MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Mục tiêu
2.1.1 Mục tiêu chung Đánh giá được hiện trạng, xác định được khu vực phân bố cũng như các yếu tố đe dọa đến quần thể Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) ở VQG Vũ Quang tỉnh Hà Tĩnh, từ đó đề xuất các giải pháp thích ứng và xây dựng kế hoạch giám sát nhằm duy trì và bảo tồn lâu dài quần thể Vượn đen má trắng tại VQG Vũ Quang
Xác định được hiện trạng quần thể và phân bố của loài Vượn đen má trắng tại VQG Vũ Quang;
Bài viết cung cấp thông tin về đặc điểm sinh học và sinh thái của loài Vượn đen má trắng tại VQG Vũ Quang, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn quần thể loài này tại khu vực.
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) Loài Vượn đen má trắng được lựa chọn vì đây là một loài đặc hữu và có giá trị bảo tồn cao.
Phụ lục I của Nghị định số 160/2013/NĐ-CP, ban hành ngày 12 tháng 11 năm 2013, liệt kê danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Nghị định này đã được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 64/2019/NĐ-CP vào ngày 16 tháng 7 năm 2019 Trong đó, nhóm I thuộc phụ lục I bao gồm danh mục thực vật rừng và động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, được quy định trong Nghị định số 84/2021/NĐ-CP.
Theo CP ngày 22 tháng 9 năm 2021 của Chính phủ, loài Vượn đen má trắng đã được phân hạng EN trong Sách Đỏ Việt Nam (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007) và CR trong danh lục đỏ của IUCN, đồng thời nằm trong Phụ lục I CITES Tuy nhiên, loài này tại VQG Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh vẫn chưa được nghiên cứu chi tiết và chưa có phương án bảo tồn cụ thể.
Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt không gian, đề tài tập trung vào khu vực VQG Vũ Quang, tỉnh
Đề tài thu thập dữ liệu ngoại nghiệp từ tháng 7 năm 2019 đến tháng 7 năm 2020, không tính thời gian sơ thám và thiết kế kỹ thuật diễn ra từ năm 2018.
KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Luận án bao gồm các phần chính:
+ Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
+ Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
+ Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
+ Kết luận, tồn tại và khuyến nghị
Phần phụ lục cung cấp dữ liệu thiết kế cho điểm ghi âm và điều tra, bao gồm kết quả ghi âm và điều tra bằng con người, danh sách các file ghi âm, các kết quả tính toán trung gian, mẫu biểu điều tra hiện trường, hình ảnh điều tra thực địa, cùng với hình ảnh phổ âm thanh của loài Vượn đen má trắng tại VQG Vũ Quang, tỉnh.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Một số đặc điểm về các loài vượn ở Việt Nam
Các loài thú Linh trưởng Việt Nam thuộc ba họ chính: Họ Cu li (Loridae), Họ Khỉ (Cercopithecidae) và Họ Vượn (Hylobatidae) Vượn chủ yếu phân bố ở các khu rừng thường xanh và có nhiều đặc điểm đặc trưng, như không có đuôi và chi trước dài hơn chi sau Khác với các loài linh trưởng khác, vượn sống chủ yếu trên cây, ăn quả và di chuyển bằng hai chi trước, trong khi các loài khác thường di chuyển bằng bốn chi và có chế độ ăn đa dạng hơn Về mặt cấu trúc xã hội, vượn sống theo gia đình nhỏ, điều này tạo nên sự khác biệt so với các nhóm linh trưởng khác.
Theo Geissmann T (1995), phân loại vượn được chia thành hai nhóm chính: Symphalangus và Hylobates Nhóm Symphalangus nổi bật với khối lượng lớn hơn và giọng hót sâu hơn, cùng với các đặc điểm như có bao cổ họng bên ngoài và màng chân giữa các ngón 2 và 3 Các nghiên cứu hiện nay về di truyền học, đặc điểm giải phẫu xương sọ và âm thanh đã xác nhận rằng phân họ vượn thuộc giống Symphalangus có bộ nhiễm sắc thể 2n.
= 50, giống Nomascus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 52, giống Hoolock có 2n = 38 và giống Hylobates có 2n = 44, (Hình 1.1)
Vượn mực trưởng thành, chụp ngày
Cincinnati, Ohio, Hoa Kỳ, nguồn
Vượn đen má trắng trưởng thành, chụp tháng 12/2012 tại vườn thú Denver, Denver, Colorado, Hoa Kỳ, nguồn
Vượn mày trắng trưởng thành, chụp năm 2006 tại Vường quốc gia
Vượn tay trắng, chụp năm 2002 tại vườn thú Vienna, Áo, nguồn Eva Hejda (d)
Hình 1.1 Đại diện 4 giống trong họ Vượn
1.1.2 Một số đặc điểm của giống Nomascus
1.1.2.1 Đặc điểm sinh học, sinh thái
Vượn thuộc giống Nomascus có khối lượng cơ thể từ 7 đến 12 kg Đặc điểm hình thái của chúng bao gồm túm lông dựng đứng trên đỉnh đầu, với con đực phát triển hơn tạo thành mào, trong khi con cái có đám lông đen trên đầu tương phản với lông màu nhạt xung quanh Sự khác biệt rõ ràng giữa vượn đực và cái thể hiện ở màu lông: con đực thường có màu đen, còn con cái có lông vàng nhạt hoặc vàng da cam, thường có mảng lông chẩm màu đen Màu sắc bộ lông thay đổi theo độ tuổi; con non mới sinh có màu vàng sáng, đến một năm tuổi sẽ chuyển sang màu đen giống vượn đực trưởng thành, trong khi vượn cái giữ bộ lông đen cho đến khi chuẩn bị trưởng thành sinh dục (5-8 tuổi) mới đổi sang màu vàng đặc trưng.
Tiếng hót của vượn, đặc biệt vào buổi sáng sớm, là một đặc điểm nổi bật của tất cả các loài vượn Tiếng hót giữa vượn đực và vượn cái có sự khác biệt, thường thì vượn đực hót trước và vượn cái theo sau, tạo thành một sự phối hợp hài hòa Chức năng chính của tiếng hót là để tuyên bố lãnh thổ của đàn, đồng thời thu hút bạn tình và duy trì mối quan hệ gia đình Trong quá trình nghiên cứu vượn, các nhà điều tra có thể xác định vị trí và số lượng đàn vượn thông qua âm thanh mà chúng phát ra.
1.1.2.2 Phân loại các loài vượn thuộc giống Nomascus
Theo Phạm Nhật (2002) và Groves (2001) ở Việt Nam có 5 loài vượn thuộc giống Nomascus, gồm:
1 Vượn đen tuyền Nomascus concolor
2 Vượn cao vít Nomascus nasutus
3 Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys
5 Vượn má hung Nomascus gabriellae
Theo nghiên cứu của Van Ngoc Thinh và cộng sự (2010), Vượn má hung đã được phân tách thành hai loài riêng biệt: Vượn má vàng phía bắc (Nomascus annamensis) và Vượn má vàng phía nam (Nomascus gabriellae) Các tác giả cũng đã xác định có tổng cộng 6 loài thuộc giống Nomascus.
1 Vượn đen tuyền Nomascus concolor
2 Vượn cao vít Nomascus nasutus
3 Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys
5 Vượn má vàng trung bộ Nomascus annamensis
6 Vượn má vàng phía nam Nomascus gabriellae
1.1.2.3 Vùng phân bố của giống Nomascus
Các loài vượn thuộc giống Nomascus là đặc hữu của Đông Dương và các khu vực lân cận, bao gồm Việt Nam, Lào, phía Đông Campuchia và Tây.
Nam Trung Quốc (tỉnh Vân Nam và đảo Hải Nam) Ở Việt Nam, 06 loài vượn đều thuộc giống Vượn mào (Nomascus)
Theo Geissmann (2007), sông Mêkông đánh dấu giới hạn phía Tây của vùng phân bố Tuy nhiên, hiện nay, các khu vực phân bố đã bị chia cắt thành những mảnh rừng biệt lập, dẫn đến nhiều quần thể chỉ còn lại rất ít cá thể, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến giá trị bảo tồn.
Phân bố của 6 loài này trải dài từ Bắc vào Nam cụ thể: Vượn cao vít
Vượn mũi hếch (Nomascus nasutus) phân bố tại Bắc và Đông Bắc Bộ, bên tả ngạn sông Hồng Vượn đen tuyền (Nomascus concolor) sống ở Tây Bắc, giữa hữu ngạn sông Hồng và tả ngạn sông Đà Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) có mặt tại Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, từ tả ngạn sông Đà đến bắc sông Rào Nậy Vượn siki (Nomascus siki) phân bố từ nam sông Rào Nậy đến bắc sông Thạch Hãn Vượn đen má vàng trung bộ (Nomascus annamensis) sống từ nam sông Thạch Hãn đến bắc sông Ba và sông Srepok Cuối cùng, vượn má vàng phía Nam (Nomascus gabriellae) phân bố từ nam sông Ba, sông Srepok đến bắc sông Tiền.
Hình 1.2 Phân bố của các loài vượn thuộc giống Nomascus
(Van Ngoc Thinh et al, 2010)
1.1.2.4 Tình trạng bảo tồn của các loài vượn thuộc giống Nomascus ở Việt Nam
Theo IUCN (2021), tất cả 06 loài vượn tại Việt Nam đều được xếp hạng ưu tiên bảo tồn rất cao, với 04 loài được xếp hạng CR (Rất nguy cấp) và 02 loài xếp hạng EN (Nguy cấp) Theo Sách Đỏ Việt Nam (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007), cả 6 loài vượn đều được xếp hạng EN (Nguy cấp) Cũng theo CITES (2018), tất cả 6 loài vượn thuộc phụ lục I Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2021 của Chính phủ đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 06/2019/NĐ-CP ngày 22 tháng 01 năm.
Theo Nghị định của Chính phủ năm 2019 về quản lý thực vật rừng và động vật rừng nguy cấp, tất cả 6 loài vượn tại Việt Nam đều thuộc nhóm IB, cho thấy chúng đang trong tình trạng cần được bảo tồn và quan tâm cao Thông tin chi tiết được trình bày trong bảng 1.1.
Bảng 1.1 Tình trạng bảo tồn các loài vượn tại Việt Nam
Nomascus concolor CR EN Phụ lục I Nhóm IB
2 Vượn cao vít Nomascus nasutus CR EN Phụ lục I Nhóm IB
Nomascus leucogenys CR EN Phụ lục I Nhóm IB
4 Vượn siki Nomascus siki CR EN Phụ lục I Nhóm IB
5 Vượn má vàng trung bộ
Nomascus annamensis EN EN Phụ lục I Nhóm IB
Vượn má vàng phía nam
Nomascus gabriellae EN EN Phụ lục I Nhóm IB
Ghi chú: CR: Rất nguy cấp; EN: Nguy cấp
1.1.2.5 Cấu trúc đàn của các loài vượn mào Đối với các loài vượn thuộc giống Nomascus, kiểu cấu trúc đàn theo gia đình 01 đực 01 cái và có thể có con non đã được nhiều tác giả ghi nhận, ví dụ như đối với loài Vượn đen má trắng (Ruppell, 2013) Với loài Vượn đen má vàng, (Kenyon et al, 2011) cũng đã ghi nhận đa số đàn có 01 đực, 01 cái và các các thể chưa trưởng thành, tuy nhiên bên cạnh đó có những đàn có 01 cá thể đực và 02 cá thể cái Gần đây, (Barca et al, 2016) đã chính thức xác nhận có kiểu cấu trúc đàn gồm 01 đực và 02 cái khi quan sát được 02 cá thể cái đang mang theo con non ngoài thực địa Như vậy, cấu trúc đàn vượn thuộc giống Nomascus khá thay đổi và có thể có nhiều dạng khác nhau
1.1.3 Một số đặc điểm của loài Nomascus leucogenys
1.1.3.1 Một số đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái của Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys)
Vượn đen má trắng, theo Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy (1998), có trọng lượng từ 6-10 kg và chiều dài cơ thể từ 530-600 mm Chúng có tay dài hơn thân và không có đuôi Con đực sở hữu bộ lông đen với đám lông trắng ở má mọc tua ra xung quanh, vượt lên trên chỏm vành tai, trong khi con cái có màu vàng nâu, đậm ở vai và nhạt ở bụng, với đám lông đen trên đầu rộng và bụng không có lông đen.
Cá thể đực Vượn đen má trắng trưởng thành
Cá thể cái Vượn đen má trắng trưởng thành
Hình 1.3 Vượn đen má trắng trưởng thành
Vượn đen má trắng, theo Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy (1998), chỉ sống trong các khu rừng lá rộng thường xanh với nhiều cây gỗ lớn Chúng thường sống thành đàn từ 2-4 con, hoạt động kiếm ăn vào ban ngày và ngủ trên các cây lớn vào ban đêm Vượn đen má trắng trưởng thành sinh dục sau 4 - 4,5 năm tuổi, có thời gian mang thai từ 6 tháng 20 ngày đến 7 tháng, và mỗi lứa chỉ đẻ 01 con.
1.1.3.2 Phân bố và tình trạng Vượn đen má trắng ở Việt Nam
Trước năm 1975, loài vượn đen má trắng rất phổ biến ở các khu rừng già thuộc các tỉnh phía Tây Bắc Việt Nam, với diện tích ước tính trên 5.000 km² Tuy nhiên, từ năm 1975 đến nay, tình trạng của loài này đã thay đổi rõ rệt, với số lượng quần thể giảm mạnh, hiện chỉ còn khoảng hơn 5 tiểu quần thể Nguyên nhân của sự suy giảm này bao gồm việc nơi cư trú bị xâm hại, rừng bị chặt phá, diện tích rừng tự nhiên thu hẹp, cùng với việc loài này bị săn bắn để nấu cao, buôn bán và xuất khẩu Trước đây, vượn đen má trắng từng được ghi nhận ở các tỉnh như Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa và Nghệ An.
An (Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương, Quỳ Châu), tuy nhiên trong vòng
Trong 10 năm qua, không có thêm ghi nhận nào về quần thể Vượn đen má trắng (Rowson et al, 2011) Năm 2011, các nhà khoa học phát hiện một quần thể gồm hơn 400 cá thể Vượn đen má trắng, phân bố thành nhiều đàn nhỏ tại VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An, gần biên giới Việt - Lào Quần thể này được cho là cách xa khu dân cư và chiếm đến 2/3 tổng số lượng vượn đen má trắng tại Việt Nam (Luu & Rawson, 2011).
1.1.4 Các nghiên cứu về thú linh trưởng nói chung và loài Nomascus leucogenys tại VQG Vũ Quang
Một số phương pháp điều tra, giám sát vượn 19 1 Các phương pháp điều tra và xử lý số liệu điều tra vượn truyền thống 19
1.2.1 Các phương pháp điều tra và xử lý số liệu điều tra vượn truyền thống
Thông tin về tình trạng và phân bố của động vật hoang dã là rất quan trọng cho việc giám sát đa dạng sinh học Các phương pháp điều tra như điều tra theo tuyến và theo điểm do con người thực hiện thường tốn kém và hạn chế về không gian, thời gian Do đó, chương trình giám sát các loài quý hiếm thường không được thực hiện thường xuyên ở các nước đang phát triển Hơn nữa, các cuộc điều tra thực địa do con người thực hiện có thể thiếu chính xác.
Phương pháp điều tra loài vượn chủ yếu dựa vào tiếng hót phát ra từ các đàn vượn, nhưng không phải lúc nào chúng cũng hót trong thời gian điều tra, dẫn đến khả năng không phát hiện được các đàn vượn không hót Xác suất hót ảnh hưởng lớn đến kết quả điều tra, là cơ sở để điều chỉnh ước lượng mật độ và kích thước quần thể vượn Tuy nhiên, các phương pháp hiện tại chưa hoàn thiện và thống nhất, nhiều tác giả không tính đến xác suất hót khi xác định kích thước quần thể Kỹ năng phân tích số liệu thực địa cũng không đồng nhất giữa các tác giả, cần khắc phục những nhược điểm này để nâng cao độ chính xác trong nghiên cứu.
M (2011) đã phát triển một công cụ ước lượng kích thước quần thể vượn trong khu vực nghiên cứu, cho phép xử lý số liệu nhanh chóng thông qua các bảng tính tự động Phương pháp này đã được nhiều tác giả áp dụng, bao gồm Hoang Minh Duc et al (2010b), Luu & Rawson (2011), và Ha Thang Long et al (2011).
Tuy nhiên, nhược điểm của các phương pháp và bảng tính của (Vu Tien
Nghiên cứu của Thinh & Rawson (2011) chưa xem xét khả năng một số đàn vượn không được phát hiện do khoảng cách xa Thực tế cho thấy, khả năng phát hiện tiếng hót giảm khi khoảng cách từ điểm nghe đến đàn vượn tăng lên, đặc biệt trong địa hình đồi núi cản trở âm thanh Gió và hướng gió cũng ảnh hưởng đến khả năng nghe tiếng hót của vượn, trong khi không khí không phải là môi trường truyền âm tốt Do đó, phương pháp của Brockelman & Ali (1987) và Thinh & Rawson (2011) có thể dẫn đến ước lượng mật độ loài thấp hơn thực tế.
Trong nghiên cứu về vượn, các nhà phân tích thường loại bỏ dữ liệu ghi ở khoảng cách xa để đảm bảo xác suất phát hiện đồng nhất từ điểm nghe đến các đàn vượn (Ali, 1987; Vu Tien Thinh & Rawson, B M, 2011; Phan & Gray, 2009) Một số điểm nghe có thể chỉ được khảo sát trong một hoặc hai ngày do thời tiết xấu hoặc tình trạng sức khỏe của đoàn điều tra, nhưng phương pháp khoảng cách (Distance sampling) vẫn cho phép sử dụng các điểm này Việc áp dụng phương pháp khoảng cách không chỉ giúp mở rộng diện tích khảo sát mà còn cung cấp ước lượng khoảng và cho phép thực hiện ước lượng theo sinh cảnh.
1.2.2 Phương pháp khoảng cách trong điều tra, giám sát vượn
1.2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Theo nghiên cứu của Nguyễn Hải Tuất và cộng sự (2011), trong điều tra động vật hoang dã, hai phương pháp phổ biến là điều tra theo tuyến và điều tra theo điểm Dữ liệu thu thập từ hai phương pháp này có thể được phân tích bằng phương pháp khoảng cách thông qua phần mềm Distance (Thomas et al, 2010).
- Phương pháp điều tra theo tuyến:
Trong phương pháp điều tra theo tuyến, người điều tra di chuyển dọc theo tuyến để quan sát, đếm và ghi nhận số lượng cá thể, đồng thời ước lượng hoặc đo khoảng cách từ tuyến đến các cá thể được phát hiện.
Hình 1.4 Mô phỏng phương pháp điều tra theo tuyến (a) và phương pháp điều tra theo điểm (b)
Nguồn: (Nguyễn Hải Tuất & cs, 2011)
- Phương pháp điều tra theo điểm:
Theo nghiên cứu của Nguyễn Hải Tuất và cộng sự (2011), phương pháp điều tra được thực hiện bằng cách ngồi tại các điểm cố định trong khu vực khảo sát để đếm số lượng cá thể loài quan tâm Các nhà nghiên cứu cũng đo góc phương vị và khoảng cách từ điểm quan sát đến cá thể động vật hoang dã hoặc đàn.
1.2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu
- Lý do cần phân tích số liệu theo phương pháp khoảng cách:
Các phương pháp điều tra động vật truyền thống thường giả định rằng tất cả các cá thể động vật hoang dã hoặc đàn vượn trong khu vực điều tra đều được phát hiện Giả định này có thể đúng với những loài có đặc điểm dễ nhận biết như kích thước lớn hoặc khi chúng sống trong sinh cảnh thoáng đãng như trảng cỏ Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều loài động vật hoang dã rất khó phát hiện.
- Một số loài động vật có xu hướng lẩn trốn người điều tra
- Một số loài có khả năng ngụy trang để lẫn vào màu nền của môi trường
- Khả năng quan sát hạn chế, đặc biệt là với các loài động vật nhỏ, không có màu sắc sặc sỡ, không có tiếng kêu to
- Sinh cảnh rậm rạp hoặc có tầm nhìn hạn chế
Số lượng cá thể động vật hoang dã được phát hiện ở xa thường thấp hơn so với những cá thể gần điểm điều tra, dẫn đến ước lượng mật độ loài trong khu vực có thể không chính xác (Nguyễn Hải Tuất & cs, 2011) Đối với các loài vượn, một số đàn ở xa có thể không được nghe thấy, vì vậy, phương pháp phân tích số liệu theo khoảng cách là lựa chọn hợp lý Cụ thể, tất cả cá thể động vật trong phạm vi điều tra đều được phát hiện, nhưng một số cá thể ở xa hai bên tuyến điều tra hoặc cách xa điểm quan sát có thể không được phát hiện Xác suất phát hiện được tính bằng tỷ lệ diện tích phần không gạch chéo dưới đường cong so với diện tích hình chữ nhật.
Hình 1.5 Phân bố tần suất của vật thể phát hiện được theo khoảng cách
Nguồn: (Nguyễn Hải Tuất & cs, 2011)
- Ước lượng xác suất phát hiện:
Để ước lượng mật độ động vật hoang dã, cần xác định xác suất phát hiện nhằm điều chỉnh mật độ Xác suất này được ước lượng dựa trên phân bố tần suất quan sát theo khoảng cách từ đàn vượn hoặc cá thể động vật hoang dã đến tuyến hoặc điểm điều tra Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm DISTANCE (Thomas et al, 2010).
Một số hàm số được sử dụng để mô phỏng xác suất phát hiện, trong đó phương pháp khoảng cách áp dụng 4 hàm cơ sở phổ biến Những hàm này giúp mô phỏng sự biến động của xác suất phát hiện theo khoảng cách, như đã được nêu trong nghiên cứu của Thomas et al (2010) và Nguyễn Hải Tuất & cs (2011).
Hàm Half-normal (Hàm nửa chuẩn): 𝑔(𝑦) = 𝑒 −𝑎 2 ⁄2 𝑎 2 [1.2]
Hàm Negative exponential (Hàm mũ ngược): 𝑔(𝑦) = 𝑒 −𝑦 𝜆⁄ [1.3]
Hàm Hazard-rate được định nghĩa bởi công thức 𝑔(𝑦) = 1 − 𝑒^{-(𝑦/𝜎)−𝑏}, trong đó 𝑔(𝑦) biểu thị xác suất phát hiện vật thể khi vật thể đó nằm ở khoảng cách y từ điểm nghe Các tham số w, σ, 𝜆 và b cần được ước lượng để tính toán chính xác xác suất này.
Hình 1.6 Hình dạng 4 hàm số mô phỏng cơ bản được sử dụng trong phương pháp khoảng cách
(Nguồn: (Nguyễn Hải Tuất & cs, 2011)
Ngoài 4 hàm số trên, 3 chuỗi mở rộng được sử dụng để thay đổi hình dáng của hàm xác suất phát hiện (Nguyễn Hải Tuất & cs, 2011):
Một số mô hình kết hợp giữa các hàm cơ sở và chuỗi mở rộng đã được đề xuất để mô phỏng mối quan hệ giữa xác suất phát hiện và khoảng cách (Buckland et al, 2001; Nguyễn Hải Tuất & cs, 2011) như thể hiện trong bảng 1.3.
Bảng 1.3 trình bày một số dạng kết hợp của hàm số cơ bản và chuỗi mở rộng, đã được kiểm chứng là phù hợp trong việc mô phỏng sự biến động xác suất phát hiện theo khoảng cách.
(Nguồn: (Nguyễn Hải Tuất & cs, 2011)
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên khu vực nghiên cứu
VQG Vũ Quang quản lý diện tích 57.028,1 ha, bao gồm 52.731,4 ha rừng đặc dụng, 3.688,9 ha rừng phòng hộ và 607,8 ha rừng sản xuất Ranh giới rừng đặc dụng VQG Vũ Quang bao gồm 49 tiểu khu thuộc 10 xã vùng đệm và 3 huyện: Hương Khê, Hương Sơn và Vũ Quang.
VQG Vũ Quang tọa lạc tại phía Tây Bắc tỉnh Hà Tĩnh, cách thành phố Hà Tĩnh 60 km, với tọa độ địa lý từ 18°09’ đến 18°26’ vĩ độ Bắc và 105°16’ đến 105°33’ kinh độ Đông Vườn quốc gia này nằm trên địa bàn của ba huyện miền núi: Hương Sơn, Vũ Quang và Hương Khê.
Phía Bắc giáp xã Sơn Tây huyện Hương Sơn và Hương Quang, Hương Minh, Hương Thọ và Thị trấn Vũ Quang của huyện Vũ Quang
Phía Nam giáp biên giới Việt – Lào
Phía Đông giáp xã Hoà Hải và Phú Gia, huyện Hương Khê
Phía Tây giáp xã Sơn Kim II, huyện Hương Sơn
VQG Vũ Quang là nơi khởi nguồn của ba lưu vực sông chính: sông Ngàn Trươi, sông Rào Nổ và sông Khe Tre, tất cả đều xuất phát từ khu vực phía nam của VQG.
Hình 1.8 Sơ đồ vị trí VQG Vũ Quang trên bản đồ hành chính Việt Nam
Nguồn: VQG Vũ Quang năm 2018
Hình 1.9 Sơ đồ quy hoạch phân khu VQG Vũ Quang
Nguồn: VQG Vũ Quang năm 2018 1.3.1.3 Địa hình
VQG Vũ Quang sở hữu đa dạng địa hình, bao gồm vùng núi cao, núi trung bình, núi thấp và đồi, với độ cao dao động từ 30 đến 2.286 m tại đỉnh Rào Cỏ Đặc trưng của khu vực này là địa hình núi cao, vực sâu, thung lũng hẹp, cùng với độ dốc lớn và sự chia cắt sâu, dày.
1.3.1.4 Địa chất, thổ nhưỡng a) Địa chất:
Theo kết quả nghiên cứu địa chất, tại VQG Vũ Quang có hai kiểu đặc trưng sau:
Nhóm đá macma axít kết tinh chua chủ yếu phân bố ở khu vực Bảo vệ nghiêm ngặt, trên địa hình núi với độ dốc lớn Đất hình thành từ nhóm đá này thường có kết cấu không bền vững và hàm lượng mùn thấp.
Nhóm đá phiến thạch sét chủ yếu phân bố ở địa hình đồi núi, đặc biệt trong các phân khu phục hồi sinh thái và dịch vụ hành chính Đất ở khu vực này có hàm lượng khoáng chất cao, bao gồm N, P, K, Mg, và có kết cấu tương đối tốt.
VQG Vũ Quang có đặc trưng thổ nhưỡng ở các nhóm dạng đất sau:
Đất Feralit mùn vàng đỏ trên núi trung bình và cao (FH) phân bố từ độ cao 700 m dọc biên giới Việt - Lào, có phản ứng chua với pH = 2,4 Thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình, kết cấu hạt thô, với tầng đất mỏng đến trung bình, chiếm 31% diện tích Vườn Thảm thực vật chủ yếu là rừng kín thường xanh ẩm á nhiệt đới, chủ yếu là rừng nguyên sinh với độ che phủ rất cao (>90%) Đất này phù hợp với các loài cây như Pơ mu, Hoàng đàn giả, Du sam, Giẻ lá nhỏ Trong VQG, nhóm đất này chỉ có một nhóm phụ là FHa, phát triển trên đá macma axít kết tinh chua, với 10 dạng đất khác nhau.
Đất Feralit nâu vàng trên đồi, núi thấp thường xuất hiện ở độ cao dưới 700m, chủ yếu hình thành từ các loại đá phiến thạch sét, sa thạch và macma axít kết tinh chua Nhóm đất này phân bố đan xen, tạo ra nhiều loại đất với độ phì khác nhau, phụ thuộc vào địa hình, thảm thực bì, độ cao và độ dốc của khu vực.
Vườn quốc gia Vũ Quang có khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa đông lạnh và dễ xảy ra sương muối, trong khi mùa khô lại có khí hậu nóng khắc nghiệt Nơi đây có hai mùa rõ rệt, đặc trưng cho khí hậu miền Trung Việt Nam, theo số liệu từ các trạm khí tượng, thủy văn.
Mùa mưa ở Hà Tĩnh bắt đầu từ hạ tuần tháng 8 đến tháng 9 và kéo dài đến trung tuần tháng 11, chiếm tới 54% tổng lượng mưa trong năm Trong thời gian này, Hà Tĩnh thường xuyên chịu ảnh hưởng từ các cơn bão trên biển Đông, dẫn đến tình trạng lũ lụt.
+ Mùa khô: Từ tháng 12 đến tháng 7 năm sau Đây là mùa nắng gắt, có gió Tây Nam (thổi từ Lào) khô, nóng, lượng bốc hơi lớn
Khu vực VQG Vũ Quang có nhiệt độ không khí khá cao, với nhiệt độ trung bình cao nhất đạt 28°C và thấp nhất là 19,7°C Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối ghi nhận là 2,6°C, trong khi nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,5°C Biên độ nhiệt độ giữa cao nhất và thấp nhất trong ngày lớn nhất vào tháng 7 và nhỏ nhất vào tháng 2, với bình quân năm là 7,7°C ở Hương Sơn và 7,4°C ở Hương Khê.
Vườn quốc gia Vũ Quang chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chính đó là gió mùa Đông Bắc và gió Tây Nam
Ba con sông chính trong VQG bao gồm sông Khe Chè, sông Ngàn Trươi và sông Rào Nổ, là các chi lưu quan trọng của sông Ngàn Sâu và Ngàn Phố Những con sông này sau đó hợp nhất với sông La, con sông lớn nhất tỉnh, và cuối cùng chảy ra biển Đông qua hạ nguồn sông Lam.
Sông Khe Chè bắt nguồn từ phía Tây của Vườn Quốc Gia, nằm trong địa phận xã Sơn Kim II, với độ cao trên 1.400 m Sông chảy theo hướng Nam Bắc và cuối cùng đổ vào sông Ngàn Phố.
Sông Ngàn Trươi, bắt nguồn từ độ cao 1.900 m ở phía Nam VQG, được hình thành từ nhiều chi lưu nhỏ chảy dốc từ biên giới Việt - Lào, nằm trong địa phận xã Hương Quang, huyện Vũ Quang.
- Sông Rào Nổ bắt nguồn ở độ cao trên 1.200 m, phía Đông của VQG, trên địa phận xã Hoà Hải (huyện Hương Khê), đoạn đầu dòng chảy rất dốc
- Hồ chứa nước Ngàn Trươi – Cẩm Trang do mới hình thành từ năm
2016 cho nên số liệu về khí hậu, thủy văn đặc điểm tài nguyên nước dưới đất của khu vực còn chưa được nghiên cứu
1.3.2.1 Hiện trạng rừng và sử dụng đất a, Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp theo chức năng
Quyết định số 2735/QĐ-UBND của UBND tỉnh Hà Tĩnh, ban hành ngày 15/8/2019, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch diện tích rừng và phát triển rừng tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2030 Theo cập nhật năm 2020, VQG Vũ Quang hiện đang quản lý tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 57.028,11 ha.
- Diện tích đất rừng đặc dụng: 52.731,40 ha
- Diện tích đất rừng phòng hộ: 3.688,85 ha
- Diện tích đất rừng sản xuất: 607,86 ha
Tổng hợp hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp tại VQG Vũ Quang thể hiện ở bảng 1.4 dưới đây
Bảng 1.4 Thống kê diện tích, trữ lượng các loại rừng VQG Vũ Quang theo hiện trạng rừng ĐVT: ha
T Phân loại rừng Tổng cộng
I RỪNG PHÂN THEO NGUỒN GỐC 56.757,41 52.608,99 3.546,40 602,02
- Trồng mới trên đất chưa có rừng 237,74 237,74
- Trồng lại sau khi khai thác rừng trồng đã có 121,08 37,46 83,62
- Tái sinh tự nhiên từ rừng trồng đã khai thác
II RỪNG PHÂN THEO ĐIỀU KIỆN 57.028,11 52.731,40 3.688,85 607,86
T Phân loại rừng Tổng cộng
Rừng sản xuất LẬP ĐỊA
3 Rừng trên đất ngập nước
III RỪNG PHÂN THEO LOÀI CÂY 56.398,59 52.571,53 3.546,40 280,66
- Rừng gỗ lá rộng TX hoặc nửa rụng lá 55.906,74 52.243,39 3.546,40 116,95
- Rừng gỗ lá rộng rụng lá
- Rừng gỗ hỗn giao lá rộng và lá kim
3 Rừng hỗn giao gỗ và tre nứa 491,85 328,14 163,71
IV RỪNG GỖ TỰ NHIÊN PHÂN
5 Rừng chưa có trữ lượng 656,22 656,22
T Phân loại rừng Tổng cộng
V DIỆN TÍCH CHƯA THÀNH RỪNG 270,70 122,41 142,45 5,84
1 Diện tích trồng chưa thành rừng 14,19 13,41 0,78
2 Diện tích khoanh nuôi tái sinh
Hình 1.10 Sơ đồ hiện trạng rừng, hiện trạng sử dụng đất năm 2020 VQG Vũ Quang
Nguồn VQG Vũ Quang 2020 b Trữ lượng rừng: