+ Khách hàng phải được tiến hành kiểm toán độc lập và có ý kiến dự đoán của chuyên gia về kế hoạch thu chi tiền mặt và các kế hoạch khác liên quan đến mục đích này+ Ngân hàng phải được b
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Rủi ro là yếu tố không thể tránh khỏi đối với các doanh nghiêp hoạtđộng theo những quy luật của nền kinh tế thị trường.Với loại hình kinh doanhđặc biệt, ngân hàng càng chịu nhiều rủi ro hơn và các hoạt động của ngânhàng dễ bị ảnh hưởng khi có gian lận và sai sot xảy ra Để giảm những rủi ronày ngoài việc áp dụng hệ thống kiểm soát nội bộ và điều hành sự hoạt động
có hiệu quả của bộ máy cần có sự trợ giúp của công tác kiểm toán do đội ngũkiểm toán độc lập thực hiện Qua việc thực hiện kiểm toán độc lập, hệ thốngkiểm soát của ngân hàng sẽ được đánh giá và xây dựng hoàn thiện hơn
Với thực tiễn như vậy, tôi đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện kiểm toán hoạt động cho vay trong kiểm toán báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại” Mặc dù đã nỗ lực hết sức để hoàn thành khoá luận này nhưng do giới
hạn về thời gian, lượng kiến thức nghiên cứu còn chưa sâu nên bài viết cònnhiều hạn chế thiếu sót Vì vậy, em rất mong có được ý kiến của các thầy cô,
sự đóng góp của các bạn và những người quan tâm tới kiểm toán hoạt độngcho vay trong ngân hàng thương mại để đưa ra những nhận định sâu sắc hơn
Em xin chân thành cám ơn Tiến Sĩ Ngô Trí Tuệ đã trực tiếp hướng dẫn, góp ýtrong quá trình thực hiện khoá luận
CHƯƠNG III: NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN KIỂM TOÁN HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY KIỂM TOÁN VIỆT NAM VACO
KẾT LUẬN
Trang 2CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI
CHÍNH CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I - Khái quát về ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1-Khái quát về ngân hàng thương mại
1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại
Tại Việt Nam khái niệm vể ngân hàng thương mại được quy định là” Làngân hàng được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác
có liên quan vì mục đích lợi nhuận góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tếcủa nhà nước” (Nghị định 49/CP-2000) Như chúng ta đã biết ngân hàng làmột trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế vì ngânhàng là người cho vay chủ yếu đối với các hộ tiêu dùng (cá nhân, hộ gia đình)
và hầu hết các cơ quan chính quyền điạ phương (thành phố, tỉnh ) Hơn nữa,đối với các doanh nghiệp nhỏ ở địa phương, từ người kinh doanh nhỏ lẻ chotới người kinh doanh rộng lớn về quy mô cũng như số lượng, ngân hàng là tổchức cung cấp tín dụng cơ bản phục vụ cho việc mua hàng hoá dự trữ hoặcmua hàng hoá để kinh doanh Ngân hàng là người thực hiện thanh toán uỷthác khi doanh nghiệp và người tiêu dùng sử dụng séc, thẻ tín dụng hay tàikhoản điện tử để thanh toán hàng hoá và dịch vụ Và khi cần thông tin tàichính hay cần lập kế hoạch tài chính, họ thường tìm đến ngân hàng để nhậnđược lời tư vấn
Trên toàn thế giới, ngân hàng là loại hình tổ chức trung gian tài chínhcung cấp các khoản tín dụng trả góp cho người tiêu dùng với quy mô lớn nhất.Trong mọi thời kỳ, ngân hàng là một trong những thành viên quan trọng nhấttrên thị trường tín phiếu và trái phiếu do chính quyền địa phương phát hành
để tài trợ cho các công trình công cộng, từ những hội trường, sân bóng đá cho
Trang 3Chức năng uỷ thác Chức năng tín dụng
Ngân hàng hiện đại
Chức năng quản lý tiền mặt
Chức năng lập kế hoạch đầu tư
Chức năng thanh toán
Chức năng tiết kiệm
đến sân bay và đường cao tốc Ngân hàng cũng là một trọng tổ chức tài chínhcung cấp vốn lưu động quan trọng nhất cho các doanh nghiệp và trong nhữngnăm gần đây, ngân hàng đã tăng cường mở rộng cho vay dài hạn đổi mới haymua sắm máy móc thiết bị mới Với tất cả những lí do đó và hơn thế nữa,ngân hàng là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhấtcủa xã hội
Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục cácdịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanhtoán- và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tài chínhkinh doanh nào trong nền kinh tế
1.2 Vai trò và chức năng cơ bản của ngân hàng.
Sơ đồ: Những chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay
Trang 4
Vai trò của ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế
Không ai có thể phủ nhận vai trò to lớn của ngân hàng trong sự phát triển kinh
tế trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Đặc biệt, trong bối cảnh ViệtNam gia nhập WTO, ngành ngân hàng lại càng đóng vai trò quyết định thúcđầy quá trình hội nhập, thật vậy điều này đựoc thể hiện qua những vai trò saucủa ngân hàng :
- Vai trò thanh toán: có thể nói đầy là vai trò quan trọng nhất và được cácngân hàng quan tâm nhất, ngân hàng với tư cách là người đại diện cho kháchhàng của mình thanh toán cho việc mua hàng hoá dịch vụ của khách hàngbằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kếtnối các quỹ và phân phối tiền giấy
- Vai trò bảo lãnh: Bằng cách phát hành tín dụng và các hình thức khác ngânhàng sẽ cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất khả năng thanhtoán
- Vai trò đai lý: Ngân hàng thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của
họ như phát hành hoặc chuộc lại chứng khoán và công việc này thường đượcthực hiện tại phòng uỷ thác
- Vai trò trung gian: chuyển các khoản tiết kiệm, chủ yếu từ hộ gia đình, cácthành phần khác để đầu tư vào nhà cửa, thiết bị và các tài sản khác
- Vai trò thực hiện chính sách: thực hiện chính sách kinh tế của chính phủ,góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội.Mục tiêu của ngân hàng thương mại là tối đa hoá lợi nhuận, bảo toàn và tăngnguồn vốn đến mức có thể, đó cũng là mục tiêu chung của tất cả các doanhnghiệp khác trong nền kinh tế thị trường, và như vậy xét trên khía cạnh nàyngân hàng cũng giống như một doanh nghiệp bình thường Tuy nhiện, khácvới các doanh nghiệp khác, loại hình kinh doanh của ngân hàng thương mại làmột loại hình kinh doanh đặc biệt, họat động trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng,
Trang 5và có phạm vi hoạt động là toàn bộ nền kinh tế Dưới các hình thức hoạt độnglà: nhận tiền gửi, huy động bằng trái phiếu, kỳ phiếu, đi vay và cho vay… thìnói chung hoạt động của ngân hàng là loại hình kinh doanh tiền tệ là trunggian tài chính đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế.
Để đảm bảo sự an toàn vững chắc trong hoạt động của mình ngân hàngthương mại thường dành riêng một lượng tiền lớn và những chứng từ có giátrị tránh rủi ro xảy ra trong thanh toán
Với tính chất hoạt động là có số lượng giao dịch lớn và tính chi tiết về giá trịcủa mỗi giao dịch nên các ngân hàng thương mại cần sử dụng phương pháp
xử lý dữ liệu trên mạng máy vị tính
Từ đó đặt ra yêu cầu thực hiện kiểm toán đối với các nghiệp vụ phát sinhtrong hoạt động của ngân hàng trong đó kiểm toán hoạt động cho vay là mộthoạt động không thể thiếu
2- Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
2.1 Các loại hình cho vay của ngân hàng
Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựatrên một số tiêu thức nhất định Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học làtiền đề để thiết lập các hoạt động cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quảquản trị tín dụng Phân loại cho vay dựa vào các căn cứ sau đây:
* Mục đích
Dựa vào căn cứ này cho vay thường được chia làm các loại sau:
- Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xâydựng bất động sản, nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp,thương mại, dịch vụ
Trang 6- Cho vay công nghiệp và thương mại là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốnlưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại vàdịch vụ.
- Cho vay nông nghiệp là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất nhưphân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiênliệu…
- Cho vay các định chế tài chính bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng, công
ty tài chính, công ty cho thuê tài chíng, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và cácđịnh chế tài chính khác
- Cho vay cá nhân là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như muasắm các vật dụng đắt tiền, và các khoản cho vay để trang trải các chi phíthông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng
- Cho thuê của các định chế tài chính bao gồm hai loại cho thuê vận hành vàcho thuê tài chính Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản, trong
đó chủ yếu là máy móc thiết bị
* Thời hạn cho vay
Theo căn cứ này cho vay được chia ra thành 3 loại sau:
- Cho vay ngắn hạn
Loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sựthiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạncủa cá nhân
- Cho vay trung hạn
Theo quy định hiện nay của ngân hàng nhà nước Việt Nam, cho vay trung hạn
có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm
Cho vay trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định,cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xâydựng các dự ác mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh Trong
Trang 7nông nghiệp, chủ yếu cho vay trung hạn để đầu tư vào các đối tượng sau: máycày, máy bơm nước, xây dựng các vườn cây công nghiệp như cà phê, điều…Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, cho vay trung hạn còn là nguồn hìnhthành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là nhữngdoanh nghiệp đặc biệt là những doanh nghiệp mới thành lập
- Cho vay dài hạn
Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa cóthể lên đến 20-30 năm, một số trường hợp cá biệt có thể lên đến 40 năm.Cho vay dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dàihạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xâydựng các xí nghiệp mới
Nghiệp vụ truyền thống của các ngân hàng là cho vay ngắn hạn, nhưng từnhững năm 70 trở lại đây các ngân hàng thương mại đã chuyển sang kinhdoanh tổng hợp và một trong những nội dung đổi mới đó là nâng cao tỷ trọngcho vay trung và dài hạn trong tổng số dư nợ của ngân hàng
* Mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
Theo căn cứ này cho vay được chia làm hai loại:
- Cho vay không đảm bảo là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cốhoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào bản thân uytín của khách hàng Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinhdoanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thểcấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần mộtnguồn thu nợ thứ hai bổ sung
- Cho vay có bảo đảm là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấphoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba
Trang 8Đối với các khách hàng không có uy tín cao đối với các ngân hàng, khi vayvốn đòi hỏi phải có đảm bảo Sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý để ngân hàng
có thêm một nguồn thứ 2, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.Trong những năm 90 các ngân hàng chỉ được phép cho vay có đảm bảo trừcác doanh nghiệp nhà nước kinh doanh có hiệu quả và cho vay hộ nông dân,
từ 5 triệu đồng trở xuống Ngày 29/12/1999 Chính phủ đã ban hành nghị định
số 178/1999/ NĐ- CP vể bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng; theo nghịđịnh này việc cho vay không đảm bảo được mở rộng hơn so với trước đây,cho phép các tổ chức tín dụng được lựa chọn khách hàng để cho vay khôngđảm bảo khi cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để thực hiện các dự án đầu
tư phát triển hoặc phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống Tuynhiên khách hàng vay không đảm bảo phải hội đủ các điều kiện sau:
+ Có tín nhiệm với tổ chức tín dụng cho vay trong việc sử dụng vốn vay vàtrả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi
+ Có dự án đầu tư, hoặc phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi cókhả năng hoàn trả nợ, hoặc có dự án, phương án phục vụ đời sống khả thi phùhợp với quy định của pháp luật
+ Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ
Cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu tổ chức tíndụng nếu sử dụng vốn vay không đúng cam kết trong đồng tín dụng Cam kếttrả nợ trước hạn nếu không thực hiện được biện pháp đảm bảo bằng tài sản.Tổng mức cho vay không đảm bảo và điều kiện cho vay không đảm bảo doNgân Hàng Nhà Nước quy định
* Phương pháp hoàn trả
Dựa vào căn cứ này cho vay của ngân hàng thương mại được chia thành hailoại:
Trang 9- Cho vay có thời hạn là loại cho vay có thỏa thuận thời hạn trả nợ thể theo hợpđồng Cho vay có thời hạn bao gồm các loại sau:
+ Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ (hay còn gọi là phi trả góp) là hình thứccho vay thanh toán một lần theo thời hạn đã thỏa thuận
+ Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể hay còn gọi là cho vay trả góp: là loạicho vay mà khách hàng hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ Loại cho vaynày thường được áp dụng trong cho vay bất động sản, nhà ở, thương mại chovay tiêu dùng, cho vay đối với những người kinh doanh nhỏ (cho vay chợ) ,cho vay để mua sắm máy móc thiết bị
Cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể, việc trả nợphụ thuộc vào khả năng tài chính của người đi vay hoặc cho vay này được ápdụng theo kỹ thuật thấu chi
Đối với loại cho vay có thời hạn khách hàng có thể trả nợ trước nhưng ngânhàng được quyền thu lãi toàn bộ kỳ hạn trả nợ theo hợp đồng, trừ trường hợp
có những thỏa thuận khác
- Cho vay không có thời hạn cụ thể
Đối với loại cho vay không có thời hạn thì ngân hàng có thể yêu cầu hoặcngười đi vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước một thờigian hợp lý, thời gian này có thể được thỏa thuận trong hợp đồng
* Xuất xứ tín dụng
Dựa vào căn cứ này chia thành hai loại sau:
- Cho vay trực tiếp
Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vaytrực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng
- Cho vay gián tiếp
Là khoản vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng
từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán
Trang 10Các ngân hàng thương mại cho vay gián tiếp theo các loại sau:
+ Chiết khấu thương phiếu
Ngân hàng có thể được nhượng lại thông qua người thụ hưởng hối phiếu hoặclệnh phiếu còn trong hạn thanh toán Trong trường hợp này ngân hàng cấpcho khách hàng một số tiền bằng mệnh giá trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồngphí Người thu lệnh hối phiếu hoặc người phát hành lệnh phiếu có tráchnhiệm thanh toán cho ngân hàng khi các chứng từ này đến hạn thanh toán.Cần chú ý rằng, trong nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu người được cấp tíndụng và người chịu trách nhiêm thanh toán chính cho ngân hàng là hai ngườikhác nhau
- Mua các phiếu bán hàng tiêu dùng và máy móc nông nghiệp trả góp
Động lực thúc đẩy các ngân hàng thương mại đưa vào áp dụng loại cho vaygián tiếp là do sự tác động của phương thức tiêu thụ hàng hóa gắn phươngpháp tiếp thị mới Trong điều kiện hiện nay các doanh nghiệp thương mạiđang tìm mọi biện pháp cạnh tranh trong việc tiêu thụ hàng hóa, trong đó bánchịu hàng hóa được coi là biện pháp để mở rộng tiêu thụ hàng hóa có hiệu quảnhất Tuy nhiên do nguồn vốn có hạn nên cần phải có sự hỗ trợ vốn của cácngân hàng để đáp ứng nhu cầu về vốn
Cho vay gián tiếp thông qua mua các phiếu bán hàng được thực hiện quy trìnhnhư sau:
+ Doanh nghiệp thương mại bán chịu hàng hóa cho người tiêu dùng hoặcnông dân
+ Doanh nghiệp thương mại chuyển nhượng phiếu bán hàng trả góp cho ngânhàng để được tài trợ vốn
+ Người mua thanh toán cho ngân hàng theo định kỳ
Những điểm cần lưu ý khi cho vay gián tiếp:
Trang 11+ Trước khi thực hiện hợp đồng mua lại các phiếu bán hàng trả góp, ngânhàng phải thỏa thuận với người bán các điều kiện bắt buốc khi thực hiện việcbán hàng trả góp bà ngân hàn chỉ mua ngững hồ sơ bán hàng đúng theo cácđiều kiện đã thỏa thuận
+ Ngân hàng phải giữ lại từ 10% - 30% so với số tiền phải thanh toán chongười bán và sẽ hoàn lai cho người bán khi người mua thanh toán hêt nợ Quyđịnh này là cần thiết để nâng cao trách nhiệm của người bán trong việc giámđịnh các hồ sơ bán chịu
+ Hợp đồng mua lại các phiếu bán hàng trả góp thường là hợp đồng đượcphép truy đòi, có nghĩa là khi người mua không thanh toán được nợ thì ngườibán có trách nhiệm phải thanh toán cho ngân hàng
Phần lớn lãi thu được từ khoản bán chịu này ngân hàng được hưởng và chỉdành cho người bán một mức hoa hồng
- Nghiệp vụ thanh tín
Nghiệp vụ thanh tín là nghiệp vụ mua các khoản nợ thương mại trong đó bênmua nhận việc thu nợ và chấp nhận rủi ro tín dụng, thực chất nghiệp vụ tíndụng là hình thức tài trợ vốn lưu động cho các doanh nghiệp
Nghiệp vụ thanh tín hay còn gọi là mua các khoản phải thu là một hình thứctài trợ vốn vốn ngắn hạn Nghiệp vụ này thường do các công ty mua nợ thựchiện
Nghiệp vụ thanh tín được thực hiện như sau:
+ Khách hàng bán các khoản phải thu (phải thu theo hóa đơn) cho người mua
nợ (factor- thường là công ty con của ngân hàng)
+ Người mua nợ thanh toán một khoản tiền bằng số tiền trên tài khoản nợ trừ
đi lãi và hoa hồng mà người mua nợ được hưởng, đồng thời ngừoi mua nợcòn giữ lại một phần để phòng ngừa hàng trả lại
+ Khi đến hạn con nợ phải thanh toán cho người mua nợ
Trang 12Nghiệp vụ thanh tín gần giống nghiêp vụ chiết khấu thương mại, nhưng cócác điểm khác nhau sau:
Các khoản nợ phải mua là các khoản nợ có hóa đơn
Hợp đồng mua các khoản phải thu thông thường là hợp đồng miễn truy đòi,
và có thông báo
Ngân hàng thương mại giữ lại từ 10%- 20% để dự phòng hàng hóa bị trả lại.Lãi suất mà người mua được hưởng trong nghiệp vụ này cao hơn so với cácnghiệp vụ tín dụng khác vì nghiệp vụ thanh tín có rủi ro cao (thường cao hơn2%- 3% so với lãi suất cơ bản)
Ngoài các loại cho vay trên đây, ngân hàng còn thực hiện các nghiệp vụ bảolãnh cho khách hàng bằng uy tín của mình Đối với nghiệp vụ này ngân hàngkhông phải cung cấp bằng tiền, nhưng khi ngừoi được bảo lãnh không thựchiện được nghĩa vụ theo hợp đồng thì người bảo lãnh phải thay thế để thựchiện nghĩa vụ thanh toán Chính vì lý do trên mà người ta gọi hành vi cam dếtbảo lãnh của ngân hàng là tín dụng bằng chữ ký
2.2- Cơ cấu cho vay của các ngân hàng
Đặc điểm của thị trường nơi ngân hàng hoạt động là nhân tố tạo nên sự khác nhau trong danh mục cho vay giữa các ngân hàng cũng như cơ cấu cho vay Mỗi ngân hàng phải hướng đến mục tiêu đáp ứng nhu cầu tín dụng của khách hàng của mình trong phạm vi thị trường mà ngân hàng hoạt động Nhưng khu vực hoạt động của ngân hàng không phải là yếu tố quyết định đến cơ cấu cho vay, ngân hàng có thể mua lại toàn bộ hoặc một phần các khoản cho vay từ các ngân hàng khác để cung cấp một khoản cho vay hay sử dụng các hợp đồng phát sinh tín dụng để hạn chế những thay đổi bất lợi bắt nguồn từ danh mục cho vay do sự biến động của nền kinh tế trong khu vực nơi ngân hàng hoạt động Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu cho vay của các ngân hàng thương mại gồm: Kinh nghiệm và trình độ quản lý, quy mô ngân hàng và quy định pháp lý đối với hoạt động cho vay
2.3 – Rủi ro và xử lý rủi ro liên quan đến hoạt động cho vay
2.3.1 – Các rủi ro liên quan
Rủi ro đối với hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại là rất cao khối lượng giao dịch lớn cùng với tính chất phức tạp và dễ biến động của
Trang 13tiền tệ Các rủi ro liên quan đến hoạt động cho vay của ngân hàng có thể phân chia thành các nhóm sau:
- Cho vay ít rủi ro: Khả năng thực hiện các nghĩa vụ của khách hàng là chắc chắn, bảo đảm việc trả nợ như đã thoả thuận có thể có một số khíacạnh yếu nhỏ về rủi ro
- Cho vay rủi ro trung bình: Khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính củakhách hàng là vững chắc, rủi ro cho vay chung ở mức chấp nhận được, nhưng có một số khía cạnh yếu kém trên thực tế về rủi ro tín dụng, cần
có sự giám sát và kiểm soát
- Cho vay trên mức rủi ro trung bình: Khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của khách hàng ở mức mạo hiểm do những yếu kém lớn trên vài khía cạnh về rủi ro cho vay ( các yếu kém này có dấu hiệu có khả năng sửa chữa được) - mức rủi ro tiềm tàng này yêu cầu phải tăng việc giám sát để đảm bảo tình hình tài chính không xấu đi
- Cho vay rủi ro cao: Khách hàng đang trong tình trạng xấu kéo dài ví dụ: thua lỗ trong kinh doanh, khó khăn trầm trọng về khả năng thanh toán và ngân hàng đang cố gắng cải thiện hoặc từ bỏ mối quan hệ để tránh thua lỗ tiềm tàng
- Cho vay khó đòi lãi ( khê đọng một phần) khách hàng có rủi ro cao, có thể bị thất thoát lãi song có thể hy vọng lấy lại được gốc
- Cho vay khó đòi gốc và lãi ( khê đọng toàn phần) Khách hàng có rủi rocao, có thể khả năng mất cả vốn, lãi và các khoản chi phí sau khi đã nỗ lực hết sức trong việc áp dụng các biện pháp có thể
2.3.2 Xử lý rủi ro hoạt động cho vay đối với các ngân hàng thương mại
Thông thường công việc xử lý rủi ro giao cho bộ phận chuyên nghiệp với mụcđích giống như với bộ phận quản lý rủi ro cao, tức là tận dụng sự chuyên mônhoá của họ nhằm đạt tới kết quả tối đa cho công việc xử lý rủi ro
Khoản vay sau khi được đánh giá có vấn để và được chuyển sang bộ phận xử
lý, điều đó có nghĩa là:
- Việc thu nợ phải tiến hành càng nhanh càng tốt
- Mối quan hệ của khách hàng và ngân hàng không còn cơ sở nào để tồn tại nữa
Bộ phận xử lý sau khi nhận việc sẽ tiến hành công việc tuần tự như bộ phận quản lý rủi ro cao, tức là:
+ Liên hệ với bộ phận cũ nắm lích sử khoản vay
+ Nhận bàn giao hồ sơ cho vay
+ Kiểm tra tính hiệu lực của hồ sơ
+ Xem xét số liệu chính trong hồ sơ
Trang 14Sau khi lập phương án xử lý- phương án xử lý xét về tổng quát có hai hướng chính: khai thác hoặc thanh lý- trong đó hướng khai thác là một quá trình làm việc với khách hàng cho tới khi khoản vay được trả một phần hay toàn bộ với các biện pháp áp dụng không dựa vào công cụ pháp luật để ép buộc thu ngân Ngược lại , hướng thanh lý là ép buộc các khách hàng tuân theo các điều khoản của hợp đồng cho vay và thực hiện tất cả các giải pháp để đạt được mục tiêu
Việc lựa chọn hướng xử lý nào trong phương án xử lý tuỳ thuộc vào các nhân tố:
- Ý chí trả nợ và sự thật thà của khách hàng
- Chi phí bỏ ra thực hiện việc xử lý so với dư nợ thu về được
- Thái độ các chủ nợ khác ngoài ngân hàng
- Mức độ nghiêm trọng của khoản nợ có vấn để xét theo khía cạnh tổn thất của nó
Việc lựa chọn này là một nghệ thuật nhiều hơn khoa học, do vậy khó có thể khẳng định vai trò ảnh hưởng của từng nhân tố trên đến quyết định chọn hướng xử lý là bao nhiêu Nhưng có điều chắc chắn rằng tất cả chúng đều có ảnh hưởng lẫn nhau và nhân tố thành thật của người vay, thái độ đối với khoản vay và ý muốn chi trả là nhân tố quan trọng nhất
- Áp dụng các giải pháp khai thác để xử lý những khoản vay có vấn đề có thể được hiểu như một chương trình phục hồi để áp đặt lên người vay với sự cộngtác
và thoả thuận của họ Do không phải là một công cụ pháp lý nên các biểu hiệncủa hình thức khai thác là khác nhau
- Ngân hàng đưa ra các lời khuyên trên nhiều chủ để nhằm tác động đến khả năng tạo ra và thu lợi tức của người vay như:
+ Bán bớt tài sản, bán bớt một phần doanh nghiệp
+ Thực hiện một chương trình mở rộng sản xuất, định giá lại sản phẩm, thay đổi phương thức bán, tăng sản phẩm mới
+ Loại bỏ một số hoạt động không sinh lợi bằng cách thương lượng thực tế là thương lượng lại các hơpự đồng với đối tác
+ Ngân hàng phải khẳng định được khoản vay bổ sung sẽ góp phần củng cố khả năng thanh toán toàn bộ các khoản vay nợ và do đó có thể được hoàn trả
Trang 15+ Khách hàng phải được tiến hành kiểm toán độc lập và có ý kiến dự đoán của chuyên gia về kế hoạch thu chi tiền mặt và các kế hoạch khác liên quan đến mục đích này
+ Ngân hàng phải được bổ sung tài sản đảm bảo
+ Thời hạn vay bổ sung phải trong khoảng chấp nhận được
- Ngân hàng sẽ giúp khách hàng chuyển sang ngân hàng khác hoặc một chủ nợ khác nếu có yêu cầu
- Phương pháp thoả hiệp: Ngân hàng có thể rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan khi:
+ bảo đảm tín dụng không đủ
+ giá trị tài sản bảo đảm giảm
+ thoả thuận vay nợ có sơ hở
+ khách hàng bất hợp tác hoàn toàn
Lúc này ngân hàng rơi vào vị trí yếu hơn nếu đưa khách hàng vào sự can thiệp pháp lý, vì số tiền thu được so với chi phí pháp lý sẽ ít hiệu quả hơn nếu chấp nhận không đưa khách hàng ra toà và nhận một khoản nợ ít hơn.Ngoài tính hiệu quả đó, ngân hàng còn có thêm các hiệu quả khác như:
+ Được thanh toán tức thời một phần nợ đã thoả thuận- mà ra toà chưa biếtkết quả sẽ thế nào
+ Giải phóng thời gian để tập trung vào công việc khác
+ Tránh được dư luận không có lợi trong chiến lược khách hàng
- Gia hạn thời gian xử lý:Ngân hàng có thể sử dụng biện pháp này nếu khách hàng có một hợp đồng đầy triển vọng sinh lời Điều kiện cho biện pháp là: ngân hàng phải nắm chắc sẽ nhận được phần lớn lợi nhuận dự tính của hợp đồng; dòng tiền của khách hàng không bị rò rỉ sang các chủ nợ khác; ngân hàng nắm giữ được hợp đồng và tìm hiểu được thiện chí của đối tác; kiểm tra chắc chắn phương án và các giả thiết được đặt ra
Biện pháp này đem lại cho ngân hàng một triển vọng hoàn trả hết món nợ đồng thời tiếp tục duy trì được mối quan hệ với khách hàng
* Hướng thanh lý các khoản cho vay có vấn để
Các biện pháp thanh lý sẽ trở nên tối ưu nếu ngân hàng thấy tổ chức khai thác là không tiện lợi, hiệu quả và ngân hàng nhận thấy khả năng cải thiện tình hình tài chính của khách hàng là không thể Xét cụ thẻ việc thanh lý chỉ thực hiện sau khi đã thực hiện vài hình thức thanh lý cụ thể nào đó nhưng không thành công, hoặc ngay khi ngân hàng nhận thấy khách hàng không sẵn lòng chi trả, hay hành động lừa đảo- tình trạng vỡ nợ xảy ra
Trang 16Biện pháp này do dùng tới pháp luật nên thường xảy ra với các thủ tục pháp lý rắc rối, tẻ nhạt và mang màu sắc tàn nhẫn với người vay Có thể gồm:
- Bịên pháp thanh lý doanh nghiệp: Với các khoản nợ không bảo đảm hoặc đảm bảo tín dụng giá trị không còn thì thanh lý doanh nghiệp được thực hiện với sự phán quyết của toà án Phán quyết này cho phép nắm giữ và bán tài sản của khách hàng với số lượng phù hợp với quyết định của toà án Nếu tài sản này của khách hàng không đủ thì quá trình này vô hiệu lực
- Biện pháp phá sản doanh nghiệp: Luật phá sản ( của Việt Nam ban hành tháng 12/1993 và có hiệu lực 01/7/1994) khuyến khích các chủ nợtìm cách giải quyết thân thiện với bên nợ trước khi đệ trình lên toà án
để nghị toà án tuyên bố phá sản:
Nhằm ngăn ngừa các khoản cho vay có rủi ro về mặt nghiệp vụ, ngân hàng thương mại trong suốt thời gian cho vay phải liên tục giám sát danh mục tín dụng hiện có của ngân hàng Việc giám sát này được khởi đầu bằng việc xếp hạng rủi ro cho các khoản vay cho cả hai tiêu thức: ý chí, khả năng trả nợ và chất lượng của các tài sản đảm bảo Bước tiếp theo là từng định kỳ ( thường là
1 tháng) hoặc có các biến động đột xuất, ngân hàng thương mại tiến hành giám sát lại hạng đã được đánh giá Việc này được tiến hành bằng 3 phương pháp khác nhau: dùng bảng, đồ thị hoặc điều tra tại chỗ
Khi quá trình ngăn ngừa tỏ ra không thành công hoặc gặp nợ vay có vấn để
mà ý chí hợp tác cùng ngăn ngừa từ phía khách hàng kém hay lừa đảo, ngân hàng phải thực hiện các biện pháp xử lý thông qua bộ phận truy hồi tài sản với một phương án xử lý cụ thể được lập cho các giải pháp cụ thể trong 2 nhóm biện pháp: Khai thác và thanh lý
II – Khái quát về kiểm toán hoạt động cho vay trong kiểm toán báo cáo tài chính các Ngân hàng Thương mại.
1- Đối tượng và mục tiêu kiểm toán
Đối tượng kiểm toán của hoạt động cho vay là tổng thể các nghiệp vụ bao
gồm các nghiệp vụ giải ngân cho vay và thu nợ, thu nhập từ lãi cho vay, thư tín dụng L/C, thư bảo lãnh L/C không có đảm bảo, quản lý các tài sản đảm bảo của khách hàng vay hay các hợp đồng ngoại hối, cơ cấu rủi ro tiểm ẩn, toàn bộ các giai đoạn trong quá trình xét duyệt cho khách hàng vay, giám sát cho vay, uy tín tài chính của khách hàng vay và tài sản đảm bảo của họ
Trang 17Cách tiếp cận phổ biến trong kiểm toán hoạt động cho vay là xem xét môi trường kiểm soát Trong đó, kiểm toán viên đánh giá rủi ro của toàn bộ nghiệp
vụ cho vay, đảm bảo rằng những rủi ro này đã được kiểm soát, tránh những thất thoát có thể đe doạ tới sự tồn tại của ngân hàng và kiểm toán viên cần thuthập bằng chứng kiểm toán nhằm đảm bảo ngân hàng đã thiết lập dự phòng rủi ro thích đáng; xác định ảnh hưởng của hoạt động tín dụng tới kết quả tài chính của ngân hàng
2 – Các sai phạm có thể xảy ra trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Trong quá trình kiểm toán hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại các sai phạm thường xảy ra là:
- Không có sự phân tách trách nhiệm rõ ràng giữa cán bộ tín dụng, nhân viên quản lý tín dụng và kế toán Trong thực tế xảy ra những trường hợp các nhân viên có thể vô tình hoặc cố ý gây ra các sai phạm như: biển thủ tài sản, ghi sai các khoản công nợ hoặc vào sổ sai các nghiệp vụ… mà không có các thủ tục cần thiết để phát hiện kịp thời
- Do đánh giá không chính xác về rủi ro của khách hàng hoặc hồ sơ tín dụng không đầy đủ dẫn đến thất thoát các khoản cho vay
- Thực hiện cho vay dựa trên các sự kiện bất thường có thể xảy ra trong tương lai; cho vay tài trợ các hoạt động đầu cơ
- Chính sách và các thủ tục cho vay không được xác định rõ rang và lập văn bản cho tất cả các loại hình cho vay, bao gồm: loại giao dịch, bảo đảm, lãi suất, sự tuân thủ pháp luật…
- Xu hướng cho vay các khoản lớn không đúng quy định
- Do quản lý về rủi ro tín dụng là không thích đáng nên trong danh mục các khoản cho vay có nhiều khoản là cho vay không có bảo đảm, các khoản lỗ khi cho vay không được ghi chép đầy đủ
3- Trình tự kiểm toán
Theo nguyên lý chung trình tự kiểm toán trải qua 3 bước cơ bản sau:
- Chuẩn bị kiểm toán
- Thực hiện kiểm toán
- Kết thúc kiểm toán
3.1 - Chuẩn bị kiểm toán
Trong giai đoạn này, kiểm toán viên tiến hành thực hiện lập kế hoạch kiểmtoán bao gồm các phần sau: Kế hoạch chiến lược, kế hoạch tổng thể và kế hoạch chi tiết hay còn gọi là chương trình kiểm Khi tiến hành kiểm toán hoạt động cho vay tại các ngân hàng kiểm toán viên tiến hành thực hiện
Trang 18những bước công việc trên đồng thời phải thu nhập được các thông tin cơ sở.
3.1.1 - Lập kế hoạch chiến lược
Dựa trên sự hiểu biết về tình hình hoạt động và môi trường kinh doanh củađơn vị được kiểm toán, kiểm toán viên lập ra những định hướng cơ bản, những nội dung trong tâm của cuộc kiểm toán được gọi là kế hoạch chiến lược.Phương pháp tiếp cận của mọi cuộc kiểm toán do cấp chỉ đạo vạch ra
và chịu sự giám sát quản lý của cấp đó trong quá trình thực hiện kiểm toán
Kế hoạch chiến lược có những nội dung sau:
- Thực trạng hoạt động kinh doanh ( về lãi, lỗ…) và mức độ thực hiện quyển và nghĩa vụ đối với nhà nước của của khách hàng
- Chế độ kế toán ngân hàng , chuẩn mực kế toán đang áp dụng và yêu cầu về lập và trình bày báo cáo tài chính
- Đánh giá các rủi ro trọng yếu và ảnh hưởng của rủi ro đến báo cáo tài chính thông việc nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng
- Xác định phương pháp kiểm toán cũng như mục tiêu kiểm toán trọng tâm
- Xác định nhu cầu về sự hợp tác của các chuyên gia Đây là một yêu cầutất yếu khi thực hiện kiểm toán hoạt động cho vay vì trong ngân hàng
số lượng các nghiệp vụ cho vay rất lớn và diễn ra phức tạp, hầu hết các ngân hàng sử dụng một hệ thống xử lý thông tin trên máy vi tính Chính
vì vậy, kiểm toán viên cần dự trù việc trợ giúp của các chuyên gia máy tính để thu thập được các bằng chứng hữu hiệu, chính xác
Trong thực hiện kiểm toán đối với những khách hàng có quy mô lớn và tính chất phức tạp, hoặc kiểm toán báo cáo tài chính trong nhiều năm thỉ kiểm toánviên tiến hành lập kế hoạch chiến lược
3.1.2 - Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát
* Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán
Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán bao gồm các công việc sau:
- Thứ nhất, dựa trên lý do kiểm toán mà khách hàng đưa ra và những thông tin tài chính về ngân hàng kiểm toán viên đánh giá khả năng chấpnhận kiểm toán
- Thứ hai, sau khi chấp nhận kiểm toán, lựa chọn đội ngũ kiểm toán thực hiện kiểm toán là bước tiếp theo Lựa chọn đội ngũ kiểm toán viên phù hợp cho mỗi cuộc kiểm toán là yếu tó đảm bảo tính hiệu quả của cuộc kiểm toán và tạo niềm tin cho khách hàng cũng như các bên sử dụng báo cáo tài chính
Trang 19- Cuối cùng, công ty kiểm toán thực hiện hợp đồng kiểm toán: Hợp đồngkiểm toán là văn bản thoả thuận chính thức giữa các công ty kiểm toán
và khách hàng về việc thực hiện kiểm toán và các dịch vụ tư vấn khác
có liên quan
* Thu thập thông tin cơ sở
Theo chuẩn mực kiểm toán việt nam số 310 “ Hiểu biết về tình hình kinh doanh” hướng dẫn: “Để thực hiện được kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải có hiểu biết về tình hình kinh doanh đủ để nhận thức và xác định các dữ kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động của đơn vị được kiểm toán mà theo đánh giá của kiểm toán viên chúng có thể ảnh hưởng trọng yếu đến Báo cáo tài chính, đến việc kiểm tra của kiểm toán viên hoặc đến báo cáo kiểm toán”
Thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính đối với các ngân hàng thương mại kiểm toán viên cần thu thập những hiểu biết về hệ thống kế toán đặc thù,
sự hoạt động hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ và các bên liên quan Với kiểm toán hoạt động cho vay kiểm toán viên cần phải đạt đuợc sự hiểubiết về nội dung các nghiệp vụ cho vay, hình thức cho vay, kế hoạch đầu
tư, người đi vay…
Để thu thập thông tin cơ sở kiểm toán viên cần tiến hành các công việc sau:
- Xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán năm trước và hồ sơ kiểm toán chung
- Nghiên cứu tổ chức bộ máy, điều lệ công ty, chính sách tài chính kế toán… Qua đó, kiểm toán viên sẽ nắm đựoc những thông tin hữu ích phục vụ cho công tác kiểm toán
- Khảo sát nhà xưởng và phỏng vấn các thành viên chủ chốt nằm trong hội đồng quản tri, ban giám đốc, tạo điều kiện cho việc thuyết minh số liệu kế toán; xem sổ theo dõi cổ đông, sổ theo dõi khách hàng
- Dự kiến sự trợ giúp của các chuyên gia bên ngoài
* Thu thập thông tin về mức độ thực hiện quyền và nghĩa vụ của khách hàng đối với nhà nước
Kiểm toán viên cần thu thập các tài liệu sau để đảm bảo sự hiểu biết về nghĩa vụ của khách hàng đối với nhà nước :
- Giấy phép thành lập và điều lệ công ty
- Báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán
- Biên bản các cuộc họp đại hội cổ đông, hội đồng quản trị và ban giám đốc, biên bản thanh tra và kiểm tra của một số năm trước
- Các chứng từ và sổ sách quan trọng có liên quan đến cuộc kiểm toán
* Thực hiện thủ tục phân tích
Trang 20Thủ tục phân tích là việc phân tích các số liệu, thông tin, tỷ suất quan trọng qua đó tìm ra những xu hướng biến động và tìm ra các mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin có liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giátrị đã dự kiến.
Mức độ, phạm vi, thời gian áp dụng các thủ tục phân tích của cuộc kiểm toán phụ thuộc vào quy mô và tính phức tạp của hoạt động kinh doanh của ngân hang Kiểm toán viên cần thực hiện thủ tục phân tích để xác định những yếu
Kiểm toán viên cần thực hiện ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho toàn
bộ báo cáo tài chính, sau đó phân bổ ước lượng ban đầu về mức trọng yếu chocác khoản mục trên báo cáo tài chính Xác định các sai số có thể chấp nhận được cho từng khoản mục
- Đánh giá rủi ro kiểm toán
Rủi ro kiểm toán là rủi ro do công ty kiểm toán và kiểm toán viên đưa ra nhậnxét không thích hợp về báo cáo tài chính đã được kiểm toán
Rủi ro kiểm toán bao gồm: rủi ro cố hữu, rủi ro kiểm soát, và rủi ro phát hiện.Rủi ro cố hữu là khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trên báo cáo tài chính còn chứa đựng những sai phạm trọng yếu mặc dù có hay không hệ thống KSNB
Rủi ro kiểm soát là khả năng xảy ra các sai phạm trọng yếu do hệ thống
KSNB không hoạt động hoặc hoạt động không có hiệu quả, do đó không phát hiện và ngăn ngừa các sai phạm này
Rủi ro phát hiện là khả năng xảy ra các sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính mà không được phát hiện và ngăn chặn bởi hệ thống kiểm soát nội bộ
và cũng không được kiểm toán viên phát hiện trong quá trình kiểm toán.Trong các cuộc kiểm toán với đối tượng được kiểm toán là các ngân hàng phương pháp kiểm toán hiệu quả nhất là kiểm toán dựa vào rủi ro Phân tích rủi ro giúp kiểm toán viên lập kế hoạch kiểm toán thích hợp, không bỏ sót những điểm quan trọng cần kiểm toán Phân tích những rủi ro kiểm toán liên quan đến hoạt động cho vay để từ đó xác định được rủi ro kiểm toán tương ứng
* Nghiên cứu hệ thống KSNB của ngân hàng và đánh giá rủi ro kiểm toán
Trang 21Để thực hiện cuộc kiểm toán cho khách hàng đặc biệt là các ngân hàng
thương mại kiểm toán phải hiểu đầy đủ về cơ cấu cũng như hiệu quả hoạt độgn của hệ thống KSNB của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán và để xác định bản chất, thời gian, phạm vi của các thử nghiệm cần được thực hiện, điều này đã đươc đề cập trong chuẩn mực kiểm toán đựoc chấp nhậ Mặt khác, nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm toán tạo điều kiện cho cuộc kiểm toán tiến hành một cách có hiệu quả
3.1.3- Thiết kế chương trình kiểm toán
Dựa vào những thông tin thu thập được kiểm toán viên tiến hành thực hiệnnhững dự kiến chi tiết về công việc kiểm toán cần thực hiện, thời gian hoàn thành, công việc mà mỗi kiểm toán viên cần đảm nhiệm cũng như những dự kiến về các tư liệu, thông tin liên quan cần sử dụng và thu thập Thiết kế chương trình kiểm toán tức là phải xác định các thủ tục kiểm toán cần đựoc thực hiện đối với từng khoản mục hay bộ phận được kiểm toán, đó là nội dung trọng tâm của mỗi chương trình kiểm toán
Chương trình kiểm toán bao gồm ba phần: thiết kế trắc nghiệm công việc, thiết kế trắc nghiệm phân tích và thiết kế trắc nghiệm trực tiếp số dư
- Những nội dung cần thực hiện khi thiết kế các trắc nghiệm kiểm toán:
+ Xác định các thủ tục kiểm toán: là những hướng dẫn cụ thể về quá trình thunhập một loại bằng chứng kiểm toán ở một thời điểm nào đó khi tiến hành kiểm toán
+Số lượng các khoản mục được chọn: để chọn được những khoản mục có tínhđại diện cao cần tiến hành lựa chọn các khoản mục theo các phương pháp khoa học, đảm bảo rằng những khoản mục đó phản ánh được đặc trưng của toàn bộ các khoản mục được chọn
+ Các khoản mục chính được chọn: là những khoản mục ảnh hưởng trọng yếuđến báo cáo tài chính
+ Thời gian thực hiện: Khi nào thì các thủ tục kiểm toán bắt đầu và khi nào thì kết thúc thực hiện các thủ tục
3.2- Thực hiện kế hoạch kiểm toán
Để thu thập đầy đủ bằng chứng thích hợp cho việc đưa ra ý kiến kiểm toán, kiểm toán viên cần sử dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toán phù hợp với từng đối tượng cụ thể Quá trình sử dụng các phương pháp kỹ thuật đó gọi là quá trình thực hiện kiểm toán , đây không phải là một công việc máy móc và thụ động mà được triển khai một cách chủ động và có tích cực các kế hoạch, chương trình kiểm toán nhằm đưa ra ý kiến xác thực về tính trung thực, hợp
lý của các thông tin trên báo cáo tài chính trên cơ sở bằng chứng kiểm toán đầy đủ và đáng tin cậy
Trang 22Kiểm toán viên tiến hành thực hiện theo một trình tự thống nhất từ chương trình kiểm toán đã được xây dựng Tuy nhiên trong quá trình thực hiện nếu cónhững vấn đề trọng yếu nảy sinh, kiểm toán viên phải đánh giá lại để điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp Thử nghiệm kiểm soát, thủ tục phân tích, thủ tụckiểm tra chi tiết sẽ được kiểm toán viên thực hiện trong giai đoạn thực hiện kếhoạch kiểm toán này.
- Nội dung các công việc cần thực hiện trong giai đoạn thực hiện kiểm toán bao gồm:
+ Phân tích sơ bộ báo cáo tài chính của các ngân hàng
+ Kiểm tra hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động cho vay
+ Tìm hiểu tình hình kinh tế của khách hàng đi vay
+ Thực hiện các thử nghiệm cơ bản
+ Kiểm tra số liệu kế toán
Đặc trưng trong hoạt động của các ngân hàng là số lượng các giao dich cho vay lớn việc kiểm tra chi tiết đối với toàn bộ từng nghiệp vụ là không khả thi hoặc mất rất nhiều thời gian và chi phí thực hiện kiểm toán Do đó cách tiếp cận phổ biến của kiểm toán viên đánh giá hiệu quả và độ tin cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ dưa trên việc thực hiện các thử nghiệm kiểm soát Mặc dù tập trung thực hiện các thử nghiệm kiểm soát nhưng các thử nghiệm kiểm toán cơ bản không vì thế mà bị lơ là vì các bằng chứng thu thập được muốn đảm bảo được đầy đủ và hợp lý thì cần có công tác thực hiện thử nghiệm cơ bản mặc dù với số lượng ít hơn
Kiểm toán hoạt động cho vay trong ngân hàng không chỉ đưa ra ý kiến thông tin đựoc công bố trên báo cáo tài chính mà còn phải đánh giá được khả năng rủi ro của các thông tin đó Để thực hiện được điều này kiểm toán viên khôngchỉ phải nắm vững nghiệm vụ kiểm toán mà còn phải có trình độ phân tích, kiến thức nhất định về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại- hoạt động có nhiều rủi ro nhất
3.2.1 Các thử nghiệm kiểm soát
Theo chuẩn mực kiểm toán được thừa nhận có để cập thử nghiệm kiểm soát làviệc kiểm tra để thu thập bằng chứng kiểm toán về sự thiết kế phù hợp và sự vận hành hữu hiệu của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ
Thử nghiệm kiểm soát được thực hiện khi hệ thống kiểm soát nội bộ được đánh giá ban đầu là có hiệu lực Thử nghiệm kiểm soát được triển khai nhằm thu thập bằng chứng kiểm toán về sự thiết kế phù hợp và sự vận hành hữu hiệu của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ Khi thu thập sự hiêủ biết về hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên cần xem xét thiết kế hoạt
Trang 23động kiểm soát có ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa các sai phạm trọng yếu hay không? Mục đích của các thử nghiệm kiểm soát là thu thập các bằng chứng về sự hiện hữu của các quy chế và thủ tục kiểm soát để giảm bớt các thử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệp vụ.
Các thử nghiệm kiểm soát nếu được thực hiện đầy đủ có thể cung cấp các bằng chứng cho các cơ sở dẫn liệu (đầy đủ, có thật, và định giá đúng) báo cáotài chính được lập liên quan đến các hoạt động cho vay của ngân hàng
Các nhận định nghề nghiệp của kiểm toán viên quyết định mức độ thực hiện các thử nghiệm kiểm soát Kiểm toán viên cần phải cân nhắc dến hệ thống kiểm soát nội bộ trong quan hệ với các mục tiêu kiểm toán cũng như tính quan trọng của các mục tiêu đó đến ý kiến kiểm toán cho toàn bộ hoạt động cho vay Cần chú ý rằng bằng chứng thu được về một hệ thống kiểm soát nội
bộ tốt có thể làm bằng chứng có giá trị như nhiều bằng chứng thu thập được quan kiểm tra chi tiết
3.2.2- Thực hiện thủ tục phân tích và kiểm tra chi tiết
* Kiểm tra chi tiết
Quá trình áp dụng các biện pháp kỹ thuật như trắc nghiệm độ vững chãi, trắc nghiệm trực tiếp số dư để kiểm toán các khoản mục và các nghiệp vụ tạo nên
số dư trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp gọi là kiểm tra chi tiết
Kiểm tra chi tiết được thực hiện qua các bước sau: Lập kế hoạch kiểm tra chitiết, lựa chọn các khoản mục để kiểm tra chi tiết, Lựa chọn các khoản mục chính, các biện pháp kỹ thuật để kiểm tra chi tiết, đánh giá kết quả kiểm tra chi tiết, xử lý chênh lệch
- Lập kế hoạch kiểm tra chi tiết: Mục tiêu chính của cuộc kiểm toán và các phương pháp kỹ thuật kiểm tra chi tiết cần đựoc kiểm toán viên thực hiện trong giai đoạn lập kế hoạch này
Trang 24- Lựa chọn các khoản mục để tiến hành kiểm tra chi tiết: Do hạn chế về thời gian và chi phí kiểm toán viên không thể tiến hành kiểm tra chi tiết trên tất cả các khoản mục mà cần tiến hành lựa chọn các khoản mục nhất định kiểm tra, những khoản mục được lựa chọn phải đảm bảo rằng bằng chứng mà kiểm toán viên thu thập được đảm bảo độ chắc chắn và chính xác.
- Lựa chọn các khoản mục chính: Khoản mục chính là những khoản mục có ảnh hưởng trọng yếu tới báo cáo tài chính, là những khoản mục phát sinh bất thường, không dự đoán trước đựoc và dễ có sai phạm, các khoản mục chính được kiểm toán viên lụa chọn bằng cách đọc lướt các chứng từ, các tài liệu kếtoán để thu thập các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị
- Đánh giá kết quả kiểm tra chi tiết: Kiểm toán viên tiến hành đánh giá các bằng chứng đã thu thập được, nếu sau khi đánh giá phát hiện có chênh lệch kiểm toán viên cần tiến hành kiểm tra nguyên nhân và xem xét ảnh hưởng của
sự chênh lệch đến báo cáo tài chính và kết quả kinh doanh của đơn vị có trọngyếu hay không
- Xử lý chênh lệch: Sau khi thực hiện phân loại theo tính chất chênh lệch ( do gian lận hay do sai sót gây ra ) kiểm toán viên cần báo cáo cho ban giám đốc của doanh nghiệp về sự chênh lệch đó để đưa ra những biện pháp xử lý thích hợp Nếu chênh lệch kiểm toán không đựoc điều chỉnh thì cần lập bảng tổng hợp tóm tắt những chênh lệch và đánh giá ảnh hưởng của chúng đối với báo cáo tài chính
* Thủ tục phân tích và kiểm tra chi tiết đối với hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Tưong ứng với mục tiêu của từng cuộc kiểm toán và của từng khách thể kiểm toán, các thủ tục phân tích và kiểm tra chi tiết sẽ được thiết kế phù hợp dựa vào những đánh giá thu được từ kiểm tra hệ thống kiểm soát nộ bộ và các xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên Thủ tục phân tích cần sử dụng trong hoạt động cho vay là các phân tích về thu nhập từ lãi suất
Kiểm toán viên cần tiến hành thực hiện các công việc sau:
- Rà soát những thay đổi về giá trị, cơ cấu các khoản cho vay cũng như thời hạn cho vay của số dư cho vay năm nay với năm trước và với dự toán của ngân hàng nếu có những thay đổi lớn cần tiến hành tìm hiểu nguyên nhân
- Xem xét các biên bản của ủy ban tín dụng và kiểm tra chi tiết các giao dịch gần với ngày kết thúc niên độ kế toán tức là các giao dịch trước và sau ngày kết thúc niên độ kế toán
- Xác nhận về quyền và nghĩa vụ đối với các khoản cho vay, tính đầy đủ và cóthật của các khoản cho vay, bảo lãnh bằng cách gửi thư xác nhận trực tiếp đếnkhách hàng của ngân hàng Trên thực tế kiểm toán viên không thể xác nhận toàn bộ số dư nợ tín dụng của mỗi khách hàng mà chỉ có thể lấy xác nhận trựctiếp với một số khách hàng có số dư nợ lớn
Trang 25- Kiểm tra và định giá các tài sản thế chấp về quyền và nghĩa vụ của ngân hàng đối với các tài sản này trong truờng hợp người vay không thực hiện đúng thoả thuận vay.
- Đánh giá hệ thống phê chuẩn tín dụng dựa trên máy vi tính
- Xem xét lại tỷ lệ lãi suất áp dụng để tính lãi tích luỹ và so sánh với tỷ lệ lãi suất thị trường được báo cáo độc lập
- Đối chiếu về mặt giá trị và số lượng của các khoản thanh toán gốc và lãi của khách hàng với phiếu thu và kiểm tra tính liên tục của các chứng từ thu tiền
- Xem xét vể mặt giá trị của các khoản cho vay của ngân hàng về khả năng sinh lời, hiện trạng khách hàng vay, độ tín dụng của khách hàng vay cũng nhưnhững rủi ro có thể xảy ra
+ Trình bày đặc điểm, cơ cấu cho vay của ngân hàng được kiểm toán
+ Đánh giá hoạt động cho vay theo các khía cạnh kinh tế: tốc độ tăng trưởng chung ảnh hưởng đến doanh thu, chi phí của ngân hàng …
+ Đánh giá về tính hiệu quả của hoạt động cho vay và việc tổ chức nghiệp vụ cho vay
+ Đưa ra ý kiến về việc việc tuân thủ các quy định về hoạt động cho vay và những nguyên tắc kế toán của loại hoạt động này của ngân hàng thương mại
Trang 26CHƯƠNG II: THỰC HIỆN KIỂM TOÁN HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI DO CÔNG TY KIỂM TOÁN
VIỆT NAM VACO THỰC HIỆN
I- Khái quát về Công ty kiểm toán Việt Nam VACO
1- Quá trình hình thành và phát triển của công ty kiểm toán Việt Nam VACO
1.1- Sự ra đời và phát triển của công ty
Công ty kiểm toán Việt Nam VACO được biết đến như một đơn vịhàng đầu và lớn nhất tại Việt Nam cung cấp các dịch vụ chuyên ngành chocác doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế khác nhau như: doanhnghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, công ty cổ phần,doanh nghiệp nhà nước, công ty liên doanh…VACO cũng được biết đến làmột địa chỉ đáng tin cậy đối với khách hàng trong và ngoài nước, bởi vì chấtlượng và các dịch vụ cung cấp bởi VACO luôn đáp ứng được yêu cầu củakhách hàng và luôn được hoàn thiện theo tiêu chuẩn quốc tế
Vào những năm 90-91 nước ta đang trong giai đoạn chuyển dịch từ cơcấu kinh tế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, và thực hiện đa dạng hoácác ngành nghề kinh doanh Trong thời kỳ này, các quan hệ tài chính kế toánthay đổi nhiều lần, phức tạp, các công tác kiểm tra kiểm soát chưa chuyểnhướng kịp thời dẫn đến tình trạng kỉ cương bị buông lỏng, nhiều nguyên tắctrong kế toán tài chính trước đây bị phá vỡ, các nguyên tắc kế toán mới chưađược thiết lập do đó nhiều đơn vị thực hiện công tác kế toán chưa được hoànchỉnh Mặt khác, chính vì cơ chế mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế chúng tamới nghĩ đến kiểm toán như một yếu tố cần thiết không thể thiếu
Trang 27Ngày 13/5/1991 bộ trưởng bộ tài chính Hoàng Quý ký quyết định thànhlập công ty kiểm toán Việt Nam gọi tắt là VACO Hai lãnh đạo đầu tiên củaVACO là giám đốc Bùi Văn Mai và kế toán trưởng Vào thời gian đầu đi vàohoạt động công ty gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng vàthực hiện chuyên môn, tuy nhiên do sự năng động vượt khó và tinh thần đoànkết của các thành viên trong công ty cùng với sự giúp đỡ của bộ tài chínhVACO đã kí được những hợp đồng giao dịch đầu tiên với công ty xuất nhậpkhẩu Côn Đảo – chi nhánh Hà Nội với mức phí 1 triệu đồng, hợp đồng kiểmtoán công ty liên doanh câu lạc bộ quốc tế Hà Nội với mức phí 7500 USD.Đây là bước khởi đầu quan trọng cho việc phát triển của VACO và kể từ đóVACO đã xin miễn cấp kinh phí sự nghiệp chuyển sang tự hoạch toán sảnxuất kinh doanh Từ năm 1992 VACO đã bắt đầu hợp tác với hãng kiểm toánnổi tiếng trên thế giới DTT Phối hợp với SGV của Philipin tổ chức hội thảođầu tiên về kiểm toán và ký hợp đồng hợp tác kinh doanh đầu tiên về kiểmtoán với KPMG Tháng 4 năm 1994 VACO đã liên doanh với DTT thành lậpcông ty liên doanh VACO_DTT, đánh dấu bước ngoặt phát triển mới củangành kiểm toán Việt Nam nói chung và VACO nói riêng Công ty đã mở trụ
sở chính tại số 8 Phạm Ngọc Thạch - Hà Nội, ngoài ra công ty còn có 2 chinhánh tại thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Hải Phòng Từ ngày 2 tháng 7năm 1997 VACO đã mua lại cổ phần của DTT trong liên doanh để trở thànhcông ty kiểm toán đầu tiên tại Việt Nam được công nhận là thành viên củahãng kiểm toán hàng đầu thế giới Đây là bước quan trọng đánh dấu sự hộinhập của VACO với quốc tế Việc trở thành thành viên của DTT giúp choVACO kí được nhiều hợp đồng, dự án quốc tế và nâng cao thêm uy tín, chấtlượng dịch vụ do VACO cung cấp và hoàn thiện hoạt động kiểm toán
Từ đó đến nay nhiều khách hàng trong và ngoài nước ngày càng nhiềutìm đến ký hợp đồng với VACO Trong năm 1995, VACO đã thực hiện 235
Trang 28hợp đồng kiểm toán, năm 2000 gần 500 hợp đồng dịch vụ, năm 2001 đượcước tính trên 500 hợp đồng VACO có rất nhiều khách hàng thường xuyênnhư: tổng công ty than Việt Nam, tổng công ty điện lực Việt Nam, tổng công
ty hàng không dân dụng Việt Nam, tổng công ty dầu khí Việt Nam, tổng công
ty thuốc lá Việt Nam, tổng công ty Hàng Hải Việt Nam, Vietcombank Cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như: khách sạn OMNI Sài Gòn,khách sạn Thống Nhất, Procter & Gramble Ngoài ra công ty đã phục vụ kiểmtoán tư vấn cho các dự án quốc tế của WorldBank, IMF…để phục vụ cho sốlượng khách hàng trong và ngoài nước công ty có một đội ngũ nhân viên cónăng lực luôn đáp ứng nhu cầu của khách hàng với chất lượng đạt tiêu chuẩnquốc tế
Sự phát triển không ngừng lớn mạnh của công ty kiểm toán Việt Namđược đánh dấu bởi sự kiện VACO trở thành Deloitte Việt Nam và gia nhậpvào Deloitte Đông Nam Á Ngày 7/5/2007, Công ty Kiểm toán Việt Nam(VACO) đã chính thức công bố hoàn thành việc chuyển đổi sở hữu và trởthành thành viên đầy đủ của Deloitte Touche Tohmatsu - một trong bốn hãngkiểm toán lớn nhất thế giới Nhân dịp này, VACO cũng công bố chính thứcđổi tên thành Deloitte Vietnam, hiện diện đầy đủ của một hãng kiểm toándanh tiếng nhất trên thế giới tại Việt Nam
1.2- Vài nét về tập đoàn kiểm toán quốc tế Deloitte Touche Tohmatsu
(DTT)
Tập đoàn kiểm toán quốc tế Deloitte Touché Tohmatsu (DTT) là sựhợp nhất của ba hãng kiểm toán nổi tiếng trên thế giới, đó là Deloitte của Mỹthành lập năm 1849 mang tên ngài William Welch Deloitte Hãng Touche &
Co thành lập năm 1900 tại Anh mang tên ngài George Touche và hãngTohmatsu & Co của Nhật mang tên ngài Admiral Nobuzo Tohmatsu Sự hợp
Trang 29nhất ba hãng kiểm toán nổi tiếng trên thế giới này được bắt đầu từ việc hợpnhất của hang Deloitte và Touche mang tên Deloitte & Touche & Co năm
1960 Sau đó đến năm 1990 Deloitte & Touch & Co kết nạp thêm thành viênTohmatsu thành tập đoàn kiểm toán quốc tế DTT
Trong nhóm Big Four, DTT được đánh giá là đứng thứ hai với phạm vihoạt động trên 135 quốc gia trên thế giới với tổng cộng 135.000 nhân viên.Trong đó khu vực hoạt động hiệu quả nhất là ở Bắc Mỹ (Mỹ và Canada) với
30100 nhân viên Châu âu là khu vực đứng thứ hai về doanh thu với các công
ty chi nhánh, văn phòng đại diện ở 46 quốc gia và 31500 nhân viên Khu vựcChâu á Thái Bình Dương có tốc độ phát triển nhanh nhất (ở khu vực ASEAN
là 10-20 % doanh thu / năm) ở 25 nước với 20.000 nhân viên Ngoài ra, DTTcòn có các trụ sở ở Châu Phi, Nam Mỹ và Trung Đông Theo thống kê năm
2000, doanh thu của hang đạt được 11.2 tỷ USD tăng so với năm 1999 là 10.6
tỷ USD Với hoạt động kiểm toán tiêu chuẩn quốc tế và đội ngũ nhân viênlành nghề, DTT xứng đáng là hãng kiểm toán hàng đầu thế giới
Trở thành thành viên đại diện cho DTT hoạt động tại việt nam, VACO
sẽ có những điều kiện thuận lợi để hội nhập quốc tế và nâng cao chất lượngkiểm toán cũng như nâng cao vị thế của mình trong nước, khu vực và thế giới
1.3- Kết quả đạt được trong quá trình hoạt động
Qua hơn 15 năm hình thành và phát triển, công ty kiểm toán Việt NamVACO đã gặt hái được những thành tựu đáng tự hào, chiếm được lòng tin củakhách hàng bằng việc cung cấp những dịch vụ cung cấp tốt nhất đảm bảo chấtlượng và uy tín nghề nghiệp Những thành tựu của công ty được thể hiện quacác số liệu sau: tình hình tài sản của doanh nghiệp tại ngày 30/9/2005 là: tổngtài sản 27.298.785.427 đồng trong đó tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn là11.335.167.764 đồng; tài sản cố định và đầu tư dài hạn: 15.953.613.553 đồng.Máy móc thiết bị, phương tiện vận tải và tài sản cố định vô hình: nguyên giá
Trang 308.899.473.930; giá trị còn lại 5.637.780.567 đồng, trong đó máy móc thiết bị
và phương tiện vận tải xin thanh lý: Nguyên giá: 8.992.473.583 đồng ; Nhàxưởng, vật kiến trúc: Nguyên giá: 7.156.988.991 đồng, giá trị còn lại là:5.162.377.044 đồng với diện tích nhà làm việc đang sử dụng là 2.692m2; Vốnkinh doanh tại thời điểm 30/9/2005 là phân theo cơ cấu vốn: 15.249.115.975đồng trong đó vốn cố định 11.486.900.981 đồng, vốn lưu động 3.762.217.944đồng Thực trạng về lao động: tổng số người có tên trong danh sách lao độngthường xuyên của công ty của công ty tai thời điểm 31/3/2006 là 381 người;phân theo trình độ học vấn có đại học và trên đại học là 354 người, cao đẳng 3người, trung cấp 6 người, trình độ khác 18 người; phân theo chế độ hợp đồnglao động có nhân sự do bộ tài chính bổ nhiệm 1 người, hợp đồng không xácđịnh thời hạn 243 người, hợp đồng có thời hạn 1 đến 3 năm 129 người, hợpđồng có thời hạn dưới 1 năm 8 người; phân theo độ tuổi có dưới 30 tuổi 266người, từ 30 đến 40 tuổi có 90 người, có 40 đến 50 tuổi có 5 người Bên cạnhnhững thành tựu kể trên công ty kiểm toán Việt Nam VACO còn có đóng góprất lớn vào sự nghiệp xây dựng và phát triển lĩnh vực kiểm toán và kế toán ởViệt Nam Thật vậy, VACO đã trực tiếp tham gia soạn thảo nghị định 07/CP,quyết định 237 TC/QĐ, thông tư 22TC/CĐKT và tham gia xây dựng đề ánthành lập cơ quan kiểm toán nhà nước (nghị định 70/CĐ) , tham gia cải cách
hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam năm 1995 và tham gia xây dựng luật
kế toán, chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VACO cũngđóng góp rất nhiều cho sự ra đời của các công ty kiểm toán sau này với vai trò
là nền tảng kiểm toán Việt Nam VACO có vị trí quan trọng trong xu thế hộinhập thế giới của kinh tế Việt Nam nói chung và lĩnh vực kiểm toán nói riêng.Với những đóng góp lớn lao cho sự phát triển kinh tế nước nhà và nhữngthành quả đạt được VACO đã vinh dự được nhận bằng khen của thủ tướng
Trang 31Chủ tịch Công ty
Các phòng nghiệp vụ Các phòng tư vấn Khối hành chính Các chi nhánh TP HCM, Đà Nẵng,Hải Phòng
P dịch vụ trong nước NV1, NV2, NV3 P dịch vụ Quốc tế: ISD1,
ISD2 P IT và DV quản lý rủi ro P tư vấn tài chính và giải pháp P tư vấn thuếP Kế toánP Hành chính P Quản trị nhân sự
chính phủ và huân chương lao động hạng 3 do chi chủ tịch nước trao tặngnhân kỉ niệm 10 năm thành lập đầu tiên của VACO (1991-2001)
1.4- Đặc điểm tổ chức quản lý của công ty kiểm toán Việt Nam VACO
* Sơ đồ tổ chức và chức năng nhiệm vụ các phòng ban của công ty
- Chủ tịch công ty là người đứng đầu có toàn quyền quyết định các vấn
đề về mọi hoạt động của công ty Đồng thời đại diện cho công ty chịu tráchnhiệm trước pháp luật, bộ trưởng bộ tài chính và trước DTT
Trang 32- Ban giám đốc của công ty là cơ quan lãnh đạo, chuyên giải quyết cácvấn đề quan trọng trong công ty về kế hoạch chiến lược phát triển cũng nhưđiều hành các phòng ban chi nhánh của công ty Ban giám đốc của công tythường xuyên nhận được cố vấn của hội đồng cố vấn của DTT và chịu sựkiểm tra giám sát và bàn bạc với các bộ phận cấp dưới.
- Với cơ cấu tổ chức hiện nay, công ty bao gồm 8 phòng trong đó gồm
3 phòng nghiệp vụ, 2 phòng tư vấn, 3 phòng thuộc khối hành chính, cácphòng được phân chia về mặt quản lý hành chính tạo điều kiện cho công tácquản lý
- Phòng dịch vụ quốc tế (ISD) mang danh nghĩa là thành viên của DTT,chuyên kiểm toán cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các dự ánlớn của Worldbank,ADB Phòng ISD chịu sụ quản lý của ban giám đốc về cáchoạt động kiểm toán theo DTT của phòng Phòng dịch vụ trong nước (NVI,NVII,NVIII) thực hiện chức năng kiểm toán cho các doanh nghiệp nhà nước,khách hàng chủ yếu là Tổng công ty Xi Măng, Rượu, Bia, Thuốc lá; thực hiệnkiểm toán cho tổng công ty Hàng không Việt Nam; Công ty bưu chính viễnthông và tổng công ty Than Việt Nam
- Phòng IT và DV quản lý rủi ro: có nhiệm vụ cung cấp các phần mềm
kế toán đồng thời đánh gjá hệ thống thông tin tại đơn vị khách hàng trong quátrình tái tổ chức lại
- Phòng tư vấn tài chính và giải pháp chuyên cung cấp các dịch vụ tưvấn về tài chính doanh nghiệp, hệ thống doanh nghiệp và giải pháp cho kháchhàng
- Phòng tư vấn thuế chuyên cung cấp các dịch vụ về thuế
- Phòng kế toán gồm 1 kế toán trưởng và các nhân viên kế toán khác,thực hiện bổ sung sửa đổi quy chế tài chính hiện hành của công ty đáp ứngyêu cầu và nâng cao hiệu quả công tác quản lý
Trang 33- Phòng chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch thu, chi chủ động phốihợp cùng các phòng nghiệp vụ đôn đốc khách hàng thanh toán bằng cách pháthành công văn đòi nợ đồng thời đề xuất giải pháp giải quyết các vấn đề khúcmắc về tài chính cho ban giám đốc
- Phòng hành chính: có nhiệm vụ quản lý các công văn, ra các quyếtđịnh về công tác tổ chức của công ty, nghiên cứu sắp xếp đề bạt cán bộ, phốihợp với phòng kế toán để tổ xây dựng chế độ tiền lương cho công nhân viêntrong công ty
- Phòng quản trị nhân sự: thực hiện chức năng thuê mướn, tuyển dụng,
đề bạt các chính sách khen thưởng đối với các nhân viên trong công ty
- Các chi nhánh của VACO ở Hải Phòng.TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵngcũng cung cấp các dịch vụ như trụ sở chính, cơ cấu tổ chức cũng giống nhưtrên nhưng với quy mô nhỏ hơn Các phòng ban của công ty đều thực hiệntheo hoạt động kiểm toán của DTT
- Việc phân chia thành các phòng ban của VACO đã tạo điều kiện chocác phòng chuyên môn hoá trong hoạt động và cung cấp dịch vụ làm cho cácphòng linh hoạt hơn trong mùa kiểm toán và cũng làm cho ban giám đốc dễquản lý, đánh giá hiệu quả làm việc của từng phòng Tuy nhiên, khi thực hiệnnhững cuộc kiểm toán lớn như kiểm toán tổng công ty Điện Lực, cần phải huyđộng nhiều thành viên tham gia, một phòng có thể sử dụng nhân viên củanhiều phòng khác do các nhân viên đều có lượng kiến thức đầy đủ đồng đều
1.5- Tình hình tổ chức công tác kế toán của công ty
VACO xây dựng bộ máy kế toán theo hình thức tổ chức vừa tập trungvừa phân tán phù hợp với nhu cầu phát triển từng giai đoạn Phân định rõtrách nhiệm và quyền hạn của từng bộ phận, nâng cao hiệu quả và chất lượngcủa công việc Xây dựng các quy chế quản lý và sử dụng vốn, tài sản trongtoàn công ty Tăng cường công tác kế toán quản trị giúp ban giám đốc đưa ra
Trang 34Phòng KT chi nhánh Đà Nẵng
Kế toán trưởng Phòng KT chi nhánh Hải Phòng Phòng KT chi nhánh hÔD TP Tp Th HCM
các quyết định nhanh chóng, hợp lý, chính xác và hiệu quả Nâng cao hiệuquả sử dụng công nghệ thông tin, phần mềm kế toán trong công tác quản lýtheo dõi theo từng hợp đồng và hiệu quả từng hợp đồng, công nợ, tiền mặt tạiquỹ
Sơ đồ tổ chức kế toán công ty:
2- Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty kiểm toán VACO
Công ty kiểm toán Việt Nam VACO hiện nay chuyên cung cấp nhữngdịch vụ chủ yếu sau: Các loại dịch vụ kiểm toán, kiểm toán báo cáo tài chính,kiểm toán cho mục đích thuế, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ, kiểmtoán báo cáo quyết toán vốn đầu tư, kiểm toán báo cáo quyết toán dự án, kiểmtoán các thông tin tài chính;
- Dịch vụ soát xét báo cáo tài chính
- Dịch vụ kiểm tra các thông tin trên cơ sở các thủ tục thoả thuận trước
- Tư vấn tài chính
- Dịch vụ và tư vấn kế toán
- Tư vấn thuế
- Tư vấn đầu tư, hệ thống kiểm soát
- Tư vấn về cung cấp dịch vụ thông tin và phần mềm tin học
Trang 35- Tư vấn cổ phần hoá
- Tư vấn sát nhập, giải thể
- Xác định giá trị doanh nghiệp
- Dịch vụ tập huấn, bồi dưỡng kiến thức
- Dịch vụ hỗ trợ tuyển dụng
- Các dich vụ liên quan khác về tài chính, kế toán, thuế
Các dịch vụ kiểm toán VACO chủ yếu thực hiện các cuộc kiểm toánbáo cáo tài chính hàng năm cho khách hàng Với đội ngũ nhân viên chuyênnghiệp bao gồm các kiểm toán viên xuất sắc nhất, đều nắm vững các quy định
về kế toán, luật pháp của Việt Nam cũng như các chuẩn mực kế toán quốc tế
và các thông lệ khác cùng với những kinh nghiệm trong thực tế mà mỗi kiểmtoán viên thu được trong quá trình làm việc Do vây, khả năng tư vấn qua quátrình kiểm toán của VACO có hiệu quả rất cao VACO đã cung cấp cho cácdoanh nghiệp nước ngoài dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm theoluật định còn các dịch vụ khác như soát xét báo cáo tài chính hàng quý hoặc 6tháng, thực hiện hợp nhất báo cáo tài chính trong tập đoàn quốc tế Dịch vụ tưvấn trong lĩnh vực cho vay hoặc tài trợ quốc tế dựa trên chuẩn mực kiểm toánviệt nam và các quy định về kiểm toán độc lập hiện hành tại Việt Nam Quytrình kiểm toán của VACO tuân theo các phương pháp và kỹ thuật tiên tiếncủa DTT và tuân theo các chuẩn mực kiểm toán quốc tế, chuẩn mực kiểmtoán việt nam và các quy định về kiểm toán độc lập hiện hành tại Việt Nam
Do vậy dịch vụ kiểm toán mà VACO cung cấp là dịch vụ có chất lượng caonhất trong làng kiểm toán Việt Nam hiện nay
Về dịch vụ kế toán, Công ty đã và đang cung cấp cho khách hàng nhiềudịch vụ kế toán như: Ghi chếp, gửi sổ, lập báo cáo thuế, lập các báo cáo tàichính quý, năm theo yêu cầu của các cơ quan nhà nước Việt Nam và của công
ty mẹ Công ty trợ giúp cho các doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi báo cáo
Trang 36tài chính theo quy định của Việt Nam sang hình thức phù hợp với các nguyêntắc kế toán, phù hợp với yêu cầu quản lý của họ, yêu cầu báo cáo của đối tácnước ngoài và các quy định của chế độ kế toán Việt Nam, trình bộ tài chínhphê duyệt áp dụng VACO thực hiện thiết lập hệ thống kế toán phù hợp vớiyêu cầu của các nhà tài trợ và yêu cầu quản lý dự án tại Việt Nam Tất cả cácdịch vụ về kế toán kể trên của VACO được thực hiện với các chuyên gia giỏi
có nhiều năm kinh nghiệm làm tư vấn kế toán cho các doanh nghiệp, các dự
án do quốc tê tài trợ, các tổng công ty lớn Hơn nữa, chuyên gia kế toán củaVACO cũng là thành viên trong ban soạn thảo chuẩn mực kế toán và kiểmtoán Việt Nam Do đó dịch vụ kế toán của công ty luôn đạt chất lượng tốt,luôn thoả mãn mọi yêu cầu của khách hàng
Công ty đã thực hiện các dịch vụ tư vấn sau:
- Dịch vụ tư vấn thuế:
- Dịch vụ tư vấn kinh doanh, tư vấn đầu tư
- Dịch vụ đào tạo,
- Dịch vụ công nghệ thông tin:
Với sự đa dạng các dịch vụ cung cấp, VACO luôn có khả năng cungcấp cho khách hàng những dịch vụ chất lượng cao vượt lên sự mong đợi củakhách hàng
II - Đặc điểm tổ chức kiểm toán tại VACO
*Phương pháp kiểm toán
Trang 37Công việc thực hiện trước khi kiểm toán Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát
Lập kế hoạch kiểm toán cụ thể
Thực hiện kế hoạch kiểm toán
Kết thúc công việc kiểm toán và lập kế hoạch
Công việc thực hiện sau kiểm toán
Dựa vào AS/2 Vaco đã thực hiện công việc kiểm toán BCTC theo các bước:
*Hệ thống hồ sơ kiểm toán:
Tất cả các bước, các công việc, giấy tờ làm việc, các thông tin do kháchhàng cung
cấp, các thông tin mà kiểm toán viên thu thập được về một khách hàng
cụ thể nào đều được tập trung trong hồ sơ kiểm toán - lập theo hệ thống kiểm
toán AS/2 được chia thành các phần có chỉ mục từ 1000 đến 8000 với nội
dung cụ thể như sau:
1000 Lập kế hoạch:gồm các bước để phục vụ cho việc lập kế hoạch kiểm
toán
1100 Kế hoạch giao dịch và phục vụ khách hàng
1200 Đánh giá rủi ro kiểm toán và môi trường kiểm soát
1300 Các điều khoản thực hiện hợp đồng kiểm toán
1400 Tìm hiểu hoạt động kế toán áp dụng
Trang 38 1600 Các thủ tục phân tích sơ bộ
1700 Xác định mức độ trọng yếu
1800 Đánh giá rủi ro và kế hoạch kiểm toán
2000 Báo cáo: phần này lưu giữ các loại báo cáo có liên quan đến cuộc
kiểm toán đã hoàn thành như Báo cáo kiểm toán, thư quản lý, các báo cáo tàichính… Ngoài ra còn có bản ghi tóm tắt kết quả kiểm toán (ghi lại các bước
đã thực hiện trong quá trình kiểm toán, các vấn đề đã xử lý và chưa xử lý, cácbút toán điểu chỉnh và phân loại lại, cũng như ý kiến của KTV) và các giấy tờ
có liên quan khác do khách hàng cung cấp hoặc kiểm toán viên thu thập được
3000 Quản lý kiểm toán: gồm các giấy tờ có liên quan đến lịch trình
thực hiện và đánh giá dịch vụ khách hàng cùng các biên bản họp giữa kiểmtoán viên và Ban giám đốc Công ty khách hàng
4000 Kiểm soát: các giấy tờ có liên quan và các kết luận về kiểm tra hệ
thống kiểm soát nội bộ của Công ty khách hàng
4100 Kết luận về kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ
4110 Kết luận về kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ
4300 Kiểm soát hệ thống bằng máy vi tính- Không có rủi ro cụ thể
4310 Tăng cường nắm bắt về hệ thống kiểm soát bằng máy tính
4400 Kiểm soát các chu trình áp dụng- Không có rủi ro cụ thể
4420 Giấy tờ kiểm soát các chu trình áp dụng
Các phần có ký hiệu từ 5000 đến 7000 bao gồm các chương trình kiểmtoán, giấy tờ làm việc có liên quan đến thực hiện kiểm toán tài khoản, tài sản
và nguồn vốn
5000 Kiểm tra chi tiết tài sản: Bao gồm các giấy tờ làm việc, bằng
chứng kiểm toán mà kiểm toán viên thu thập được liên quan đến kiểm tra chitiết các tài khoản thuộc phần tài sản như tài khoản tiền, tài khoản hàng tồnkho, các khoản phải thu, TSCĐ, đầu tư ngắn và dài hạn…
Trang 396000 Kiểm tra chi tiết công nợ: trình bày những bằng chứng mà kiểm
toán viên thu thập để đưa ra ý kiến về số dư các khoản nợ ngắn hạn và dàihạn
7000 Kiểm tra chi tiết nguồn vốn.
8000 Riêng phần này là phần dành riêng cho kiểm tra chi tiết các tài
khoản có liên quan đến thu thập và chi phí như tài khoản doanh thu, giá vốnhàng bán, chi phí hoạt động, doanh thu và chi phí khác…
Sau khi lập hồ sơ khách hàng tiến hành soát xét hồ sơ khách hàng: hồ
sơ khách hàng được thiết lập bởi nhóm kiểm toán, theo thể thức kiểm toánAS/2 của DTT được thực hiện thông qua hoạt động sau:
* Phần mềm kiểm toán
Ngoài phương pháp kiểm toán và hệ thống hồ sơ kiểm toán, chươngtrình kiểm toán AS/2 còn có phần mềm phục vụ kiểm toán Với việc sử dụngphần mềm AS/2 đã giúp ích cho kiểm toán viên rất nhiều trong việc nâng caonăng suất lao động, chuyền nghiệp hoá trong các khâu thu thập, phân tích vàbảo quản các bằng chứng kiểm toán song nó không hoàn toàn thay thế đượckiểm toán viên vì kiểm toán viên là người cung cấp thông tin đúng đắn chomáy tính sau những bước phân tích, đánh giá kinh nghiệm, trình độ chuyênmôn của bản thân
III - Kiểm toán hoạt động cho vay trong kiểm toán báo cáo tài chính của ngân hàng A do công ty kiểm toán VACO thực hiện
1 Chuẩn bị kiểm toán hoạt động cho vay tại ngân hàng A
1.1 Thông tin cơ sở về ngân hàng A
Trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, kiểm toán viên đã tiến hành thuthập các thông tin dựa trên hồ sơ kiểm toán năm trước, trao đổi trực tiếp vớinhân viên và Ban giám đốc Ngân hàng, thu thập giấy tờ quan trọng có liênquan để hiểu biết về công việc kinh doanh của khách hàng
Trang 40Kiểm toán viên cần tìm hiểu:
Các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng;
-Sở hữu và cấu trúc của ngân hàng
-Các bên liên quan
-Mục tiêu, chiến lược cho vay, các thành phần của hoạt động kinhdoanh, thị trường, sản phẩm dịch vụ, khách hàng, quy trình quản lý chính.Các nhân tố bên ngoài: Môi trường kinh doanh chung, đặc điểm riêng củangành ngân hàng
Phần này trong hồ sơ kiểm toán được lưu trong chỉ mục 1130 “ Kếhoạch phục vụ khách hàng” và chỉ mục 1410 “ Tìm hiểu về hoạt động củakhách hàng”
Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn A là ngân hàng liên doanh được thành lậpngày 15 tháng 02 năm 1995 theo Giấy phép của Ủy Ban Nhà Nước về hợp tác
và đầu tư số ABC/GP sau được thay bằng Giấy phép số 22/NH-GP do Ngânhàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày N tháng T năm 1997
Các bên liên doanh là Ngân hàng A1 của Hồng Kông và Ngân hàng A2 củaViệt Nam
Ngân hàng A với Hội Sở chính tại Thành phố Hồ Chí Minh và chi nhánh Tại
Hà Nội, Hải Phòng đã và đang trở thành một trong những đầu mối tài chínhđứng đầu của các công ty nước ngoài đầu tư tại Việt Nam Ngân hàng A thamgia tích cực vào quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam bằng việc cung ứngcác dịch vụ ngân hàng đa dạng với chất lượng tốt cho tất cả các thành phầnkinh tế trong cả nước Ngân hàng A có vốn điều lệ là 20 triệu đôla Mỹ đượcchia đều cho hai bên góp vốn liên doanh
Hoạt động chính của ngân hàng A bao gồm ngân hàng bán lẻ và các dịch
vụ của ngân hàng công ty, cụ thể:
Dịch vụ ngân hàng bán lẻ:
- Nhận tiền gửi, ký quỹ ngoại tệ và Việt Nam
-Cho vay tiêu dùng
-Chuyển tiền, mua bán ngoại hối
-Dịch vụ thanh toán, thanh toán phiếu lữ hành, thẻ Visa, Master…