời lên nét mặt quê hương
Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu
Ðã bật lên những tiếng căm hờn
(trích “Đất nước” – Nguyễn Đình Thi)
5 Chứng minh về mối quan hệ giữa hai trục dọc và ngang trong hệ thống ngôn ngữ và cho ví dụ
6 Chứng minh đặc điểm của hệ thống ngôn ngữ qua bài thơ “Tre Việt Nam”:
Tre xanh Xanh tự bao giờ?
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?
Ở đâu tre cũng xanh tươi Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu
Có gì đâu, có gì đâu
Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều
Rễ siêng không ngại đất nghèo Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù Vươn mình trong gió tre đu Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm
Một người – đâu phải nhân gian?
Sống chăng một đốm lửa tàn mà thôi!
Núi cao bởi có đất bồi Núi chê đất thấp, núi ngồi ở đâu?
Muôn dòng sông đổ biển sâu Biển chê sông nhỏ, biển đâu nước còn?
(Tố Hữu)
4 Phân tích các đơn vị của hệ thống ngôn ngữ trong đoạn thơ sau:
Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất Ðêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về!
Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu
Từ những năm đau thương chiến đấu
Ðã ngời lên nét mặt quê hương
Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu
Ðã bật lên những tiếng căm hờn
(trích “Đất nước” – Nguyễn Đình Thi)
5 Chứng minh về mối quan hệ giữa hai trục dọc và ngang trong hệ thống ngôn ngữ và cho ví dụ
6 Chứng minh đặc điểm của hệ thống ngôn ngữ qua bài thơ “Tre Việt Nam”:
Tre xanh Xanh tự bao giờ?
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?
Ở đâu tre cũng xanh tươi Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu
Có gì đâu, có gì đâu
Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều
Rễ siêng không ngại đất nghèo Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù Vươn mình trong gió tre đu Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm
Trang 3534
Bão bùng thân bọc lấy thân
Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm
Thương nhau tre không ở riêng
Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người
Chẳng may thân gãy cành rơi
Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng
Nòi tre đâu chịu mọc cong
Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường
Lưng trần phơi nắng phơi sương
Có manh áo cộc tre nhường cho con
Măng non là búp măng non
Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre
Năm qua đi, tháng qua đi
Tre già măng mọc có gì lạ đâu
7 Phân tích các đặc điểm của loại hình ngôn ngữ đơn lập, những ưu điểm và
hạn chế của loại hình ngôn ngữ này Lấy ví dụ chứng minh
8 Những phương thức ngữ đặc trưng của loại hình ngôn ngữ đơn lập được thể
hiện qua câu chuyện “Trí khôn của ta đây” như thế nào:
Một con cọp từ trong rừng đi ra, thấy một anh nông dân cùng một con trâu
đang cày dưới ruộng Trâu cặm cụi đi từng bước, lâu lâu lại bị quất một roi vào
mông Cọp lấy làm ngạc nhiên lắm Ðến trưa, mở cày, Cọp liền đi lại gần Trâu
hỏi:
– Này, trông anh khỏe thế, sao anh lại để cho người đánh đập khổ sở như
vậy?
Trâu trả lời khẽ vào tai Cọp:
– Người tuy nhỏ, nhưng người có trí khôn, anh ạ!
Cọp không hiểu, tò mò hỏi:
– Trí khôn là cái gì? Nó như thế nào?
Trâu không biết giải thích ra sao, đành trả lời qua quýt:
– Trí khôn là trí khôn, chứ còn là cái gì nữa? Muốn biết rõ thì hỏi người ấy!
Cọp thong thả bước lại chỗ anh nông dân và hỏi:
– Trí khôn của anh đâu, cho tôi xem một tí có được không?
Anh nông dân suy nghĩ một lát rồi nói:
Bão bùng thân bọc lấy thân
Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm
Thương nhau tre không ở riêng
Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người
Chẳng may thân gãy cành rơi
Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng
Nòi tre đâu chịu mọc cong
Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường
Lưng trần phơi nắng phơi sương
Có manh áo cộc tre nhường cho con
Măng non là búp măng non
Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre
Năm qua đi, tháng qua đi
Tre già măng mọc có gì lạ đâu
7 Phân tích các đặc điểm của loại hình ngôn ngữ đơn lập, những ưu điểm và
hạn chế của loại hình ngôn ngữ này Lấy ví dụ chứng minh
8 Những phương thức ngữ đặc trưng của loại hình ngôn ngữ đơn lập được thể
hiện qua câu chuyện “Trí khôn của ta đây” như thế nào:
Một con cọp từ trong rừng đi ra, thấy một anh nông dân cùng một con trâu
đang cày dưới ruộng Trâu cặm cụi đi từng bước, lâu lâu lại bị quất một roi vào
mông Cọp lấy làm ngạc nhiên lắm Ðến trưa, mở cày, Cọp liền đi lại gần Trâu
hỏi:
– Này, trông anh khỏe thế, sao anh lại để cho người đánh đập khổ sở như
vậy?
Trâu trả lời khẽ vào tai Cọp:
– Người tuy nhỏ, nhưng người có trí khôn, anh ạ!
Cọp không hiểu, tò mò hỏi:
– Trí khôn là cái gì? Nó như thế nào?
Trâu không biết giải thích ra sao, đành trả lời qua quýt:
– Trí khôn là trí khôn, chứ còn là cái gì nữa? Muốn biết rõ thì hỏi người ấy!
Cọp thong thả bước lại chỗ anh nông dân và hỏi:
– Trí khôn của anh đâu, cho tôi xem một tí có được không?
Anh nông dân suy nghĩ một lát rồi nói:
34
Bão bùng thân bọc lấy thân Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm Thương nhau tre không ở riêng Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người Chẳng may thân gãy cành rơi Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng Nòi tre đâu chịu mọc cong
Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường Lưng trần phơi nắng phơi sương
Có manh áo cộc tre nhường cho con Măng non là búp măng non
Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre Năm qua đi, tháng qua đi
Tre già măng mọc có gì lạ đâu Mai sau,
Mai sau, Mai sau
Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh
– Này, trông anh khỏe thế, sao anh lại để cho người đánh đập khổ sở như vậy?
Trâu trả lời khẽ vào tai Cọp:
– Người tuy nhỏ, nhưng người có trí khôn, anh ạ!
Cọp không hiểu, tò mò hỏi:
– Trí khôn là cái gì? Nó như thế nào?
Trâu không biết giải thích ra sao, đành trả lời qua quýt:
– Trí khôn là trí khôn, chứ còn là cái gì nữa? Muốn biết rõ thì hỏi người ấy! Cọp thong thả bước lại chỗ anh nông dân và hỏi:
– Trí khôn của anh đâu, cho tôi xem một tí có được không?
Anh nông dân suy nghĩ một lát rồi nói:
Bão bùng thân bọc lấy thân Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm Thương nhau tre không ở riêng Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người Chẳng may thân gãy cành rơi Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng Nòi tre đâu chịu mọc cong
Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường Lưng trần phơi nắng phơi sương
Có manh áo cộc tre nhường cho con Măng non là búp măng non
Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre Năm qua đi, tháng qua đi
Tre già măng mọc có gì lạ đâu Mai sau,
Mai sau, Mai sau
Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh
– Này, trông anh khỏe thế, sao anh lại để cho người đánh đập khổ sở như vậy?
Trâu trả lời khẽ vào tai Cọp:
– Người tuy nhỏ, nhưng người có trí khôn, anh ạ!
Cọp không hiểu, tò mò hỏi:
– Trí khôn là cái gì? Nó như thế nào?
Trâu không biết giải thích ra sao, đành trả lời qua quýt:
– Trí khôn là trí khôn, chứ còn là cái gì nữa? Muốn biết rõ thì hỏi người ấy! Cọp thong thả bước lại chỗ anh nông dân và hỏi:
– Trí khôn của anh đâu, cho tôi xem một tí có được không?
Anh nông dân suy nghĩ một lát rồi nói:
Trang 3635
– Trí khôn tôi để ở nhà Ðể tôi về lấy cho anh xem Anh có cần, tôi sẽ cho
anh một ít
Cọp nghe nói, mừng lắm
Anh nông dân toan đi, lại làm như sực nhớ ra điều gì bèn nói:
– Nhưng mà tôi đi khỏi, lỡ anh ăn mất trâu của tôi thì sao?
Cọp đang băn khoăn chưa biết trả lời thế nào thì anh nông dân đã nói tiếp:
– Hay là anh chịu khó để tôi buộc tạm vào gốc cây này cho tôi được yên
tâm
Cọp ưng thuận, anh nông dân bèn lấy dây thừng trói cọp thật chặt vào một
gốc cây Xong anh lấy rơm chất chung quanh Cọp, châm lửa đốt và quát:
– Trí khôn của ta đây! Trí khôn của ta đây!
Trâu thấy vậy thích quá, bò lăn ra mà cười, không may hàm trên va vào đá,
răng gãy không còn chiếc nào
Mãi sau dây thừng cháy đứt, Cọp mới vùng dậy ba chân bốn cẳng chạy
thẳng vào rừng không dám ngoái nhìn lại
Từ đó, cọp sinh ra con nào trên mình cũng có những vằn đen dài, vốn là dấu
tích những vết cháy, còn trâu thì chẳng con nào có răng ở hàm trên cả
9 Tiếng Việt thuộc ngữ hệ nào? Trình bày nguồn gốc của tiếng Việt
10 Có những cách nào để phân chia ngôn ngữ theo nguồn gốc
11 Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập Chứng minh điều này bằng
cách so sánh đối chiếu tiếng Việt – Anh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lê A, Đỗ Xuân Thảo (1995), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb ĐHSP Hà Nội 1
2 Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1992), Cơ sở ngôn ngữ học
và tiếng Việt, Nxb ĐH THCN, Hà Nội
3 Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (1994), Dẫn luận
ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội
4 F de Saussure (1973), Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương, Nxb KHXH, Hà Nội
5 Bùi Minh Toán, Đặng Thị Lanh (2012), Tiếng Việt đại cương – ngữ âm, Nxb ĐHSP
Hà Nội
– Trí khôn tôi để ở nhà Ðể tôi về lấy cho anh xem Anh có cần, tôi sẽ cho
anh một ít
Cọp nghe nói, mừng lắm
Anh nông dân toan đi, lại làm như sực nhớ ra điều gì bèn nói:
– Nhưng mà tôi đi khỏi, lỡ anh ăn mất trâu của tôi thì sao?
Cọp đang băn khoăn chưa biết trả lời thế nào thì anh nông dân đã nói tiếp:
– Hay là anh chịu khó để tôi buộc tạm vào gốc cây này cho tôi được yên
tâm
Cọp ưng thuận, anh nông dân bèn lấy dây thừng trói cọp thật chặt vào một
gốc cây Xong anh lấy rơm chất chung quanh Cọp, châm lửa đốt và quát:
– Trí khôn của ta đây! Trí khôn của ta đây!
Trâu thấy vậy thích quá, bò lăn ra mà cười, không may hàm trên va vào đá,
răng gãy không còn chiếc nào
Mãi sau dây thừng cháy đứt, Cọp mới vùng dậy ba chân bốn cẳng chạy
thẳng vào rừng không dám ngoái nhìn lại
Từ đó, cọp sinh ra con nào trên mình cũng có những vằn đen dài, vốn là dấu
tích những vết cháy, còn trâu thì chẳng con nào có răng ở hàm trên cả
9 Tiếng Việt thuộc ngữ hệ nào? Trình bày nguồn gốc của tiếng Việt
10 Có những cách nào để phân chia ngôn ngữ theo nguồn gốc
11 Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập Chứng minh điều này bằng
cách so sánh đối chiếu tiếng Việt – Anh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lê A, Đỗ Xuân Thảo (1995), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb ĐHSP Hà Nội 1
2 Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1992), Cơ sở ngôn ngữ học
và tiếng Việt, Nxb ĐH THCN, Hà Nội
3 Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (1994), Dẫn luận
ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội
4 F de Saussure (1973), Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương, Nxb KHXH, Hà Nội
5 Bùi Minh Toán, Đặng Thị Lanh (2012), Tiếng Việt đại cương – ngữ âm, Nxb ĐHSP
Anh nông dân toan đi, lại làm như sực nhớ ra điều gì bèn nói:
– Nhưng mà tôi đi khỏi, lỡ anh ăn mất trâu của tôi thì sao?
Cọp đang băn khoăn chưa biết trả lời thế nào thì anh nông dân đã nói tiếp: – Hay là anh chịu khó để tôi buộc tạm vào gốc cây này cho tôi được yên tâm
Cọp ưng thuận, anh nông dân bèn lấy dây thừng trói cọp thật chặt vào một gốc cây Xong anh lấy rơm chất chung quanh Cọp, châm lửa đốt và quát: – Trí khôn của ta đây! Trí khôn của ta đây!
Trâu thấy vậy thích quá, bò lăn ra mà cười, không may hàm trên va vào đá, răng gãy không còn chiếc nào
Mãi sau dây thừng cháy đứt, Cọp mới vùng dậy ba chân bốn cẳng chạy thẳng vào rừng không dám ngoái nhìn lại
Từ đó, cọp sinh ra con nào trên mình cũng có những vằn đen dài, vốn là dấutích những vết cháy, còn trâu thì chẳng con nào có răng ở hàm trên cả
9 Tiếng Việt thuộc ngữ hệ nào? Trình bày nguồn gốc của tiếng Việt
10 Có những cách nào để phân chia ngôn ngữ theo nguồn gốc
11 Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập Chứng minh điều này bằng cách so sánh đối chiếu tiếng Việt – Anh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lê A, Đỗ Xuân Thảo (1995), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb ĐHSP Hà Nội 1
2 Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1992), Cơ sở ngôn ngữ học
và tiếng Việt, Nxb ĐH THCN, Hà Nội
3 Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (1994), Dẫn luận
ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội
4 F de Saussure (1973), Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương, Nxb KHXH, Hà Nội
5 Bùi Minh Toán, Đặng Thị Lanh (2012), Tiếng Việt đại cương – ngữ âm, Nxb ĐHSP
Hà Nội
– Trí khôn tôi để ở nhà Ðể tôi về lấy cho anh xem Anh có cần, tôi sẽ cho anh một ít
Cọp nghe nói, mừng lắm
Anh nông dân toan đi, lại làm như sực nhớ ra điều gì bèn nói:
– Nhưng mà tôi đi khỏi, lỡ anh ăn mất trâu của tôi thì sao?
Cọp đang băn khoăn chưa biết trả lời thế nào thì anh nông dân đã nói tiếp: – Hay là anh chịu khó để tôi buộc tạm vào gốc cây này cho tôi được yên tâm
Cọp ưng thuận, anh nông dân bèn lấy dây thừng trói cọp thật chặt vào một gốc cây Xong anh lấy rơm chất chung quanh Cọp, châm lửa đốt và quát: – Trí khôn của ta đây! Trí khôn của ta đây!
Trâu thấy vậy thích quá, bò lăn ra mà cười, không may hàm trên va vào đá, răng gãy không còn chiếc nào
Mãi sau dây thừng cháy đứt, Cọp mới vùng dậy ba chân bốn cẳng chạy thẳng vào rừng không dám ngoái nhìn lại
Từ đó, cọp sinh ra con nào trên mình cũng có những vằn đen dài, vốn là dấutích những vết cháy, còn trâu thì chẳng con nào có răng ở hàm trên cả
9 Tiếng Việt thuộc ngữ hệ nào? Trình bày nguồn gốc của tiếng Việt
10 Có những cách nào để phân chia ngôn ngữ theo nguồn gốc
11 Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập Chứng minh điều này bằng cách so sánh đối chiếu tiếng Việt – Anh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lê A, Đỗ Xuân Thảo (1995), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb ĐHSP Hà Nội 1
2 Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1992), Cơ sở ngôn ngữ học
và tiếng Việt, Nxb ĐH THCN, Hà Nội
3 Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (1994), Dẫn luận
ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội
4 F de Saussure (1973), Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương, Nxb KHXH, Hà Nội
5 Bùi Minh Toán, Đặng Thị Lanh (2012), Tiếng Việt đại cương – ngữ âm, Nxb ĐHSP
Hà Nội
Trang 3736
PHẦN 2 NGỮ ÂM HỌC TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI
CHƯƠNG 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ NGỮ ÂM VÀ NGỮ ÂM HỌC
1.1 Âm thanh của ngôn ngữ
1.1.1 Khái niệm ngữ âm
Âm thanh có được là do sự rung động của vật thể học do con người tác động
lực hoặc chính sự vận động của vật thể tạo ra âm thanh (nước chảy, gió thổi,…)
Có hai loại âm thanh:
+ Âm thanh tự nhiên: là âm thanh tồn tại sẵn có trong tự nhiên: mưa, gió,
sấm,…
+ Âm thanh nhân tạo: tiếng trống, kẻng,… Âm thanh nhân tạo bao giờ cũng gắn
với một chức năng, công dụng nhất định trong đời sống xã hội loài người
Trong âm thanh nhân tạo có một âm thanh đặc biệt do con người tạo ra được
dùng để giao tiếp giữa các thành viên trong cộng đồng đó là âm thanh ngôn ngữ Âm
thanh ngôn ngữ được dùng để tổ chức biểu đạt được gọi là ngữ âm Ngữ âm bao gồm
toàn bộ các âm, các thanh, các kết hợp âm thanh và giọng điệu (ngữ điệu, trọng âm)
nằm trong các từ, các câu của ngôn ngữ Các âm thanh và giọng điệu này có quan hệ
với nhau theo những quy tắc nhất định lập thành cấu trúc ngữ âm của ngôn ngữ
Ngôn ngữ của con người bao giờ cũng là ngôn ngữ thành tiếng Nói đến ngôn
ngữ người ta bao giờ cũng nói đến âm thanh và chữ viết; mỗi mặt có những ưu điểm
riêng bù đắp cho nhau Với âm thanh ngôn ngữ, nó có những ưu điểm sau:
- Âm thanh ngôn ngữ vẫn được sử dụng tất cả các mức độ ánh sáng, vật cản
không cách âm
- Khi con người lao động chân tay vẫn sử dụng được âm thanh ngôn ngữ (vừa
làm, vừa nói)
- Xã hội hiện đại, âm thanh ngôn ngữ lại thêm một giá trị nữa là giữ nguyên vẹn
các đặc điểm đúng giọng, đúng ngữ điệu,…vì nó có thể được ghi âm, được quay video
lại
1.1.2 Mối quan hệ giữa âm và nghĩa trong âm thanh ngôn ngữ
Âm thanh là chất liệu tất yếu của ngôn ngữ Ngoài âm thanh, ngôn ngữ còn cần
phải có ý nghĩa Ngôn ngữ là sự phối hợp giữa âm thanh và ý nghĩa Mối quan hệ giã
âm thanh và ý nghĩa như mối quan hệ giữa hai mặt của một tờ giấy không thể tách rời
(F.de Saussure) Giao tiếp ngôn ngữ tồn tại trong sự thống nhất giữa nói và nghe
Trong một từ hay nói chung một kí hiệu ngôn ngữ bao giờ cũng có hai mặt: cái biểu
đạt và cái được biểu đạt Ví dụ như từ cây, cái được biểu đạt không phải là một cái cây
cụ thể nào mà là một khái niệm cây, cái biểu đạt cũng không phải một âm thanh cụ thể
nào của một cá nhân mà là một âm thanh khái quát, tức là một hình ảnh âm học (Đoàn
Thiện Thuật (2000), Ngữ âm tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr13) và ở đây
ta tạm dùng chữ viết để ghi lại là cây
Trong giao tiếp bằng lời, người nghe không phải lúc nào cũng tri giác tất cả
những gì người đó cảm thụ bằng thính giác mà thường thì người nghe không mấy khi
nhận biết hết những nét đặc trưng của âm thanh lời nói mà chỉ biết những đặc trưng
âm thanh nào khiến nó phân biệt các từ và hiểu nội dung lời nói Mặ khác, giao tiếp
vẫn có thể bị cản trở nếu những đặc trưng cấu âm- âm học học nào đó không được
PHẦN 2 NGỮ ÂM HỌC TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI
CHƯƠNG 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ NGỮ ÂM VÀ NGỮ ÂM HỌC
1.1 Âm thanh của ngôn ngữ
1.1.1 Khái niệm ngữ âm
Âm thanh có được là do sự rung động của vật thể học do con người tác động
lực hoặc chính sự vận động của vật thể tạo ra âm thanh (nước chảy, gió thổi,…)
Có hai loại âm thanh:
+ Âm thanh tự nhiên: là âm thanh tồn tại sẵn có trong tự nhiên: mưa, gió,
sấm,…
+ Âm thanh nhân tạo: tiếng trống, kẻng,… Âm thanh nhân tạo bao giờ cũng gắn
với một chức năng, công dụng nhất định trong đời sống xã hội loài người
Trong âm thanh nhân tạo có một âm thanh đặc biệt do con người tạo ra được
dùng để giao tiếp giữa các thành viên trong cộng đồng đó là âm thanh ngôn ngữ Âm
thanh ngôn ngữ được dùng để tổ chức biểu đạt được gọi là ngữ âm Ngữ âm bao gồm
toàn bộ các âm, các thanh, các kết hợp âm thanh và giọng điệu (ngữ điệu, trọng âm)
nằm trong các từ, các câu của ngôn ngữ Các âm thanh và giọng điệu này có quan hệ
với nhau theo những quy tắc nhất định lập thành cấu trúc ngữ âm của ngôn ngữ
Ngôn ngữ của con người bao giờ cũng là ngôn ngữ thành tiếng Nói đến ngôn
ngữ người ta bao giờ cũng nói đến âm thanh và chữ viết; mỗi mặt có những ưu điểm
riêng bù đắp cho nhau Với âm thanh ngôn ngữ, nó có những ưu điểm sau:
- Âm thanh ngôn ngữ vẫn được sử dụng tất cả các mức độ ánh sáng, vật cản
không cách âm
- Khi con người lao động chân tay vẫn sử dụng được âm thanh ngôn ngữ (vừa
làm, vừa nói)
- Xã hội hiện đại, âm thanh ngôn ngữ lại thêm một giá trị nữa là giữ nguyên vẹn
các đặc điểm đúng giọng, đúng ngữ điệu,…vì nó có thể được ghi âm, được quay video
lại
1.1.2 Mối quan hệ giữa âm và nghĩa trong âm thanh ngôn ngữ
Âm thanh là chất liệu tất yếu của ngôn ngữ Ngoài âm thanh, ngôn ngữ còn cần
phải có ý nghĩa Ngôn ngữ là sự phối hợp giữa âm thanh và ý nghĩa Mối quan hệ giã
âm thanh và ý nghĩa như mối quan hệ giữa hai mặt của một tờ giấy không thể tách rời
(F.de Saussure) Giao tiếp ngôn ngữ tồn tại trong sự thống nhất giữa nói và nghe
Trong một từ hay nói chung một kí hiệu ngôn ngữ bao giờ cũng có hai mặt: cái biểu
đạt và cái được biểu đạt Ví dụ như từ cây, cái được biểu đạt không phải là một cái cây
cụ thể nào mà là một khái niệm cây, cái biểu đạt cũng không phải một âm thanh cụ thể
nào của một cá nhân mà là một âm thanh khái quát, tức là một hình ảnh âm học (Đoàn
Thiện Thuật (2000), Ngữ âm tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr13) và ở đây
ta tạm dùng chữ viết để ghi lại là cây
Trong giao tiếp bằng lời, người nghe không phải lúc nào cũng tri giác tất cả
những gì người đó cảm thụ bằng thính giác mà thường thì người nghe không mấy khi
nhận biết hết những nét đặc trưng của âm thanh lời nói mà chỉ biết những đặc trưng
âm thanh nào khiến nó phân biệt các từ và hiểu nội dung lời nói Mặ khác, giao tiếp
vẫn có thể bị cản trở nếu những đặc trưng cấu âm- âm học học nào đó không được
36
PHẦN 2 NGỮ ÂM HỌC TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI CHƯƠNG 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ NGỮ ÂM VÀ NGỮ ÂM HỌC 1.1 Âm thanh của ngôn ngữ
1.1.1 Khái niệm ngữ âm
Âm thanh có được là do sự rung động của vật thể học do con người tác động lực hoặc chính sự vận động của vật thể tạo ra âm thanh (nước chảy, gió thổi,…)
Có hai loại âm thanh:
+ Âm thanh tự nhiên: là âm thanh tồn tại sẵn có trong tự nhiên: mưa, gió, sấm,…
+ Âm thanh nhân tạo: tiếng trống, kẻng,… Âm thanh nhân tạo bao giờ cũng gắn với một chức năng, công dụng nhất định trong đời sống xã hội loài người Trong âm thanh nhân tạo có một âm thanh đặc biệt do con người tạo ra được dùng để giao tiếp giữa các thành viên trong cộng đồng đó là âm thanh ngôn ngữ Âm thanh ngôn ngữ được dùng để tổ chức biểu đạt được gọi là ngữ âm Ngữ âm bao gồm toàn bộ các âm, các thanh, các kết hợp âm thanh và giọng điệu (ngữ điệu, trọng âm) nằm trong các từ, các câu của ngôn ngữ Các âm thanh và giọng điệu này có quan hệ với nhau theo những quy tắc nhất định lập thành cấu trúc ngữ âm của ngôn ngữ Ngôn ngữ của con người bao giờ cũng là ngôn ngữ thành tiếng Nói đến ngôn ngữ người ta bao giờ cũng nói đến âm thanh và chữ viết; mỗi mặt có những ưu điểm riêng bù đắp cho nhau Với âm thanh ngôn ngữ, nó có những ưu điểm sau:
- Âm thanh ngôn ngữ vẫn được sử dụng tất cả các mức độ ánh sáng, vật cản không cách âm
- Khi con người lao động chân tay vẫn sử dụng được âm thanh ngôn ngữ (vừa làm, vừa nói)
- Xã hội hiện đại, âm thanh ngôn ngữ lại thêm một giá trị nữa là giữ nguyên vẹn các đặc điểm đúng giọng, đúng ngữ điệu,…vì nó có thể được ghi âm, được quay video lại
1.1.2 Mối quan hệ giữa âm và nghĩa trong âm thanh ngôn ngữ
Âm thanh là chất liệu tất yếu của ngôn ngữ Ngoài âm thanh, ngôn ngữ còn cần phải có ý nghĩa Ngôn ngữ là sự phối hợp giữa âm thanh và ý nghĩa Mối quan hệ giã
âm thanh và ý nghĩa như mối quan hệ giữa hai mặt của một tờ giấy không thể tách rời (F.de Saussure) Giao tiếp ngôn ngữ tồn tại trong sự thống nhất giữa nói và nghe
Trong một từ hay nói chung một kí hiệu ngôn ngữ bao giờ cũng có hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt Ví dụ như từ cây, cái được biểu đạt không phải là một cái cây
cụ thể nào mà là một khái niệm cây, cái biểu đạt cũng không phải một âm thanh cụ thể nào của một cá nhân mà là một âm thanh khái quát, tức là một hình ảnh âm học (Đoàn Thiện Thuật (2000), Ngữ âm tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr13) và ở đây
ta tạm dùng chữ viết để ghi lại là cây
Trong giao tiếp bằng lời, người nghe không phải lúc nào cũng tri giác tất cả những gì người đó cảm thụ bằng thính giác mà thường thì người nghe không mấy khi nhận biết hết những nét đặc trưng của âm thanh lời nói mà chỉ biết những đặc trưng
âm thanh nào khiến nó phân biệt các từ và hiểu nội dung lời nói Mặ khác, giao tiếp vẫn có thể bị cản trở nếu những đặc trưng cấu âm- âm học học nào đó không được
PHẦN 2 NGỮ ÂM HỌC TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI CHƯƠNG 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ NGỮ ÂM VÀ NGỮ ÂM HỌC 1.1 Âm thanh của ngôn ngữ
1.1.1 Khái niệm ngữ âm
Âm thanh có được là do sự rung động của vật thể học do con người tác động lực hoặc chính sự vận động của vật thể tạo ra âm thanh (nước chảy, gió thổi,…)
Có hai loại âm thanh:
+ Âm thanh tự nhiên: là âm thanh tồn tại sẵn có trong tự nhiên: mưa, gió, sấm,…
+ Âm thanh nhân tạo: tiếng trống, kẻng,… Âm thanh nhân tạo bao giờ cũng gắn với một chức năng, công dụng nhất định trong đời sống xã hội loài người Trong âm thanh nhân tạo có một âm thanh đặc biệt do con người tạo ra được dùng để giao tiếp giữa các thành viên trong cộng đồng đó là âm thanh ngôn ngữ Âm thanh ngôn ngữ được dùng để tổ chức biểu đạt được gọi là ngữ âm Ngữ âm bao gồm toàn bộ các âm, các thanh, các kết hợp âm thanh và giọng điệu (ngữ điệu, trọng âm) nằm trong các từ, các câu của ngôn ngữ Các âm thanh và giọng điệu này có quan hệ với nhau theo những quy tắc nhất định lập thành cấu trúc ngữ âm của ngôn ngữ Ngôn ngữ của con người bao giờ cũng là ngôn ngữ thành tiếng Nói đến ngôn ngữ người ta bao giờ cũng nói đến âm thanh và chữ viết; mỗi mặt có những ưu điểm riêng bù đắp cho nhau Với âm thanh ngôn ngữ, nó có những ưu điểm sau:
- Âm thanh ngôn ngữ vẫn được sử dụng tất cả các mức độ ánh sáng, vật cản không cách âm
- Khi con người lao động chân tay vẫn sử dụng được âm thanh ngôn ngữ (vừa làm, vừa nói)
- Xã hội hiện đại, âm thanh ngôn ngữ lại thêm một giá trị nữa là giữ nguyên vẹn các đặc điểm đúng giọng, đúng ngữ điệu,…vì nó có thể được ghi âm, được quay video lại
1.1.2 Mối quan hệ giữa âm và nghĩa trong âm thanh ngôn ngữ
Âm thanh là chất liệu tất yếu của ngôn ngữ Ngoài âm thanh, ngôn ngữ còn cần phải có ý nghĩa Ngôn ngữ là sự phối hợp giữa âm thanh và ý nghĩa Mối quan hệ giã
âm thanh và ý nghĩa như mối quan hệ giữa hai mặt của một tờ giấy không thể tách rời (F.de Saussure) Giao tiếp ngôn ngữ tồn tại trong sự thống nhất giữa nói và nghe
Trong một từ hay nói chung một kí hiệu ngôn ngữ bao giờ cũng có hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt Ví dụ như từ cây, cái được biểu đạt không phải là một cái cây
cụ thể nào mà là một khái niệm cây, cái biểu đạt cũng không phải một âm thanh cụ thể nào của một cá nhân mà là một âm thanh khái quát, tức là một hình ảnh âm học (Đoàn Thiện Thuật (2000), Ngữ âm tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr13) và ở đây
ta tạm dùng chữ viết để ghi lại là cây
Trong giao tiếp bằng lời, người nghe không phải lúc nào cũng tri giác tất cả những gì người đó cảm thụ bằng thính giác mà thường thì người nghe không mấy khi nhận biết hết những nét đặc trưng của âm thanh lời nói mà chỉ biết những đặc trưng
âm thanh nào khiến nó phân biệt các từ và hiểu nội dung lời nói Mặ khác, giao tiếp vẫn có thể bị cản trở nếu những đặc trưng cấu âm- âm học học nào đó không được
Trang 3837
người nói và người nghe liên hệ với cùng một ý nghĩa Ví dụ, khi người Nhật nói
tegami, người Trung Quốc có thể không hiểu là bức thư như trong tiếng Nhật mà lại
gán cho nghĩa giấy vệ sinh như trong tiếng Trung Quốc Hiện tượng này còn xảy ra
trong cùng một ngôn ngữ, ví dụ như hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt: má nghĩa là
“mẹ” trong phương ngữ Nam Bộ nhưng nghĩa phổ thông của từ này lại chỉ “một bộ
phận trên khuôn mặt”; hay từ “hòm” trong hai phương ngữ Bắc và Nam bộ cũng hoàn
toàn khác nhau,…
Trong lí thuyết, tín hiệu ngôn ngữ, âm và nghĩa không thể tách rời Tuy nhiên,
thực tế có khi người ta chỉ sử dụng một trong hai mặt đó Hoặc là dùng âm mà không
quan tâm đến nghĩa như trường hợp một số người hát những ca khúc nước ngoài mà
chẳng hiểu biết ý nghĩa của lời ca, hoặc là dùng nghĩa mà không để ý đến âm như
trường hợp cụ Phan Bội Châu “bút đàm” bằng chữ Hán với các nhà hoạt động chính trị
Nhật Bản, lúc đó cách phát âm của tiếng Trung Quốc hoặc âm Hán Việt hay Hán Nhật
đã bị bỏ qua Ở trường hợp đầu, người hát không sử dụng lời ca với tính chất là một tín
hiệu ngôn ngữ Ở trường hợp sau, xét cho cùng cũng chỉ là sử dụng một hình thức biến
đổi từ tín hiệu thính giác thành tín hiệu thị giác Vì vậy, nếu chỉ sử dụng một mặt âm
hoặc nghĩa của ngôn ngữ thì không phải thực sự sử dụng ngôn ngữ
1.2 Cơ sở của ngữ âm
Cơ sở của ngữ âm sẽ lí giải sự khác nhau về những đặc trưng cấu âm và những
đặc trưng âm học trong cách phát âm, lời nói của mỗi người
1.2.1 Cơ sở tự nhiên
a Cơ sở sinh lí của ngữ âm (cấu âm)
Mỗi kí hiệu ngôn ngữ (từ hoặc hình vị) đều có sự biểu đạt bằng âm thanh của
nó Sự biểu đạt này bao giờ cũng mang những đặc trưng ngữ âm khác nhau Hai từ có
thể khác nhau bởi các âm tiết khác nhau (ví dụ: chủ nghĩa khác anh hùng) Nhưng
cũng có những từ mà sự khác biệt đó rất nhỏ, khó nhận ra Chẳng hạn: tan khác đan
chỉ bằng một đặc trưng ngữ âm, đó là dây thanh có hoạt động hay không (tức là đặc
trưng vô thanh và hữu thanh) của hai âm /t/ và /d/ Đặc trưng này tuy nhỏ nhưng được
dùng làm hình thức để biểu đạt hai từ có nghĩa khác nhau
Vì vậy, khi miêu tả ngữ âm không thể không biết đến những đặc trruwng âm
thanh tự nhiên của mỗi cấu tạo âm thanh này Việc miêu tả những đặc trưng âm thanh
ấy chỉ có được khi nắm vững các cơ quan trong cơ thể con người tham gia vào quá
trình phát âm Đó là các bộ phân: cơ quan hô hấp, cơ quan phát âm, trung ương thần
kinh
Hoạt động phát âm được thực hiện nhờ sự tham gia của một số cơ quan thuộc
cơ thể con người: cơ quan hô hấp, cơ quan phát âm và trung ương thần kinh
- Cơ quan hô hấp: gồm hai lá phổi nằm trong lồng ngực cung cấp không khí cho
quá trình tạo âm thanh
- Cơ quan phát âm:
+ Thanh hầu và dây thanh:
Thanh hầu gồm hai tổ chức cơ nằm song song ở trong thanh hầu Với sự điều
khiển của trung ương thần kinh, các sóng âm được tạo ra khi các luồng không khí
được chấn động ở đây Dây thanh là một màng mỏng trong hộp thanh hầu Khoang
người nói và người nghe liên hệ với cùng một ý nghĩa Ví dụ, khi người Nhật nói
tegami, người Trung Quốc có thể không hiểu là bức thư như trong tiếng Nhật mà lại
gán cho nghĩa giấy vệ sinh như trong tiếng Trung Quốc Hiện tượng này còn xảy ra
trong cùng một ngôn ngữ, ví dụ như hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt: má nghĩa là
“mẹ” trong phương ngữ Nam Bộ nhưng nghĩa phổ thông của từ này lại chỉ “một bộ
phận trên khuôn mặt”; hay từ “hòm” trong hai phương ngữ Bắc và Nam bộ cũng hoàn
toàn khác nhau,…
Trong lí thuyết, tín hiệu ngôn ngữ, âm và nghĩa không thể tách rời Tuy nhiên,
thực tế có khi người ta chỉ sử dụng một trong hai mặt đó Hoặc là dùng âm mà không
quan tâm đến nghĩa như trường hợp một số người hát những ca khúc nước ngoài mà
chẳng hiểu biết ý nghĩa của lời ca, hoặc là dùng nghĩa mà không để ý đến âm như
trường hợp cụ Phan Bội Châu “bút đàm” bằng chữ Hán với các nhà hoạt động chính trị
Nhật Bản, lúc đó cách phát âm của tiếng Trung Quốc hoặc âm Hán Việt hay Hán Nhật
đã bị bỏ qua Ở trường hợp đầu, người hát không sử dụng lời ca với tính chất là một tín
hiệu ngôn ngữ Ở trường hợp sau, xét cho cùng cũng chỉ là sử dụng một hình thức biến
đổi từ tín hiệu thính giác thành tín hiệu thị giác Vì vậy, nếu chỉ sử dụng một mặt âm
hoặc nghĩa của ngôn ngữ thì không phải thực sự sử dụng ngôn ngữ
1.2 Cơ sở của ngữ âm
Cơ sở của ngữ âm sẽ lí giải sự khác nhau về những đặc trưng cấu âm và những
đặc trưng âm học trong cách phát âm, lời nói của mỗi người
1.2.1 Cơ sở tự nhiên
a Cơ sở sinh lí của ngữ âm (cấu âm)
Mỗi kí hiệu ngôn ngữ (từ hoặc hình vị) đều có sự biểu đạt bằng âm thanh của
nó Sự biểu đạt này bao giờ cũng mang những đặc trưng ngữ âm khác nhau Hai từ có
thể khác nhau bởi các âm tiết khác nhau (ví dụ: chủ nghĩa khác anh hùng) Nhưng
cũng có những từ mà sự khác biệt đó rất nhỏ, khó nhận ra Chẳng hạn: tan khác đan
chỉ bằng một đặc trưng ngữ âm, đó là dây thanh có hoạt động hay không (tức là đặc
trưng vô thanh và hữu thanh) của hai âm /t/ và /d/ Đặc trưng này tuy nhỏ nhưng được
dùng làm hình thức để biểu đạt hai từ có nghĩa khác nhau
Vì vậy, khi miêu tả ngữ âm không thể không biết đến những đặc trruwng âm
thanh tự nhiên của mỗi cấu tạo âm thanh này Việc miêu tả những đặc trưng âm thanh
ấy chỉ có được khi nắm vững các cơ quan trong cơ thể con người tham gia vào quá
trình phát âm Đó là các bộ phân: cơ quan hô hấp, cơ quan phát âm, trung ương thần
kinh
Hoạt động phát âm được thực hiện nhờ sự tham gia của một số cơ quan thuộc
cơ thể con người: cơ quan hô hấp, cơ quan phát âm và trung ương thần kinh
- Cơ quan hô hấp: gồm hai lá phổi nằm trong lồng ngực cung cấp không khí cho
quá trình tạo âm thanh
- Cơ quan phát âm:
+ Thanh hầu và dây thanh:
Thanh hầu gồm hai tổ chức cơ nằm song song ở trong thanh hầu Với sự điều
khiển của trung ương thần kinh, các sóng âm được tạo ra khi các luồng không khí
được chấn động ở đây Dây thanh là một màng mỏng trong hộp thanh hầu Khoang
37
người nói và người nghe liên hệ với cùng một ý nghĩa Ví dụ, khi người Nhật nói
tegami, người Trung Quốc có thể không hiểu là bức thư như trong tiếng Nhật mà lại
gán cho nghĩa giấy vệ sinh như trong tiếng Trung Quốc Hiện tượng này còn xảy ra
trong cùng một ngôn ngữ, ví dụ như hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt: má nghĩa là
“mẹ” trong phương ngữ Nam Bộ nhưng nghĩa phổ thông của từ này lại chỉ “một bộ phận trên khuôn mặt”; hay từ “hòm” trong hai phương ngữ Bắc và Nam bộ cũng hoàn toàn khác nhau,…
Trong lí thuyết, tín hiệu ngôn ngữ, âm và nghĩa không thể tách rời Tuy nhiên, thực tế có khi người ta chỉ sử dụng một trong hai mặt đó Hoặc là dùng âm mà không quan tâm đến nghĩa như trường hợp một số người hát những ca khúc nước ngoài mà chẳng hiểu biết ý nghĩa của lời ca, hoặc là dùng nghĩa mà không để ý đến âm như trường hợp cụ Phan Bội Châu “bút đàm” bằng chữ Hán với các nhà hoạt động chính trị Nhật Bản, lúc đó cách phát âm của tiếng Trung Quốc hoặc âm Hán Việt hay Hán Nhật
đã bị bỏ qua Ở trường hợp đầu, người hát không sử dụng lời ca với tính chất là một tín hiệu ngôn ngữ Ở trường hợp sau, xét cho cùng cũng chỉ là sử dụng một hình thức biến đổi từ tín hiệu thính giác thành tín hiệu thị giác Vì vậy, nếu chỉ sử dụng một mặt âm hoặc nghĩa của ngôn ngữ thì không phải thực sự sử dụng ngôn ngữ
1.2 Cơ sở của ngữ âm
Cơ sở của ngữ âm sẽ lí giải sự khác nhau về những đặc trưng cấu âm và những đặc trưng âm học trong cách phát âm, lời nói của mỗi người
Vì vậy, khi miêu tả ngữ âm không thể không biết đến những đặc trruwng âm thanh tự nhiên của mỗi cấu tạo âm thanh này Việc miêu tả những đặc trưng âm thanh
ấy chỉ có được khi nắm vững các cơ quan trong cơ thể con người tham gia vào quá trình phát âm Đó là các bộ phân: cơ quan hô hấp, cơ quan phát âm, trung ương thần kinh
Hoạt động phát âm được thực hiện nhờ sự tham gia của một số cơ quan thuộc
cơ thể con người: cơ quan hô hấp, cơ quan phát âm và trung ương thần kinh
- Cơ quan hô hấp: gồm hai lá phổi nằm trong lồng ngực cung cấp không khí cho quá trình tạo âm thanh
- Cơ quan phát âm:
+ Thanh hầu và dây thanh:
Thanh hầu gồm hai tổ chức cơ nằm song song ở trong thanh hầu Với sự điều khiển của trung ương thần kinh, các sóng âm được tạo ra khi các luồng không khí được chấn động ở đây Dây thanh là một màng mỏng trong hộp thanh hầu Khoang
người nói và người nghe liên hệ với cùng một ý nghĩa Ví dụ, khi người Nhật nói
tegami, người Trung Quốc có thể không hiểu là bức thư như trong tiếng Nhật mà lại
gán cho nghĩa giấy vệ sinh như trong tiếng Trung Quốc Hiện tượng này còn xảy ra
trong cùng một ngôn ngữ, ví dụ như hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt: má nghĩa là
“mẹ” trong phương ngữ Nam Bộ nhưng nghĩa phổ thông của từ này lại chỉ “một bộ phận trên khuôn mặt”; hay từ “hòm” trong hai phương ngữ Bắc và Nam bộ cũng hoàn toàn khác nhau,…
Trong lí thuyết, tín hiệu ngôn ngữ, âm và nghĩa không thể tách rời Tuy nhiên, thực tế có khi người ta chỉ sử dụng một trong hai mặt đó Hoặc là dùng âm mà không quan tâm đến nghĩa như trường hợp một số người hát những ca khúc nước ngoài mà chẳng hiểu biết ý nghĩa của lời ca, hoặc là dùng nghĩa mà không để ý đến âm như trường hợp cụ Phan Bội Châu “bút đàm” bằng chữ Hán với các nhà hoạt động chính trị Nhật Bản, lúc đó cách phát âm của tiếng Trung Quốc hoặc âm Hán Việt hay Hán Nhật
đã bị bỏ qua Ở trường hợp đầu, người hát không sử dụng lời ca với tính chất là một tín hiệu ngôn ngữ Ở trường hợp sau, xét cho cùng cũng chỉ là sử dụng một hình thức biến đổi từ tín hiệu thính giác thành tín hiệu thị giác Vì vậy, nếu chỉ sử dụng một mặt âm hoặc nghĩa của ngôn ngữ thì không phải thực sự sử dụng ngôn ngữ
1.2 Cơ sở của ngữ âm
Cơ sở của ngữ âm sẽ lí giải sự khác nhau về những đặc trưng cấu âm và những đặc trưng âm học trong cách phát âm, lời nói của mỗi người
Vì vậy, khi miêu tả ngữ âm không thể không biết đến những đặc trruwng âm thanh tự nhiên của mỗi cấu tạo âm thanh này Việc miêu tả những đặc trưng âm thanh
ấy chỉ có được khi nắm vững các cơ quan trong cơ thể con người tham gia vào quá trình phát âm Đó là các bộ phân: cơ quan hô hấp, cơ quan phát âm, trung ương thần kinh
Hoạt động phát âm được thực hiện nhờ sự tham gia của một số cơ quan thuộc
cơ thể con người: cơ quan hô hấp, cơ quan phát âm và trung ương thần kinh
- Cơ quan hô hấp: gồm hai lá phổi nằm trong lồng ngực cung cấp không khí cho quá trình tạo âm thanh
- Cơ quan phát âm:
+ Thanh hầu và dây thanh:
Thanh hầu gồm hai tổ chức cơ nằm song song ở trong thanh hầu Với sự điều khiển của trung ương thần kinh, các sóng âm được tạo ra khi các luồng không khí được chấn động ở đây Dây thanh là một màng mỏng trong hộp thanh hầu Khoang
Trang 3938
miệng và khoang mũi là hai khoang khuếch đại âm thanh tiếp theo Khoang miệng và
khoang mũi ngăn cách bởi một vách ngăn gọi là ngạc Trong khoang miệng lại có các
bộ phận cấu âm: môi, răng, lưỡi, lợi, ngạc cứng, ngạc mềm
Các bộ phận của bộ máy phát âm chia làm hai loại:
- Loại hoạt động được: lưỡi con, nắp họng, lưỡi, môi
- Loại không hoạt động được: răng, lợi, ngạc
Khoang miệng và khoang mũi nhờ sự cộng hưởng của lưỡi và môi có thể thay
đổi thể tích bất cứ lúc nào, nhờ đó tạo nên những âm có âm sắc khác nhau
Hoạt động phát âm của con người diễn ra như sau: không khí từ phổi qua thanh
hầu làm rung dây thanh tạo nên những sóng âm có tần số khác nhau Những sóng âm
này sẽ được khuếch đại ở các khoang phát âm: khoang hầu, khoang miệng, khoang
mũi
b Cơ sở vật lí của ngữ âm
Giống như bất kì một loại âm thanh nào khác, âm thanh ngôn ngữ trước hết là
một hiện tượng vật lí Đó là kết quả của sự chấn động của các phần tử không khí trong
tự nhiên bắt nguồn tự sự chấn động của một vật thể nào đó Khác với âm thanh khác,
âm thanh ngôn ngữ là sự chấn động của luồng không khí di qua bộ máy phát âm của
con người mà cơ quan thính giác của người ta có thể cảm thụ được
Mỗi âm được phân biệt bằng bốn yếu tố sau đây:
- Độ cao: phụ thuộc vào tần số rung động, tức là số lượng rung động xảy ra
trong một đơn vị thời gian Số lượng đó càng nhiều (tần số càng lớn) thì âm càng cao
Hertz (Hz) là đơn vị chỉ chu kì rung động trong một giây Thính giác bình thường của
con người chỉ có thể nghe được trong giới hạn từ 16-20 000 Hz
- Độ vang: phụ thuộc chủ yếu vào độ mạnh, tức là vào biên độ của rung động,
biên độ càng rộng thì âm thanh càng mạnh, càng vang to
- Âm sắc: là sắc thái riêng của âm Tiếng đàn dương cầm và tiếng đàn vĩ cầm
cùng đánh theo một nốt với độ cao, độ vang và độ dài như nhau nhưng nghe vẫn khác
nhau
Khảo sát các đặc điểm vật lí của âm thanh ngôn ngữ: độ cao, độ dài, độ mạnh,
âm sắc Dựa vào kết quả thực nghiệm trên máy quang phổ, các âm được phân theo các
tiêu chí chính sau:
- Tiêu chí 1: vang - không vang: âm vang gồm các nguyên âm và các phụ âm
vang mũi, còn không vang là các phụ âm còn lại
- Tiêu chí 2: mạnh - yếu, âm mạnh là các nguyên âm, âm yếu là các phụ âm
- Tiêu chí 3: cao - thấp, âm cao gồm các nguyên âm hàng trước, phụ âm đầu lưỡi
(t, đ), âm thấp gồm các nguyên âm tròn môi, nguyên âm hàng sau và các phụ âm môi
(/u/, /ә/, /o/, /m/, /f/)
- Tiêu chí 4: giáng – không giáng, giáng là những âm có sự hạ thấp độ cao khi
phát âm gồm các nguyên âm tròn môi và các phụ âm bị môi hóa Môi hóa là hiện
tượng khi các nguyên âm tròn môi kết hợp với với phụ âm cuối g, k Do ảnh hưởng
miệng và khoang mũi là hai khoang khuếch đại âm thanh tiếp theo Khoang miệng và
khoang mũi ngăn cách bởi một vách ngăn gọi là ngạc Trong khoang miệng lại có các
bộ phận cấu âm: môi, răng, lưỡi, lợi, ngạc cứng, ngạc mềm
Các bộ phận của bộ máy phát âm chia làm hai loại:
- Loại hoạt động được: lưỡi con, nắp họng, lưỡi, môi
- Loại không hoạt động được: răng, lợi, ngạc
Khoang miệng và khoang mũi nhờ sự cộng hưởng của lưỡi và môi có thể thay
đổi thể tích bất cứ lúc nào, nhờ đó tạo nên những âm có âm sắc khác nhau
Hoạt động phát âm của con người diễn ra như sau: không khí từ phổi qua thanh
hầu làm rung dây thanh tạo nên những sóng âm có tần số khác nhau Những sóng âm
này sẽ được khuếch đại ở các khoang phát âm: khoang hầu, khoang miệng, khoang
mũi
b Cơ sở vật lí của ngữ âm
Giống như bất kì một loại âm thanh nào khác, âm thanh ngôn ngữ trước hết là
một hiện tượng vật lí Đó là kết quả của sự chấn động của các phần tử không khí trong
tự nhiên bắt nguồn tự sự chấn động của một vật thể nào đó Khác với âm thanh khác,
âm thanh ngôn ngữ là sự chấn động của luồng không khí di qua bộ máy phát âm của
con người mà cơ quan thính giác của người ta có thể cảm thụ được
Mỗi âm được phân biệt bằng bốn yếu tố sau đây:
- Độ cao: phụ thuộc vào tần số rung động, tức là số lượng rung động xảy ra
trong một đơn vị thời gian Số lượng đó càng nhiều (tần số càng lớn) thì âm càng cao
Hertz (Hz) là đơn vị chỉ chu kì rung động trong một giây Thính giác bình thường của
con người chỉ có thể nghe được trong giới hạn từ 16-20 000 Hz
- Độ vang: phụ thuộc chủ yếu vào độ mạnh, tức là vào biên độ của rung động,
biên độ càng rộng thì âm thanh càng mạnh, càng vang to
- Âm sắc: là sắc thái riêng của âm Tiếng đàn dương cầm và tiếng đàn vĩ cầm
cùng đánh theo một nốt với độ cao, độ vang và độ dài như nhau nhưng nghe vẫn khác
nhau
Khảo sát các đặc điểm vật lí của âm thanh ngôn ngữ: độ cao, độ dài, độ mạnh,
âm sắc Dựa vào kết quả thực nghiệm trên máy quang phổ, các âm được phân theo các
tiêu chí chính sau:
- Tiêu chí 1: vang - không vang: âm vang gồm các nguyên âm và các phụ âm
vang mũi, còn không vang là các phụ âm còn lại
- Tiêu chí 2: mạnh - yếu, âm mạnh là các nguyên âm, âm yếu là các phụ âm
- Tiêu chí 3: cao - thấp, âm cao gồm các nguyên âm hàng trước, phụ âm đầu lưỡi
(t, đ), âm thấp gồm các nguyên âm tròn môi, nguyên âm hàng sau và các phụ âm môi
(/u/, /ә/, /o/, /m/, /f/)
- Tiêu chí 4: giáng – không giáng, giáng là những âm có sự hạ thấp độ cao khi
phát âm gồm các nguyên âm tròn môi và các phụ âm bị môi hóa Môi hóa là hiện
tượng khi các nguyên âm tròn môi kết hợp với với phụ âm cuối g, k Do ảnh hưởng
38
miệng và khoang mũi là hai khoang khuếch đại âm thanh tiếp theo Khoang miệng và khoang mũi ngăn cách bởi một vách ngăn gọi là ngạc Trong khoang miệng lại có các
bộ phận cấu âm: môi, răng, lưỡi, lợi, ngạc cứng, ngạc mềm
Các bộ phận của bộ máy phát âm chia làm hai loại:
- Loại hoạt động được: lưỡi con, nắp họng, lưỡi, môi
- Loại không hoạt động được: răng, lợi, ngạc Khoang miệng và khoang mũi nhờ sự cộng hưởng của lưỡi và môi có thể thay đổi thể tích bất cứ lúc nào, nhờ đó tạo nên những âm có âm sắc khác nhau Hoạt động phát âm của con người diễn ra như sau: không khí từ phổi qua thanh hầu làm rung dây thanh tạo nên những sóng âm có tần số khác nhau Những sóng âm này sẽ được khuếch đại ở các khoang phát âm: khoang hầu, khoang miệng, khoang mũi
b Cơ sở vật lí của ngữ âm Giống như bất kì một loại âm thanh nào khác, âm thanh ngôn ngữ trước hết là một hiện tượng vật lí Đó là kết quả của sự chấn động của các phần tử không khí trong
tự nhiên bắt nguồn tự sự chấn động của một vật thể nào đó Khác với âm thanh khác,
âm thanh ngôn ngữ là sự chấn động của luồng không khí di qua bộ máy phát âm của con người mà cơ quan thính giác của người ta có thể cảm thụ được
Mỗi âm được phân biệt bằng bốn yếu tố sau đây:
- Độ cao: phụ thuộc vào tần số rung động, tức là số lượng rung động xảy ra trong một đơn vị thời gian Số lượng đó càng nhiều (tần số càng lớn) thì âm càng cao Hertz (Hz) là đơn vị chỉ chu kì rung động trong một giây Thính giác bình thường của con người chỉ có thể nghe được trong giới hạn từ 16-20 000 Hz
- Độ vang: phụ thuộc chủ yếu vào độ mạnh, tức là vào biên độ của rung động, biên độ càng rộng thì âm thanh càng mạnh, càng vang to
- Âm sắc: là sắc thái riêng của âm Tiếng đàn dương cầm và tiếng đàn vĩ cầm cùng đánh theo một nốt với độ cao, độ vang và độ dài như nhau nhưng nghe vẫn khác nhau
Khảo sát các đặc điểm vật lí của âm thanh ngôn ngữ: độ cao, độ dài, độ mạnh,
âm sắc Dựa vào kết quả thực nghiệm trên máy quang phổ, các âm được phân theo các tiêu chí chính sau:
- Tiêu chí 1: vang - không vang: âm vang gồm các nguyên âm và các phụ âm vang mũi, còn không vang là các phụ âm còn lại
- Tiêu chí 2: mạnh - yếu, âm mạnh là các nguyên âm, âm yếu là các phụ âm
- Tiêu chí 3: cao - thấp, âm cao gồm các nguyên âm hàng trước, phụ âm đầu lưỡi (t, đ), âm thấp gồm các nguyên âm tròn môi, nguyên âm hàng sau và các phụ âm môi (/u/, /ә/, /o/, /m/, /f/)
- Tiêu chí 4: giáng – không giáng, giáng là những âm có sự hạ thấp độ cao khi phát âm gồm các nguyên âm tròn môi và các phụ âm bị môi hóa Môi hóa là hiện tượng khi các nguyên âm tròn môi kết hợp với với phụ âm cuối g, k Do ảnh hưởng
miệng và khoang mũi là hai khoang khuếch đại âm thanh tiếp theo Khoang miệng và khoang mũi ngăn cách bởi một vách ngăn gọi là ngạc Trong khoang miệng lại có các
bộ phận cấu âm: môi, răng, lưỡi, lợi, ngạc cứng, ngạc mềm
Các bộ phận của bộ máy phát âm chia làm hai loại:
- Loại hoạt động được: lưỡi con, nắp họng, lưỡi, môi
- Loại không hoạt động được: răng, lợi, ngạc Khoang miệng và khoang mũi nhờ sự cộng hưởng của lưỡi và môi có thể thay đổi thể tích bất cứ lúc nào, nhờ đó tạo nên những âm có âm sắc khác nhau Hoạt động phát âm của con người diễn ra như sau: không khí từ phổi qua thanh hầu làm rung dây thanh tạo nên những sóng âm có tần số khác nhau Những sóng âm này sẽ được khuếch đại ở các khoang phát âm: khoang hầu, khoang miệng, khoang mũi
b Cơ sở vật lí của ngữ âm Giống như bất kì một loại âm thanh nào khác, âm thanh ngôn ngữ trước hết là một hiện tượng vật lí Đó là kết quả của sự chấn động của các phần tử không khí trong
tự nhiên bắt nguồn tự sự chấn động của một vật thể nào đó Khác với âm thanh khác,
âm thanh ngôn ngữ là sự chấn động của luồng không khí di qua bộ máy phát âm của con người mà cơ quan thính giác của người ta có thể cảm thụ được
Mỗi âm được phân biệt bằng bốn yếu tố sau đây:
- Độ cao: phụ thuộc vào tần số rung động, tức là số lượng rung động xảy ra trong một đơn vị thời gian Số lượng đó càng nhiều (tần số càng lớn) thì âm càng cao Hertz (Hz) là đơn vị chỉ chu kì rung động trong một giây Thính giác bình thường của con người chỉ có thể nghe được trong giới hạn từ 16-20 000 Hz
- Độ vang: phụ thuộc chủ yếu vào độ mạnh, tức là vào biên độ của rung động, biên độ càng rộng thì âm thanh càng mạnh, càng vang to
- Âm sắc: là sắc thái riêng của âm Tiếng đàn dương cầm và tiếng đàn vĩ cầm cùng đánh theo một nốt với độ cao, độ vang và độ dài như nhau nhưng nghe vẫn khác nhau
Khảo sát các đặc điểm vật lí của âm thanh ngôn ngữ: độ cao, độ dài, độ mạnh,
âm sắc Dựa vào kết quả thực nghiệm trên máy quang phổ, các âm được phân theo các tiêu chí chính sau:
- Tiêu chí 1: vang - không vang: âm vang gồm các nguyên âm và các phụ âm vang mũi, còn không vang là các phụ âm còn lại
- Tiêu chí 2: mạnh - yếu, âm mạnh là các nguyên âm, âm yếu là các phụ âm
- Tiêu chí 3: cao - thấp, âm cao gồm các nguyên âm hàng trước, phụ âm đầu lưỡi (t, đ), âm thấp gồm các nguyên âm tròn môi, nguyên âm hàng sau và các phụ âm môi (/u/, /ә/, /o/, /m/, /f/)
- Tiêu chí 4: giáng – không giáng, giáng là những âm có sự hạ thấp độ cao khi phát âm gồm các nguyên âm tròn môi và các phụ âm bị môi hóa Môi hóa là hiện tượng khi các nguyên âm tròn môi kết hợp với với phụ âm cuối g, k Do ảnh hưởng
Trang 4039
của nguyên âm tròn môi các phụ âm này cũng bị tròn môi khi phát âm Âm không
giáng là những âm có sự hạ thấp về độ cao phát âm gồm những nguyên âm và phụ âm
còn lại gồm các nguyên âm không tròn môi và các phụ âm không môi hóa
- Tiêu chí 5: thăng – không thăng: thăng là những âm có độ lên cao độ cao khi
phát âm gồm các nguyên âm hàng trước và các phụ âm bị ngạc hóa, đó là hiện tượng
xảy ra khi các nguyên âm hàng trước kết hợp với âm cuối: /ƞ/, /k/, /c/, /ƞ/
Xảy ra hiện tượng biến thể nguyên âm bị rút ngắn, nguyên âm bị rút ngắn, phụ âm bị
ngạc hóa Nguyên âm không thăng là những âm có sự lên cao độ cao khi không phát
âm đó là những nguyên âm và phụ âm còn lại trừ các nguyên âm hàng trước và phụ âm
bị ngạc hóa
Ngoài sáu tiêu chí kể trên còn một số tiêu chí khác như: sáng – tối, kêu – không
kêu,…
1.2.2 Cơ sở xã hội
1.2.2.1 Âm thành tự bản thân không mang ý nghĩa gì, không giữ một chức năng xã hội
nào cả Nó chỉ đóng vai trò làm chức năng giao tiếp xã hội, nói khác đi, nó chỉ trở
thành tín hiệu ngôn ngữ khi được tổ chức lại và dùng để biểu đạt tư tưởng của con
người Âm thanh ngôn ngữ được tổ chức lại trên cơ sở chức năng gọi là chức năng khu
biệt Ví dụ: âm /t/ tự thân nó không mang ý nghĩa, nhưng có giá trị khu biệt giữa hai từ
ta và đa
1.2.2.2 Khả năng khu biệt của âm thanh ngôn ngữ không tự nhiên mà có Đó là sự ước
định của cộng đồng người cùng sử dụng ngôn ngữ, được hình thành trong lịch sử Mặt
xã hội của ngữ âm làm cho mỗi người nói một ngôn ngữ nào đó nhận ra sự khác nhau
giữa các đơn vị ngữ âm của ngôn ngữ đó, đồng thời có ý thức và thói quen phân biệt
sự khác nhau Do vậy, có những đặc trưng ngữ âm ở xã hội này thì có giá trị khu biệt
nhưng ở xã hội khác lại không Ví dụ:
- Trong tiếng Việt /d/ là một phụ âm của hệ thống phụ âm tiếng Việt, vì nó có
tác dụng khu biệt nghĩa các từ như đa, đàn với ta, tàn,…
Trái lại, người Trung Quốc nói tiếng Hán hiện đại không dùng /d/ làm yếu tố để
nhận diện hoặc khu biệt từ nào đó, vì hệ thống phụ âm tiếng Hán không có /d/
- Đặc trưng ngạc hóa (khi phát âm lưỡi nhích về ngạc) Đặc trưng này không có
giá trị khu biệt trong tiếng Việt Ví dụ: to không khác gì … về nghĩa
- Trong tiếng Việt, thanh điệu là yếu tố nhận diện, phân biệt từ Sự phân biệt
nghĩa của các thanh điệu khác nhau này mạnh tới mức ngay cả những từ phiên âm
tiếng nước ngoài khi vào tiếng Việt, phát âm theo âm Việt thì bất cứ một âm tiết nào
cũng phải mang một trong sau thanh điệu của tiếng Việt
Ví dụ: Mát-xcơ-va, bôn-sê-vích,…
1.2.2.3 Mặt xã hội của ngữ âm còn thể hiện ở chỗ nó cho phép hệ thống ngữ âm có thể
có những biến đổi trong quá trình phát triển của lịch sử
Ví dụ: các phụ âm kép /bl/, /tl/, /kl/,…trong tiếng Việt cổ mất đi thay thế bằng
các phụ âm đơn
của nguyên âm tròn môi các phụ âm này cũng bị tròn môi khi phát âm Âm không
giáng là những âm có sự hạ thấp về độ cao phát âm gồm những nguyên âm và phụ âm
còn lại gồm các nguyên âm không tròn môi và các phụ âm không môi hóa
- Tiêu chí 5: thăng – không thăng: thăng là những âm có độ lên cao độ cao khi
phát âm gồm các nguyên âm hàng trước và các phụ âm bị ngạc hóa, đó là hiện tượng
xảy ra khi các nguyên âm hàng trước kết hợp với âm cuối: /ƞ/, /k/, /c/, /ƞ/
Xảy ra hiện tượng biến thể nguyên âm bị rút ngắn, nguyên âm bị rút ngắn, phụ âm bị
ngạc hóa Nguyên âm không thăng là những âm có sự lên cao độ cao khi không phát
âm đó là những nguyên âm và phụ âm còn lại trừ các nguyên âm hàng trước và phụ âm
bị ngạc hóa
Ngoài sáu tiêu chí kể trên còn một số tiêu chí khác như: sáng – tối, kêu – không
kêu,…
1.2.2 Cơ sở xã hội
1.2.2.1 Âm thành tự bản thân không mang ý nghĩa gì, không giữ một chức năng xã hội
nào cả Nó chỉ đóng vai trò làm chức năng giao tiếp xã hội, nói khác đi, nó chỉ trở
thành tín hiệu ngôn ngữ khi được tổ chức lại và dùng để biểu đạt tư tưởng của con
người Âm thanh ngôn ngữ được tổ chức lại trên cơ sở chức năng gọi là chức năng khu
biệt Ví dụ: âm /t/ tự thân nó không mang ý nghĩa, nhưng có giá trị khu biệt giữa hai từ
ta và đa
1.2.2.2 Khả năng khu biệt của âm thanh ngôn ngữ không tự nhiên mà có Đó là sự ước
định của cộng đồng người cùng sử dụng ngôn ngữ, được hình thành trong lịch sử Mặt
xã hội của ngữ âm làm cho mỗi người nói một ngôn ngữ nào đó nhận ra sự khác nhau
giữa các đơn vị ngữ âm của ngôn ngữ đó, đồng thời có ý thức và thói quen phân biệt
sự khác nhau Do vậy, có những đặc trưng ngữ âm ở xã hội này thì có giá trị khu biệt
nhưng ở xã hội khác lại không Ví dụ:
- Trong tiếng Việt /d/ là một phụ âm của hệ thống phụ âm tiếng Việt, vì nó có
tác dụng khu biệt nghĩa các từ như đa, đàn với ta, tàn,…
Trái lại, người Trung Quốc nói tiếng Hán hiện đại không dùng /d/ làm yếu tố để
nhận diện hoặc khu biệt từ nào đó, vì hệ thống phụ âm tiếng Hán không có /d/
- Đặc trưng ngạc hóa (khi phát âm lưỡi nhích về ngạc) Đặc trưng này không có
giá trị khu biệt trong tiếng Việt Ví dụ: to không khác gì … về nghĩa
- Trong tiếng Việt, thanh điệu là yếu tố nhận diện, phân biệt từ Sự phân biệt
nghĩa của các thanh điệu khác nhau này mạnh tới mức ngay cả những từ phiên âm
tiếng nước ngoài khi vào tiếng Việt, phát âm theo âm Việt thì bất cứ một âm tiết nào
cũng phải mang một trong sau thanh điệu của tiếng Việt
Ví dụ: Mát-xcơ-va, bôn-sê-vích,…
1.2.2.3 Mặt xã hội của ngữ âm còn thể hiện ở chỗ nó cho phép hệ thống ngữ âm có thể
có những biến đổi trong quá trình phát triển của lịch sử
Ví dụ: các phụ âm kép /bl/, /tl/, /kl/,…trong tiếng Việt cổ mất đi thay thế bằng
các phụ âm đơn
39
của nguyên âm tròn môi các phụ âm này cũng bị tròn môi khi phát âm Âm không giáng là những âm có sự hạ thấp về độ cao phát âm gồm những nguyên âm và phụ âm còn lại gồm các nguyên âm không tròn môi và các phụ âm không môi hóa
- Tiêu chí 5: thăng – không thăng: thăng là những âm có độ lên cao độ cao khi phát âm gồm các nguyên âm hàng trước và các phụ âm bị ngạc hóa, đó là hiện tượng xảy ra khi các nguyên âm hàng trước kết hợp với âm cuối: /ƞ/, /k/, /c/, /ƞ/ Xảy ra hiện tượng biến thể nguyên âm bị rút ngắn, nguyên âm bị rút ngắn, phụ âm bị ngạc hóa Nguyên âm không thăng là những âm có sự lên cao độ cao khi không phát
âm đó là những nguyên âm và phụ âm còn lại trừ các nguyên âm hàng trước và phụ âm
bị ngạc hóa
Ngoài sáu tiêu chí kể trên còn một số tiêu chí khác như: sáng – tối, kêu – không kêu,…
1.2.2 Cơ sở xã hội
1.2.2.1 Âm thành tự bản thân không mang ý nghĩa gì, không giữ một chức năng xã hội
nào cả Nó chỉ đóng vai trò làm chức năng giao tiếp xã hội, nói khác đi, nó chỉ trở thành tín hiệu ngôn ngữ khi được tổ chức lại và dùng để biểu đạt tư tưởng của con người Âm thanh ngôn ngữ được tổ chức lại trên cơ sở chức năng gọi là chức năng khu biệt Ví dụ: âm /t/ tự thân nó không mang ý nghĩa, nhưng có giá trị khu biệt giữa hai từ
ta và đa
1.2.2.2 Khả năng khu biệt của âm thanh ngôn ngữ không tự nhiên mà có Đó là sự ước
định của cộng đồng người cùng sử dụng ngôn ngữ, được hình thành trong lịch sử Mặt
xã hội của ngữ âm làm cho mỗi người nói một ngôn ngữ nào đó nhận ra sự khác nhau giữa các đơn vị ngữ âm của ngôn ngữ đó, đồng thời có ý thức và thói quen phân biệt
sự khác nhau Do vậy, có những đặc trưng ngữ âm ở xã hội này thì có giá trị khu biệt nhưng ở xã hội khác lại không Ví dụ:
- Trong tiếng Việt /d/ là một phụ âm của hệ thống phụ âm tiếng Việt, vì nó có tác dụng khu biệt nghĩa các từ như đa, đàn với ta, tàn,…
Trái lại, người Trung Quốc nói tiếng Hán hiện đại không dùng /d/ làm yếu tố để nhận diện hoặc khu biệt từ nào đó, vì hệ thống phụ âm tiếng Hán không có /d/
- Đặc trưng ngạc hóa (khi phát âm lưỡi nhích về ngạc) Đặc trưng này không có giá trị khu biệt trong tiếng Việt Ví dụ: to không khác gì … về nghĩa
- Trong tiếng Việt, thanh điệu là yếu tố nhận diện, phân biệt từ Sự phân biệt nghĩa của các thanh điệu khác nhau này mạnh tới mức ngay cả những từ phiên âm tiếng nước ngoài khi vào tiếng Việt, phát âm theo âm Việt thì bất cứ một âm tiết nào cũng phải mang một trong sau thanh điệu của tiếng Việt
Ví dụ: Mát-xcơ-va, bôn-sê-vích,…
1.2.2.3 Mặt xã hội của ngữ âm còn thể hiện ở chỗ nó cho phép hệ thống ngữ âm có thể
có những biến đổi trong quá trình phát triển của lịch sử
Ví dụ: các phụ âm kép /bl/, /tl/, /kl/,…trong tiếng Việt cổ mất đi thay thế bằng các phụ âm đơn
của nguyên âm tròn môi các phụ âm này cũng bị tròn môi khi phát âm Âm không giáng là những âm có sự hạ thấp về độ cao phát âm gồm những nguyên âm và phụ âm còn lại gồm các nguyên âm không tròn môi và các phụ âm không môi hóa
- Tiêu chí 5: thăng – không thăng: thăng là những âm có độ lên cao độ cao khi phát âm gồm các nguyên âm hàng trước và các phụ âm bị ngạc hóa, đó là hiện tượng xảy ra khi các nguyên âm hàng trước kết hợp với âm cuối: /ƞ/, /k/, /c/, /ƞ/ Xảy ra hiện tượng biến thể nguyên âm bị rút ngắn, nguyên âm bị rút ngắn, phụ âm bị ngạc hóa Nguyên âm không thăng là những âm có sự lên cao độ cao khi không phát
âm đó là những nguyên âm và phụ âm còn lại trừ các nguyên âm hàng trước và phụ âm
bị ngạc hóa
Ngoài sáu tiêu chí kể trên còn một số tiêu chí khác như: sáng – tối, kêu – không kêu,…
1.2.2 Cơ sở xã hội
1.2.2.1 Âm thành tự bản thân không mang ý nghĩa gì, không giữ một chức năng xã hội
nào cả Nó chỉ đóng vai trò làm chức năng giao tiếp xã hội, nói khác đi, nó chỉ trở thành tín hiệu ngôn ngữ khi được tổ chức lại và dùng để biểu đạt tư tưởng của con người Âm thanh ngôn ngữ được tổ chức lại trên cơ sở chức năng gọi là chức năng khu biệt Ví dụ: âm /t/ tự thân nó không mang ý nghĩa, nhưng có giá trị khu biệt giữa hai từ
ta và đa
1.2.2.2 Khả năng khu biệt của âm thanh ngôn ngữ không tự nhiên mà có Đó là sự ước
định của cộng đồng người cùng sử dụng ngôn ngữ, được hình thành trong lịch sử Mặt
xã hội của ngữ âm làm cho mỗi người nói một ngôn ngữ nào đó nhận ra sự khác nhau giữa các đơn vị ngữ âm của ngôn ngữ đó, đồng thời có ý thức và thói quen phân biệt
sự khác nhau Do vậy, có những đặc trưng ngữ âm ở xã hội này thì có giá trị khu biệt nhưng ở xã hội khác lại không Ví dụ:
- Trong tiếng Việt /d/ là một phụ âm của hệ thống phụ âm tiếng Việt, vì nó có tác dụng khu biệt nghĩa các từ như đa, đàn với ta, tàn,…
Trái lại, người Trung Quốc nói tiếng Hán hiện đại không dùng /d/ làm yếu tố để nhận diện hoặc khu biệt từ nào đó, vì hệ thống phụ âm tiếng Hán không có /d/
- Đặc trưng ngạc hóa (khi phát âm lưỡi nhích về ngạc) Đặc trưng này không có giá trị khu biệt trong tiếng Việt Ví dụ: to không khác gì … về nghĩa
- Trong tiếng Việt, thanh điệu là yếu tố nhận diện, phân biệt từ Sự phân biệt nghĩa của các thanh điệu khác nhau này mạnh tới mức ngay cả những từ phiên âm tiếng nước ngoài khi vào tiếng Việt, phát âm theo âm Việt thì bất cứ một âm tiết nào cũng phải mang một trong sau thanh điệu của tiếng Việt
Ví dụ: Mát-xcơ-va, bôn-sê-vích,…
1.2.2.3 Mặt xã hội của ngữ âm còn thể hiện ở chỗ nó cho phép hệ thống ngữ âm có thể
có những biến đổi trong quá trình phát triển của lịch sử
Ví dụ: các phụ âm kép /bl/, /tl/, /kl/,…trong tiếng Việt cổ mất đi thay thế bằng các phụ âm đơn