1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông hồng hiện nay

153 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cấu Trúc Xã Hội Của Cư Dân Làng Nghề Đồng Bằng Sông Hồng Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Xã Hội Học
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 552,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các làng nghề ở Việt Nam có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội đất nước nói chung và đối với nền kinh tế xã hội nông thôn nói riêng. Trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, đề cập: “Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường. Triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của nông thôn Việt Nam”

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Tính cấp thiết về mặt thực tiễn

Các làng nghề ở Việt Nam có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế

-xã hội đất nước nói chung và đối với nền kinh tế - -xã hội nông thôn nói riêng.Trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng,

đề cập: “Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệmôi trường Triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặcđiểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn; giữgìn và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của nông thôn Việt Nam”[14, tr.197]

Các làng nghề phát triển đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp - nông thôn theo hướng “ly nông bất ly hương” Sự lan tỏa củacác làng nghề đã mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất, thu hút nhiều lao động,kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề khác, góp phần làm tăng tỷ trọngngành công nghiệp, dịch vụ

Đồng bằng sông Hồng có lịch sử phát triển lâu đời, nơi diễn ra sự pháttriển mạnh mẽ của văn minh lúa nước - nền nông nghiệp truyền thống của dântộc Việt Nam Do vậy, làng nghề ở đồng bằng sông Hồng có điều kiện kháchquan để hình thành và phát triển Các làng nghề ở đồng bằng sông Hồng từ xaxưa đã có vai trò quan trọng trong việc sản xuất hàng hóa phục vụ đời sốngcủa nhân dân Với những lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và vănhóa, nhiều làng nghề đồng bằng sông Hồng được khôi phục và phát triển khánhanh so với các địa phương khác

Thành phố Hà Nội là vùng đất địa linh nhân kiệt, có bề dày văn hóa lâuđời trong lịch sử dân tộc Hà Nội tập trung nhiều làng nghề như: làng gốm BátTràng; làng lụa Vạn Phúc; làng gỗ mỹ nghệ Sơn Đồng; làng nghề ChàngSơn Hà Nội trở thành đất “trăm nghề” và vẫn đang trong xu thế phát triển

Trang 2

mạnh, trên cơ sở chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng và những chínhsách kinh tế - xã hội của Nhà nước.

Huyện Thường Tín có nhiều làng nghề truyền thống, với những sảnphẩm nổi tiếng như: Tiện gỗ ở xã Nhị Khê, sơn mài ở xã Duyên Thái, thêu ở

xã Quất Động, mây tre đan ở xã Ninh Sở, ngoài ra còn có một số nghề mớiphát triển mấy chục năm như: làm xương sừng ở Thụy Ứng xã Hòa Bình, đồ

gỗ ở xã Vạn Điểm, bông len ở Trát Cầu xã Tiền Phong, Đến nay, huyện có

46 làng trên tổng số 126 làng có nghề được UBND thành phố Hà Nội côngnhận là làng nghề

Thường Tín hội tụ khá đầy đủ các đặc điểm của làng nghề nông thônvùng đồng bằng sông Hồng, bởi vì làng nghề ở đồng bằng sông Hồng nóichung và huyện Thường Tín nói riêng đang bị tác động mạnh mẽ bởi quátrình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mặt khác, huyện Thường Tínmới sát nhập vào thành phố Hà Nội, nên quá trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa nông nghiệp - nông thôn của huyện chịu tác động mạnh từ sự phát triểnkinh tế - xã hội của thủ đô Hà Nội Do vậy, làng nghề ở huyện Thường Tínchứa đựng nhiều đặc điểm, tính chất của cấu trúc xã hội làng nghề truyềnthống, nhưng đang có những đặc điểm mới của quá trình đô thị hóa, hiện đạihóa

1.2 Tính cấp thiết về mặt lý luận

Để duy trì và phát huy các thế mạnh của các làng nghề, cũng như đápứng yêu cầu trong quá trình hội nhập quốc tế, đạt hiệu quả kinh tế - xã hội caohơn và phát triển làng nghề theo hướng bền vững, thì cần có những nghiêncứu xã hội học về cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề

Cấu trúc xã hội là một nội dung cơ bản được nghiên cứu xuyên suốttrong lịch sử xã hội học Từ năm 1840 đến cuối những năm 1880, K.Marx đãchú trọng phân tích cấu trúc xã hội và xem xét cấu trúc xã hội trên nền tảngcủa cấu trúc kinh tế Đầu thế kỷ XX, nhà xã hội học người Đức là M.Weber

Trang 3

đã chỉ ra vai trò của các yếu tố như: địa vị kinh tế, địa vị chính trị và uy tín

xã hội trong sự phân chia xã hội thành giai tầng trên dưới, cao thấp khácnhau Trên thế giới, nhiều nhà xã hội học quan tâm nghiên cứu nguyên nhân

và các biểu hiện của cấu trúc xã hội Ở Việt Nam đã có một số công trìnhnghiên cứu có giá trị quan trọng về lý luận và thực tiễn vấn đề cấu trúc xãhội, phân tầng xã hội trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Cấu trúc xã hội không chỉ được xem xét như một cấu trúc ít thành phầngồm hai giai cấp, một tầng lớp và dường như đồng đều nhau, ngang bằngnhau hoặc chỉ đơn tuyến phát triển theo hướng tiến dần đến sự thuần nhất,đồng nhất xã hội như quan niệm thời kỳ trước đổi mới, mà đang diễn ra mộtquá trình phân tầng xã hội mạnh mẽ trên cơ sở của nền kinh tế nhiều thànhphần

Theo cách nhìn nhận này, cấu trúc xã hội nước ta vừa có cấu trúc

"ngang", vừa có cấu trúc "dọc" [trích theo 77] Cấu trúc “ngang”, đó là mộttập hợp các giai cấp, tầng lớp, các nhóm nghề nghiệp, các tổ chức trong xãhội mà trong đó khó có thể chỉ rõ giai cấp nào, tầng lớp nào có vị thế ở trêngiai cấp, hay tầng lớp nào Trong đó bao hàm các giai cấp công nhân, nôngdân, tiểu thương, doanh nhân, trí thức Cấu trúc "dọc", cấu trúc phân tầng xãhội, tức là cấu trúc tầng bậc cao thấp trong xã hội, được xem xét và biểu hiện

ở ba dấu hiệu cơ bản khác nhau: Địa vị kinh tế (tài sản, thu nhập), địa vị chínhtrị (quyền lực), địa vị xã hội (uy tín) Dưới hai lát cắt cấu trúc "ngang" và

"dọc" này đan kết vào nhau rất phức tạp tạo thành cấu trúc xã hội của cả một

hệ thống xã hội, cộng đồng xã hội hay “giai tầng xã hội” [trích theo, 77] Tuynhiên, các nghiên cứu cấu trúc xã hội làng nghề chưa nhiều, nhất là nghiêncứu cấu trúc xã hội với tư cách là một hệ thống các quan hệ xã hội của cácthành phần xã hội trong cư dân làng nghề Một cách tiếp cận nữa trong nghiêncứu cấu trúc xã hội là xem xét cấu trúc xã hội trong từng lĩnh vực của đờisống xã hội Khi đó cấu trúc xã hội có thể được xem xét dưới các hình thức

Trang 4

hay các hệ cấu trúc xã hội như cấu trúc xã hội - dân số theo tuổi, giới tính, cấutrúc xã hội - nghề nghiệp và các phân hệ cấu trúc xã hội khác.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và trước sức ép của tốc độ đô thị hóa,nhiều làng nghề ở đồng bằng sông Hồng phải đối mặt với những thách thứcnhư: mặt bằng sản xuất rất hạn chế, các cơ sở sản xuất chủ yếu sử dụng ngaynơi ở làm nơi sản xuất dẫn đến môi trường sống bị ô nhiễm, mật độ dân cưtrong các làng nghề đông, số lao động ở một số làng nghề giảm Tuy nhiên,một số làng nghề vẫn đứng vững, là do chính các cơ sở sản xuất ở làng nghề

đã biết liên kết lại với nhau để thành những mạng lưới hộ gia đình, nhữngcông ty, doanh nghiệp sản xuất thành lập ở ngay trong làng nghề Mạng lưới

xã hội làng nghề, quan hệ xã hội làng nghề như thế nào thì cần phải nghiêncứu về cấu trúc xã hội của làng nghề Nói cách khác làng nghề hoạt động,biến đổi và phát triển ra sao, phụ thuộc rất nhiều vào cấu trúc xã hội của nó

Đã có nhiều nghiên cứu về làng nghề từ góc độ kinh tế học và văn hóahọc Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu chuyên sâu từ góc độ xã hội học về làngnghề và nhất là cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề ở Việt Nam

Với những lý do đã nêu ra ở trên, tác giả lựa chọn đề tài Cấu trúc xã

hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay (Nghiên cứu

trường hợp hai làng nghề ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội) làm luận

án tiến sĩ xã hội học

2 Mục đích nghiên cứu

Từ góc độ xã hội học, luận án tìm hiểu những vấn đề lý luận và đánhgiá thực trạng các phân hệ của cấu trúc xã hội cư dân làng nghề; phân tíchnhững yếu tố tác động đến cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề Trên cơ sở

đó, nhận định một số vấn đề đặt ra và gợi ý một số giải pháp nhằm phát huynhững thế mạnh của cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sôngHồng trong thời kỳ đổi mới đất nước

Trang 5

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu, đề tài tập trung vào các nhiệm vụnghiên cứu như sau:

Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận, các khái niệm nghiên cứu cấu trúc xã

hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay

Thứ hai, khảo sát thực địa, phân tích thực trạng các phân hệ của cấu

trúc xã hội cư dân làng nghề đồ gỗ Vạn Điểm xã Vạn Điểm và làng nghề sơnmài Hạ Thái xã Duyên Thái ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội

Thứ ba, phân tích các yếu tố tác động đến các phân hệ cấu trúc xã hội

cư dân làng nghề

Thứ tư, nhận định một số vấn đề đặt ra và gợi ý một số giải pháp nhằm

hoàn thiện cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các phân hệ cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sôngHồng hiện nay

4.2 Khách thể nghiên cứu

Cư dân làng nghề đồ gỗ và làng nghề sơn mài ở huyện Thường Tín,thành phố Hà Nội

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi thời gian: Từ năm 2012 đến năm 2014.

Phạm vi không gian: Làng Vạn Điểm, xã Vạn Điểm (làng nghề đồ gỗ

Vạn Điểm) và làng Hạ Thái, xã Duyên Thái (làng nghề sơn mài Hạ Thái)huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội

Đề tài lựa chọn nghiên cứu trường hợp làng nghề đồ gỗ Vạn Điểm vàlàng nghề sơn mài Hạ Thái ở huyện Thường Tín, trong số các làng nghề ởđồng bằng sông Hồng với những tiêu chí sau:

Trang 6

Về địa lý: Thường Tín là một huyện của thành phố Hà Nội, Thường Tín

tập trung nhiều làng nghề tiêu biểu trong Đồng bằng sông Hồng Tác giả lựachọn làng nghề đồ gỗ Vạn Điểm ở cuối huyện Thường Tín và làng nghề sơnmài Hạ Thái ở đầu huyện Thường Tín (giáp Trung tâm thành phố Hà Nội)

Về lịch sử: Làng nghề đồ gỗ Vạn Điểm xuất hiện gần 50 năm và phát

triển mạnh trong thời kỳ đổi mới; làng nghề sơn mài Hà Thái đã có từ trướcthời kỳ đổi mới với lịch sử hơn 200 năm Như vậy, có thể so sánh được cấutrúc xã hội của hai làng nghề này

Về kinh tế - xã hội: Cả hai làng nghề này thuộc hai xã trong cùng một

huyện, do vậy nghiên cứu để xem xét sự khác nhau về nghề nghiệp có thể tạo

ra những sự khác nhau trong cấu trúc xã hội; đồng thời có thể xem xét mốitương quan giữa các phân hệ cấu trúc xã hội, cấu trúc xã hội - nghề nghiệpcủa hai làng nghề này

5 Cơ sở lý luận, mẫu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Nghiên cứu này dựa trên quan điểm lý luận, phương pháp luận của Chủnghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối, quanđiểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển làng nghề

Là một đề tài thuộc chuyên ngành xã hội học, nghiên cứu này vận dụng

lý thuyết hệ thống xã hội của Talcott Parsons và lý thuyết cấu trúc hóa củaAnthony Giddens làm cơ sở lý luận cho việc xem xét, đánh giá thực trạng cấutrúc xã hội của cư dân làng nghề đồ gỗ Vạn Điểm (xã Vạn Điểm) và làngnghề sơn mài Hạ Thái (xã Duyên Thái) ở huyện Thường Tín, thành phố HàNội

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phân tích tài liệu: Thu thập, phân tích số liệu, các nghiên cứu đã có về

cấu trúc xã hội và cấu trúc xã hội làng nghề Việt Nam Thu thập, phân tíchcác báo cáo về tình hình phát triển kinh tế xã hội, về cấu trúc xã hội làng nghề

Trang 7

đồ gỗ Vạn Điểm và làng nghề sơn mài Hạ Thái, huyện Thường Tín, thànhphố Hà Nội.

+ Phương pháp quan sát thực địa tại một số cơ sở sản xuất - kinh doanh

và hộ gia đình Tác giả luận án nhiều lần đến thăm, nghiên cứu, quan sát tham

dự đời sống của cư dân làng nghề đồ gỗ Vạn Điểm và làng nghề sơn mài HạThái, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội

+ Phương pháp định lượng: Tác giả thu thập thông tin về cấu trúc xã

hội của cư dân làng nghề qua phiếu thu thập thông tin, do chính chủ hộ giađình trả lời bằng cách trực tiếp ghi, điền vào bảng hỏi điều tra Chủ hộ giađình trong nghiên cứu này là người đại diện hộ gia đình, có vai trò quyết định

về kinh tế của gia đình, được các thành viên trong gia đình thừa nhận

+ Phương pháp phân tích số liệu

Số liệu của cuộc điều tra được xử lý bằng chương trình SPSS và đượcphân tích tần suất, tương quan hai chiều

Phân tích tần suất, phân tích thực trạng các phân hệ cấu trúc xã hội của

cư dân làng nghề hiện nay (thống kê mô tả: tần suất, trung bình, giá trị lớnnhất, giá trị nhỏ nhất)

Phân tích tương quan hai chiều, kiểm nghiệm mối quan hệ giữa từng

yếu tố xác định là biến độc lập với các phân hệ cấu trúc xã hội của cư dânlàng nghề thông qua công cụ thống kê Chi-Square Tests được sử dụng để xemxét ý nghĩa thống kê mối quan hệ giữa các biến số đó

Trang 8

5.3 Mẫu nghiên cứu

Trang 9

- Đặc điểm mẫu điều tra

Từ 530 phiếu điều tra được phát ra, kết quả thu được 515 phiếu đưa vào

xử lý Trong 515 hộ gia đình, gồm 425 hộ gia đình, cơ sở sản xuất làm nghềtruyền thống và 90 hộ không làm nghề truyền thống

Không làm nghề truyền

thống

Trang 10

6 Câu hỏi, giả thuyết và khung nghiên cứu

6.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng hiện naybiểu hiện như thế nào qua các phân hệ cấu trúc xã hội?

- Phân hệ cấu trúc xã hội nào là nổi bật nhất trong cấu trúc xã hội của

cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay?

- Cấu trúc xã hội với các phân hệ của nó chịu tác động như thế nào từcác yếu tố nào ở làng nghề đồng bằng sông Hồng?

6.2 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết thứ nhất: Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng

sông Hồng hiện nay gồm các phân hệ cơ bản cấu trúc xã hội - dân số, cấu trúc

xã hội - gia đình, cấu trúc xã hội - nghề nghiệp, cấu trúc xã hội - mức sống

Giả thuyết thứ hai: Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng

sông Hồng hiện nay nổi bật nhất là phân hệ cấu trúc xã hội - nghề nghiệp theo

mô hình gia đình nghề và mô hình công ty nghề

Giả thuyết thứ ba: Các phân hệ cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề

đồng bằng sông Hồng chịu tác động chủ yếu từ đặc điểm nhân khẩu - xã hộicủa chủ hộ gia đình và loại nghề của hộ gia đình

Trang 11

Cấu trúc xã hội - mức sốngCấu trúc xã hội - nghề nghiệp

Cấu trúc xã hội - gia đình

CẤU TRÚC XÃ HỘI CỦA CƯ DÂN LÀNG NGHỀ

Cấu trúc xã hội - dân số

Đặc điểm loại nghề của hộ gia đình

Đặc điểm nhân khẩu - xã hội của chủ hộ gia đình

ĐƯỜNG LỐI, CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG, CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ

MÔI TRƯỜNG KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, VĂN HÓA, XÃ

HỘI CỦA LÀNG-XÃ

Trang 12

+ Cấu trúc xã hội - mức sống: thu nhập, chi tiêu.

- Các yếu tố môi trường kinh tế - xã hội

+ Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà

nước về phát triển làng nghề;

+ Môi trường: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của làng-xã.

7 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

7.1 Ý nghĩa lý luận

Nghiên cứu và vận dụng lý thuyết hệ thống xã hội của Talcott Parsons

và lý thuyết cấu trúc hóa của Anthony Giddens vào việc tìm hiểu cấu trúc xãhội cư dân hai làng nghề đồng bằng sông Hồng, để làm rõ các đặc trưng củacác phân hệ cấu trúc xã hội làng nghề

Luận án vận dụng và góp phần phát triển thêm một số khái niệm nhưcấu trúc xã hội, các phân hệ cấu trúc xã hội, cấu trúc xã hội của cư dân làngnghề, gia đình nghề, công ty nghề

Trang 13

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Luận án phát hiện cấu trúc xã hội - nghề nghiệp của cư dân làng nghềgồm: Mô hình gia đình nghề và mô hình công ty nghề đang được cấu trúc hóathông qua hành động ở các thành phần của cấu trúc xã hội cư dân làng nghềtrong quá trình đổi mới kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay

- Luận án góp phần bổ sung thêm thông tin cần thiết trong nghiên cứucấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng nói riêng vànghiên cứu về làng nghề nói chung ở Việt Nam

- Luận án gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo cho chủ đề này, cung cấp

số liệu, cứ liệu phong phú, đa dạng khi nghiên cứu cấu trúc xã hội của cư dânlàng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay

- Luận án có thể gợi ra những suy nghĩ cho việc đề xuất những giảipháp đối với những vấn đề đặt ra, nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội

- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu trong nghiên cứu, giảng dạy vềcấu trúc xã hội

8 Kết cấu luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungluận án gồm 4 chương, 14 tiết

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 HƯỚNG NGHIÊN CỨU VỀ CẤU TRÚC XÃ HỘI - DÂN SỐ LÀNG NGHỀ

Nghiên cứu về cấu trúc giới tính, cấu trúc tuổi trong lao động và tổ

chức sản xuất làng nghề, tác giả Bùi Xuân Đính trong công trình Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội) truyền thống và biến đổi đã mô tả khung

tổ chức lao động trong làng nghề, với mô hình “gia đình” Thành phần laođộng bao gồm tất cả các thành viên trong gia đình từ lớn tuổi nhất đến nhỏtuổi nhất và nam giới vẫn giữ vị trí quan trọng trong các công việc chủ chốt,còn nữ giới giữ vị trí quan trọng trong các công việc đòi hỏi sự tinh xảo, khéoléo Trong sản xuất nghề làm quạt “khâu đơn giản là xếp các nan đã được chẻthành bộ, trẻ em từ 12 tuổi đã có thể làm được Trẻ 14 tuổi chốt đinh đầu(chốt nhài), 16 tuổi phất quạt (song việc này phụ nữ làm là chính, chính vì sựnhẹ nhàng, nếu làm mạnh tay, giấy sẽ bị rách) Các công đoạn còn lại chủ yếu

là do nam giới” [24, tr.176] Trong phân công lao động theo giới ở làng nghềthì phần lớn nam giới ở độ tuổi thanh niên hoặc trung niên tham gia gián tiếp,tập trung ở công đoạn: liên hệ mua nguyên vật liệu, tìm thị trường tiêu thụ vàthực hiện các giao dịch mua bán [24, tr.175-177] Nghiên cứu này của tác giả

là gợi ý thú vị cho luận án tìm hiểu nhóm xã hội theo độ tuổi, theo giới tínhtrong cấu trúc xã hội - dân số làng nghề

Báo cáo của Bộ Tài nguyên và môi trường về môi trường làng nghềViệt Nam, năm 2008 đã đưa ra thống kê cụ thể về các biểu hiện thay đổi sốlượng lao động thủ công và các hiệp hội làng nghề cho thấy sự thay đổi tíchcực về số lượng cũng như thành phần tham gia sản xuất, thúc đẩy mô hình sảnxuất làng nghề với quy mô lớn hơn về nhân công Báo cáo cho biết làng nghề

đã thu hút nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia, trong đó kinh tế tập thểchiếm 18%, doanh nghiệp tư nhân chiếm 10% và kinh tế cá thể chiếm 72%;

Trang 15

không chỉ thu hút nhiều thành phần tham gia mà ngành thủ công mỹ nghệ cònthu hút số lượng lao động cũng đã tăng lên tới 11 triệu lao động chiếm 30%lao động nông thôn Tỷ lệ thời gian làm việc sử dụng lao động trong độ tuổicủa khu vực nông thôn năm 2005 chiếm 80% Các làng nghề cũng đã dầnxuất hiện chuyên môn hóa với các hội như: hội nghề nghiệp, hiệp hội doanhnghiệp nhỏ và vừa ngành nghề nông thôn hoặc các trung tâm giao lưu buônbán, cụm dân cư [trích theo 9, tr.11-12].

Về trình độ kỹ thuật ở các làng nghề hiện nay cho thấy trong cấu trúclao động về mặt chuyên môn kỹ thuật phần lớn là lao động chân tay, thủ công.Theo kết quả điều tra của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn “chấtlượng lao động và trình độ chuyên môn kỹ thuật ở các làng nghề nhìn chungcòn thấp, chủ yếu là lao động phổ thông, số lao động chỉ tốt nghiệp cấp I, IIchiếm trên 60%” [9, tr15] Điều này gợi ý tác giả luận án tiếp tục nghiên cứu

về nguồn nhân lực của làng nghề

Qua cấu trúc lao động về chuyên môn kỹ thuật như vậy có thể thấyphần lớn công nghệ và kỹ thuật áp dụng cho sản xuất trong các làng nghềnông thôn còn lạc hậu, tính cổ truyền chưa được chọn lọc và đầu tư khoa học

kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm còn thấp, do đó chưa đáp ứng đượcnhu cầu thị trường và khó có thể nâng cao sức cạnh tranh

Nghiên cứu về chất lượng lao động làng nghề, tác giả Trần Minh Yến

với nghiên cứu về Làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam đã đưa ra

bức tranh tổng quan về chất lượng lao động ở làng nghề Trong đó số người

có trình độ học vấn cao chiếm một tỉ trọng thấp, còn đa số lao động có trình

độ học vấn trung học cơ sở trở xuống Cụ thể nghiên cứu này cho thấy cần có

sự quan tâm hơn về trình độ học vấn của lao động làng nghề, bởi tính chấtlàng nghề nên trình độ học vấn chưa được coi trọng không chỉ trong đối tượngthợ, mà ngay cả đối tượng là các chủ doanh nghiệp thì trình độ và kiến thức

Trang 16

quản lý vẫn còn hạn chế [109] Cấu trúc lao động về trình độ học vấn là mộttrong những điểm yếu có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất, chất lượng sảnphẩm và bảo vệ môi trường trong hoạt động của các làng nghề.

Về đặc trưng các mối quan hệ trong làng nghề: Trong bài viết Phong trào khôi phục tập quán - tín ngưỡng cổ truyền ở một số làng xã vùng châu thổ sông Hồng của Lê Mạnh Năm [trích theo 69, tr.60-66], và bài viết Người nông dân đồng bằng sông Hồng và quan hệ cộng đồng trong thời kỳ đổi mới

của Nguyễn Đức Truyến [trích theo 96, tr.45-51] đều cùng nhấn mạnh mốiquan hệ làng - xã chủ yếu dựa trên truyền thống, vận hành theo những nguyêntắc tổ chức, các nhóm xã hội khác nhau, các tác giả đã phân tích làm rõ thêm

mô hình họ hàng, thôn xóm như một đơn vị kinh tế, với các hoạt động nghi lễthờ cúng tổ tiên, các sự kiện quan trọng trong hộ gia đình, sự giúp đỡ, tươngtrợ lẫn nhau, tương tự các vị trí quan trọng, chủ chốt trong làng cũng sẽ đượcphân chia theo dòng họ nào có đông người hơn trong làng, xóm Các nghiêncứu này giúp tác giả hình dung ra những hoạt động của các nhóm xã hội trongnông thôn đồng bằng sông Hồng

Tương tự, nhóm tác giả Mai Văn Hai và cộng sự viết về Bản sắc làng việt trình bày tính cộng đồng làng xã với chế độ công điền, công thổ đã hình

thành tâm lý bám làng, tập trung quần tụ và chia sẻ công việc cho tất cả mọingười [31]

Cùng nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Nguyễn Thị Phương Châm

trong tác phẩm Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay với trường hợp làng

Đồng Kỵ, Trang Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đãđưa ra những đặc trưng biến đổi văn hóa làng trong sự phát triển kinh tế hiệnnay Cụ thể là “quan hệ làng xóm trong các làng vẫn giữ được tính chất củalàng quê xưa: đoàn kết, tình nghĩa Đặc biệt, trong điều kiện kinh tế thị trườngphát triển hiện nay sự đoàn kết, nghĩa tình này còn được củng cố hơn trước”

Trang 17

[12, tr.305-306] Song “cũng không quá khó để nhận ra một số những mâuthuẫn đã nảy sinh trong quan hệ làng xóm và đã xuất hiện những cạnh tranhmang tính chất thể diện trong cộng đồng” Đặc biệt những làng buôn, làngnghề tiểu thủ công nghiệp có tốc độ sản xuất và phát triển không ngừng nhằmđáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường trong và ngoài nước [12] Công trìnhnày, giúp tác giả nhận diện và có ý tưởng nghiên cứu sự kết nối cấu trúc xãhội giữa truyền thống và hiện đại ở các làng nghề đồng bằng sông Hồng hiệnnay.

Trong quá trình chuyển đổi về cấu trúc xã hội - dân số của làng nghề tạinông thôn đã xuất hiện sự phân tầng xã hội trên tất cả các mặt, đặc biệt phântầng trong các yếu tố của dân số như lao động, mức sống, trình độ, v.v, theonhư Talcott Parsons, sự phân tầng chính là kết quả trực tiếp của sự phân cônglao động xã hội và sự phân hóa giữa các nhóm xã hội khác nhau [120, tr 841-

843] Nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Tô Duy Hợp khi bàn về Thực trạng

và xu hướng chuyển đổi cơ cấu xã hội nông thôn đồng bằng Bắc Bộ hiện nay

đã trình bày các mô hình phân tầng trong làng - xã, như xuất hiện các tầng giađình giàu, khá giả, trung bình và nghèo Trong đó có sự phân tầng của nhữnglàng nghề truyền thống, sự phân hóa rõ rệt của từng làng về mức thu nhập tạo

ra đặc trưng thu nhập cho các hộ tại từng làng, góp phần h´nh thành nên cáccấu trúc xã hội kiểu mới [42, tr 20-26]

Tóm lại, các nghiên cứu về cấu trúc xã hội - dân số có ý nghĩa về mặt

thực tiễn hết sức to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa côngnghiệp nông thôn Việt Nam Thông qua quá trình nghiên cứu tài liệu của cáctác giả như Bùi Xuân Đính, Trần Minh Yến, Lê Mạnh Năm, Mai Văn Hai vàcộng sự, Nguyễn Thị Phương Châm, Tô Duy Hợp và báo cáo của Bộ Tàinguyên và môi trường về Môi trường làng nghề Việt Nam đã giải quyết đượcnhiều vấn đề về dân số đang tồn đọng tại các làng nghề của nông thôn Việt

Trang 18

Nam như thất nghiệp, tệ nạn, nghèo đói, đào tạo Tuy nhiên, bên cạnh đó,các làng nghề vẫn không tránh khỏi những biến đổi tiêu cực trong quá trìnhbiến đổi cấu trúc xã hội - dân số, điều đó đòi hỏi cần có sự nghiên cứu khoahọc và lâu dài đối với các đối tượng của cấu trúc xã hội - dân số làng nghềnhằm phát triển làng nghề nói chung và phát triển cấu trúc xã hội - dân số bềnvững trong các làng nghề nói riêng.

1.2 HƯỚNG NGHIÊN CỨU VỀ CẤU TRÚC XÃ HỘI - GIA ĐÌNH LÀNG NGHỀ

Sự phân tầng xã hội ở nông thôn nói chung đã dẫn đến sự phân tầngtrong từng đơn vị của làng - xã, trong đó có các gia đình Về điều này, tác giả

Trương Xuân Trường với Một số biến đổi kinh tế - xã hội ở nông thôn vùng châu thổ sông Hồng hiện nay đã đưa ra các chỉ số sinh hoạt gia đình dưới tác

động của nền kinh tế thị trường, từ đó dẫn đến sự biến đổi trong cấu trúc giađình về quy mô, vai trò gia đình, vị thế chủ hộ và các mối quan hệ thứ bậc -trên dưới, quan hệ giới trong gia đình Điều đó thể hiện rõ trong quan điểm vềviệc lập gia đình Nghiên cứu này chỉ rõ rằng quan điểm lập gia đình giờ đãthay đổi so với trước Thành viên trong gia đình lập gia đình là tự bản thânquyết định, khác với truyền thống chủ yếu là do sự sắp xếp của cha mẹ Ngoài

ra kinh tế hộ gia đình đã được coi trọng, cấu trúc gia đình hạt nhân hai thế hệdần thay thế gia đình nhiều thế hệ; quy mô trung bình có từ 4 - 5 nhân khẩu.Đặc biệt, quan điểm về chủ hộ đã dần thay đổi với vai trò chính là người chỉhuy và điều phối thực sự trong gia đình, với đầu óc tổ chức sản xuất - kinhdoanh và mang lại thu nhập nhiều nhất cho gia đình sẽ được coi là chủ hộ Đó

là những biểu hiện đặc trưng cho sự biến đổi của cấu trúc gia đình trong làng,xóm hiện nay [93, tr.28-41] Bài viết này giúp tác giả có hướng nghiên cứuquy mô gia đình, vị thế, vai trò của từng thành viên trong gia đình làng nghề

Tác giả Nguyễn Đức Truyến với bài viết Lịch sử hình thành và phát triển của làng ở đồng bằng Sông Hồng nhìn từ kinh tế hộ gia đình đã đưa ra

Trang 19

những dấu hiệu nhằm cảnh báo về tính cấu kết cộng đồng dưới tác động củanền kinh tế thị trường qua các mối quan hệ gia đình, họ hàng, làng xóm, mốiquan hệ giữa nam giới và nữ giới, giữa vợ và chồng “Tổ chức kinh tế hộ đòihỏi tăng cường sự cấu kết giữa các thành viên trong hộ gia đình, tôn trọng vaitrò điều hành của người chủ gia đình, sự phối hợp giữa các thành viên trongphân công lao động và sản xuất và sự nhất quán trong tiêu dùng và sử dụngsản phẩm trong gia đình” [94, tr.23] Tuy nhiên, “vẫn là mô hình dân chủ vàbình đẳng giữa các thành viên trong gia đình, giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ

về mô hình làng nghề, với cách nhìn hoàn toàn khác biệt về mô hình làngnghề mới với mô hình nền công nghiệp gia đình luôn khởi đầu từ cấu trúc xãhội của gia đình, với nghĩa là chủ hộ luôn là người khởi nghiệp và các thànhviên của gia đình như vợ của chủ hộ, con trai, con gái của chủ hộ luôn đượcthu hút vào làm việc và trở thành những người có vị trí quan trọng, then chốttrong nền công nghiệp gia đình [24, tr.58-65], hoặc có thể tìm thấy mô hình

của Phan Gia Bền trong nghiên cứu về Sơ khảo lịch sử phát triển thủ công Việt Nam, cũng đã trình bày tính chất “thủ công gia đình” trong các làng nghề

và sự phân công vai trò của nam giới và nữ giới, sự phân công giữa các lứatuổi trong làng nghề [101, tr.42-45]

Cùng bàn về tính cấu kết trong cộng đồng, tác giả Lê Hồng Lý trong

nghiên cứu Nghề thủ công mỹ nghệ đồng bằng Sông Hồng, tiềm năng, thực

Trang 20

trạng và một số khuyến nghị đã đưa ra những hình ảnh chân thực và đáng

quan tâm về thực trạng của thế hệ nghệ nhân tương lai Đó là, trong các làngnghề tình trạng trẻ em đi học trung học phổ thông, đại học, sau đại học còn ít,

có xu hướng giảm và có sự gia tăng về tệ nạn xã hội như nghiện hút, trộmcắp, đánh bài … [105, tr.168-170]

Trong một nghiên cứu của tác giả Mai Văn Hai và cộng sự trong tác

phẩm Bản sắc làng Việt trong tiến trình toàn câu hóa hiện nay, có thể tìm

hiểu rõ hơn về tính cấu kết cộng đồng thông qua các quy định nghiêm ngặttrong cấu trúc xã hội - gia đình của làng nghề thông qua chế độ “nội hôn” và

“bí mật nhà nghề” như mỗi một làng nghề đều phải giữ bí mật về nghề củamình, con gái lấy chồng nơi khác không được làm nghề ở nguyên quán củamình hoặc có nơi cấm con gái lấy chồng ngoài mà phải lấy chồng trong làng

và cùng làm nghề, hoặc chỉ dạy, truyền nghề cho đàn ông, đàn bà có con chứkhông truyền và dạy nghề cho con gái [31, tr 95-100]

Sự biến đổi của kinh tế thị trường đã khiến cho cấu trúc xã hội - giađình bị biến đổi theo, đặc biệt là về vị thế và vai trò của từng thành viên tronggia đình Khi được cho phép sản xuất, kinh doanh những gì mà Nhà nướckhông cấm, nhiều hộ gia đình đã mạnh dạn mở rộng hoạt động sản xuất - kinhdoanh nghề những mặt hàng nghề truyền thống với sự tham gia của các thànhviên gia đình tùy theo sức khỏe và năng lực Nhiều phụ nữ vừa làm vợ, vừalàm nội tướng trong gia đình và vừa cùng chồng tham gia quản lý cơ sở sảnxuất của hộ gia đình Sự biến đổi đó được phát triển theo quy luật mà Marx đãtừng nói khi bàn về cấu trúc xã hội, với sự kiểm soát về quyền lực kinh tế sẽkiểm soát được quyền lực chính trị và chi phối về mặt tư tưởng, tinh thần.Ngoài ra, có thể thêm một số tác phẩm viết về nông thôn Việt Nam trong quátrình chuyển đổi cơ cấu xã hội tác động đến vị thế và vai trò trong gia đình,

trong làng - xã như Sự chuyển đổi cơ cấu xã hội ở nông thôn đồng bằng Bắc

Trang 21

Bộ trong điều kiện kinh tế mới của Viện Xã hội học Nghiên cứu này đã đưa

ra cái nhìn tổng quan về sự biến đổi của nông thôn Việt Nam từ sau “khoánsản” và “khoán hộ” [trích theo 103, tr.1-14], từ hệ thống kinh tế hợp tác xãchuyển sang hệ thống kinh tế hộ gia đình xã viên, quy mô diễn ra không chỉtrong hộ gia đình mà còn họ mạc và làng, tạo ra sự thay đổi về cấu trúc xã hộitrong tất cả các lĩnh vực như dân số, nghề nghiệp, việc làm, lao động, cho đếncác thiết chế, quy phạm điều chỉnh quan hệ và vai trò xã hội của người dân ởnông thôn Sự biến đổi cấu trúc xã hội nông thôn, tác giả Tô Duy Hợp trong

nghiên cứu Về thực trạng và xu hướng chuyển đổi cơ cấu xã hội nông thôn đồng bằng Bắc Bộ hiện nay cho rằng sự chuyển đổi cơ cấu xã hội nông thôn

đang ngày càng ăn nhập và thích nghi với sự chuyển đổi của nền kinh tế thịtrường, để thấy rõ sự biến đổi tác giả đã đưa ra sự phân loại các hộ gia đìnhnhư hộ gia đình vượt trội, chủ động giàu có, hộ gia đình trung bình và hộ giađình yếu kém, thụ động hoặc có làng - xã vượt trội, chủ động giàu có; làng -

xã trung bình và làng - xã yếu kém, thụ động Tác giả cũng trình bày về sựxuất hiện của nhóm hộ gia đình chuyển sang kinh doanh theo hướng chuyênmôn hóa hơn và quy mô hơn như các “hộ chuyên doanh” [42, tr 21-30].Ngoài ra, có thể tìm hiểu những biến đổi cấu trúc xã hội trong các bài viết của

các tác giả như: Vũ Tuấn Anh Về sự chuyển biến cơ cấu xã hội và định hướng giá trị ở nông thôn trong quá trình đổi mới kinh tế [3], Phí Văn Ba Sự biến đổi của các truyền thống gia đình nông thôn trong quá trình hiện đại hóa: phác thảo theo kết quả điều tra xã hội học gần đây [6], Đỗ Thái Đồng với bài viết Những vấn đề cơ cấu xã hội và sự phát triển ở một xã nông thôn Nam Bộ [26], hay phân tích cơ cấu nội tại, chức năng trong các loại hộ gia đình của Mai Huy Bích với nội dung Một đặc trưng về cơ cấu và chức năng, gia đình Việt Nam ở đồng bằng sông Hồng [7],

Trang 22

Tóm lại, các kết quả nghiên cứu khoa học này đã cung cấp nhiều thông

tin, nhiều dữ liệu về các mô hình cấu trúc xã hội - gia đình trong chiều dàilịch sử phát triển của các làng nghề truyền thống ở Việt Nam Các công trìnhnghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nguồn gốc và đặctrưng của các phân hệ cấu trúc xã hội - gia đình, từ đó góp phần làm rõ nhữngtác động của các chính sách, thể chế, hệ thống giá trị văn hóa, phong tục tậpquán cổ truyền của các làng nghề qua từng giai đoạn phát triển khác nhau

1.3 HƯỚNG NGHIÊN CỨU VỀ CẤU TRÚC XÃ HỘI - NGHỀ NGHIỆP LÀNG NGHỀ

Tại các làng nghề, cấu trúc xã hội - nghề nghiệp có thể được nhìn nhậnthông qua các hình ảnh về giá trị văn hóa trong làng nghề ở nông thôn Cấutrúc xã hội gắn liền với văn hóa, cấu trúc văn hóa của cộng đồng xã hội nhấtđịnh Thuật ngữ Kultur trong thuật ngữ cổ điển Đức ngụ ý về văn hóa mangnghĩa “tình anh em” [113, tr.41-42] và trong tiếng Anh, khái niệm văn hóa đềcập thường xuyên để đại diện cho tính nghệ thuật tinh túy và cách cư xử củagiới tinh hoa giáo dục [trích theo 119, tr.241-258] Do đó, trong một nền vănhóa, ý nghĩa đơn giản nhất cấu trúc xã hội đặc trưng sẽ được thể hiện thôngqua các hoạt động của con người Tương tự, đối với cấu trúc xã hội của làngnghề tại các cộng đồng luôn hình thành các hình thức khác nhau để tạo racông việc, quy định thông qua một loạt nguồn lực có sẵn và với các chỉ tiêu

có sẵn như truyền thống gia đình, dòng họ, phong tục, kiến thức truyền thống,các yếu tố tôn giáo và tinh thần sáng tạo để đáp ứng mục tiêu sinh kế hằngngày và áp dụng đối với các thành viên tham gia [trích theo 113, tr.1082-1087] Faulkner mô tả nền văn hóa làng nghề như là một “cấu trúc” với cáctiêu chí đặc trưng bao gồm niềm tin, chuẩn mực, phong tục, nghi lễ, thái độ,hành vi, các kỹ năng, kiến thức, biểu tượng, ngôn ngữ, tôn giáo [trích theo

114, tr.27-52] Các cấu trúc xã hội làng nghề thể hiện cách sống của người

Trang 23

dân làng nghề, giống như một thiết chế cho cuộc sống đảm bảo sự gắn kết của

cả hệ thống

Khi nghiên cứu về cấu trúc xã hội làng nghề, các tác giả thường gắn vớicác nghiên cứu về cấu trúc xã hội của nông thôn như: tác giả Tô Duy Hợptrình bày về sự chuyển đổi cấu trúc xã hội thông qua các mô hình hoạt độngsản xuất của các hộ [42, 20-26], tác giả Trương Xuân Trường cũng bàn vềbiến đổi kinh tế - xã hội ở nông thôn châu thổ sông Hồng thông qua các tiêuchí như đời sống sinh hoạt, thu nhập, chuyển đổi lao động nghề nghiệp và sựphân tầng xã hội trong làng [93, tr.30 - 39]

Làng nghề là một trong những hình ảnh biểu trưng gắn liền với nông

thôn Việt Nam trong các công trình nghiên cứu như Làng xã An Nam ở Bắc

kỳ của P Ory, đặc biệt trong tác phẩm Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ của

P.Gourou, P.Gourou cho rằng ngành công nghiệp Việt Nam, cụ thể là cáchoạt động của làng nghề giống như một ngành “phụ”, “kiếm thêm” lúc nôngnghiệp nhàn rỗi của người nông dân Việt Nam với quy mô nhỏ, máy móc thủcông và làm theo phương pháp truyền thống, hầu như không có sự hỗ trợ của

kỹ thuật P.Gourou viết: “Người thợ thủ công không có vốn để trả công và khấu hao, họ chỉ mong mỗi ngày lao động kiếm được vài hào bạc” [74, tr.

465-466] Tương tự, tác giả Mai Văn Hai, Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Đức

Chiện, Ngô Thị Thanh Quý trong cuốn Bản sắc làng việt đã trình bày về tính

bảo mật trong nghề của người làng nghề trong quan hệ với người ngoài làng,người khác Quy định bất thành văn của một số làng nghề là chỉ truyền nghềcho con trai hoặc con dâu chứ không truyền nghề cho con gái vì lo ngại congái đi lấy chồng, theo chồng sẽ mang bí mật nghề nghiệp cho người khác,làng khác [trích theo 31, tr.98]

Tác giả Hoàng Kim Giao trong tác phẩm Làng nghề truyền thống, mô hình làng nghề và phát triển nông thôn và tác giả Nguyễn Kế Tuấn trong

Trang 24

công trình nghiên cứu Một số vấn đề tổ chức sản xuất ở các làng nghề thủ công đã đưa ra các loại mô hình làng nghề theo từng giai đoạn phát triển

nhằm khắc phục được những hạn chế của mô hình truyền thống, phát triển môhình hiện đại và năng suất cao bằng sự chuyên môn hóa thay máy móc vàocác công đoạn sản xuất tay chân, chuyên môn hóa về vai trò của từng ngườitrong hộ gia đình trong các công đoạn hoặc sự phát triển cao độ của mô hìnhcông ty chuyên sản xuất - kinh doanh ở làng nghề, đặc trưng cho sự phát triểnlàng nghề chuyên nghiệp hơn [105, tr.54-67] Nghiên cứu này gợi cho tác giảluận án ý tưởng tìm hiểu mô hình “công ty nghề” trong cấu trúc xã hội nghềnghiệp của làng nghề hoặc sự xuất hiện của “phố nghề” trong nghiên cứu của

tác giả Vũ Quốc Tuấn với công trình nghiên cứu Làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội trên đường phát triển đã đại diện cho sự phát triển của thành

của nông thôn Việt Nam thông qua sự chuyển dịch về cơ cấu lao động và sựphân tầng xã hội trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường Các nhóm laođộng được phân chia rõ ràng hơn thông qua các mức thu nhập, sự khác biệt vềdụng cụ sinh hoạt trong gia đình và phương tiện đi lại, v.v

Có thể thấy, mặc dù bị tác động bởi nền kinh tế thị trường, lợi nhuậnkinh tế đến từng cá nhân khiến cho cấu trúc xã hội - nghề nghiệp thay đổi

Trang 25

Tuy nhiên theo Max Weber đã phân tích, kinh tế không phải là yếu tố duynhất giải thích cấu trúc xã hội là động lực cho sự thay đổi, bởi nó còn phụthuộc vào các yếu tố khác như địa vị chính trị, hay quyền lực, địa vị xã hộihay uy tín [116, tr.15 - 25] Chính vì vậy, mặc dù các làng nghề phát triển vàbiến đổi sâu sắc có thể bắt nguồn từ yếu tố kinh tế nhưng để duy trì, phát triển

và có mối liên kết khăng khít với môi trường làng nghề, thì đòi hỏi cần có sựkết hợp giữa các yếu tố khác ngoài yếu tố kinh tế như yếu tố dân số, truyềnthống và văn hóa nghề nghiệp, yếu tố đổi mới tư duy và chính sách phát triểnnghề

Có thể thêm một số công trình khác nữa nhằm có cái nhìn tổng quan vềcấu trúc tổ chức của các làng xã nông thôn Việt Nam nói chung, để từ đóphản ánh những tác động của cấu trúc làng xã trong các cấu trúc nghề nhiệp

của làng, như tác giả Bùi Quang Dũng với nghiên cứu Nghiên cứu làng Việt: các vấn đề và triển vọng [27], Trần Từ với nghiên cứu Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc bộ [97], Công trình nghiên cứu Sự biến đổi của làng - xã Việt Nam ngày nay (ở đồng bằng sông Hồng) đã chỉ ra sự biến

chuyển về cơ cấu kinh tế trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung,quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường Đó là, sự biến đổi của xã hộinông thôn cổ truyền, trong đó có cấu trúc xã hội như là: các quan hệ sở hữu,quan hệ huyết thống và những quan hệ xã hội khác, đời sống văn hóa, xã hội,phong tục, tập quán, v.v, đồng thời diện mạo của đời sống văn hóa xã hội ởnông thôn nước ta hiện nay được phác họa tương đối toàn diện [38] Đặc biệt

cuốn sách do tác giả Tạ Ngọc Tấn (chủ biên), (2010), “Một số vấn đề về biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam hiện nay”, (kết quả nghiên cứu thuộc đề tài khoa học trọng điểm cấp Nhà nước KX.04.14/06-10 “Biến đổi cơ cấu xã hội ở Việt Nam”) Công trình này nêu tổng thể về biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam trong

giai đoạn đổi mới, thể hiện trên năm phân hệ cơ bản nhất, đó là cơ cấu xã hội giai cấp, cơ cấu xã hội -

Trang 26

nghề nghiệp, cơ cấu xã hội dân số, cơ cấu xã hội dân tộc và cơ cấu xã hội tôn giáo [89] Đây thực sự là công trình có giá trị lý luận và thực tiễn, giúpcho tác giả luận án học hỏi để nghiên cứu các phân hệ của cấu trúc xã hội cưdân làng nghề.

-Tóm lại, các kết quả nghiên cứu của nhóm công trình khoa học này

giúp ích cho tác giả luận án tiếp cận, học hỏi, kế thừa nhất là về phương phápnghiên cứu xã hội học nông thôn, đồng thời đã cung cấp một hệ thống các lýluận và bằng chứng thực tiễn về sự hình thành, phát triển làng nghề truyềnthống Việt Nam, tạo điều kiện cho việc hình thành tư duy và nhận thức vềlàng nghề, đặc biệt là quá trình hình thành và phát triển các mô hình sản xuấtcủa làng nghề với các cấu trúc xã hội - nghề nghiệp mang đặc trưng cho từnggiai đoạn, từng mô hình Đây sẽ là cơ sở lý luận khoa học cho các nhà nghiêncứu khi xem xét vấn đề làng nghề truyền thống ở Việt Nam phát triển qua cácthời kỳ

1.4 HƯỚNG NGHIÊN CỨU VỀ CẤU TRÚC XÃ HỘI - MỨC SỐNG LÀNG NGHỀ

Liên quan tới cấu trúc mức sống làng nghề, có thể tìm hiểu sự hìnhthành và phát triển cấu trúc này thông qua các mô hình phân tầng về mứcsống tại nông thôn Việt Nam nói chung và làng nghề tại nông thôn nói riêng.Mức sống luôn là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự biến đổicấu trúc thông qua sự phân tầng giữa các nhóm thu nhập Nghiên cứu về phân

tầng mức sống của tác giả Lưu Hồng Minh với nghiên cứu Tính năng động của người dân nông thôn đồng bằng Bắc Bộ với phân tầng xã hội, đã xét tính

năng động của người dân thông qua sự chuyển đổi lao động nghề nghiệp tạichỗ và di dân để đánh giá về chất lượng cuộc sống Từ đó phân chia nhóm laođộng tại nông thôn theo các mức thu nhập khác nhau và theo tính chất nghềnghiệp khác nhau Tác giả cũng chỉ ra rằng các ngành nghề trong nông nghiệpngày càng đa dạng, chiếm phần lớn thời gian và nhân công tại các vùng nôngthôn, trong đó có các ngành nghề thủ công truyền thống Tuy nhiên, vẫn chưa

Trang 27

có dấu ấn rõ nét bởi còn bị ảnh hưởng nặng nề từ tư duy truyền thống đối với

nông nghiệp [60, tr 84-90] Tác giả Đỗ Thiên Kính với nghiên cứu Tìm hiểu phân tầng xã hội trong lịch sử và áp dụng vào nghiên cứu phân hóa giàu nghèo ở nước ta hiện nay, đã trình bày các hệ thống phần tầng xã hội khác

nhau và đặc trưng về các giai cấp tại các nước trên thế giới và ở Việt Nam quacác thời kỳ [49, tr.51-58] Cùng nghiên cứu về nội dung phân tầng, tác giả

Mai Huy Bích với nghiên cứu Lý thuyết phân tầng xã hội và những phát triển gần đây [8] cũng bổ sung sự đa dạng về lý thuyết phân tầng và sự phát triển

của lý thuyết phân tầng trong thời gian gần đây, thông qua các quan điểm củacác nhà xã hội học như E Duirkheim, Erik Olin Wright, Coleman Bài viết

của Trịnh Duy Luân và Bùi Thế Cường Về phân tầng xã hội và công bằng xã hội ở nước ta hiện nay, các tác giả đã trình bày những đặc trưng cơ bản về

thực trạng phân tầng xã hội và thực hiện công bằng xã hội của Việt Nam, tìm

ra nguyên nhân và đưa ra những giải pháp hạn chế các tác động tiêu cực củaphân tầng xã hội đang diễn ra tại Việt Nam [55, tr.3-11] Các tác giả phânchia mức sống của làng, xã thành các nhóm đặc trưng, thể hiện những biếnđổi rõ ràng của các cấu trúc trong làng - xã Một phát hiện nổi bật trong cácnghiên cứu trên là sự phân tầng xã hội thành các tầng lớp gia đình giàu, khágiả, trung bình và nghèo luôn gắn liền với hoạt động nghề nghiệp Trong đó,những gia đình có mức sống khá giả trở lên thường dựa vào nghề phi nôngnghiệp và những gia đình có mức sống nghèo thường dựa vào nghề nôngnghiệp với diện tích đất nhỏ hẹp

Tác giả Trịnh Xuân Thắng trong nghiên cứu Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống một cách bền vững đã phản ánh sự thay đổi về mức thu

nhập của người lao động làng nghề và những tác động tích cực trong các hoạtđộng xuất nhập đạt năng suất cao [90], có thể thấy rằng việc phát triển làngnghề đúng hướng sẽ tạo ra hiệu quả to lớn trong việc nâng cao thu nhập cho

Trang 28

người dân làng nghề về mọi mặt Tương tự, trong tác phẩm Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam của Bùi Văn Vượng, tác giả đã tập trung trình

bày các loại hình làng nghề truyền thống trong quá trình hình thành, phát triển

và thích ứng với nền kinh tế thị trường như: đúc đồng, kim hoàn, rèn, gốm,trạm khắc đá, dệt, thêu ren, giấy dó, tranh dân gian, dệt chiếu, quạt giấy, mâytre đan, ngọc trai [108]

Với khởi nguồn từ học thuyết Marx coi cấu trúc xã hội là cấu trúc giaicấp với mối quan hệ chủ yếu là đấu tranh giữa giai cấp thống trị và giai cấp bịtrị, với sự quyết định bởi phương thức sản xuất và trao đổi, Anthony Giddens

đã tiếp tục phát triển với học thuyết về cấu trúc hóa Theo học thuyết củaGiddens cấu trúc xã hội được tạo ra và liên tục được tái tạo bởi các hành độngcủa con người và cấu trúc xã hội biến đổi kéo theo chức năng biến đổi vớitính hai mặt tốt hoặc xấu Từ đó để thấy rằng sự biến đổi trong cấu trúc - mứcsống làng nghề là kết quả hoạt động nghề nghiệp của người dân và các chủthể hoạt động nghề nghiệp nhằm đáp ứng chức năng của môi trường kinh tếcủa làng nghề sao cho tương thích với các yêu cầu đặt ra từ đổi mới kinh tếsang cơ chế thị trường [43, tr 82-91]

Ngoài ra, có thể thêm đề tài như đề tài Nghiên cứu về quy hoạch phát triển làng nghề thủ công theo hướng công nghiệp hoá, nông thôn ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông

thôn hợp tác cùng với tổ chức JICA của Nhật, đã điều tra nghiên cứu tổng thểcác vấn đề có liên quan đến làng nghề thủ công nước ta về tình hình phân bố,điều kiện kinh tế - xã hội của làng nghề, nghiên cứu đánh giá 12 mặt hàng thủ

công của làng nghề Việt Nam Đặc biệt chú ý tới đề tài Góp phần tìm hiểu biến đổi xã hội ở Việt Nam hiện nay: Kết quả nghiên cứu của đề tài KX.02.10

của tác giả Bùi Thế Cường Có thể tìm thấy trong nghiên cứu này cơ sở lýluận và phương pháp luận về biến đổi cơ sở xã hội, khung phân tích về thựctrạng xã hội Việt Nam, những

Trang 29

biến đổi về xã hội, dân số, văn hóa và bất bình đẳng xã hội, phúc lợi xã hộicùng các mô hình xã hội và quản lý xã hội với yếu tố xuyên suốt đó là côngnghiệp hóa, hiện đại hóa tại Việt Nam Từ đó có thể phân tích trên cơ sở khoahọc về thực trạng mức sống của người dân làng nghề, nguyên nhân của sựthay đổi và dự báo sự thay đổi tiếp tục trong tương lai [13].

Một nghiên cứu của Bùi Xuân Đính về Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội) truyền thống và biến đổi đã phân chia mức sống của

người dân làng nghề theo tổ chức của làng nghề thủ công theo đặc trưngchuyên và không chuyên để từ đó thấy rõ được tầm quan trọng của sự pháttriển một làng nghề chuyên sâu dưới tác động của thị trường nhất là thị trườngđầu ra của sản phẩm [24, tr 65 - 69] Giống như P Gourou đã nhận định:

“Với nền kinh tế tiểu nông, nền đại công nghiệp không có chỗ đứng trong xứ này vì không có thị trường tiêu thụ” [ 74, tr.487].

Tác giả Nguyễn Thu Minh, Trần Văn Lạng trong tác phẩm Khái quát một số nét về làng nghề truyền thống tỉnh Bắc Giang đã đưa ra những dấu

hiệu căn bản thể hiện sự thay đổi tích cực đối với cuộc sống của các làng nghềdưới tác động của các cơ sở vật chất trong từng gia đình và các điều kiện củathị trường, cụ thể là chợ của từng làng nghề [105, tr 411-417]

Các tác giả đã đưa ra cái nhìn khách quan về cấu trúc xã hội - mức sốngtrong các làng nghề, cho thấy cấu trúc mức sống chịu tác động của các yếu tốkhác nhau và cả các phân hệ cấu trúc xã hội khác của làng nghề

Có thể thấy nhóm các công trình khoa học vừa nêu ở trên đã tập trungphân tích thực trạng và những biến đổi của cấu trúc xã hội trong làng nghề ởViệt Nam Các nghiên cứu về cấu trúc xã hội - mức sống cho thấy các hệthống của phân tầng xã hội về mức sống gắn liền với hoạt động nghề nghiệpcủa các cá nhân và gia đình Các nghiên cứu cũng chỉ ra tác động của các yếu

tố như điều kiện vật chất, đặc điểm gia đình, yếu tố văn hóa, truyền thống

Trang 30

nghề nghiệp, yếu tố kinh tế thị trường và cả yếu tố chính sách đối với cấu trúc

xã hội - mức sống của cư dân làng nghề Các nghiên cứu này gợi mở nhiều ýtưởng cho việc tiếp tục tìm hiểu quá trình phát triển cấu trúc xã hội làng nghềtại Việt Nam Từ sự thay đổi cấu trúc xã hội qua từng thời kỳ có thể nắm bắtđược quy luật và xu hướng phát triển của nó Từ đó có những định hướngchính sách sao cho phù hợp và có tác động thúc đẩy các hoạt động, sản xuất

và các yếu tố của cấu trúc xã hội trong làng nghề truyền thống tại Việt Nam

Tóm lại, kết quả tổng quan các nghiên cứu ở trên tác giải rút ra một số

nhận xét về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án như sau:

Về mặt lý luận, một số khái niệm về làng nghề đã được nêu ra và làm rõ

từ các góc độ khoa học khác nhau như khái niệm cấu trúc xã hội với các phân

hệ của nó Chẳng hạn khái niệm cấu trúc xã hội - dân số với quy mô, mật độ,tuổi, giới tính và trình độ học vấn, cấu trúc xã hội - gia đình thông qua quy

mô gia đình, các thế hệ và các mối quan hệ trong gia đình, cấu trúc xã hội nghề nghiệp thông qua đặc trưng quy mô của các mô hình làng nghề như môhình gia đình, tổ sản xuất, hợp tác xã Một số khái niệm có thể là mới đã đượcđưa ra phân tích như công ty nghề, phố nghề Một số yếu tố tác động đến cấutrúc xã hội đã được chỉ ra và đánh giá như yếu tố truyền thống văn hóa, yếu tố

-cơ chế thị trường, yếu tố chính sách của Đảng và Nhà nước giành cho cáclàng nghề Tuy nhiên, các khái niệm nghiên cứu này cần được xem xét, phântích từ nhiều góc độ tiếp cận khoa học khác nhau Do vậy, điều này đặt ra sựcần thiết phải xem xét các khái niệm về cấu trúc xã hội một cách khoa họcchuyên ngành từ góc độ tiếp cận lý thuyết nhất định mà luận án này muốn thểhiện rõ, đó là cách tiếp cận lý thuyết xã hội học

Về mặt phương pháp, đa số các nghiên cứu đều triển khai thu thập các

dữ liệu từ thực tiễn, qua khảo sát từng địa phương cụ thể, nhưng có thể thiếutính hệ thống và tập trung nghiên cứu từ cách tiếp cận xã hội học Mặc dùvậy,

Trang 31

các nghiên cứu chưa nói nhiều đến di động xã hội hoặc chưa nghiên cứu về sựnối tiếp giữa các thế hệ trong làng nghề, hoặc sự biến đổi cấu trúc trong làngnghề cũng như sự tương tác giữa các phân hệ cấu trúc xã hội trong làng nghề.

Về nội dung nghiên cứu, tất cả những công trình nêu trên đã tiến hànhnghiên cứu làng nghề, làng nghề truyền thống tập trung ở các lĩnh vực chính

sau:

Một là, nghiên cứu tổng quan về tình hình hoạt động của công nghiệp

nông thôn; thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triểnnông thôn;

Hai là, nghiên cứu về tình hình phát triển tiểu thủ công nghiệp và

những vấn đề môi trường tác động đến làng nghề;

Ba là, nghiên cứu về tình hình sản xuất kinh doanh của làng nghề, làng

nghề truyền thống từ lao động, công nghệ, vốn, thị trường tiêu thụ sảnphẩm… trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp pháttriển nghề, làng nghề và làng nghề truyền thống không đặt ra vấn đề nghiêncứu về các phân hệ của cấu trúc xã hội làng nghề Một vài nghiên cứu có thể

đã đặt ra vấn đề phân tích một số phân hệ cấu trúc xã hội nhưng chưa đầy đủ

và nhất là chưa được tiếp cận chuyên sâu từ góc độ xã hội học

Các nghiên cứu đã phân tích một số yếu tố tác động khác nhau đến cấutrúc xã hội làng nghề nhưng thiếu những nghiên cứu xem xét toàn bộ các yếu

tố đó theo cách tiếp cận liên cấp từ đặc điểm cá nhân đến đặc điểm gia đình

và đặc điểm của cộng đồng làng - xã đến đặc điểm của kinh tế thị trường vàchính sách phát triển kinh tế xã hội

Một hạn chế có thể cần nhấn mạnh từ góc độ xã hội học là các nghiêncứu vừa trình bày ở trên mặc dù đã phân tích khái niệm cấu trúc xã hội ở nôngthôn và làng nghề Nhưng rất ít nghiên cứu xem xét kỹ cấu trúc xã hội từ góc

độ lý thuyết xã hội học nhất định Do vậy, luận án này đặt ra nhiệm vụ tìm

Trang 32

hiểu và áp dụng lý thuyết hệ thống xã hội của Talcott Parsons và lý thuyết cấutrúc hóa của Anthony Giddens để xem xét các phân hệ cấu trúc xã hội trongmối quan hệ với các đặc điểm xã hội từ vi mô đến vĩ mô của làng nghề Luận

án sử dụng quan niệm: cấu trúc xã hội là kiểu quan hệ tương đối ổn định, bềnvững của các thành phần tạo nên hệ thống xã hội nhất định để tìm hiểu cácphân hệ của nó Áp dụng cách tiếp cận lý thuyết hệ thống xã hội của TalcottParsons, luận án xem xét cấu trúc xã hội với tính cách là kiểu quan hệ của cácthành phần tạo nên các hệ thống xã hội từ vi mô đến vĩ mô Hệ thống xã hội

vi mô là hệ thống bao gồm các cá nhân do đó cấu trúc xã hội của hệ thống xãhội vi mô là kiểu quan hệ tương đối bền vững của các cá nhân tạo nên giađình, hộ gia đình, cơ sở sản xuất kinh doanh nghề, tổ chức nghề nghiệp

Các nghiên cứu hiện có về cấu trúc xã hội ở Việt Nam thường tập trungvào cấu trúc xã hội - mức sống thể hiện ở phân tầng xã hội theo mức sống.Trên cấp độ vi mô, luận án này sẽ tìm hiểu cấu trúc xã hội - dân số, cấu trúc

xã hội - gia đình, cấu trúc xã hội - nghề nghiệp, cấu trúc xã hội - mức sốngcủa làng nghề Đồng thời, luận án này cũng sẽ tập trung nghiên cứu cấu trúc

xã hội - nghề nghiệp: mô hình gia đình nghề và mô hình công ty nghề

Cùng với cách tiếp cận lý thuyết hệ thống xã hội, luận án áp dụng cáchtiếp cận lý thuyết cấu trúc hóa của Anthony Giddens để xem xét và đánh giá

sự hình thành, vận động, biến đổi và phát triển, tức là quá trình tái cấu trúc,quá trình cấu trúc hóa của từng loại cấu trúc xã hội Như đã trình bày ở trên,

lý thuyết cấu trúc hóa của Anthony Giddens cho rằng một cấu trúc xã hộiđược hình thành, vận động và liên tục được “cấu trúc hóa” thông qua quátrình huy động, sử dụng các nguồn lực của các chủ thể hành động theo cácquy tắc nhất định của hệ thống xã hội Do vậy, việc áp dụng lý thuyết cấu trúchóa của Anthony Giddens sẽ giúp phân tích các nguồn lực cùng các quy tắcpháp quy dưới hình thức các quy định pháp luật và các quy tắc phi chính thức

Trang 33

dưới hình thức các quy ước, thói quen của các cá nhân, gia đình mà các thànhphần của cấu trúc xã hội huy động, chia sẻ, sử dụng trong quá trình sản xuấtkinh doanh, sinh hoạt và đó cũng chính là quá trình mà cấu trúc xã hội đượccấu trúc hóa.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tổng quan tình hình nghiên cứu cấu trúc xã hội của cư dân làng nghềđược phân tích tập trung vào bốn hướng nghiên cứu chính là: hướng nghiêncứu về cấu trúc xã hội - dân số làng nghề; hướng nghiên cứu về cấu trúc xãhội - gia đình làng nghề; hướng nghiên cứu về cấu trúc xã hội - nghề nghiệplàng nghề; hướng nghiên cứu về cấu trúc xã hội - mức sống làng nghề Tuynhiên, các hướng nghiên cứu về thực trạng và giải pháp phát triển làng nghềchưa đi sâu phân tích hoặc phân tích chưa đầy đủ các phân hệ của cấu trúc xãhội làng nghề và rất ít nghiên cứu chuyên sâu từ góc độ xã hội học Cácnghiên cứu hiện có về cấu trúc xã hội, làng nghề như đã phân tích trongchương 1, đã giúp tác giả luận án có cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu

và gợi ra nhiều ý tưởng nghiên cứu về thực trạng cấu trúc xã hội của cư dânlàng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay

Trang 34

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC XÃ HỘI CỦA CƯ DÂN LÀNG NGHỀ

2.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

2.1.1 Cấu trúc xã hội

Trong lĩnh vực xã hội học ở Việt Nam, khái niệm “Social structure”được dịch là cơ cấu xã hội hoặc cấu trúc xã hội Đây là một trong những kháiniệm then chốt của xã hội học, nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều quan niệmkhác nhau:

Theo quan điểm của Marx, cấu trúc xã hội chủ yếu là cấu trúc xã hội giai cấp với mối quan hệ đấu tranh diễn ra giữa giai cấp thống trị và giai cấp

-bị trị, trong đó phương thức sản xuất sẽ quyết định cấu trúc - giai cấp, vì vậyyếu tố cấu thành nên phương thức sản xuất và sự biến đổi ở phương thức sảnxuất tạo ra sự biến đổi trong cấu trúc xã hội [118, tr.1-7] Marx nhấn mạnh:

Trong sự sản xuất ra đời sống của mình, con người có những quan

hệ nhất định, tất yếu, không phụ thuộc vào ý muốn của họ - tức lànhững quan hệ sản xuất Những quan hệ này phù hợp với một trình

độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất của họ Toàn

bộ những quan hệ ấy hợp thành cơ cấu kinh tế - xã hội, tức là cái cơ

sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý vàchính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với

cơ sở hiện thực đó [11, tr15]

V.L.Lênin, trong tác phẩm Sáng kiến vĩ đại đã xác định cơ cấu giai cấp

trong xã hội do những quan hệ sản xuất cơ bản quy định và những quan hệnày tương ứng với trình độ của sự phát triển lực lượng sản xuất:

Người ta gọi là giai cấp, những tập đoàn to lớn gồm những ngườikhác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhấtđịnh trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thông thường thì

Trang 35

những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận), đối vớinhững tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xãhội; và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phầncủa cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng Giai cấp là nhữngtập đoàn người mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động củatập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trongmột chế độ kinh tế xã hội nhất định [103, tr17-18].

Như vậy, Marx và Lênin quan niệm cấu trúc xã hội chủ yếu gắn với cấutrúc xã hội - giai cấp, giải thích các quan hệ xã hội dựa trên mối quan hệ giữalực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất Điều này có ý nghĩa phương phápluận quan trọng cho nghiên cứu giai cấp nông dân và cư dân nông thôn, tức

là cần xuất phát từ hoạt động sản xuất, cấu trúc nghề nghiệp để xem xét cấu

trúc xã hội.Cũng đề cập đến giai cấp trong quan niệm về cấu trúc xã hội, trong

cuốn sách Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội (Qua khảo sát một số tỉnh, thành phố ở Việt nam), các tác giả viết:

Cơ cấu xã hội là hệ thống chỉnh thể các mối quan hệ xã hội có tácđộng qua lại lẫn nhau biểu hiện ra là hệ thống các mối quan hệtương đối bền vững giữa các giai cấp, các tầng lớp, các cộng đồng

xã hội, các tổ chức, các nhóm xã hội có khả năng xác định hành vi,hoạt động, vị thế, vai trò của bộ phận cấu thành nên hệ thống xãhội đó [71, tr31-32]

Ngoài ra, còn có quan niệm cấu trúc xã hội nhấn mạnh đến các kiểuquan hệ giữa con người với xã hội trong hệ thống xã hội, như quan niệm của

Lê Ngọc Hùng và Lưu Hồng Minh: “Cấu trúc xã hội là hệ thống các mối quan

hệ giữa con người và xã hội, có khả năng xác định các hành vi, hoạt động, vịthế, vai trò của các cá nhân, các nhóm người tạo nên hệ thống đó” [45,

Trang 36

tr.182] Nhiều tác giả thống nhất coi nhóm xã hội là đơn vị cơ bản để phântích cơ cấu xã hội:

Cơ cấu xã hội là mô hình cấu trúc, một chỉnh thể thống nhất,

“động”, tương đối ổn định bao gồm các nhóm xã hội cơ bản (giaicấp, nghề nghiệp, nhân khẩu, lãnh thổ, dân tộc, tôn giáo) đan kếtvào nhau và được sắp xếp theo cả cấu trúc ngang và cấu trúc dọctạo ra bộ khung cho sự vận động và phát triển của xã hội Nhữngthành tố cơ bản của cấu trúc xã hội là nhóm, vị thế, vai trò, mạnglưới và các thiết chế [75, tr.31]

Tóm lại, nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc xã hội hay cơ cấu xãhội đều giống nhau ở chỗ nhấn mạnh đến các thành phần và các mối quan hệ

xã hội tương đối ổn định của các thành phần tạo nên cấu trúc xã hội nhất định

Kế thừa các quan niệm hiện có về cấu trúc xã hội, luận án này sử dụng địnhnghĩa như sau: Cấu trúc xã hội là các kiểu quan hệ tương đối ổn định, bền

vững của các thành phần cơ bản; biểu hiện ở một số phân hệ cơ bản Không

tập trung vào phân tích các thành tố của cấu trúc xã hội, luận án này đặt ranhiệm vụ phân tích làm rõ các phân hệ cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề,

đó là các phân hệ cấu trúc xã hội - dân số, cấu trúc xã hội - gia đình, cấu trúc

xã hội - nghề nghiệp, cấu trúc xã hội - mức sống; các thành phần cơ bản củamỗi phân hệ là tổ chức, nhóm xã hội, các vị thế xã hội, vai xã hội, thiết chế xãhội, mạng lưới xã hội

2.1.2 Cư dân

Khái niệm cư dân thường gắn liền với khái niệm con người và đượcphân tích trên phạm vi cộng đồng người, cộng đồng xã hội sinh sống tại mộtkhông gian - thời gian xác định Báo cáo tổng kết kết quả đề tài cấp nhà nước

(KX03/06-10) Đặc điểm cư dân và văn hóa vùng ven biển trong quá trình

Trang 37

phát triển đất nước hiện nay, do Viện Nghiên cứu Truyền thống và Phát triển

đưa ra khái niệm:

Cư dân là cộng đồng người sinh sống được xác định trên cơ sở củacác yếu tố lịch sử, địa lý, quá trình tiếp xúc với thiên nhiên, laođộng sản xuất, nếp sống sinh hoạt, phong tục tập quán, các mốiquan hệ gia đình, làng xóm, giữa các nhóm và tầng lớp xã hội trongnhững nét khái quát và tương đồng về văn hóa, giá trị [103, tr.36-37]

Khái niệm này đã chỉ rõ, với các đặc tính của mỗi quốc gia, dân tộc,vùng, miền và thời kỳ khác nhau, đặc điểm, cấu trúc của cư dân luôn chịu sựchi phối của phương thức sản xuất, trình độ phát triển chung và luôn biến đổivới các cấp độ biểu hiện cụ thể gắn với vùng, miền và các nhóm xã hội Song,khái niệm này có thể chưa đạt đến độ chính xác cao, bởi cư dân có thể là mộtngười dân chứ không phải là cả cộng đồng

Ngày nay, cư dân nông thôn nói chung và cư dân nông thôn đồng bằngsông Hồng nói riêng, không thuần túy là nông dân như thời kỳ trước Đổi mớinữa Cư dân có thể là xã viên hợp tác xã hoặc chỉ là một bộ phận của cư dânnhư số cán bộ, công chức xã, giáo viên, công nhân … sống ở nông thôn, làmviệc trong hệ thống chính trị hoặc trong nhà máy, xí nghiệp, công ty haydoanh nghiệp

Một nghiên cứu đặc điểm cư dân và văn hóa vùng ven biển và hải đảo

đã đưa ra quan niệm:

Những đặc điểm cư dân bao hàm ý nghĩa của một cộng đồng ngườisinh sống trong một khu vực được xác định dựa trên các yếu tố lịch

sử, địa lý, quá trình tiếp xúc với thiên nhiên, lao động sản xuất, từ

đó tạo nên nếp sống sinh hoạt, phong tục tập quán, các mối quan hệgia đình, xóm làng, giữa các nhóm và tầng lớp xã hội trong nhữngnét khái quát và tương đồng về văn hóa, giá trị [trích theo 35]

Trang 38

Tác giả kế thừa những hạt nhân hợp lý của các khái niệm trên, trongnghiên cứu này cư dân mỗi vùng, mỗi khu vực nhất định như cư dân nôngthôn, cư dân thành thị, cư dân vùng đồng bằng… cư dân làng nghề đồng bằngsông Hồng trên cơ sở những nét khái quát, tương đồng và dị biệt nhất địnhcủa các làng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay.

Trong luận án này, cư dân được hiểu là người dân sinh sống, định cư tại một khung không gian - thời gian xác định Cụ thể, cư dân là toàn bộ

người dân gồm các cá nhân, các hộ gia đình, các tổ chức sinh sống và làmviệc tại làng nghề đồ gỗ Vạn Điểm, xã Vạn Điểm và làng nghề sơn mài HạThái, xã Duyên Thái, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội hiện nay

Thông tư này cũng chỉ rõ, làng được công nhận là làng nghề phải đạt

03 tiêu chí sau: một là, làng phải có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; hai là, làng phải hoạt động sản

xuất - kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công

nhận; ba là, làng phải chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước [10]

Tuy nhiên, khái niệm này từ góc độ pháp lý chỉ nhấn mạnh đến các tiêu chíquản lý hành chính nhà nước, chưa nhấn mạnh đến đặc điểm văn hóa, quan hệ

xã hội, cấu trúc xã hội của dân cư

Trang 39

Từ một góc độ khác, nhấn mạnh yếu tố văn hóa, xã hội của làng nghề,tác giả Trần Minh Yến cho rằng:

Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấuthành yếu tố làng nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhấtđịnh, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủcông là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế - xã hội và văn hóa[110, tr.11]

Khái niệm này xác định làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ởnông thôn, đồng thời nhấn mạnh đến nghề nghiệp ở nông thôn ngoài nghềnông nghiệp còn có một hoặc một số nghề phụ khác với một tầng lớp thợ thủcông chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp

Về tên gọi của làng nghề, tác giả luận án sử dụng cách gọi kép, tên gọicùng lúc mang hai nghĩa, phản ánh nghề thủ công và địa danh, địa chỉ nơingành nghề, người thợ thủ công, cư dân làng nghề làm nghề đó Cụ thể nhưgắn với tên của làng và sản phẩm làm ra trên cơ sở đã được cấp có thẩmquyền công nhận như làng nghề đồ gỗ Vạn Điểm (làng Vạn Điểm và sảnphẩm đồ gỗ), làng nghề sơn mài Hạ Thái (làng Hạ Thái, sản phẩm sơn mài)

Trong cuốn sách Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam,

làng nghề được định nghĩa như sau:

Làng nghề là những làng trước đây sống dựa vào nông nghiệp dođiều kiện khách quan nào đó (vị trí địa lý thuận lợi, nghề phụ có thịtrường tiêu thụ trên bình diện vùng, miền …) nên đã chuyển sangsản xuất các sản phẩm thủ công mang tính chuyên biệt nhưng vẫnkhông tách khỏi nông nghiệp Làng có đội ngũ thợ thủ công chuyênnghiệp hay bán chuyên nghiệp, có quy trình, bí quyết làm nghề nhấtđịnh Những mặt hàng do thợ thủ công sản xuất ra có tính thẩm mỹ

và có thị trường tiêu thụ rộng lớn [105, tr 201- 202]

Trang 40

Định nghĩa trên về làng nghề nhấn mạnh yếu tố kinh tế nghề nghiệp,sản phẩm nghề chuyển từ nông nghiệp sang sản phẩm thủ công, kéo theo sựxuất hiện đội ngũ thợ thủ công trong một bộ phận cư dân của cộng đồng làng.Tuy nhiên, định nghĩa này chưa nhấn mạnh đến cấu trúc xã hội như các quan

hệ xã hội của cư dân làng nghề

Có thể thấy rằng, các quan niệm về làng nghề nêu trên được tiếp cận từcác giác độ nghiên cứu khác nhau Song, dưới góc độ xã hội học, luận án này

quan niệm làng nghề là hình thức tổ chức đời sống sinh hoạt, sản xuất của cộng đồng cư dân ở nông thôn, với đặc trưng là đa số cư dân trong làng cùng thực hiện một loại hoạt động nghề nghiệp nhất định, để sinh sống và từ đó hình thành kiểu cấu trúc xã hội đặc trưng bởi hoạt động nghề nghiệp đó Cụ

thể, làng nghề Vạn Điểm, xã Vạn Điểm, cư dân chủ yếu làm nghề đồ gỗ(mộc) và sinh sống nhờ nghề nghiệp này, do vậy tác giả có thể gọi ngắn gọn

là làng nghề đồ gỗ Vạn Điểm Làng nghề Hạ Thái, xã Duyên Thái, cư dân chủ

yếu làm nghề sơn mài và sinh sống nhờ vào nghề nghiệp này, tác giả gọi ngắn

gọn là làng nghề sơn mài Hạ Thái.

2.1.4 Một số khái niệm liên quan

Khái niệm hộ gia đình

Trong luận án, tác giả sử dụng khái niệm “hộ gia đình” theo quan niệmcủa tác giả Nguyễn Đức Truyến:

Hộ gia đình là một nhóm những người thường có quan hệ gia đìnhhoặc đôi khi không có quan hệ gia đình với nhau nhưng cùng sốngchung, cùng sở hữu chung về tài sản và các tư liệu sản xuất, cùngtham gia các hoạt động kinh tế chung và cùng hưởng thụ nhữngthành quả sản xuất chung của họ [95, tr.24]

Ngày đăng: 12/07/2023, 21:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.14 cho thấy có sự thay đổi về mức sống tốt hơn ở các lĩnh vực việc làm 73,4%, thu nhập 72,0%; các quan hệ xã hội 60,4% - Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông hồng hiện nay
Bảng 3.14 cho thấy có sự thay đổi về mức sống tốt hơn ở các lĩnh vực việc làm 73,4%, thu nhập 72,0%; các quan hệ xã hội 60,4% (Trang 105)
Hình gia đình nghề, là việc huy động các thành viên khác của gia đình tham - Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông hồng hiện nay
Hình gia đình nghề, là việc huy động các thành viên khác của gia đình tham (Trang 107)
Bảng 3.16: Một số đặc trưng cơ bản của mô hình gia đình nghề và - Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông hồng hiện nay
Bảng 3.16 Một số đặc trưng cơ bản của mô hình gia đình nghề và (Trang 120)
Bảng 4.5 cho biết, tỷ lệ trả lời ở hộ gia đình có 5 người nhưng lại có 3 lao động làm nghề truyền thống chiếm cao nhất, với 41,3%; tỷ lệ trả lời ở hộ gia đình có 5 hoặc 6 người trở lên thì tương đối đồng đều ở cả 2 nhóm hộ gia đình có 4 người làm nghề tru - Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông hồng hiện nay
Bảng 4.5 cho biết, tỷ lệ trả lời ở hộ gia đình có 5 người nhưng lại có 3 lao động làm nghề truyền thống chiếm cao nhất, với 41,3%; tỷ lệ trả lời ở hộ gia đình có 5 hoặc 6 người trở lên thì tương đối đồng đều ở cả 2 nhóm hộ gia đình có 4 người làm nghề tru (Trang 131)
Bảng 4.9: Yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội với thu nhập - Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông hồng hiện nay
Bảng 4.9 Yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội với thu nhập (Trang 137)
Bảng 4.10: Yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội với loại nghề - Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông hồng hiện nay
Bảng 4.10 Yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội với loại nghề (Trang 139)
Bảng 4.11: Chủ trương, chính sách với thu nhập và loại nghề - Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông hồng hiện nay
Bảng 4.11 Chủ trương, chính sách với thu nhập và loại nghề (Trang 142)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w