Kết cấu hạ tầng giao thông (KCHTGT) nói chung, kết cấu hạ tầng giao thông đô thị (KCHTGTĐT) nói riêng có vai trò to lớn trong phát triển kinh tế xã hội. KCHTGTĐT hoàn thiện sẽ tạo cơ hội rút ngắn khoảng cách vùng miền, mở rộng giao thương, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người dân. Vì thế, phát triển KCHTGTĐT luôn là yêu cầu cấp thiết, là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển của một quốc gia và của từng địa phương. Tuy nhiên, cùng với đô thị hóa nhanh chóng, nhu cầu vốn phát triển KCHTGTĐT ngày càng lớn, vượt quá khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước (NSNN), trở thành một “điểm nghẽn”
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Kết cấu hạ tầng giao thông (KCHTGT) nói chung, kết cấu hạ tầng giaothông đô thị (KCHTGTĐT) nói riêng có vai trò to lớn trong phát triển kinh tế
- xã hội KCHTGTĐT hoàn thiện sẽ tạo cơ hội rút ngắn khoảng cách vùngmiền, mở rộng giao thương, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của ngườidân Vì thế, phát triển KCHTGTĐT luôn là yêu cầu cấp thiết, là nhiệm vụ ưutiên hàng đầu trong chiến lược phát triển của một quốc gia và của từng địaphương
Tuy nhiên, cùng với đô thị hóa nhanh chóng, nhu cầu vốn phát triểnKCHTGTĐT ngày càng lớn, vượt quá khả năng đáp ứng của ngân sách nhànước (NSNN), trở thành một “điểm nghẽn” trong quá trình phát triển kinh tếcủa các quốc gia, hạn chế những tác động tích cực của đô thị hóa Vì thế, đểhuy động được vốn và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư KCHTGTĐT cần vaitrò quản lý của Nhà nước để tạo lập cơ chế, chính sách, hoàn thiện quyhoạch, đảm bảo huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước, đảmbảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người dân trong quá trìnhxây dựng, vận hành và phát triển KCHTGTĐT
Nằm trong xu thế chung của cả nước, với tiềm năng, lợi thế của mộtthành phố lớn, thủ đô - trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội của cả nước, quátrình đô thị hóa ở Hà Nội đã diễn ra hết sức mạnh mẽ trong những năm qua
và KCHTGTĐT cũng đã được quan tâm đầu tư phát triển Luật Thủ đô
(21/11/2012) đã khẳng định: “Nhà nước ưu tiên đầu tư và có chính sách huy động các nguồn lực để đầu tư xây dựng, phát triển các công trình hạ tầng kỹ thuật có quy mô lớn, quan trọng trên địa bàn thủ đô” và “tập trung đầu tư
và huy động các nguồn lực đầu tư trong phát triển KCHT giao thông và hệ thống vận tải hành khách công cộng trên địa bàn Thủ đô” [54].
Tuy nhiên, KCHTGTĐT Hà Nội còn kém, chưa tương xứng với nhu cầuphát triển kinh tế, xã hội của thủ đô, thường xuyên xảy ra tình trạng ách tắc
Trang 2giao thông trên hầu hết các tuyến phố nội đô Một trong những nguyên nhâncủa hạn chế, bất cập đó là công tác quản lý nhà nước (QLNN) về vốn đầu tưcho KCHTGT chưa hiệu quả, gánh nặng đầu tư vẫn đặt lên NSNN vốn đã hạnhẹp, các nguồn vốn khác ngoài NSNN đã được chú trọng song chưa đáp ứngyêu cầu Đặc biệt, việc sử dụng vốn đầu tư kém hiệu quả, phân bổ vốn còndàn trải, chậm tiến độ; tình trạng thất thoát, sai phạm, lãng phí vốn đầu tư cònxảy ra nhiều, gây bức xúc trong dư luận; một số công trình giao thông đô thịchưa đạt mục tiêu như khi trình và phê duyệt dự án
Với mục tiêu phát triển Hà Nội trở thành một thủ đô văn minh, một đôthị bền vững, Hà Nội rất cần một hệ thống KCHTGTĐT đồng bộ, hiện đại.Chính vì vậy mà việc hoàn thiện QLNN về vốn đầu tư trong phát triểnKCHTGTĐT Hà Nội nhằm khắc phục các hạn chế của công tác đầu tư, manglại hiệu quả cao là vấn đề có tính cấp thiết, cần được nghiên cứu và thực hiện
một cách thấu đáo Do đó đề tài “Quản lý nhà nước về vốn đầu tư trong phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đô thị Hà Nội” được tác giả chọn làm chủ
đề nghiên cứu cho luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành: Quản lý kinh tế
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu cơ bản của luận án là đề xuất quan điểm, giải pháphoàn thiện QLNN về vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT Hà Nội trên cơ
sở nghiên cứu lý luận và thực trạng QLNN về vốn đầu tư phát triểnKCHTGTĐT Hà Nội thời gian qua
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Làm rõ cơ sở lý luận QLNN về vốn đầu tư trong phát triểnKCHTGTĐT
- Nghiên cứu kinh nghiệm QLNN về vốn đầu tư trong phát triểnKCHTGTĐT ở một số thành phố trên thế giới và Việt Nam
- Phân tích thực trạng QLNN về vốn đầu tư trong phát triểnKCHTGTĐT Hà Nội trong thời gian qua
Trang 3- Đề xuất những định hướng và giải pháp để hoàn thiện QLNN về vốnđầu tư trong phát triển KCHTGTĐT Hà Nội từ nay đến năm 2020.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong luận án là QLNN về vốn đầu tư trong pháttriển KCHTGTĐT cấp thành phố trực thuộc trung ương, cụ thể là Thủ đô HàNội
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung
Nghiên cứu quy trình QLNN về vốn đầu tư từ NSNN cấp thành phố (từlập kế hoạch vốn, huy động vốn, phân bổ, thanh quyết toán và kiểm tra, giámsát vốn) trong phát triển mới KCHTGT đường bộ và đường sắt đô thị Hà Nội
Do hạn chế dung lượng nên luận án không đi sâu vào kỹ thuật tính toán
có tính nghiệp vụ quản lý vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT
- Về thời gian và địa bàn nghiên cứu
Thực trạng QLNN về vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT trên địabàn Hà Nội được khảo sát trong giới hạn thời gian từ năm 2008 - 2013; đềxuất giải pháp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Địa bàn khảo sát là nội đô lãnh thổ hành chính của thành phố Hà Nội saukhi mở rộng
4 Phương pháp tiếp cận và nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp tiếp cận
Thứ nhất, tiếp cận hệ thống Nghiên cứu QLNN về vốn đầu tư trong phát
triển KCHTGTĐT Hà Nội được đặt trong tổng thể phát triển KCHT,KCHTGT với KCHTGTĐT của quốc gia cả về chính sách tài chính lẫn quyhoạch Mặt khác, QLNN về vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT đượcđặt trong mối quan hệ với QLNN trong điều kiện kinh tế thị trường nóichung, QLNN trong đầu tư xây dựng cơ bản nói riêng và nhằm phục vụ pháttriển kinh tế - xã hội trên địa bàn
Trang 4Thứ hai, tiếp cận đa ngành QLNN về vốn đầu tư trong phát triển
KCHTGTĐT là lĩnh vực hết sức phong phú, rộng lớn, đa dạng với nhiều loạinguồn vốn, đầu tư cho nhiều loại công trình giao thông khác nhau với nhữnghình thức khác nhau nên cần có cách tiếp cận đa ngành
Thứ ba, tiếp cận lịch sử - cụ thể Cách tiếp cận lịch sử - cụ thể được sử
dụng khi xem xét QLNN về vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT gắn vớibối cảnh, điều kiện cụ thể của Hà Nội trong từng thời kỳ nhất định để có thểrút ra những nhận định khoa học trung thực, chính xác, thuyết phục
Thứ tư, tiếp cận hiệu quả và bền vững Với cách tiếp cận này, QLNN về
vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT Hà Nội được xem xét gắn với hiệuquả kinh tế và xã hội của việc sử dụng vốn đó phù hợp với quan điểm pháttriển bền vững đô thị, đảm bảo sự phát triển hệ thống KCHTGTĐT phù hợpvới tương lai
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu QLNN về vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT HàNội, trong luận án đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
Thứ nhất, thu thập thông tin qua điều tra xã hội học và phỏng vấn sâu:
Tác giả luận án đã tiến hành phát phiếu điều tra xã hội học và phỏng vấnkhoảng 80 người với 3 đối tượng:
1 Các cán bộ QLNN ở các sở, ban, ngành của Hà Nội
2 Các chủ đầu tư và các chủ thầu công trình giao thông đô thị Hà Nội sửdụng vốn từ NSNN
3 Các chuyên gia, các nhà khoa học có nghiên cứu về QLNN trong lĩnhvực tài chính, đầu tư, giao thông
Đây là những người có kiến thức lý luận và thực tế, rất am hiểu về côngtác quản lý vốn đầu tư nói chung và vốn đầu tư phát triển KCHTGTĐT Hànội nói riêng nên dù số lượng tham gia điều tra và phỏng vấn không lớnnhưng kết quả vẫn đảm bảo độ tin cậy
Nội dung khảo sát tập trung vào các khâu của quá trình QLNN về vốnđầu tư trong phát triển KCHTGTĐT từ NSNN và các nhân tố ảnh hưởng đến
Trang 5hiệu lực, hiệu quả QLNN trong lĩnh vực này (Xem phụ lục 1).
Thứ hai, tác giả sử dụng phương pháp hệ thống để hệ thống hoá các văn
bản pháp quy của Nhà nước và Thành phố và các nghiên cứu khoa học đểphân tích, làm rõ về lý luận và thực tiễn trong quản lý về vốn đầu tư trongphát triển KCHTGTĐT Hà Nội hiện nay ở chương 1,2 và 3
Thứ ba, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh dựa
trên các tài liệu thứ cấp được thu thập từ số liệu thống kê, các báo cáo củaUBND Thành phố, các Sở, các dự án giao thông đô thị để phân tích, làm rõnhững thành tựu và hạn chế của QLNN về vốn đầu tư phát triển KCHTGTĐT
từ vốn NSNN Cụ thể một số tài liệu thứ cấp tác giả đã sử dụng nghiên cứunhư: Niên giám thống kê thành phố Hà Nội do Cục thống kê Hà Nội công bốcác năm 2008 đến 2012, các báo cáo của UBND Thành phố, Sở Kế hoạch vàĐầu tư, Sở Giao thông vận tải, Sở Tài chính từ năm 2008 đến nay… và đượcphân tích trong chương 3
Đồng thời tác giả còn sử dụng các kết quả đã công bố từ các luận án, các
đề tài khoa học, sách, bài báo của các nhà khoa học trong và ngoài nước đểphục vụ cho nghiên cứu của luận án
5 Những đóng góp mới của luận án
- Luận án đã làm rõ thêm lý luận về QLNN về vốn đầu tư trong pháttriển KCHTGTĐT từ khái niệm, nội dung, tiêu chí đánh giá QLNN vốn đầu
tư trong phát triển KCHTGTĐT từ khâu lập kế hoạch, huy động, phân bổ,thanh quyết toán và đặc biệt làm rõ vai trò của công tác kiểm tra, giám sáttrong toàn bộ quy trình quản lý
- Luận án đã phân tích 05 nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN vềvốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT
- Luận án cũng đã tổng hợp kinh nghiệm của một số địa phương trong vàngoài nước theo các nội dung quản lý và các nhóm vấn đề chủ yếu chỉ ra tầmquan trọng của việc đa dạng hoá các nguồn lực, tăng cường kiểm tra, giám sát
Trang 6của Nhà nước trong quá trình huy động, phân bổ và thanh quyết toán vốn đầu
tư trong phát triển KCHTGTĐT
- Dựa trên dữ liệu thu thập từ điều tra và phỏng vấn và các báo cáo,nghiên cứu đã công bố, luận án phân tích tổng thể quá trình QLNN về vốnđầu tư trong phát triển KCHTGTĐT Hà Nội giai đoạn 2008 - 2013, chi tiếttrên tất cả các khâu, từ các căn cứ xây dựng, quá trình thực hiện và kết quảthực hiện, từ đó chỉ ra thành công và hạn chế cũng như nguyên nhân củaQLNN về vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT Hà Nội trong giai đoạnnày
- Luận án dự báo xu hướng phát triển KCHTGTĐT Hà Nội và nhu cầuvốn đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; đề xuất các quan điểm, 4 nhómgiải pháp và các điều kiện thực hiện giải pháp cũng như một số kiến nghịnhằm hoàn thiện QLNN về vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT Hà Nội
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án đã làm sáng tỏ hơn khái niệm, nội dung, các tiêu chí đánh giá
và nhân tố ảnh hưởng đến QLNN về vốn đầu tư trong phát triểnKCHTGTĐT Những vấn đề mà luận án đề cập, giải quyết góp phần thiếtthực vào việc luận giải và đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiệnQLNN về vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT Hà Nội
- Luận án sau khi hoàn thiện có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục
vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy về các vấn đề liên quan đến quản lývốn đầu tư và quản lý vốn đầu tư trong quá trình đô thị hoá, trong phát triểnKCHTGT nói chung và trong phát triển KCHTGTĐT nói riêng
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận án được kết cấu thành 4 chương, 12 tiết
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRONG PHÁT TRIỂN
KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ HÀ NỘI
1.1 MỘT SỐ NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRONG PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ ĐÃ ĐƯỢC ĐỀ CẬP TRONG CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
QLNN về vốn đầu tư nói chung và QLNN về vốn đầu tư trong phát triểnKCHTGTĐT đã được đề cập khá nhiều trong các công trình nghiên cứu trong
và ngoài nước Đặc biệt, ở các nước đang phát triển, trong quá trình tăngtrưởng và phát triển, thực hiện công cuộc CNH, HĐH, tái cấu trúc nền kinh
tế, mức độ đô thị hóa ngày càng cao, khoảng cách giữa nhu cầu phát triểngiao thông đô thị và khả năng đáp ứng vốn của quốc gia nói chung và các địaphương nói riêng ngày càng lớn thì người ta càng có xu hướng quan tâmnhiều hơn đến vấn đề QLNN về vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT mộtcách bền vững, nhằm hướng tới các giải pháp huy động và sử dụng có hiệuquả vốn đầu tư, trong điều kiện nhu cầu vốn ngày càng cao, nguồn lực vốn từNSNN cho đầu tư ngày càng khan hiếm
Có thể thấy rằng, hầu hết các công trình nghiên cứu QLNN đối với vốnđầu tư trong phát triển KCHTGTĐT tập trung vào các nội dung sau đây:(i) Nghiên cứu đầu tư công hoặc quản lý đầu tư công
(ii) Nghiên cứu QLNN về vốn đầu tư trong phát triển nói chung, trong đó
có vốn đầu tư cho phát triển KCHTGTĐT
Cả hai hướng nghiên cứu này có thể tiếp cận QLNN trên bình diện quytrình quản lý vốn đầu tư trong phát triển hoặc tiếp cận nghiên cứu độc lập cáckhâu trong quy trình quản lý Chẳng hạn, nghiên cứu QLNN đối với việc huyđộng và quản lý các nguồn lực vốn cho đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT;các nguồn vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT như vốn từ NSNN, vốn
Trang 8ODA, hợp tác công tư (PPP) trong đầu tư phát triển KCHTGTĐT; giám sátquá trình sử dụng vốn đầu tư KCHTGTĐT).
Sau đây là những hướng nghiên cứu chính liên quan đến đề tài luận án
1.1.1 Tiếp cận quản lý nhà nước về vốn đầu tư trong phát triển kết cấu
hạ tầng giao thông đô thị qua các nghiên cứu đầu tư công hoặc quản lý nhà nước đối với đầu tư công
Có khá nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề đầu
tư công hoặc quản lý đầu tư công Cụ thể:
Gần đây, trong nhiều báo cáo của mình, Ngân hàng thế giới (WB) đãđưa ra những sáng kiến để nâng cao hiệu quả chi tiêu công ở các nước nhận
hỗ trợ tài chính từ WB Đặc biệt WB có hẳn một chương trình nghiên cứu chitiêu công, trong đó có đầu tư công - được gọi tắt là PIM (Khung khổ Quản lýđầu tư/chi tiêu công) hướng tới mục tiêu là nâng cao hiệu quả quản lý củaNhà nước để gia tăng lợi ích từ các dự án đầu tư công Theo các chuyên giacủa WB, những nước gặt hái lợi ích lớn từ các dự án đầu tư công sẽ khôngđược dựa quá nhiều vào sự hỗ trợ từ các nước khác Trong khuôn khổ PIM,
WB cũng đưa ra hệ thống các chỉ số chẩn đoán hiệu quả chi tiêu công để đánhgiá theo các giai đoạn khác nhau trong quá trình đầu tư công ở các nước nhậnviện trợ Chương trình này hướng đến xác định các thể chế, cách thức quản lý
để giảm thiểu rủi ro trong đầu tư công và cung cấp các cách thức để quản lýđầu tư công một cách hiệu quả nhất [46]
Trong một công trình khác về quản lý đầu tư công “Đầu tư trong quátrình đầu tư công: những chỉ báo về hiệu quả của đầu tư công” khẳng địnhrằng sự khác biệt giữa chi phí đầu tư và giá vốn là hết sức quan trọng, đặcbiệt đối với các nước đang phát triển, nơi mà đầu tư công là nguồn chínhđối với tăng trưởng và phát triển kinh tế Nghiên cứu này cũng đề cập đếncác chỉ số về hiệu quả của đầu tư công, trong đó môi trường thể chế là cơ
sở để quản lý đầu tư công qua 4 giai đoạn khác nhau: thẩm định dự án, lựachọn, thực hiện và đánh giá dự án Nghiên cứu bao gồm 71 quốc gia, trong
Trang 9đó có 40 quốc gia có thu nhập thấp, chỉ số cho phép điểm chuẩn giữa cácvùng và các nhóm quốc gia và phân tích chính sách có liên quan nhiều sắcthái và xác định các lĩnh vực cụ thể mà nỗ lực cải cách có thể được ưutiên [90].
Jim Brumby trong nghiên cứu: “Đường giao thông đến nơi nào, cây cầucho sự tăng trưởng: Chúng ta biết gì về hiệu quả đầu tư công ở các nước đangphát triển”cho thấy: “Ở nhiều nước đang phát triển, kết cấu hạ tầng là một
“nút cổ chai” trong triển vọng tăng trưởng của họ Đặc biệt, với những nước
có thu nhập thấp, hạn chế, yếu kém trong KCHT, đặc biệt là đường giaothông, truyền thông làm giảm hiệu quả quản lý của Nhà nước, gây nên nhữnghạn chế về cấu trúc, bộ máy quan liêu, tham nhũng và thâm hụt vốn đầu tưtrầm trọng Việc huy động các nguồn lực vốn để đầu tư vào KCHTKT sẽ lànút gỡ để đạt tăng trưởng kinh tế cao hơn, bền vững hơn” Tuy nhiên, mộtthực tế là vốn ngày càng khan hiếm, trong khi nhu cầu đầu tư cho KCHT,trong đó có KCHTGT ngày càng tăng, nên hiệu quả đầu tư công (lợi nhuậnlớn hơn trên một đồng vốn so với trước đây) được xem như cách thức để tháo
gỡ sự khan hiểm của vốn đầu tư [93]
Một số nghiên cứu thực nghiệm khác cũng cho thấy, hiệu quả đầu tưcông có tác động lên tăng trưởng theo hướng thuận chiều Có nghĩa là khi đầu
tư công được quản lý một cách hiệu quả thì tăng trưởng kinh tế sẽ gia tăng.Ngược lại, khi một đồng vốn bỏ ra lãng phí thì sẽ hạn chế tăng trưởng ở mứctương ứng “Sự chuyên chế của khái niệm: CUDIE (tích luỹ, khấu hao, nỗ lựcđầu tư) là không vốn” của Pritchett,L cũng cho rằng, chi tiêu đầu tư côngbằng tích lũy vốn Việc sử dụng vốn kém hiệu quả, tham nhũng, lãng phí làmsai lệch hiệu quả đầu tư công Ví dụ: rất nhiều đường giao thông chưa hoànchỉnh đã hư hỏng, bỏ không, cây cầu chưa hoàn chỉnh, các dự án quy hoạchtreo…Vì thế, để xóa bỏ khoảng cách giữa vốn và KCHT chỉ bằng cách “đầu
tư trong đầu tư”, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có thu nhập thấp[49]
Trang 10Tóm lại, hầu hết nghiên cứu trước đây về đầu tư công, hiệu quả đầu tưcông hầu như đều nhấn mạnh đến vai trò của QLNN đối với các dự án đầu tưthông qua các chỉ số đánh giá, trong đó chỉ số về thể chế giữ vai trò quantrọng.
Trong nước, nghiên cứu về đầu tư công, QLNN đối với đầu tư công khánhiều, ở các khía cạnh khác nhau cả ở tầm vi mô và vĩ mô Đặc biệt, tronggiai đoạn khủng hoảng nợ công ở các nước Châu Âu, vấn đề đầu tư công nhưthế nào cho hiệu quả càng được nghiên cứu sâu sắc, trở thành đề tài nóngtrong các diễn đàn Việc phân cấp quản lý đầu tư công cũng được bàn luậnkhá sôi nổi trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế bởi quá trình phân cấpquản lý vốn đầu tư công giữa Trung ương và địa phương còn nhiều bất cập,gây ra các lỗ hổng trong QLNN, dẫn đến việc quản lý kém hiệu quả, thấtthoát vốn Từ 2006 đến nay, phần lớn dự án đầu tư công đều được phân cấpcho ngành và địa phương - hệ quả là việc quyết định đầu tư công đã tách rờiviệc bố trí vốn Hiện nay các ngành và địa phương quyết định về dự án đầu
tư, nhưng nguồn vốn đều được ghi là “xin vốn từ ngân sách trung ương” Hệquả là các dự án do các địa phương quyết định quá nhiều, nhưng nguồn vốnđầu tư từ ngân sách lại hạn hẹp và bị dàn trải Không ít dự án bị thiếu vốn,thực hiện cầm chừng, kéo dài thời gian kết thúc, chậm đưa vào sử dụng, dovậy hiệu quả ngày càng giảm Bên cạnh đó còn dẫn đến tình trạng thamnhũng trong đầu tư công
Nguyễn Xuân Thành trong bài viết “Quản lý đầu tư công như thế nàocho hiệu quả” [123] cho chúng ta cái nhìn khá toàn diện về các nguồn lực vốncho đầu tư công, vai trò của đầu tư công đối với tăng trưởng và phát triểncũng như thực trạng đầu tư công hiện nay ở Việt Nam Tác giả đưa ra cácbằng chứng chứng minh, đầu tư công và quản lý đầu tư công ở nước ta đangkém hiệu quả, thất thoát, lãng phí trong việc xây dựng các công trình côngcộng là một thực trạng nhức nhối Quản lý đầu tư công trong các doanhnghiệp nhà nước (DNNN) đang là bài toán khó cho các nhà quản lý trong việcnâng cao hiệu quả vốn nhà nước Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp nângcao hiệu quả đầu tư công, trong đó nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong
Trang 11việc phối hợp, bố trí vốn đầu tư với việc quy hoạch đầu tư hợp lý, tái đầu tưcông, xây dựng quy trình đầu tư công phù hợp, tính toán đến tính hai mặt củađầu tư công.
Nguyễn Phương Thảo trong bài viết “Kinh nghiệm quản lý đầu tư côngcủa một số quốc gia trên thế giới”, cũng khẳng định vai trò của đầu tư côngđối với tăng trưởng và phát triển kinh tế, góp phần tạo nên kết cấu hạ tầng xãhội Bài viết nghiên cứu kinh nghiệm quản lý đầu tư công ở Trung Quốc,Nhật Bản, Hàn Quốc, Vương quốc Anh trong tất cả các khâu của quy trìnhđầu tư, từ khâu quản lý quy hoạch, tổ chức quản lý đầu tư và thẩm định, điềuchỉnh dự án, ủy thác đầu tư, giám sát đầu tư Tuy mỗi quốc gia, với mức độphát triển và thể chế khác nhau, vai trò, lĩnh vực đầu tư công cũng như chínhsách quản lý hình thức đầu tư này có những đặc điểm riêng biệt, song kinhnghiệm của các quốc gia này đều cho thấy rằng, việc xây dựng khung khổpháp luật, chính sách quản lý vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư từ NSNN mộtcách đầy đủ, hệ thống, có tầm bao quát rộng là căn cứ để nâng cao hiệu quảQLNN về vốn đầu tư công Mặt khác, QLNN chỉ có hiệu quả khi và chỉ khixây dựng được quy trình đầu tư công chặt chẽ [114]
Nguyễn Xuân Thành trong nghiên cứu “Đầu tư công Việt Nam, nhànghèo lãng phí”, đã chứng minh sự lãng phí vốn đầu tư qua cơ cấu vốn đầu
tư và cách thức thực hiện của Việt Nam khi phân tích các công trình đượccho là hiệu quả nhất của Việt Nam như dự án đường cao tốc Tp.HCM điLong Thành - Dầu Giây và cảng container Cái Mép - Thị Vải là những nút
hạ tầng quan trọng để phát triển kinh tế của khu vực phía Nam Những hìnhảnh và con số cho thấy hình ảnh của “nhà nghèo lãng phí” do các dự án bịthổi vốn, thiếu đồng bộ với các KCHTKT khác, mang tính chắp vá Sự lãngphí này là một trong những nguyên nhân đẩy nợ công của Việt Nam tăng lên[115]
Tóm lại, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về đầu tư công,QLNN đối với đầu tư công đề cập chủ yếu đến quy trình quản lý đầu tư công,thực trạng đầu tư công ở các quốc gia, hiệu quả đầu tư công Đặc biệt nhấn
Trang 12mạnh đến lỗ hổng trong quản lý đầu tư công do tham nhũng, thất thoát, lãngphí và hướng đến xây dựng, hoàn thiện thể chế quản lý đầu tư công hiệu quả,bền vững Hầu hết các nghiên cứu này đề cập đến KCHTKT, KCHTGT nóichung và KCHTGTĐT nói riêng như một lĩnh vực của đầu tư công, dùng nó
để phân tích đánh giá, dẫn chứng hiệu quả đầu tư công, chứ chưa tập trunglàm rõ những đặc thù của đầu tư trong lĩnh vực này và những yêu cầu đổi mớicông tác QLNN đối với đầu tư cho phát triển KCHTGTĐT
1.1.2 Tiếp cận quản lý nhà nước về vốn đầu tư trong phát triển kết cấu
hạ tầng giao thông đô thị qua các nghiên cứu quản lý nhà nước về vốn đầu tư phát triển nói chung
1.1.2.1 Nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của quản lý nhà nước nói chung
Bùi Minh Huấn trong luận án tiến sĩ “Phương hướng, biện pháp hoànthiện quản lý nhà nước đối với xây dựng giao thông” [37] đã đi sâu vào phântích các mô hình quản lý xây dựng trong ngành giao thông vận tải qua từngthời kỳ trước năm 1990 và sau năm 1990, trong đó làm rõ thực chất và nộidung quản lý đối với xây dựng giao thông xét theo quá trình đầu tư xây dựng
và các chủ thể kinh doanh xây dựng giao thông Điểm nổi bật của luận án là
hệ thống hóa cơ sở lý luận về QLNN nói chung và QLNN trong lĩnh vực xâydựng giao thông, các công cụ QLNN và phân chia chức năng trong bộ máyquản lý, để làm căn cứ đánh giá thực trạng QLNN đối với xây dựng giaothông ở nước ta
Vấn đề “Quản lý nhà nước về KCHTKT” cũng đã được đề cập trongmột số nghiên cứu, tuy nhiên, hầu hết đều nghiên cứu vấn đề này như một bộphận cấu thành trong quản lý đô thị, chứ không nghiên cứu tách bạch thànhvấn đề riêng như sách “Những vấn đề cơ bản về kinh tế đầu tư và quản lý cơ
sở hạ tầng đô thị” của tác giả Nguyễn Dục Lâm [40], luận án tiến sỹ “Pháttriển thành phố Viêng Chăn theo hướng đô thị bền vững” của Sổm BắtDialyhơ [65] Trong các nghiên cứu đó, các tác giả chủ yếu đánh giá thực
Trang 13trạng công tác QLNN đối với KCHTKT ở các đô thị lớn và kinh nghiệm quốc
tế, đưa ra một số bài toán để giải quyết vấn đề về QLNN đối với hạ tầng kỹthuật đô thị
Luận án “Khai thác và quản lý vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹthuật đô thị tại Việt Nam” của Phan Lan Tú [71] đã đề cập tổng thể từ lýthuyết đến thực tiễn việc khai thác và quản lý đầu tư vào KCHTKT đô thị ởnước ta trong giai đoạn 1991 - 2000 Tác giả đi sâu vào làm rõ khái niệmKCHT đô thị, vai trò của việc phát triển KCHT đô thị trong việc phát triểnkinh tế, xã hội ở các đô thị ở nước ta Thông qua nghiên cứu kinh nghiệm ởmột số quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước phát triển khác,tác giả rút ra nhiều bài học quý giá cho Việt Nam
Nguyễn Quang Vinh nghiên cứu “Đổi mới quản lý nhà nước trong lĩnhvực kết cấu hạ tầng” [85] đề cập các vấn đề chung về KCHT và QLNN đốivới lĩnh vực này Thông qua đó, những vấn đề QLNN đối với KCHT nóichung được nghiên cứu ở đây, cũng có thể là những tham khảo có ích trongnghiên cứu của luận án sau này
Các nghiên cứu này góp phần bổ sung vào hệ thống cơ sở lý luận vềvốn đầu tư, QLNN về vốn đầu tư trong phát triển cũng như cung cấp thêmcách nhìn toàn diện về thực trạng QLNN về vốn đầu tư trong phát triển Tuynhiên, hầu hết các công trình trên không nghiên cứu cụ thể đối tượng làQLNN về vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT nói chung và một địaphương cụ thể mà chỉ nghiên cứu chung về khái niệm, quy trình QLNN đốivới dự án đầu tư xây dựng, hay đối vốn đầu tư phát triển kinh tế, xã hội nóichung, thực trạng QLNN trong lĩnh vực xây dựng, giao thông
1.1.2.2 Tiếp cận nghiên cứu các khâu trong quy trình QLNN về vốn đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông đô thị
Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Đẩu về “Huy động và sử dụng vốnđầu tư phát triển kinh tế thành phố Đà Nẵng- Thực trạng và giải pháp” [30] đềcập từ lý thuyết đến thực tiễn việc huy động và sử dụng vốn đầu tư trong phát
Trang 14triển kinh tế ở Thành phố Đà Nẵng từ năm 2000 - 2009 và đề xuất quan điểm,định hướng huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế đến năm 2020 Trongluận án này, tác giả cũng có đề cập đến vốn đầu tư, vai trò của vốn đầu tư đốivới phát triển kết cấu hạ tầng ở thành phố Đà Nẵng Thông qua luận án này,tác giả cũng đã hình thành khung lý thuyết về vốn đầu tư cho phát triển kinh
tế, đặc biệt đã đưa ra được hệ thống chỉ tiêu đo lường định tính và định lượnghiệu quả quá trình huy động và sử dụng vốn đầu tư Các giải pháp cũnghướng tới việc huy động và quản lý có hiệu quả vốn đầu tư cho phát triểnkinh tế ở thành phố Đà Nẵng
Cũng tiếp cận QLNN về vốn đầu tư, Tạ Văn Khoái trong luận án “Quản
lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng từ NSNN ở Việt Nam” [39] đãnghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về QLNN về dự án đầu tư từ NSNN,thực trạng QLNN đối với dự án đầu tư xây dựng từ NSNN ở Việt Nam giaiđoạn 2001 đến 2008, phát hiện những thành công và hạn chế trong QLNN đốivới các dự án đầu tư từ NSNN, từ đó đề ra các giải pháp hoàn thiện QLNNđối với dự án đầu tư từ NSNN ở Việt Nam đến năm 2020
Đề tài nghiên cứu cấp Thành phố của Hà Nội “Nghiên cứu các giải phápnhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư do thành phố quản lý đểphục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thủ đô”, phân tích cụ thểcông tác quản lý vốn đầu tư do thành phố Hà Nội quản lý, tìm ra các thànhcông và hạn chế để từ đó đề xuất các giải pháp, định hướng khai thác và quản
lý có hiệu quả nguồn vốn này Nghiên cứu này cũng đề cập đến vốn đầu tưcho phát triển hạ tầng giao thông Hà Nội, tuy nhiên, thời lượng và mức độcòn khá hạn chế [73]
Luận án: “Phát triển KCHT giao thông đáp ứng yêu cầu CNH, HHĐ ởViệt Nam” của Trần Minh Phương đã tổng quan về những lý luận cơ bản vàlàm sáng tỏ khái niệm về KCHT, KCHTGT, phát triển KCHTGT; vai trò củaKCHTGT đối với phát triển kinh tế và xã hội; những nhân tố ảnh hưởng tớiphát triển KCHTGT; làm rõ quan niệm về CNH, HĐH và yêu cầu của CNH,HĐH đối với phát triển KCHTGT; đề xuất các chỉ tiêu mang tính định lượng
Trang 15(quy mô và chất lượng) và mang tính định tính (đồng bộ, kết nối, cạnh tranh
và năng lực quản lý ) phát triển KCHTGT đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH [48]
Tóm lại, các luận án đã đề cập đến quy trình QLNN với vốn đầu tưphát triển nói chung và vốn đầu tư KCHTGT nói riêng, từ khâu quy hoạch, kếhoạch đến khâu huy động, phân bổ, thanh quyết toán vốn và kiểm tra giám sátvốn đầu tư Trong luận án sẽ kế thừa những cơ sở lý luận và thực tiễn đã nêutrong các công trình này, song tiếp cận hẹp hơn từ khâu huy động vốn đếnkiểm tra giám sát vốn đầu tư phát triển
1.1.2.3 Quản lý nhà nước đối với các nguồn vốn trong phát triển giao thông đô thị
- Nghiên cứu về hệ thống các nguồn lực cho đầu tư kết cấu hạ tầng
Các nghiên cứu về việc huy động các nguồn lực cho phát triểnKCHTKT nói chung được đề cập khá nhiều trong các nghiên cứu trong vàngoài nước, trong đó chú trọng nghiên cứu việc QLNN về vốn ODA, vốnNSNN và hợp tác công tư, đổi đất lấy hạ tầng
“Đánh giá khung tài trợ cho cơ sở hạ tầng địa phương ở Việt Nam - Báocáo cuối cùng” của Ngân hàng Thế giới [46] phân tích những hạn chế và cơhội mà chính quyền địa phương gặp phải trong tiếp cận các nguồn tài trợ chokết cấu hạ tầng Trong báo cáo này, WB đã chỉ ra thách thức chủ yếu đối vớiViệt Nam là cải thiện khả năng đáp ứng nghĩa vụ trả nợ và hiệu quả đầu tưvào kết cấu hạ tầng WB trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng, sự phântán trong đầu tư công về kết cấu hạ tầng dẫn đến sự trùng lặp và lãng phí, lànguyên nhân sâu xa của tình trạng đầu tư công thiếu hiệu quả Nguồn vốn cầnthiết để đáp ứng nhu cầu kết cấu hạ tầng trong tương lai đã vượt quá khả năngcủa NSNN Những nguồn tài trợ truyền thống như NSNN, ODA, trái phiếuChính phủ… thường chỉ đáp ứng được khoảng 50-60% nhu cầu tài trợ 2005-
2010, cho ngành giao thông vận tải chỉ khoảng 20.000 tỷ VND/năm, đáp ứng50% nhu cầu Giai đoạn 2011-2020, với tốc độ tăng trưởng GDP 8% cần 10-11% GDP cho KCHT, [46], tr75 Nguyên nhân của tình trạng này là do phân
Trang 16cấp đầu tư công chưa hiệu quả, các địa phương cạnh tranh nhau trong pháttriển kết cấu hạ tầng mà không tính đến liên kết vùng dẫn đến chi phí vốntăng; nguồn vốn ngân sách sử dụng không hiệu quả do trong các khâu kếhoạch, phân bổ dự án và lĩnh vực để đầu tư.
Nghiên cứu này cũng chỉ ra các nguồn tài trợ cho kết cấu hạ tầng địaphương gồm: vốn từ Nhà nước (NSNN, trái phiếu Chính phủ, từ các trunggian tài chính nhà nước); vốn từ các Quỹ đầu tư phát triển địa phương(LDIF), hợp tác công tư theo phương thức BT, BOT, BTO và một hình thứcđược các địa phương ưa chuộng là “đổi đất lấy hạ tầng” Báo cáo cũng chỉ racác số liệu minh chứng về các nguồn tài trợ cho kết cấu hạ tầng và nhu cầu bổsung vốn cho kết cấu hạ tầng ở các địa phương như ở nước ta Đồng thời báocáo cũng nghiên cứu kinh nghiệm huy động các nguồn lực vốn cho đầu tưKCHT ở một số nước trên thế giới như Cộng hòa Séc, Nam Phi, Ấn Độ, Tuy-ni-đi, Cô-lôm-bi-a (theo phương thức Quỹ Phát triển địa phương); kinhnghiệm của Trung Quốc, Cô lôm bi a, Braxin (Đổi đất lấy hạ tầng); Trái phiếuđịa phương (Ấn Độ)… Báo cáo này góp phần hệ thống hóa lý thuyết về cácnguồn lực vốn cho phát triển KCHT đô thị, cũng như kinh nghiệm huy động
và quản lý nguồn vốn đầu tư, ưu, nhược điểm của các hình thức huy độngvốn; thực trạng huy động vốn và nhu cầu vốn của một số địa phương trong cảnước Tuy nhiên, Báo cáo đánh giá này nghiên cứu một khâu trong quy trìnhquản lý vốn đầu tư trong phát triển, và KCHT nói chung, chứ chưa nghiêncứu riêng về KCHTGTĐT
Trong nghiên cứu “Cơ chế nắm bắt giá trị gia tăng để tài trợ cho cơ sở hạtầng giao thông vận tải” trong Báo cáo phát triển Việt Nam của WB [44] thìđầu tư cho kết cấu hạ tầng giao thông ở New Zealand hiện nay được huy động
từ 3 nguồn lực chính: Thu phí của người sử dụng, thu nhập của Chính phủ vàphí đối với những người sở hữu đất đai và phát triển hệ thống giao thông Quỹgiao thông quốc gia có thể được xem như người sử dụng phí thu được từnhững người sử dụng tài sản Cơ quan Giao thông New Zealand (NZTA)quản lý quỹ này thông qua chương trình giao thông quốc gia (NLTP) Chương
Trang 17trình giao thông quốc gia có một số hoạt động được xác định bởi chính sáchquốc gia dựa trên vốn đầu tư cho giao thông Những công việc này thườngđược xác định rõ ràng và đầu tư cho các hoạt động như cải tạo đường địaphương Những lớp hoạt động này bao gồm cả đầu tư mới và nâng cấp kếtcấu hạ tầng, đường cao tốc, kết cấu hạ tầng giao thông công cộng, dịch vụgiao thông công cộng, khuyến khích hệ thống an toàn đường bộ, đường đi bộ
và xe đạp, kế hoạch giao thông
Nghiên cứu “Giải phóng giá trị đất đai để cung cấp tài chính cho cơ sở
hạ tầng đô thị” của George E.Peterson cũng khẳng định, từ trước đến nay, cáckết cấu hạ tầng đô thị thường được đầu tư từ ba nguồn: vốn tiết kiệm từ hoạtđộng của các chính quyền địa phương, vốn tài trợ từ các chính phủ cao hơn vàvốn vay Nhưng hiện nay mỗi nguồn vốn này đều đang bị hạn chế Vì thế,nghiên cứu chỉ ra rằng, giải pháp bổ sung quan trọng cho tài chính hạ tầng địaphương là: lấy giá trị tăng thêm của đất để đầu tư công Giá trị của đất rấtnhạy với đầu tư cơ sở hạ tầng và sự tăng trưởng kinh tế đô thị [33]
Một nghiên cứu khác của Bộ Kế hoạch và Đầu tư “Huy động cácnguồn vốn đầu tư và xã hội hóa đầu tư cho các công trình giao thông vận tảiđến năm 2010” đã hệ thống hóa lý luận về vốn đầu tư, KCHTGT vận tải, vốnđầu tư cho KCHTGT vận tải Đồng thời nghiên cứu hiện trạng hệ thốngKCHTGT vận tải của Việt Nam và nhu cầu đầu tư cho KCHTGT vận tải đếnnăm 2010 Thông qua phân tích, đánh giá tình hình huy động vốn và quản lývốn đầu tư cho kết cấu hạ tầng giao thông vận tải ở nước ta giai đoạn 1986-
2005, kết hợp nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc, Malaixia, Nhật Bản,Hàn Quốc, nhóm tác giả đề xuất các giải pháp huy động và sử dụng hiệu quảvốn đầu tư [86]
- Một số nghiên cứu về vốn đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng nói chung và giao thông nói riêng
Các nghiên cứu về vốn cho đầu tư KCHT được bàn luận khá nhiềutrong các diễn đàn, các công trình, luận án và các bài nghiên cứu Bởi cho đếnnay, ở các nước đang phát triển như Việt Nam, vốn đầu tư từ NSNN cho
Trang 18KCHT nói chung và KCHTGTĐT nói riêng chiếm tỷ trọng lớn, song hiệu quả
sử dụng vốn chưa cao Cụ thể: “Nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển từNSNN” trên Chinhphu.net [121]; “Huy động nguồn lực đột phá đầu tưKCHTGTĐT” (Baodientu.Chinhphu.vn ngày 28-01-2014) [103]; Hội thảongày 05-10-2007 bàn về “Hiệu quả đầu tư cơ sở hạ tầng đô thị Hà Nội từnguồn NSNN [74]
“Phát huy nguồn vốn nhà nước như thế nào?” trên Giao thông vận tảionline [107] đề cập đến vai trò và giải pháp quản lý nhà nước về vốn đầu tưtrong phát triển KCHT Tác giả cho rằng: đầu tư cho kết cấu hạ tầng đòi hỏimột lượng vốn rất lớn Theo cách làm trước đây, người ta thường đặt ra câuhỏi “đầu tiên-tiền đâu?” và chủ yếu trông chờ vào sự phân bổ từ ngân sáchcũng như các loại nguồn vốn có tính chất nhà nước Thực hiện chủ trương lớntái cơ cấu đầu tư công và đột phá phát triển KCHT, cách nghĩ, cách làm phải
có sự đổi mới thật sự Trong đó, nguồn vốn nhà nước vẫn giữ vai trò hết sứcquan trọng, song dường như quan trọng hơn là cách sử dụng để “mồi”, để hútcác loại nguồn vốn khác và làm cho đồng vốn nảy nở sinh sôi Tuy nhiên,theo tư duy mới phù hợp với yêu cầu khách quan, thì trong đầu tư KCHT, vaitrò của nhà nước là chia sẻ lợi ích và rủi ro với tư nhân đảm bảo nợ côngtrong phạm vi an toàn Cần thay đổi quan điểm Nhà nước đầu tư trực tiếpbằng các dự án cụ thể, mà chủ yếu là tạo môi trường thu hút đầu tư, kết hợpvai trò của Nhà nước và thị trường trong phân bổ và sử dụng nguồn lực Nhànước chỉ tập trung đầu tư giải phóng mặt bằng sạch, đầu tư hỗ trợ thương mạicho hệ thống KCHT, đầu tư vào các công trình mà các nhà đầu tư ngoài nhànước không làm được Trong đó: Về chính sách, phải đổi mới nhằm tạo cơchế thị trường, khung pháp lý chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và tư nhân, cóchính sách và hình thức thu phí hợp lý hấp dẫn đầu tư tư nhân, cơ chế chuyểnhóa vốn tài nguyên đất đai thành nguồn lực vốn tài chính, tiền tệ cho đầu tưtrong phát triển Về sử dụng đồng vốn ngân sách và có nguồn gốc ngân sách:điều chỉnh cơ chế chuyển từ đầu tư trực tiếp sang hỗ trợ và điều tiết cạnhtranh, tạo điều kiện và môi trường để hình thành và phát triển thị trường đầu
Trang 19tư hấp dẫn các đối tượng, nhất là tư nhân, tham gia phát triển hệ thống KCHTbằng các hình thức PPP, BT, BOT
“Tìm lời giải cho nguồn lực đầu tư tại Hà Nội” đăng trên Hà Nội mớionline ngày 1/12/2011, tác giả cho rằng: Theo kế hoạch của UBND TP HàNội trình HĐND TP tại kỳ họp tới đây, trong giai đoạn 2011-2015, TP dựkiến sẽ triển khai và quản lý hơn 1.000 dự án đầu tư xây dựng cơ bản(XDCB) Vấn đề được quan tâm hiện nay là chính quyền các cấp của thànhphố sẽ phải "đột phá" trong công tác chỉ đạo, điều hành thế nào để có thể huyđộng đủ nguồn lực cũng như quản lý tốt việc thực hiện khối lượng lớn côngviệc này [116]
- Một số nghiên cứu về vốn ODA cho đầu tư kết cấu hạ tầng
Vốn ODA trong phát triển KCHT nói chung và KCHTGT nói riêngcũng được đề cập khá nhiều trong các nghiên cứu trong và ngoài nước Đây làmột nguồn vốn chiếm tỷ trọng khá lớn, chỉ sau vốn từ NSNN Tuy nhiên, thờigian gần đây những vụ án tham nhũng trong việc huy động và sử dụng vốnODA tại Việt Nam dấy lên một hồi chuông cảnh tỉnh trong việc lệ thuộc vàonguồn vốn này Các Nghị định về quy chế thu hút, quản lý và sử dụng ODA
đã được ban hành làm căn cứ pháp lý cho việc huy động và sử dụng ODAtrong đầu tư trong phát triển ở nước ta
Nghiên cứu “Vai trò của ODA trong việc tài trợ cho phát triển KCHT ởChâu Phi” của tác giả Tony Addison và Pb Annad khẳng định: từ lâu vốnODA vẫn được xem là có vai trò quan trọng, to lớn, bổ sung sự thiếu hụttrong KCHTGT ở các nước đang và chậm phát triển, trong đó Châu Phi làmột ví dụ điển hình Mỗi năm Châu phi cần khoảng 61 tỷ USD từ nguồn vốnODA cho phát triển KCHT Báo cáo cũng đánh giá tác động của viện trợnước ngoài ODA ở 36 nước Châu Phi, số liệu theo chuỗi thời gian [97]
“Đánh giá khung tài trợ cho cơ sở hạ tầng địa phương ở Việt Nam”của WB cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của nguồn vốn ODA thời gian qua ởViệt Nam, khẳng định cùng với nguồn vốn NSNN, vốn ODA thực sự có vaitrò to lớn đối với các nước đang phát triển khi nó được quản lý hiệu quả Tuy
Trang 20nhiên, vốn ODA sẽ trở thành gánh nặng trong tương lai khi nó sử dụng lãngphí, thiếu sàng lọc [46]
- Các nghiên cứu về phương thức hợp tác công - tư (PPP) trong đầu tư kết cấu hạ tầng
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, với mức độ đô thị hóa ngày càng cao,nhu cầu vốn cho đầu tư KCHT nói chung và KCHTGTĐT nói riêng ngàycàng lớn, trong khi vốn đầu tư từ NSNN ngày càng thâm hụt, vốn ODA thìcàng ngày càng có thêm nhiều điều kiện khắt khe Việc phát hành trái phiếuđịa phương để kêu gọi đầu tư cho kết cấu hạ tầng không dễ dàng, chỉ thíchhợp với một số địa phương lớn “Báo cáo phát triển Việt Nam 2012” chothấy nguồn vốn cần thiết để đáp ứng nhu cầu đầu tư kết cấu hạ tầng trongtương lai của Việt Nam đã vượt quá khả năng chi trả của NSNN Nhữngquan ngại về tình trạng thiếu hiệu quả và vấn đề phân tán nguồn lực manglại sự trùng lặp, lãng phí, là nguyên nhân sâu xa của tình trạng đầu tư thiếuhiệu quả Do đó, hầu hết các nước đang phát triển đều nỗ lực để tìm kiếmphương thức huy động mới và hợp tác công tư trong đầu tư KCHT là mộtcứu cánh Ở các nước Phương Tây và Nhật Bản, khi mà thị trườngKCHTGT phát triển thì phương thức huy động vốn này được sử dụngthường xuyên Mặc dù những nghiên cứu về phương thức hợp tác công tư đãkhá nhiều, song triển khai trên thực tế còn khiêm tốn Khung khổ pháp lý vàquản lý cho sự tham gia của khu vực tư nhân vào kết cấu hạ tầng được quyđịnh trong Nghị định 108/2009/NĐ-CP, quy định về các hợp đồng nhượngquyền và Quyết định 71/2010/QĐ-TTg, thí điểm Quan hệ đối tác Nhà nước -
Tư nhân (PPP) Những cơ sở pháp lý này với mục tiêu thu hút vốn tư nhân
để đầu tư vào phát triển kết cấu hạ tầng [45]
Nghiên cứu: “Hợp tác công tư trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầnggiao thông” của PGS.TS Nguyễn Hồng Thái đã phân tích sự cần thiết và lợiích cũng như trách nhiệm Nhà nước nhằm nâng cao khả năng hợp tác giữaNhà nước và tư nhân trong phát triển kết cấu hạ tầng Giao thông tại ViệtNam [66]
Trang 21“Mô hình hợp tác công tư - giải pháp tăng nguồn vốn, công nghệ và kỹnăng quản lý của tư nhân cho các dự án môi trường ở Việt Nam” của HồCông Hòa đã nghiên cứu các mô hình PPP trên thế giới không kể trình độphát triển để đi đến khẳng định vai trò của PPP trong phát triển kinh tế nóichung và phát triển kết cấu hạ tầng nói riêng Ông cho rằng, không một chínhphủ nào có thể kham nổi toàn bộ việc đầu tư cho hệ thống kết cấu hạ tầng,nhưng cũng không nhà đầu tư tư nhân nào có thể làm được việc này vì đây làlĩnh vực có hiệu quả kinh tế thấp và nhiều rủi ro [36].
Theo Giáo sư Fukunari Kimura của trường Đại học Tổng hợp Keio(Nhật Bản) nói, lý do khiến cho mô hình PPP ra đời, trong bối cảnh châu Áphát triển nhanh và nhu cầu về dịch vụ công cộng cũng như KCHT rất lớn.Nhật Bản là một trong những quốc gia đã phát triển mạnh nhất mô hình này ởchâu Á Theo kinh nghiệm của nước này, có ít nhất hai lĩnh vực mà mô hìnhPPP có thể phát huy hiệu quả, đó là các dự án không thể hoặc khó áp dụngphương pháp cổ phần hóa và các dự án mà nhà nước không thể tham gia trựctiếp Cụ thể như các dự án về sản xuất và phân phối điện, đường cao tốc, giaothông đô thị, dịch vụ cảng, cấp nước và các dịch vụ công cộng Hiệu quả mà
mô hình này đem lại là giảm chi phí, giảm rủi ro, giảm gánh nặng cho nhànước và tạo ra được một môi trường cạnh tranh cao Mô hình PPP đã được ápdụng trong việc xây dựng các kênh đào ở Pháp vào thế kỷ 18, các cây cầu ởLondon vào thế kỷ 19 hay cây cầu Brooklyn nổi tiếng ở New York cũng vàothế kỷ 19 Tuy nhiên, mô hình này chỉ thực sự bắt đầu phổ biến trên thế giới
từ đầu thập niên 1980 và nó đã đóng một vai trò nhất định trong việc pháttriển KCHT ở các nước phát triển [112]
Alfen Consult trong “Vai trò của cấu trúc tài chính dựa trên ngân sách
và không dựa trên ngân sách trong các dự án hợp tác công tư PPP” trong cácnghiên cứu về đầu tư KCHTGT cũng hướng đến việc khẳng định vai trò củahợp tác công tư trong việc huy động vốn cho đầu tư KCHTGT [88]
“Mô hình PPP - Lời giải về vốn cho đầu tư giao thông vận tải” trênbáo điện tử của Chính phủ cũng đề cập đến vấn đề nan giải về vốn đầu tư cho
Trang 22phát triển giao thông, trong khi vốn NSNN ngày càng hạn hẹp Vì bài toánvốn là vấn đề hết sức nan giải đối với phát triển hạ tầng giaothông, đặc biệt nếu không có những đột phá trong phương thức quản lý cũngnhư những mô hình thu hút nguồn lực xã hội phù hợp Hợp tác công tư là giảipháp hữu hiệu Tuy nhiên, cần phát huy vai trò của Nhà nước trong vấn đềnày [104].
Một giải pháp hữu hiệu cho huy động vốn tư nhân cho đầu tư phát triểnKCHTGTĐT là chính sách “đổi đất lấy hạ tầng” Đây cũng là một phươngthức được áp dụng khá nhiều ở các nước đang phát triển, trong đó có ViệtNam nhằm huy động sự tham gia của khu vực tư nhân trong và ngoài nướcvào phát triển KCHT nói chung và KCHTGT nói riêng Cũng nhiều nghiêncứu đã đề cập đến vấn đề này, cụ thể: “Báo cáo cuối cùng về Đánh giá khungtài trợ cho KCHT địa phương ở Việt Nam” của WB (2013) phân tích những
cơ sở pháp lý và thực tiễn của hoạt động này để đi đến kết luận: Đổi đất lấy
hạ tầng được sử dụng rộng rãi như một cơ chế tài chính tại thành phố lớn và
có thể trở thành nguồn vốn chính cho đầu tư KCHT tại những nơi này nhưngcũng gây ra một số quan ngại Việc chuyển quyền sử dụng đất cho các dự ánphát triển bất động sản thường được thực hiện dưới hình thức hợp đồng BT.Điều này đã thực hiện ở thành phố Hồ Chí Minh và tạo ra nguồn thu 6,28nghìn tỷ đồng cho chính quyền thành phố Phương thức này dấy lên mối quanngại về mức độ minh bạch của quy trình định giá đất Việc sử dụng công cụnày cũng gặp phải trở ngại do đất đai có hạn, nhiều nơi giá trị đất không cao,việc khu vực tư nhân cung cấp dịch vụ hạ tầng còn hạn chế [46]
“Giải phóng giá trị đất đai để cung cấp tài chính cho cơ sở hạ tầng đôthị” của George E.Peterson [33] cũng cung cấp những căn cứ thực tiễn vềviệc cung cấp tài chính cho KCHT thông qua việc bán đất để phát triển dự án
ở các nước Phương Tây Phương thức này thực hiện rất đơn giản qua việc yêucầu các nhà đầu tư cung cấp KCHT và thu hồi chi phí từ việc bán đất Nhiềukhu đô thị mới là ví dụ của việc đồng bộ hóa phát triển đất và xây dựngKCHT Các trường hợp ở Ai cập, Tuy-ni-di và các nước ở Bắc Phi và Trung
Trang 23Đông, các khu vực đất thuộc sở hữu của Nhà nước có hạ tầng phát triển có thểbán cho các nhà đầu tư tư nhân với giá cao hơn nhiều so với chi phí đầu tưvào phát triển hạ tầng.
1.1.2.4 Nghiên cứu về hiệu quả của đầu tư công và công tác giám sát đối với đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước
Hiệu quả đầu tư công nói chung, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư choKCHT cũng được nghiên cứu khá nhiều trong các đề tài, luận án Bùi MạnhCường trong luận án “Nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngânsách ở Việt Nam” [26] đã xây dựng hệ thống chỉ tiêu và phương pháp đánhgiá hiệu quả đầu tư phát triển (ĐTPT) từ nguồn vốn NSNN Hiệu quả kinh tế,hiệu quả xã hội, hiệu quả về mặt môi trường, về phát triển bền vững, hiệu quảtổng hợp Hệ thống chỉ tiêu gồm:
- Đánh giá hiệu quả kinh tế (Chỉ tiêu 1: Đóng góp của ĐTPT từ nguồnvốn NSNN vào phát triển kinh tế nhà nước và GDP; Chỉ tiêu 2: Đánh giá hiệuquả ĐTPT từ nguồn vốn NSNN thông qua hiệu suất đầu tư với hệ số ICOR;Chỉ tiêu 3: Đóng góp của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN vào tăng thu NSNN)
- Đánh giá hiệu quả xã hội: gồm nhiều chỉ tiêu trong đó đo lường:Đóng góp của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN vào việc nâng cao mức sống dâncư; tạo thêm việc làm; giảm đói nghèo; bình ổn giá cả, kiềm chế lạm phát;tăng NSLĐ
- Đánh giá hiệu quả về mặt môi trường: ĐTPT từ nguồn vốn NSNNhạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường; cải thiện chất lượng môitrường; đảm bảo cân bằng môi trường; đánh giá hiệu quả về phát triển bềnvững
Phan Lan Tú trong luận án “Khai thác và quản lý đầu tư phát triển kếtcấu hạ tầng kỹ thuật đô thị tại Việt Nam” cũng đưa ra hệ thống chỉ tiêu đánhgiá hiệu quả về mặt kinh tế và xã hội của việc đầu tư KCHTKT đô thị Trong
đó, các chỉ số như Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư chung, Hiệu quả hoạtđộng đầu tư KCHTGTĐT = Các kết quả đạt được do thực hiện đầu tư/Tổng
Trang 24số vốn đầu tư cho KCHTGTĐT đã thực hiện và các chỉ tiêu tài chính để phảnánh hiệu quả đầu tư KCHTGTĐT như: NPV (giá trị hiện tại thuần), IRR (hệ
số hoàn vốn nội bộ), điểm hòa vốn chỉ có thể tính được đối với các dự án đầu
tư KCHTGTĐT có khả năng thu hồi vốn vì các dự án này có dòng tiền thuđược qua quá trình khai thác, sử dụng KCHTGTĐT [71]
Nghiên cứu “Thất thoát, lãng phí vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Nhànước và vấn đề đặt ra đối với kiểm toán nhà nước trong việc kiểm toán các dự
án đầu tư” của tác giả Hoàng Văn Lương cho rằng, trong những năm qua, vốnđầu tư của Nhà nước liên tục gia tăng và chiếm tỷ lệ khoảng 30% GDP, qua
đó đã tạo nên sự chuyển biến quan trọng về cơ sở vật chất kỹ thuật, thúc đẩymạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng lực sản xuất, cải thiện vănminh đô thị Tuy nhiên, việc quản lý và triển khai thực hiện các dự án cònnhiều hạn chế và yếu kém, dẫn đến thất thoát, lãng phí vốn đầu tư, hiệu quảđầu tư kém Thất thoát lãng phí trong tất cả các khâu của quy trình QLNN, từkhâu quy hoạch, đến khâu thẩm định, phê duyệt dự án, khâu giải phóng mặtbằng và trong cả khâu lựa chọn thầu và trong cả khâu thi công [42]
Tóm lại, các nghiên cứu phân tích, đánh giá hiệu quả của đầu tư côngkhá nhiều và hầu hết đều hướng tới đánh giá cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả
xã hội Tuy nhiên, còn ít các nghiên cứu đánh giá hiệu quả của vốn đầu tưKCHTGTĐT
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHƯA ĐƯỢC NGHIÊN CỨU TRONG CÁC CÔNG TRÌNH
ĐÃ CÔNG BỐ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Mặc dù có nhiều công trình trong và ngoài nước đã đề cập đến khía cạnhnày hay khía cạnh khác của QLNN về vốn đầu tư trong phát triểnKCHTGTĐT, song:
1 Chưa có nhiều nghiên cứu phân tích sâu sắc “KCHTGTĐT” với đặcthù đối tượng đầu tư vốn chính mà chỉ đề cập đến nó như một thành tố củaKCHT; KCHTKT, hoặc chỉ đề cập KCHTGTĐT như là một trong những bộ
Trang 25phận cấu thành của KCHTKT đô thị, hoặc nghiên cứu trong tổng thể chiếnlược phát triển đô thị Hà Nội trong một giai đoạn nhất định.
2 Chưa có nhiều nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễnQLNN về vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT như đối tượng nghiên cứuchính của một đề tài cả về nội dung cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến việcquản lý vốn cho lĩnh vực này Đặc biệt chưa có nghiên cứu nào đưa ra đượctiêu chí có tính thuyết phục đánh giá QLNN về vốn đầu tư trong phát triểnKCHTGTĐT
3 Hầu hết vẫn chỉ dừng lại ở nghiên cứu QLNN nói chung, hoặc QLNN
về vốn đầu tư trong phát triển, mà chưa có nhiều nghiên cứu toàn diện, có hệthống QLNN về vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT
4 Các nghiên cứu cũng chủ yếu tập trung vào thời gian trước khi sápnhập, ít nghiên cứu về Hà Nội sau khi sáp nhập, mở rộng địa giới hành chính.Còn rất nhiều “khoảng trống” trong nghiên cứu QLNN về vốn đầu tưtrong phát triển KCHTGTĐT Hà Nội, đặc biệt là giai đoạn sau khi địa giớihành chính Hà Nội được sáp nhập Chính vì vậy, nghiên cứu của luận ánhướng đến việc hệ thống hóa, bổ sung về:
- Lý luận và thực tiễn QLNN về vốn đầu tư trong KCHTGTĐT, phântích những đặc điểm riêng có của vốn đầu tư cho KCHTGTĐT, đưa ra cáctiêu chí đánh giá và chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN về vốn đầu tưtrong phát triển KCHTGTĐT;
- Phân tích, đánh giá thực trạng về vốn đầu tư và QLNN về vốn đầu tưtrong phát triển KCHTGTĐT ở Hà Nội sau khi sáp nhập trên các nội dung,tiêu chí đánh giá, mục tiêu của QLNN, để từ đó tìm ra những thành công vàhạn chế cũng như các nguyên nhân;
- Đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện QLNN về vốn đầu tưtrong phát triển KCHTGTĐT Hà Nội trong thời gian tới
Trang 26Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRONG PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG
GIAO THÔNG ĐÔ THỊ
2.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRONG PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm kết cấu hạ tầng giao thông đô thị
Kết cấu hạ tầng có nguồn gốc từ tiếng Anh (infrastructure) gồm 2 từghép infra (ở dưới đáy) và structure (kết cấu, cấu trúc) Ở nước ta, KCHT cònđược gọi là cơ sở hạ tầng Tuy nhiên để tránh nhầm lẫn với thuật ngữ cơ sở hạtầng thường đi cùng với thuật ngữ kiến trúc thượng tầng trong triết học nênKCHT thường được dùng hơn
Kết cấu hạ tầng được hiểu theo nghĩa rộng gồm kết cấu hạ tầng kỹ thuật(KCHTKT) gồm hệ thống giao thông, nhà máy điện, nhà máy xử lý rác thải
và KCHT xã hội như trường học, cơ sở y tế, trung tâm thương mại
Là một bộ phận của KCHTKT, KCHTGT là hệ thống những công trình giao thông được xây dựng, nhằm đảm bảo cho việc di chuyển, đón trả khách
và vận chuyển hàng hoá, dịch vụ của các loại phương tiện giao thông diễn ra một cách nhanh chóng, thuận lợi và an toàn.
Kết cấu hạ tầng giao thông thường được xem xét theo hệ thống, có nghĩa
là hệ thống giao thông có sự kết nối với nhau giữa đường bộ với đường thuỷ,đường hàng không, đường sắt và giữa các loại đường với nhau thạo thành một
hệ thống hoàn chỉnh, có tác động tương hỗ với nhau
Kết cấu hạ tầng giao thông được phân loại theo nhiều tiêu chí khácnhau: Theo phương thức vận tải, KCHTGT được phân thành: KCHTGTđường bộ, KCHTGT đường sắt, KCHTGT đường thuỷ, KCHTGT đườngbiển, KCHTGT đường hàng không Theo cấp quản lý, KCHTGT được
Trang 27phân thành: KCHTGT quốc gia (quốc lộ, đường sắt quốc gia, cảng trungương ); KCHTGT địa phương (đường tỉnh, đường huyện, đường xã,cảng địa phương ) Theo khu vực, KCHTGT được phân thànhKCHTGTĐT và KCHTGT nông thôn.
Kết cấu hạ tầng giao thông đô thị là một bộ phận của KCHTGT, được
hình thành ở các đô thị, khu đô thị Hay cụ thể hơn, KCHTGTĐT là hệ thống những công trình giao thông được xây dựng, nhằm đảm bảo cho việc di chuyển, đón trả khách và vận chuyển hàng hoá, dịch vụ của các loại phương tiện giao thông diễn ra một cách nhanh chóng, thuận lợi và an toàn ở các đô thị.
Kết cấu hạ tầng giao thông đô thị bao gồm hai bộ phận: giao thông ngoạithị và giao thông nội thị Trong đó:
Giao thông ngoại thị là các đầu nút giao thông đường bộ, đường thuỷ,đường biển, đường sắt, đường hàng không nối liền hệ thống giao thông nội thịvới hệ thống giao thông quốc gia và quốc tế
Giao thông nội thị là hệ thống các loại đường nằm trong nội bộ đô thị(nội đô) thuộc phạm vi địa giới hành chính của một địa phương, một thànhphố Ngoài ra còn có hệ thống giao thông tĩnh trong đô thị bao gồm nhà ga,bến xe ô tô, các điểm đỗ xe Như vậy, KCHTGTĐT ở các địa phương baogồm các loại hình nào tuỳ thuộc vào đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội củađịa phương đó Ở Việt Nam, các địa phương lớn ven biển như Hải Phòng, ĐàNẵng có đủ tất cả các loại hình giao thông trên đây Riêng các thành phố nằmsâu trong đất liền như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh không có KCHTGTđường biển
Như vậy ở đây có thể thấy, KCHTGTĐT là tất cả hệ thống công trình giao thông thuộc phạm vi nội đô Cụ thể hơn, các công trình giao thông
bao gồm đường bộ và đường sắt đô thị; nội đô là thuộc phạm vi các quậnnội thành
Trang 282.1.1.2 Khái niệm vốn đầu tư trong phát triển kết cấu hạ tầng giao thông
đô thị
- Khái niệm về vốn đầu tư
Vốn đầu tư là yếu tố đầu vào quan trọng, được sử dụng vào quá trìnhsản xuất của doanh nghiệp và nền kinh tế tổng thể của một quốc gia Đó là tất
cả những gì mà doanh nghiệp, nền kinh tế sử dụng vào quá trình sản xuất,nhằm mục đích tạo ra khối lượng sản phẩm, hàng hoá có giá trị lớn hơn giá trị
bỏ ra ban đầu
Như vậy theo quan điểm kinh tế vĩ mô, vốn đầu tư trong kinh tế bao gồm
ba nội dung chính là: vốn đầu tư làm tăng tài sản cố định; vốn đầu tư làm tăngtài sản lưu động và vốn đầu tư vào nhà ở
Dưới góc độ tài chính - tiền tệ, vốn đầu tư là tổng số tiền biểu hiện
nguồn gốc hình thành của tài sản được đầu tư trong kinh doanh để tạo ra thu
nhập và lợi tức [43]
Dưới góc độ là nhân tố đầu vào, vốn đầu tư là một trong số yếu tố đầu
vào phục vụ cho sản xuất (lao động, đất đai, vốn, công nghệ)
Dưới góc độ quản lý kinh tế, vốn đầu tư được xem xét là toàn bộ các chi
phí được đưa vào sử dụng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, các hoạtđộng kinh tế - xã hội Theo điều 3, Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 do Quốchội ban hành ngày 29/11/2005, “Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp phápkhác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặcđầu tư gián tiếp” [52]
Theo quan niệm của tác giả, vốn đầu tư là toàn bộ các chi phí bỏ ra để thực hiện mục đích đầu tư.
- Khái niệm vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT
Vốn được đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau như: sản xuất, kinhdoanh hàng hoá, dịch vụ, chứng khoán, bất động sản hay lĩnh vực xây dựng
cơ bản, KCHTKT mà thường được gọi là vốn đầu tư phát triển
Vốn đầu tư phát triển là những chi phí bỏ ra để thực hiện các hoạt độngđầu tư nhằm tăng thêm tài sản tài chính (tiền vốn); tài sản vật chất (nhà máy,
Trang 29thiết bị, vật tư, nguyên, nhiên, vật liệu, hàng hoá, cầu cống, đường sá); tài sảntrí tuệ và nguồn nhân lực (trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, trình độkhoa học kỹ thuật).
Từ các định nghĩa đó, có thể thấy rằng vốn đầu tư trong phát triểnKCHTGT là toàn bộ chi phí cho việc xây dựng hệ thống KCHTGT nhằmmang lại hiệu quả kinh tế - xã hội trong tương lai
Là một bộ phận của vốn đầu tư trong phát triển KCHTGT, do đó vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT là toàn bộ chi phí được đầu tư nhằm phát triển KCHTGT ở đô thị.
Với khái niệm này cần làm rõ một số điểm:
Chi phí đầu tư phát triển KCHTGT bao gồm các khoản đầu tư được tínhbằng tiền thực hiện dự án phát triển hệ thống giao thông Phát triểnKCHTGTĐT còn cần một khối lượng lớn tài nguyên đất đai, tuy nhiên giá trịđất đai không được tính đến mà chỉ tính đến khoản tiền đền bù giải phóng mặtbằng khi thực hiện các dự án phát triển giao thông đô thị
Phát triển KCHTGTĐT bao gồm việc đầu tư xây dựng mới hệ thốnggiao thông, cải tạo, nâng cấp và duy tu bảo dưỡng hệ thống giao thông hiện
có Tuy nhiên để thuận tiện cho việc nghiên cứu, luận án chỉ xem xét đến việcđầu tư xây dựng mới hệ thống giao thông đô thị mà không tính đến các khoảnđầu tư cải tạo, nâng cấp và duy tu bảo dưỡng hệ thống giao thông cũ
Vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT bao gồm: vốn NSNN từ trungương, vốn NSNN từ địa phương (NSĐP), vốn tín dụng nhà nước, vốn ODA,vốn doanh nghiệp tư nhân và vốn dân cư Do giới hạn phạm vi của luận án,vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT được nghiên cứu là vốn NSĐP, là bộphận của vốn đầu tư phát triển được bố trí từ ngân sách hàng năm của thànhphố Nguồn vốn này được đầu tư xây dựng các công trình giao thông trên địabàn thành phố, do UBND thành phố quản lý
Trang 302.1.2 Đặc điểm của vốn đầu tư trong phát triển kết cấu hạ tầng giao thông
đô thị
2.1.2.1 Vốn đầu tư trong phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đô thị thường có quy mô lớn và thời gian thu hồi dài, thậm chí không thể thu hồi được
Các công trình giao thông đều là các công trình mang tính đơn chiếc, trảidài trên phạm vi không gian rộng lớn, không những của địa phương mà cònkết nối với những vùng, lãnh thổ, địa phương khác Do các yếu tố về tự nhiên,
kỹ thuật phức tạp lại đòi hỏi độ bền cao, thời gian sử dụng lâu dài với cường
độ sử dụng lớn, nên các công trình này đều có giá thành rất cao Ví dụ, tùytheo cấp đường, phụ thuộc vào mặt cắt ngang, địa chất mà lượng vốn đầu tưđòi hỏi cho 1 km đường có thể giao động từ 5-10 tỷ đồng/km theo thời giáhiện tại
Bên cạnh đó, các công trình giao thông ở đô thị phải xây dựng đồng bộ
từ đường, vỉa hè, điện chiếu sáng, cây xanh, biển báo giao thông, hệ thốngthoát nước, để đảm bảo giao thông an toàn và hiệu quả Mặt khác, so vớiKCHTGT ở các khu vực khác do KCHTGTĐT được xây dựng, phát triển ở
đô thị là nơi có mật độ dân cư đông đúc và nhiều công trình xây dựng sẵn
có, nên việc giải phóng mặt bằng sẽ rất phức tạp, đòi hỏi lượng vốn để giảiphóng mặt bằng chiếm tỷ lệ lớn hơn và thời gian thi công cũng sẽ kéo dàihơn Chính vì vậy mà lượng vốn đầu tư vào các công trình giao thôngthường rất lớn
Các công trình giao thông đô thị được đầu tư cho mục đích công cộng,phục vụ cho việc đi lại và vận chuyển hàng hoá của dân cư Với giá trị đầu tưrất lớn nhưng các khoản thu từ công trình là phí sử dụng lại ít, thậm chíthường là không thu phí nên các công trình có thời gian thu hồi vốn dài hoặckhông thu hồi được vốn Đây là đặc điểm nổi bật dẫn đến gánh nặng ngânsách ngày càng tăng, khó thu hút các nguồn vốn tư nhân
Trang 312.1.2.2 Vốn đầu tư trong phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đô thị thường có độ rủi ro cao, phụ thuộc vào các phương thức và chính sách huy động vốn
Vốn đầu tư dài hạn nói chung và vốn đầu tư trong phát triểnKCHTGTĐT nói riêng thường được đầu tư trong thời gian dài nên mức độrủi ro cao (rủi ro về lãi suất, lạm phát và sự thay đổi trong chính sách đầu tưcủa Nhà nước, thiên tai ) Hơn nữa, do nguồn vốn này phát sinh trong thờigian dài, sử dụng cho nhiều loại công việc có tính chất khác nhau, đặc điểmkhác nhau, trong quá trình đầu tư, người nhận thầu phải ứng ra lượng vốnlớn để thực hiện công việc trong thời gian chờ đợi vốn của chủ đầu tư, dovậy tình trạng nợ đọng, chiếm dụng vốn trong xây dựng GTĐT thường dễxảy ra
Bên cạnh đó, các công trình giao thông thuộc về tài sản công cộng, cóquy mô lớn và chủ yếu ở ngoài trời, chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện
tự nhiên, thời tiết, khí hậu nên khó tính toán mức độ rủi ro Trong điều kiệnbiến đổi khí hậu như hiện nay, việc đo lường, tính toán mức độ thiệt hại củacác công trình giao thông công cộng do bão lũ gây ra khá khó khăn và đòihỏi đầu tư thời gian, công sức cũng như tiền bạc để phòng, chống và khắcphục hậu quả
2.1.2.3 Vốn đầu tư trong phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đô thị thường đầu tư theo các dự án phát triển và được huy động từ rất nhiều nguồn
Kết cấu hạ tầng giao thông đô thị là tài sản công cộng, thuộc quyền quản
lý của Nhà nước, có tính hệ thống, đồng bộ Vì thế, việc đầu tư vàoKCHTGTĐT cần phải có chiến lược, mang tính dài hạn, đồng bộ, và quản lýtập trung theo từng dự án phát triển
Nguồn vốn này đến từ nhiều kênh, trong đó phụ thuộc vào trình độ pháttriển của các quốc gia, khả năng huy động và quản lý vốn, mức độ phát triểncủa các loại thị trường tài chính, tiền tệ Đối với các nước đang phát triển,
Trang 32nguồn vốn đầu tư cho phát triển KCHTGTĐT chủ yếu dựa vào NSNN domức độ rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn dài và hiệu quả thấp nên khó thu hútcác nguồn vốn tư nhân Tuy nhiên, với nguồn lực có hạn nhưng nhu cầu đầu
tư ngày càng lớn thì việc huy động các nguồn vốn khác ngoài NSNN như vốncủa các doanh nghiệp tư nhân, vốn đầu tư nước ngoài… là hết sức quan trọng,cần được quan tâm
2.1.2.4 Hiệu quả vốn đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đô thị là hiệu quả kinh tế - xã hội tổng hợp
Nguyên tắc sử dụng vốn đầu tư nói chung là hiệu quả và có sinh lợi Dovậy, vốn đầu tư khi được huy động và sử dụng thường được chú ý đến tínhsinh lợi của đồng vốn Toàn bộ quá trình xác định vốn, huy động vốn, sửdụng vốn, quyết toán vốn đều được tính toán hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.Tuy nhiên, KCHTGT nói chung và KCHTGTĐT nói riêng là các sản phẩmcông ích và là tài sản do Nhà nước quản lý nên việc tính toán hiệu quả củavốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT không chỉ là hiệu quả kinh tế nhưcác loại vốn đầu tư thông thường khác mà cần xét đến hiệu quả kinh tế - xãhội mà vốn đầu tư đó mang lại
Khi đưa ra quyết định cho mỗi dự án đầu tư cần xem xét hiệu quả vớimột cách nhìn toàn diện, xem xét hiệu quả kinh tế đi đôi với hiệu quả xã hội,kết hợp lợi tích trước mắt với lợi ích lâu dài, lợi ích cục bộ của từng bộ phậnvới lợi ích tổng thể của toàn xã hội Chẳng hạn, khi mở một con đường mới sẽtạo điều kiện cho dân cư đi lại một cách dễ dàng hơn, giảm được ách tắc nênthời gian đi lại được rút ngắn, chi phí xăng xe giảm, thời gian làm việc củangười lao động tăng lên, các doanh nghiệp trong vùng và đối tác liên quanhoạt động thuận lợi hơn, việc chuyên chở nguyên, nhiên vật liệu và hàng hoá
dễ dàng hơn Từ đó gia tăng thu nhập của doanh nghiệp cũng như của vùng vàđất nước… Do đó, tính sinh lợi của hầu hết các dự án đầu tư KCHTGTĐT thểhiện trước hết ở hiệu quả xã hội của vốn, sau đó thể hiện ở các chỉ tiêu hiệuquả là lợi ích xã hội thu được phải lớn hơn chi phí vốn đầu tư bỏ ra
Trang 332.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRONG PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ
2.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về vốn đầu tư trong phát triển kết cấu
hạ tầng giao thông đô thị
Xuất phát từ khái niệm cơ bản: “Quản lý là sự tác động của chủ thể quản
lý tới đối tượng quản lý thông qua các công cụ quản lý nhằm đạt mục tiêu đềra”, có thể đưa ra khái niệm “Quản lý nhà nước về vốn đầu tư trong phát triểnKCHTGTĐT” như sau:
“Quản lý Nhà nước về vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT là những tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của cơ quan nhà nước có chức năng, thẩm quyền tới các đơn vị và cá nhân thực hiện quá trình huy động, sử dụng vốn đầu tư, thông qua các cơ chế, chính sách của Nhà nước nhằm phát triển hệ thống giao thông đô thị có hiệu quả”.
Trong khái niệm này có một số điểm cần chú ý:
Thứ nhất, chủ thể QLNN về vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT
được thực hiện ở nhiều cấp: Trung ương và địa phương Ở cấp trung ương,chủ thể quản lý về vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT là Quốc hội,Chính phủ với các Bộ chức năng như: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính,
Bộ Giao thông vận tải, Kho bạc Nhà nước Ở cấp địa phương, QLNN về vốnđầu tư trong phát triển KCHTGTĐT được thực hiện ở cấp thành phố và cấpquận, huyện
Ở cấp thành phố, HĐND và UBND là chủ thể quản lý về vốn đầu tưtrong phát triển KCHTGTĐT Trong đó, sở Kế hoạch và Đầu tư, sở Giaothông vận tải, sở Tài chính, Kho bạc nhà nước là các cơ quan thuộc UBNDThành phố thực hiện chức năng quản lý vốn đầu tư trong phát triểnKCHTGTĐT ở những mặt khác nhau Ví dụ, sở Kế hoạch và Đầu tư thựchiện chức năng lập kế hoạch vốn, sở Tài chính thực hiện phân bổ vốn, Khobạc nhà nước thành phố thực hiện việc quản lý thanh quyết toán vốn
Trang 34- Đối tượng QLNN về vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT: là các
đơn vị, cá nhân thực hiện các hoạt động liên quan đếnvốn đầu tư trong pháttriển KCHTGTĐT (gồm vốn NSNN, vốn ODA, vốn của các doanh nghiệp tưnhân trong và ngoài nước và các vốn tiết kiệm của dân cư thông qua các tổchức tài chính trung gian) Các hoạt động liên quan đến vốn đầu tư trong pháttriển KCHTGTĐT bao gồm quá trình huy động và sử dụng vốn đầu tư vào dự
án phát triển giao thông đô thị
Quản lý nhà nước chỉ chủ động đối với nguồn vốn NSNN, đối với cácnguồn vốn khác, Nhà nước phải thông qua chính sách, cơ chế tạo điều kiệnđịnh hướng doanh nghiệp và dân cư
Đối với các dự án sử dụng vốn NSNN, UBND thành phố chịu tráchnhiệm quản lý các dự án do mình quyết định đầu tư Các dự án này có thểthuộc cả 3 nhóm: A, B, C trong phạm vi và khả năng cân đối ngân sách củađịa phương sau khi thông qua HĐND cùng cấp Với các dự án này, UBNDthành phố quản lý toàn bộ quá trình huy động, phân bổ và sử dụng vốn từ việcxác định chủ trương đầu tư, lập dự án, quyết định đầu tư, lập dự toán, lựachọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa côngtrình vào khai thác sử dụng Đối với dự án gồm nhiều dự án thành phần, tuỳmỗi dự án thành phần có thể được quản lý theo sự phân chia và thoả thuậngiữa các bên và do người quyết định đầu tư quyết định
Với dự án sử dụng nguồn vốn ODA do thành phố là chủ đầu tư, UBNDthành phố chịu trách nhiệm quản lý nguồn vốn này Tuy nhiên, các dự án nàycũng chịu sự quản lý của các nhà tài trợ nên cơ chế quản lý sẽ có nhiều điểmkhác biệt hơn
Đối với các dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân theo hìnhthức PPP, UBND thành phố chủ yếu quản lý năng lực đầu tư vốn của chủđầu tư để xét duyệt dự án, còn quá trình thực hiện dự án sẽ do chủ đầu tư tựquyết định
Đối với dự án của doanh nghiệp sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảolãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư phát triển của
Trang 35DNNN, UBND thành phố sẽ quản lý về chủ trương và quy mô đầu tư Doanhnghiệp có dự án tự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý dự án theocác quy định của pháp luật có liên quan.
Chính vì vậy mà vốn đầu tư được nghiên cứu trong luận án chủ yếu làvốn NSNN của thành phố Nguồn vốn ODA cũng thuộc NSNN, nhưng donhững đặc điểm riêng biệt trong quản lý nên không được xem xét Các nguồnvốn khác như PPP, FDI, vốn của các tổ chức tài chính trung gian và vốn dâncư… trong khuôn khổ luận án chỉ được đề cập khi so sánh hoặc bổ sung chonhững đánh giá đối với vốn NSNN
Phương thức quản lý vốn đầu tư xây dựng các công trình KCHTGTĐTđược thực hiện thông qua quy hoạch phát triển mạng lưới giao thông đô thị,hình thành khung khổ pháp luật; ban hành và thực hiện cơ chế, chính sách; bốtrí đội ngũ cán bộ giám sát, kiểm tra, kiểm soát hoạt động tại các công trình
2.2.2 Mục tiêu của quản lý nhà nước về vốn đầu tư trong phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đô thị
Quản lý nhà nước về vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT phảinhằm đạt được các mục tiêu quan trọng, bao gồm mục tiêu trung gian và mục
tiêu cuối cùng, thể hiện trên các khía cạnh sau:
2.2.2.1 Định hướng, huy động có hiệu quả các nguồn vốn trong và ngoài nước nhằm phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đô thị
Đây là mục tiêu đầu tiên mà QLNN đối với vốn đầu tư hướng tới nhằmgiải quyết vấn đề ngân sách để phát triển KCHTGTĐT Các quốc gia nóichung và địa phương nói riêng đều phải đối mặt với sự mâu thuẫn khó giảiquyết, một bên là nhu cầu về cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới vềKCHTGTĐT, một bên là sự thiếu hụt về vốn Trong khi khả năng huy độngcác nguồn thu từ NSNN cũng chỉ đủ đáp ứng một phần nhu cầu đầu tư choKCHTGTĐT thì việc huy động các nguồn vốn ngoài NSNN là hết sức quantrọng để bù đắp cho sự thiếu hụt này Thực tế cho thấy rằng, đối với đầu tư
Trang 36KCHTGTĐT, vốn NSNN được xem là “vốn mồi”, vốn đối ứng, vốn dẫn xuất
để thu hút các thành phần vốn khác vào đầu tư phát triển KCHTGTĐT
Bằng cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư của mình, Nhà nước sẽhuy động các nguồn vốn, đặc biệt là vốn của doanh nghiệp tư nhân trong vàngoài nước vào các công trình giao thông đô thị theo đúng mục tiêu phát triểnKCHTGTĐT của mình Muốn vậy các cơ quan QLNN bên cạnh việc kêu gọi,khuyến khích các nguồn vốn đầu tư khác cho việc phát triển KCHTGTĐT cầntạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, thông thoáng, đảm bảo lợi ích thỏađáng cho các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế sẵn sàng bỏ vốn đầu tư
để cùng Nhà nước phát triển KCHTGTĐT
Vốn đầu tư KCHTGTĐT bao gồm vốn bằng tiền, hoặc vốn bằng tài sảnnhư đất đai Việc vốn hóa các tài sản đầu tư vào KCHTGTĐT đòi hỏi tínhchính xác, đúng thời điểm, phù hợp với quy chế quản lý đầu tư của Nhà nước
mà không gây thiệt thòi cho người sở hữu vốn, đảm bảo mục tiêu đầu tiên làhuy động được tối đa nguồn vốn
Để đạt được mục tiêu này, các cơ quan QLNN phải chú trọng công táclập kế hoạch vốn đầu tư cho KCHTGTĐT và các chính sách khuyến khíchhuy động vốn ngoài NSNN
2.2.2.2 Đảm bảo phân bổ hợp lý các nguồn vốn đầu tư vào các dự án phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đô thị
Cùng với quá trình phát triển kinh tế, đô thị hóa, nguồn vốn đầu tư (đặcbiệt là vốn NSNN) ngày càng hạn hẹp, song nhu cầu phát triển KCHTGTĐTlại rất lớn, thường xảy ra những khoảng cách giữa nhu cầu và khả năng đápứng Vì thế, việc cân đối nguồn vốn và phân bổ hợp lý vào những dự án giaothông sao cho đúng đối tượng, đảm bảo tính cấp thiết, đúng số lượng và tiến
độ, phục vụ tốt yêu cầu đi lại, vận chuyển của đông đảo người dân là vấn đềkhông đơn giản, là mục tiêu phấn đấu của QLNN
Các công trình KCHTGTĐT thường được triển khai trên các khu dân cưđông đúc nên việc chậm trễ xây dựng không chỉ đội giá thành mà còn cản trở
Trang 37giao thông và sinh hoạt của nhân dân đô thị, gây nhiều bức xúc cho dân Vìthế, đẩy nhanh tiến độ xây dựng là một đòi hỏi cấp thiết Điều này càng gâysức ép để thực hiện việc cấp vốn đầy đủ và kịp thời.
Để phân bổ vốn đúng đối tượng, đầy đủ và kịp thời cho các công trìnhKCHTGTĐT, trước hết công tác lập kế hoạch, cân đối nguồn vốn phải đượcthực hiện cẩn thận, có những đánh giá sát sao, khoa học, tránh trường hợpquyết định phê duyệt vốn một cách tuỳ hứng, thiếu quan tâm đầy đủ, đúngmức đến lượng vốn huy động được Phân bổ vốn phải đảm bảo đúng dự toán
đã được phê duyệt, cả về khối lượng và tiến độ Ngoài ra, đối với các doanhnghiệp được trúng thầu xây dựng các công trình KCHTGTĐT, Nhà nước cóthể sử dụng nguồn vốn tín dụng của mình để cho vay, đảm bảo tiến độ thicông Việc phân bổ nguồn vốn tín dụng vào các dự án phát triển KCHTGTĐTtheo đúng mục tiêu sẽ giúp các doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận với cácnguồn vốn, góp phần tăng năng lực sản xuất, giải quyết được những khó khăn
để đầu tư vào các công trình cần khối lượng vốn lớn
Công trình KCHTGTĐT thường là những công trình đòi hỏi nguồn vốnđầu tư rất lớn với những yêu cầu khắt khe về kỹ thuật Vì thế, QLNN về vốnđầu tư KCHTGTĐT hiệu quả là vấn đề không dễ dàng Bởi với một quá trìnhđầu tư lâu dài, nhiều tầng nấc, việc thất thoát, lãng phí có thể xảy ra trong tất
cả quá trình thực hiện dự án, từ chủ trương đầu tư, lập quy hoạch, kế hoạchđến thi công công trình Muốn hạn chế điều đó cần tăng cường công tác kiểmtra, giám sát vốn đầu tư sát sao, đầy đủ và đúng quy trình bằng các quy trìnhđầu tư chặt chẽ, bằng chính sách, pháp luật, và các chế tài xử phạt nghiêmminh Với nguồn vốn đầu tư từ NSNN rất dễ xảy ra tình trạng “cha chungkhông ai khóc” thì việc quản lý thông qua thanh tra, kiểm tra thường xuyênđối với nguồn vốn này sẽ giúp Nhà nước giám sát được nguồn lực đầu tư,tránh tình trạng tham nhũng, thất thoát trong quá trình đầu tư công, nâng caohiệu quả sử dụng vốn
Trang 38Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát sẽ hạn chế được thất thoát, lãngphí, đảm bảo được đúng mục tiêu mà QLNN đối với vốn đầu tư trong pháttriển KCHTGT hướng tới.
2.2.2.3 Phát triển hiệu quả hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đô thị
Phát triển hiệu quả hệ thống KCHTGTĐT là mục tiêu quan trọng nhất và
có thể xem là mục tiêu cuối cùng của QLNN đối với vốn đầu tư trong pháttriển KCHTGTĐT Với mục tiêu này, việc quản lý phải đảm bảo vốn đầu tưphải được sử dụng một cách hiệu quả nhất, với chi phí thấp nhất và hoànthành công trình KCHTGTĐT có chất lượng cả về kỹ thuật, mỹ thuật và bềnvững, phục vụ tốt nhu cầu đi lại thuận lợi, nhanh chóng và an toàn của ngườidân Để đạt được mục tiêu này, vốn đầu tư phải được phân bổ vào các côngtrình giao thông trọng điểm, các công trình đang bị ách tắc kéo dài gây bứcxúc cho người dân hoặc có tầm chiến lược trong dài hạn Trong quá trình thựchiện đầu tư cần thường xuyên tiến hành kiểm tra, giám sát nguồn vốn, tránhthất thoát, lãng phí, tiết kiệm nguồn vốn, làm giảm giá thành của công trình.Như vậy, với một lượng vốn nhất định, các công trình giao thông được pháttriển một cách hiệu quả, giải quyết được nhu cầu đi lại nhanh chóng và thuậntiện của người dân
Có thể nói, việc thực hiện mục tiêu này cũng rất khó khăn, phụ thuộc vàotầm nhìn của lãnh đạo trong việc quy hoạch, lập và thẩm định kế hoạch vốn.Ngoài ra, việc quản lý, giám sát công tác thi công, nghiệm thu công trình, kể
cả việc quản lý sau khi công trình được đưa vào sử dụng của các cơ quanquản lý là hết sức quan trọng Hay nói cách khác, việc thực hiện có kết quảcác mục tiêu trước đã nêu trên sẽ cho phép thực hiện mục tiêu này với kết quảtốt nhất
Trang 392.2.3 Nội dung của quản lý nhà nước về vốn đầu tư trong phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đô thị
Quản lý vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT là một hoạt động tổngthể, bao gồm từ khâu lập kế hoạch, tổ chức huy động, phân bổ, thanh, quyếttoán và kiểm tra, kiểm soát vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT Quytrình QLNN về vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT bao gồm các nộidung được biểu diễn ở sơ đồ 2.1
Sơ đồ 2.1 Quy trình QLNN về vốn đầu tư trong phát triển kết cấu hạ
tầng giao thông đô thị
Nguồn: Tác giả tự xây dựng
Với quy trình này, QLNN về vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT
có những nội dung sau:
2.2.3.1 Lập kế hoạch vốn đầu tư trong phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đô thị
Sau khi danh mục dự án phát triển KCHTGTĐT được phê duyệt, cơquan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành lập kế hoạch vốn đầu tư
Trang 40Trong việc lập kế hoạch vốn, thường người ta chia thành: kế hoạch dàihạn, kế hoạch trung hạn và kế hoạch ngắn hạn Kế hoạch dài hạn (thường là
10 năm) cung cấp tầm nhìn khái quát nhu cầu vốn trong thời gian dài để cóthể chuẩn bị tốt hơn nhưng thường gặp nhiều biến đổi trong khi thực hiện Kếhoạch trung hạn (thường là 5 năm) sẽ giúp các nhà quản lý và các đơn vị thựchiện biết được nhu cầu vốn là bao nhiêu để tập trung đẩy mạnh thực hiện tiến
độ các dự án, tránh tình trạng cứ phê duyệt dự án trước rồi mới lo nguồn sau,khiến nhiều dự án bị dang dở Có thể nói kế hoạch trung hạn là kế hoạch cóthời hạn tốt nhất để giúp cho quản lý vốn đầu tư chủ động và có hiệu quả hơn
Kế hoạch ngắn hạn (thường là từng năm) được lập trên cơ sở kế hoạch trunghạn, cho biết việc đầu tư vốn sẽ được thực hiện như thế nào trong năm ngânsách
Nội dung kế hoạch vốn đầu tư bao gồm: tổng mức đầu tư của các dự ánphát triển KCHTGTĐT; phương án huy động vốn theo tiến độ, khả năng thuxếp vốn, nguồn vốn và khả năng cấp vốn theo tiến độ và phân tích đánh giáhiệu quả kinh tế - tài chính, hiệu quả xã hội của dự án
Việc xây dựng kế hoạch huy động, phân bổ và sử dụng nguồn vốn pháttriển KCHTGTĐT căn cứ vào việc phân cấp giữa Trung ương và địa phương,khả năng cân đối nguồn thu của địa phương và các nguồn khác trong từng giaiđoạn, phù hợp với chu kỳ tài khóa Với những Thành phố, thủ đô, có ý nghĩaquan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội, cơ chế phân cấp theo hướng tự chủ,sáng tạo sẽ tạo điều kiện cho địa phương chủ động được nguồn thu, tăng ngânsách của Thành phố, đảm bảo cho kế hoạch khả thi hơn Kế hoạch huy động
và sử dụng ngân sách phải được đưa vào dự toán ngân sách để trình cơ quannhà nước cấp cao hơn thẩm định và phê duyệt
2.2.3.2 Tổ chức huy động vốn đầu tư trong phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đô thị
Trên cơ sở kế hoạch vốn đầu tư, các cơ quan quản lý của Thành phố xâydựng và tổ chức thực hiện chính sách huy động vốn đầu tư cho các dự án giaothông đô thị