Nhóm định nghĩa này của dịch vụ logistics góp phần phân định rõ ràng giữa các nhà cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ như dịch vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan, phân phối, dịch vụ hỗ t
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Quang Giám
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là luận văn được nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, đáng tin cậy và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về luận văn này
Hà Nội, ngày 28 tháng 05 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Cao Kỳ
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Đỗ Quang Giám người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn Ban lãnh đạo và các Anh (Chị) đang công tác tại Công ty Cổ phần Giao nhận Kho Vận Hải Dương đã hỗ trợ, tạo điều kiện, khuyến khích cho tôi trong thời gian qua
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, cùng toàn thể gia đình, người thân đã động viên tôi trong thời gian nghiên cứu đề tài
Hà Nội, ngày 28 tháng 05 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Cao Kỳ
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn i
Mục lục iii
Danh mục bảng v
Danh mục sơ đồ vi
Trích yếu luận văn vii
Thesis abstract ix
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 3
2.1 Cơ sở lý luận 3
2.1.1 Tổng quan về dịch vụ logistics 3
2.1.2 Quản trị chi phí dịch vụ logistics 13
2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị chi phí dịch vụ logistics 25
2.2 Cơ sở thực tiễn 32
2.2.1 Kinh nghiệm của công ty logistics nước ngoài 32
2.2.2 Kinh nghiệm của công ty logistics trong nước 33
2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn 34
Phần 3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 38
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 38
3.1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của công ty Cổ phần Giao nhận Kho vận Hải Dương 38
3.1.2 Cơ cấu tổ chức: 38
3.1.3 Tình hình nhân lực: 41 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 53.1.4 Tình hình tài sản - nguồn vốn 42
3.1.5 Tình hình hoạt động kinh doanh 44
3.2 Phương pháp nghiên cứu 46
3.2.1 Thu thâp và xử lý số liệu 46
3.2.2 Phương pháp phân tích 47
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 49
4.1 Khái quát hoạt động của công ty cổ phần giao nhận kho vận Hải Dương 49
4.1.1 Quy trình xếp dỡ hàng bao nhập khẩu tại công ty 49
4.1.2 Quy trình xếp dỡ hàng bao xuất khẩu tại công ty 51
4.2 Thực trạng quản trị chi phí dịch vụ logistics tại Công ty Cổ phần Giao nhận Kho vận Hải Dương 53
4.2.1 Nhận diện và phân loại chi phí 53
4.2.2 Thực trạng lập dự toán chi phí 56
4.2.3 Tình hình thực hiện dự toán chi phí 63
4.2.4 Phân tích biến động chi phí 67
4.3 Đánh giá thực trạng quản trị chi phí tại công ty cổ phần giao nhận kho vận Hải Dương 69
4.3.1 Những kết quả đạt được 69
4.3.2 Những mặt tồn tại, hạn chế 69
4.4 Những nhân tố ảnh hưởng tới quản trị chi phí 71
4.5 Giải pháp tăng cường quản trị chi phí dịch vụ logistics tại Công ty Cổ phần Giao nhận Kho vận Hải Dương 74
4.5.1 Đối với công tác xây dựng định mức 74
4.5.2 Đối với công tác thực hiện 75
4.5.3 Đối với công tác kiểm tra kiểm soát và đánh giá hiệu quả sản xuất 75
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 78
5.1 Kết luận 78
5.2 Kiến nghị 78
Tài liệu tham khảo 81 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng xếp hạng 20 công ty 3PL toàn cầu theo doanh thu (2015 -
2016) 31
Bảng 3.1 Tình hình nhân sự công ty 2014-2016 41
Bảng 3.2 Tình hình tài chính Công ty Cổ phần Giao nhận Kho vận Hải Dương 2014 - 2016 43
Bảng 3.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Giao nhận Kho vận Hải Dương 2014 – 2016 45
Bảng 4.1 Nhận diện chi phí hoạt động logistics tại công ty Cổ phần Giao nhận kho vận Hải Dương 55
Bảng 4.2 Định mức tiêu hao nhiên liệu của xe nâng, xe cẩu của Phụ lục Hợp đồng số 08 57
Bảng 4.3 Định mức chi phí tiêu hao của xe nâng, xe cẩu của Phụ lục Hợp đồng số 08 58
Bảng 4.4 Thời gian cần thiết để hoàn thành Phụ lục Hợp đồng số 08 58
Bảng 4.5 Định mức nhiên liệu vận tải Phụ lục Hợp đồng số 08 59
Bảng 4.6 Dự toán chi phí nhiên liệu vận tải Phụ lục Hợp đồng số 08 59
Bảng 4.7 Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Phụ lục Hợp đồng số 08 60
Bảng 4.8 Dự toán chi phí nhân công trực tiếp Phụ lục Hợp đồng số 08 61
Bảng 4.9 Dự toán chi phí nhân viên quản lý tổ đội Phụ lục Hợp đồng số 08 61
Bảng 4.10 Dự toán chi phí sản xuất chung Phụ lục Hợp đồng số 08 62
Bảng 4.11 Bảng chi tiết chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Phụ lục Hợp đồng số 08 63
Bảng 4.12 Chi phí nhân công trực tiếp Phụ lục Hợp đồng số 08 64
Bảng 4.13 Chi phí sản xuất chung Phụ lục Hợp đồng số 08 66
Bảng 4.14 Phân tích biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 67
Bảng 4.15 Phân tích biến động chi phí nhân công trực tiếp 68
Bảng 4.16 Phân tích biến động chi phí sản xuất chung Phụ lục Hợp đồng số 08 68 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 8TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Cao Kỳ Tên luận văn: “Quản trị chi phí dịch vụ logistics tại Công ty Cổ phần Giao nhận kho
và quản trị chi phí dịch vụ logistics của đơn vị nghiên cứu trong thời gian tới
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu
+ Các tài liệu viết cần nghiên cứu thường khá đa dạng: Lịch sử hình thành và phát triển, đặc điểm hoạt động
+ Tài liệu giao dịch: hóa đơn, phiếu xuất kho, phiếu nhập kho, phiếu thu, phiếu chi, giấy báo nợ, giấy báo có
+ Tài liệu lưu trữ: sổ ghi chép, tệp dữ liệu
Thu thập thông tin trong đó người đi thu thập thông tin liên hệ với các bộ phận liên quan để xin những số liệu cần thiết, chủ yếu là bộ phận kế toán và bộ phận kế hoạch thị trường Nghiên cứu tài liệu viết giống như việc quan sát hệ thống một cách gián tiếp từ đó hình dung một cách tổng quan về hệ thống
Phương pháp phân tích số liệu
* Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng trong nghiên cứu để mô tả dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau, dựa vào các chỉ tiêu tính toán số liệu, tài liệu, báo cáo, sổ sách kế toán và các báo cáo tài chính
* Phương pháp so sánh
So sánh với mục tiêu đánh giá và so sánh với số bình quân để thấy rõ sự khác biệt hay những đặc trưng riêng, sự biến động, kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức độ, nhiệm vụ mà doanh nghiệp cần phải thực hiện cũng như mức độ mà đơn vị đạt được so với bình quân chung của tổng thể, của ngành, của khu vực
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 9* Phương pháp chuyên gia
Đây là phương pháp nghiên cứu khoa học dựa trên ý kiến của các chuyên gia Thông qua đó có thể nắm bắt được cả về lý luận và thực trạng của vấn đề nhằm đưa ra định hướng phù hợp Trong đề tài, phương pháp này được xuyên suốt quá trình nghiên cứu đó là các ý kiến về xây dựng định mức chi phí và kiểm soát chi phí của các phòng ban có liên quan
Đưa ra các giải pháp tăng cường quản trị chi phí dịch vụ logistics cho công ty
Cổ phần Giao nhận kho vận Hải Dương như: xây dựng kế hoạch sản xuất, đổi mới công nghệ, kế hoạch đào tạo nâng cao trình độ quản lý,…
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 10THESIS ABSTRACT
The writer: Nguyen Cao Ky The master thesis: "Cost management of logistics services at Hai Duong Logistics
Joint Stock Company"
Training facility: Vietnam National University and Agriculture Research purposes
Study on cost management of logistics services at Hai Duong Logistics Joint Stock Company to figure out solutions in purpose of improving the cost calculation and cost management of logistics services in the next time
Research Methods
The method of data collection
+ The writing materials are particularly various to study: Knowledge of background and development information and operational characteristics
+ Transactionanl documents: bills, ex-warehousing bills, warehousing bills, receipts, payment bills, debt notices, credit notices
+ Documentation: notebooks, data files
The gathering information process in which the collectors contact relevant department for the necessary data, mainly accounting department and market planning department Studying written material is like indirectly looking at the system in order to
generally visualize the system
Data analysis method
* Descriptive statistics method
Descriptive statistics are used in the study to describe collected data from empirical research in a variety of ways, based on metrics, data, reports, books accounting and financial reports
* Comparative method
Compared to objectives and average number to see differences or characteristics, changes, structures, relationships, growth rate, level, tasks that enterprises must be complete as well as the level the company achieved in comparison with the average of sector and region
* Professional method
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 11This is the method of scientific research based on experts’ opinions so that it
is possible to determine theoretical and practical problems in order to provide the appropriate direction In the topic, the method which is throughly used in the research process is the opinion on construction cost norms and cost control of relevant departments
Main results and conclusions
To systematize the theoretical and practical basis of managing cost of logistic services in enterprises into the research subject
Reflect the cost management situation at Hai Duong Logistics Joint Stock Company with the issues such as cost estimation, cost collection, volatility analysis, achievements and limitations
Introduce solutions to enhance cost management of logistics services at Hai Duong Logistics Joint Stock Company such as production planning, technology renovation, training plan to improve management,
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 12PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Với việc hội nhập quốc tế, ngành logistics Việt Nam có nhiều cơ hội phát triển và tham gia sâu hơn vào những trung tâm giao dịch dịch vụ logistics thế giới Đây là thị trường được đánh giá nhiều tiềm năng, là một “miếng bánh ngon”
và cần phải có sự phối hợp, chung tay giữa các bộ, ngành và doanh nghiệp để phát triển Với tốc độ tăng trưởng được dự báo từ nay cho đến năm 2020 là 12%/năm và kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 623 tỷ USD vào năm 2020, Việt Nam đang là điểm đến của các nhà đầu tư
Trước những yêu cầu thực tế và thách thức từ hội nhập, đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp logistics phải nâng cao chất lượng dịch vụ, gia tăng sức cạnh tranh Theo Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp logistics Việt Nam (VLA), chi phí logistics của Việt Nam chiếm khoảng 20,8% GDP mỗi năm cao hơn rất nhiều so với các nước như Mỹ, Trung Quốc hay Thái Lan Trong thời gian tới, khi TPP chính thức được ký kết với nhiều dòng thuế về 0%, hứa hẹn sự phát triển sôi động của hoạt động xuất nhập khẩu tại Việt Nam Đây được coi là cơ hội lớn cho ngành logistics “bùng nổ”
Là một mắt xích quan trọng của nền kinh tế, hoạt động logistics giúp hàng hóa đến được tay người tiêu dùng và đảm bảo kịp thời nguồn nguyên liệu cho quá trình sản xuất.Dù vậy, năng lực cạnh tranh cũng như hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp logistics Việt Nam, dưới tác động từ cả yếu tố bên trong và bên ngoài, hiện nay không cao Có thể thấy, đa số doanh nghiệp logsitics nội địa đang hoạt động do quy mô nhỏ nên năng lực tài chính, trình độ quản lý hạn chế, chủ yếu vẫn dừng lại ở việc cung cấp dịch vụ logistics 2PL mà cụ thể là dịch vụ dịch vụ logistics hàng hóa Trong khi đó, các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, thường tìm kiếm các gói dịch vụ logistics tích hợp (phổ biến là 3PL) vốn không đơn thuần là vận chuyển hàng hóa mà còn đi kèm với nhiều dịch vụ giá trị gia tăng khác (thủ tục hải quan, lưu kho, đóng gói và phân phối sản phẩm)
Mức chi phí logistics tại Việt Nam cao hơn Thái Lan 6%, Malaysia 12%, còn so với Singapore thì cao hơn tới ba lần Nhiều báo cáo nhận định chi phí logistics quá cao đã gián tiếp làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế (Vilas, 2018) Với mong muốn vận dụng kiến thức đã học
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 13và tiếp thu thêm các kinh nghiệm thực tế để về góp phần xây dựng tại nơi tôi
đang công tác, tôi đã lựa chọn đề tài: "Quản trị chi phí dịch vụ logistics tại Công ty Cổ phần giao nhận kho vận Hải Dương" làm đề tài luận văn của mình
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu về quản trị chi phí dịch vụ logistics của công ty Cổ phần Giao nhận kho vận Hải Dương nhằm đưa ra những giải pháp hoàn thiện công tác xác định chi phí và quản trị chi phí dịch vụ logistics của đơn vị nghiên cứu trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa các cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị chi phí dịch vụ
logistic trong doanh nghiệp
- Thực trạng quản trị chi phí dịch vụ logistics tại Công ty Cổ phần giao nhận kho vận Hải Dương
- Đưa ra giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản trị chi phí dịch
vụ logistics tại công ty Cổ phần Giao nhận kho vận Hải Dương
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Quy trình hoạt động của loại hình dịch vụ logistics tại công ty
- Quản trị chi phí dịch vụ logistics tại công ty
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 3/2017 tới tháng 3/2018
Số liệu thu thập để nghiên cứu là của năm 2016-2017
Phạm vi nội dung:
Quản trị chi phí dịch vụ logistics của công ty
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 14PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1.1 Tổng quan về dịch vụ logistics
2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
“Logistics” là thuật ngữ mới chỉ được sử dụng trong vài thế kỷ gần đây, nhưng sự tồn tại của logistics thì đã đồng hành cùng loài người từ rất lâu kể từ khi con người biết tích trữ, phân chia, trao đổi, vận chuyển… những vật phẩm mình làm ra Khoảng 2700 trước Công Nguyên, kỹ thuật vận chuyển và xử lý nguyên vật liệu trong quá trình xây dựng kim tự tháp Ai Cập – Giza – cao 146 mét, nặng 6 triệu tấn quả là đáng kinh ngạc và chắc chắn phải có những giải pháp logistics hoàn hảo mà chúng ta chưa thể tìm hiểu hết Như phát minh ra tàu có mái chèo – công cụ quan trọng – giải pháp vận chuyển trong chuỗi hoạt động logistics vào khoảng 300 năm trước Công Nguyên cũng là một mốc lịch sử quan trọng đánh dấu sự tồn tại logistics Còn nhiều các dấu mốc đánh dấu sự phát triển logistics như: Công trình xây dựng nhà thờ Mezquita, Cordoba, Tây Ban Nha khoảng 700 năm sau Công Nguyên nổi tiếng với những mái vòm theo kiểu kiến trúc Hồi Giáo và 856 cây cột làm từ các loại đá quí được chế tác và vận chuyển
về từ các nước trên thế giới; Năm 1500 dịch vụ bưu chính với cam kết giao hàng đúng hạn lần đầu tiên ra đời tại Châu Âu; Khoảng những năm 1800, động cơ hơi nước và các ứng dụng của nó vào phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy…đã mở ra kỷ nguyên phát triển cho ngành logistics; Phục vụ cho Chiến tranh thế giới lần thứ I và II, nhiều các giải pháp logistics đã được các bên
áp dụng rất hiệu quả trong việc điều binh, vận chuyển lương thực, khí tài, quân trang, quân phục…(Đoàn Thị Hồng Vân, 2002)
Thập niên 1970 – 1980 các công ty cung cấp dịch vụ logistics ngày càng xuất hiện nhiều hơn và mô hình Just-in-time được người Nhật phát kiến; Những năm 1990, thì logistics đã đánh dấu trên thị trường thương mại qua việc ứng dụng cácmô hình QR (Quick Response – đáp ứng nhanh), ECR (Efficient Consumer Response – đáp ứng người tiêu dùng hiệu năng)
Theo Hội đồng kinh tế xã hội Liên hiệp quốc (ECOSOC) quá trình phát triển của logistics những năm gần đây được chia thành 3 giai đoạn (Douglag M Lambert, 1998)
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 15* Giai đoạn 1: Phân phối vật chất (Physical Distribution): Giai đoạn này
bắt đầu từ những năm 60 – 70 của thế kỷ XX Vào thời kỳ này người ta quan tâm đến việc quản lý có hệ thống những hoạt động có liên quan với nhau để đảm bảo hiệu quả việc giao hàng thành phẩm và bán thành phẩm… cho khách hàng Đó
là những hoạt động vận tải, phân phối, bảo quản hàng hóa, quản lý hàng tồn kho, bao bì, đóng gói… Những hoạt động này gọi là phân phối vật chất
* Giai đoạn 2: Hệ thống logistics (Logistics System): Diễn ra vào thập niên
1980s và 1990s của thế kỷ XX với điểm nổi bật chính là các công ty kết hợp hai mặt: đầu vào (cung ứng vật tư) với đầu ra (phân phối sản phẩm), nhằm tiết kiệm chi phí, tăng hiệu quả của quá trình này Sự kết hợp này chính là hệ thống logistics
* Giai đoạn 3: Quản trị chuỗi cung ứng (Supply Chain Management):
Diễn ra vào những năm cuối của thế kỷ XX cho tới nay Khái niệm bao trùm mang tính chiến lược là quản trị chuỗi nối tiếp các hoạt động từ người cung cấp - người sản xuất và khách hàng tiêu dùng sản phẩm cuối cùng với các giá trị gia tăng như tạo lập và cung cấp các chứng từ liên quan, hệ thống theo dõi, kiểm tra làm gia tăng giá trị sản phẩm Dễ dàng nhận thấy khái niệm này sự coi trọng đối tác, phát triển đối tác, kết hợp giữa doanh nghiệp sản xuất kinh doanh với người cung ứng khách hàng cũng như những người liên quan tới hệ thống quản lý như các công ty vận tải, kho bãi và những người cung cấp công nghệ thông tin
2.1.1.2 Khái niệm
Khái niệm về logistics
Xu thế của kinh tế thế giới là toàn cầu hóa với ưu điểm tuyệt đối làm cho nền kinh tế phát triển năng động và vững chắc hơn Toàn cầu hóa khiến giao thương của các quốc gia, các khu vực trên thế giới phát triển mạnh mẽ và đương nhiên kéo theo những nhu cầu mới về vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ khác Xu thế mới này dẫn đến sự nảy sinh và phát triển tất yếu của dịch vụ logistics, được ghi nhận như một chức năng kinh tế chủ yếu và là một công cụ mang lại thành công cho các doanh nghiệp cả trong khu vực sản xuất cũng như khu vực dịch vụ
Do đó, nghiên cứu về dịch vụ logistics là việc làm cần thiết quan trọng nhằm nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và Công ty Cổ phần Giao nhận Kho vận Hải Dương nói riêng Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ, (1988) đưa ra khái niệm “Logistics là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển và dự trữ hàng
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 16hóa, dịch vụ từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng”
Dưới góc độ quản trị chuỗi cung ứng thì “Logistics là quá trình tối ưu hóa
về vị trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên/ yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, bán buôn, bán lẻ đến tay người tiêu dùng cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế” (Ma Shuo, 1999)
Liên Hợp Quốc (Khóa đào tạo quốc tế về vận tải đa phương thức và quản
lý logistics, Trường Đại học Ngoại Thương, tháng 10/2002) “Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng”
Theo quan điểm 7 đúng (seven rights) thì: “Logistics là quá trình cung cấp đúng sản phẩm đến đúng khách hàng, một cách đúng số lượng, đúng điều kiện, đúng địa điểm, đúng thời gian với chi phí phù hợp cho khách hàng tiêu dùng sản
phẩm” (Douglas M Lambert et al.,1998)
Đoàn Thị Hồng Vân (2003) đã định nghĩa trong tài liệu “Logistics là quá trình tối ưu hoá các hoạt động vận chuyển và dự trữ hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế” Logistics được
mô tả là các hoạt động (dịch vụ) liên quan đến hậu cần và vận chuyển, bao gồm các công việc liên quan đến cung ứng, vận tải, theo dõi sản xuất, kho bãi, thủ tục phân phối, hải quan Logistics là tập hợp các hoạt động của nhiều ngành nghề, công đoạn trong một quy trình hoàn chỉnh
Hoặc “ Logistics là nghệ thuật và khoa học giúp quản trị và kiểm soát dòng chảy của hàng hóa, năng lượng, thông tin và những nguồn lực khác”
Quản lý cung ứng vật tư kỹ thuật Phân phối sản phẩm
(inbound logistics) (outbound logistics)
Hình 1.1 Chuỗi logistics từ sản xuất đến tiêu dùng
Nguồn Cổng thông tin logistics Việt Nam
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 17Như vậy, logistics là một chuỗi các hoạt động liên tục, có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau được thực hiện một cách khoa học và có
hệ thống qua các bước nghiên cứu, hoạch định, tổ chức, quản lý, thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và hoàn thiện các hoạt động bao gồm các công việc liên quan đến cung ứng, vận tải, theo dõi sản xuất, kho bãi, thủ tục phân phối, hải quan Do
đó, logistics là quá trình liên quan tới nhiều hoạt động khác nhau trong cùng một
tổ chức, từ xây dựng chiến lược cho đến các hoạt động chi tiết, cụ thể để thực hiện chiến lược
Ngoài ra, còn có các cách định nghĩa khác về logistics Tuy nhiên, qua các khái niệm trên, có thể rút ra logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động bao trùm mọi yếu tố tạo nên sản phẩm, đó là quá trình lưu kho, sản xuất ra sản phẩm và phân phối tới tay người tiêu dùng
Khái niệm về dịch vụ logistics
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự hỗ trợ đắc lực của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới, khối lượng hàng hóa và sản phẩm vật chất được sản xuất ra ngày càng nhiều Do khoảng cách trong các lĩnh vực cạnh tranh truyền thống như chất lượng hàng hóa hay giá cả ngày càng thu hẹp, các nhà sản xuất đã chuyển sang cạnh tranh về quản lý hàng tồn kho, tốc
độ giao hàng, hợp lý hóa quá trình lưu chuyển nguyên nhiên vật liệu và bán thành phẩm, … trong cả hệ thống quản lý phân phối vật chất của doanh nghiệp Trong quá trình đó, logistics có cơ hội phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực kinh doanh Trong thời gian đầu, logistics chỉ đơn thuần được coi là một phương thức kinh doanh mới, mang lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp Cùng với quá trình phát triển, logistics đã được chuyên môn hóa và phát triển trở thành một ngành dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng trong giao thương quốc tế
Theo Luật Thương mại Viêt Nam (Quốc hội, 2005), “Dịch vụ logistics
là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký
mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả
thuận với khách hàng để hưởng thù lao” Dịch vụ logistics là hoạt động kinh
doanh thương mại mà chủ thể kinh doanh thực hiện một chuỗi các hoạt động
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 18liên tục, có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau được thực hiện một cách khoa học và có hệ thống qua các bước nghiên cứu, hoạch định, tổ chức, quản lý, thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và hoàn thiện, là quá trình liên quan tới nhiều hoạt động khác nhau trong cùng một tổ chức, từ xây dựng chiến lược cho đến các hoạt động chi tiết, cụ thể nhằm đạt được mục tiêu thỏa mãn nhu cầu của thị trường
Dịch vụ logistics trong ngành vận tải xuất nhập khẩu, bao gồm mọi hoạt động của thương nhân nhằm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện các dịch vụ kinh doanh liên quan đến vận tải (đường biển, đường bộ, đường hàng không, đường thủy nội địa,…), lưu kho bãi, sắp xếp, đóng gói, bao bì hàng hóa sẵn sàng cho quá trình vận tải và phân phối hàng đi các nơi theo yêu cầu của người ủy thác Như vậy, không nên hiểu dịch vụ logistics một cách thô sơ như là một khâu vận chuyển và lưu trữ hoặc chỉ là một dịch vụ hậu cần đơn thuần.Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng các khái niệm về dịch vụ logistics có thể chia làm hai nhóm:
* Nhóm định nghĩa hẹp mà tiêu biểu là định nghĩa trong Luật Thương mại (Quốc hội, 2005), coi logistics gần tương tự với hoạt động giao nhận hàng hóa Tuy nhiên cũng cần chú ý là định nghĩa trong Luật Thương mại có tính mở, thể
hiện trong đoạn in nghiêng “hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa”
Khái niệm logistics trong một số lĩnh vực chuyên ngành cũng được coi là nghĩa hẹp, tức là chỉ bó hẹp trong phạm vi, đối tượng của ngành đó Theo quan điểm này, bản chất của dịch vụ logistics là việc tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ Như vậy, dịch vụ logistics mang nhiều yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ logistics theo khái niệm này không có nhiều khác biệt so với người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức (MTO)(Quốc hội, 2009)
* Nhóm định nghĩa có phạm vi rộng theo quan điểm này, dịch vụ logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên, nhiên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng Nhóm định nghĩa này của dịch vụ logistics góp phần phân định rõ ràng giữa các nhà cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ như dịch vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan, phân phối, dịch vụ hỗ trợ sản xuất, tư vấn quản lý
… với một nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp, người sẽ đảm nhận toàn bộ các khâu trong quá trình hình thành và đưa hàng hóa tới tay người tiêu
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 19dùng cuối cùng Như vậy, nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp đòi hỏi phải có chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng để cung cấp dịch vụ mang tính “trọn gói” cho các nhà sản xuất Đây là một công việc mang tính chuyên môn hóa cao (Quốc hội, 2009)
Ngoài ra, còn có các cách định nghĩa khác về dịch vụ logistics Tuy nhiên, qua các khái niệm trên, có thể rút ra dịch vụ logistics là một chuỗi các hoạt động
về giao nhận hàng hóa như làm các thủ tục, giấy tờ, tổ chức vận tải, đóng gói bao
bì, ghi nhãn hiệu, lưu kho, lưu bãi, phân phát hàng hóa tới các địa điểm khác nhau, chuẩn bị cho hàng hóa (nguyên liệu hoặc thành phẩm) luôn ở trạng thái sẵn sàng nếu có yêu cầu của khách hàng là có thể di chuyển ngay được
2.1.1.3 Phân loại dịch vụ logistics
a Theo hình thức khai thác hoạt động logistics
- Logistics bên thứ nhất (1PL – First Party Logistics): Người chủ sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức các hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân
- Logistics bên thứ 2 (2PL – Second Party Logistics): Người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 2 là người cung cấp dịch vụ cho các hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động logistics như vận tải, kho bãi, thủ tục hải quan, thanh toán ) để đáp ứng nhu cầu của khách hàng
- Logistics bên thứ 3 (3PL – Third Party Logistics): Người này thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng
- Logistics bên thứ 4 (4PL – Forth Party Logistics): Là người tích hợp, gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng, vận hành các giải pháp chuỗi logistics
- Logistics bên thứ 5 (5PL – Fifth Party Logistics): Đã được nhắc đến trong những năm gần đây Đây là hình thức phát triển cao hơn của logistics bên thứ tư đi cùng với sự phát triển của thương mại điện tử Chìa khoá thành công của các nhà cung cấp dịch vụ logistics thứ năm là các hệ thống (Hệ thống quản lý đơn hàng (OMS), Hệ thống quản lý kho hàng (WMS) và Hệ thống quản lý vận tải (TMS) Cả ba hệ thống này có liên quan chặt chẽ với nhau trong một hệ thống thống nhất và công nghệ thông tin (James R Stock, 1998)
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 20b Theo phạm vi
Được phân chia làm 4 loại sau:
- Logistics trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh (Business Logistics): Mỗi lĩnh vực kinh doanh, đối tượng hàng hóa cụ thể sẽ có các cách thức bảo quản, vận chuyển, quản lý hàng khác nhau Do đó, chuỗi logistics của mỗi đối tượng đó lại có những đặc điểm riêng Chẳng hạn:
+ Logistics hàng tiêu dùng nhanh (FMCG – Fast Moving Consumer Goods): Với loại hàng hóa này, yêu cầu quan trọng nhất là đảm bảo thời gian giao hàng, thời gian từ khi hàng được sản xuất ra cho đến khi tới tay người tiêu dùng cuối cùng
+ Logistic ngành ô tô (Automotive Logistic): Ngành này đòi hỏi sự liên kết phối hợp nhịp nhàng giữa các nhà máy, bộ phận sản xuất các chi tiết phụ tùng riêng
lẻ, đảm bảo thời gian cuối của công đoạn này là thời gian đầu của công đoạn sau, tránh thời gian chờ đợi Đặc biệt quan trong là việc dự trữ và phân phối phụ tùng thay thế
+ Ngoài ra còn có các loại như: Logistics ngành hóa chất (Chemical Logistics); Logistics ngành dược phẩm (Pharmaceutical Logistics); Logistics dầu khí (Petroleum Logistic)…
- Logistics quân sự ( Millitary Logistics): Hoạch định, hợp nhất mọi phương diện của sự hỗ trợ cho khả năng tác chiến của quân đội (trong việc triển khai quân hoặc đóng quân) và các thiết bị quân sự đảm bảo sẵn sàng, tin cậy và hiệu quả Nhiều tài liệu nêu hoạt động của đường mòn Hồ Chí Minh như là một điển hình của công tác logistics trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của Việt Nam, mà các tài liệu đó gọi là chiến tranh Việt Nam
- Logistics sự kiện ( Event Logistics): Một mạng gồm các hoạt động, phương tiện và con người cần thiết để tổ chức, lập kế hoạch và triển khai các nguồn lực trên cho một sự kiện diễn ra và kết thúc một cách hiệu quả
- Logistics dịch vụ ( Service Logistics): Cung cấp, lên kế hoạch và quản trị các phương tiện/vốn liếng, nhân lực và vật tư để hỗ trợ hoặc đảm bảo cho
một tác nghiệp dịch vụ hoặc kinh doanh (Langley et al., 2008)
c Theo quá trình khai thác logistics
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 21- Logistic đầu vào (Inbound Logistics): Là hoạt động đảm bảo cung ứng
tài nguyên đầu vào (nguyên liệu, thông tin, vốn,….) cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian, chi phí
- Logistics đầu ra (Outbound Logistics): Là các hoạt động đảm bảo cung cấp thành phần đến tay người tiêu dùng một cách tốt đẹp cả về vị trí, thời gian và chi phí nhằm đáp ứng các mục tiêu của doanh nghiệp
- Logistics ngược (Reverse Logistics): Là quá trình thu hồi các phụ phẩm, phế liệu, phế phẩm, các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng trở về để tái chế hoặc xử lý (Đoàn Thị Hồng Vân, 2010)
d Theo nội dung dịch vụ
Theo Donald J Bowersox et al.(2002) dịch vụ logistics được chia thành:
- Nhóm dịch vụ thiết kế và hoạch định chiến lược logistics cho các doanh
nghiệp (Designing/Planning): Cung cấp dịch vụ logistics tiến hành thiết kế kế hoạch cơ cấu lại dây chuyền cung ứng của khách hàng sao cho đạt kết quả tối ưu
và pháthuy tối đã các lợi thế trong cạnh tranh Ở đây, các công ty cung cấp dịch
vụ logistics sẽ dựa trên thực trạng tổ chức sản xuất của khách hàng để xây dựng một chuỗi cung ứng phù hợp, xây dựng qui trình sản xuất hợp lý, đảm bảo giảm tối đa thời gian, chi phí không cần thiết
- Nhóm dịch vụ logistics đầu vào (Inbound logistics) bao gồm:
+ Kitting: Quản lý công đoạn lựa chọn, đóng góp và chuyên chở các bộ phận linh kiện chưa lắp ráp tới dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp
+ Quality control/ Quality assurance: Tiến hành kiểm tra chất lượng tại kho và loại bỏ các sản phẩm không đạt tiêu chuẩn chuyên chở ngược lại cho nhà sản xuất thay thế các linh kiện không đảm bảo chất lượng
+ Sequencing: Sắp xếp các bộ phận, vật tư cho một dây chuyền sản xuất theo thứ tự cụ thể để tiện sản xuất và đóng gói
+ Milk runs: Tối ưu hóa dòng vận chuyển hàng hóa bằng cách gom hàng
và giao hàng cho nhiều khách hàng trong cùng một thời điểm Thiết kế một lộ trình phức hợp với nhiều điểm bốc xếp, kết hợp nhiều đơn hàng từ nhiều khách hàng tại cùng một thời điểm Mục đích là sử dụng tối đa năng lực chuyên chở của phương tiện và tiết kiệm chi phí vận tải
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 22+ VIM (Vendor Inventory Management): Tiến hành gom hàng từ nhiều nhà cung cấp nhỏ lẻ những mặt hàng hay vật tư cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh của khách hàng, lưu kho và phân phối tới cho khách hàng
- Nhóm dịch vụ hỗ trợ sản xuất (Manufacturing Support): bao gồm:
+ Sub – Assembly: Áp dụng đối với các ngành điện tử, ô tô, hàng tiêu dùng nhanh Công ty logistics sẽ đảm nhận luôn công việc lắp ráp các bộ phận cơ bản của sản phẩm từ các linh kiện đơn lẻ
+ Inventory Planning: Lên kế hoạch và kiểm soát quá trình lưu kho với các hệ thống quản lý kho hiện đại nhất đảm bảo tối ưu lượng dự trữ và giảm thiểu chi phí
+ Packing/Labeling: Đóng gói và dán nhãn hàng hóa
- Nhóm dịch vụ logistics đầu ra (Outbound Logistics/Warehousing and Distribution): Với hệ thống kho hiện đại và quy mô lớn, các công ty logistics có thể đảm nhiệm lưu kho thành phẩm và phân phối tới tay người tiêu dùng với chi phí thấp Ngoài ra theo yêu cầu của khách hàng, các công ty này còn cung cấp một số dịch vụ kho đặc biệt như: Contract warehousing (Kho thuê theo hợp đồng); Dedicated warehousing (Kho chuyên dụng); Multi-user warehousing (Kho công cộng); Bonded warehousing (Kho ngoại quan); Automated warehousing (Kho tự động); Cross-docking warehousing (kho đa năng)
- Nhóm dịch vụ GNVT và gom hàng liên quan đến toàn bộ dòng lưu chuyển của vật tư và hàng hóa bao gồm:
+ Ocean/Air freight (vận tải đường biển, đường hàng không): Vận chuyển hàng nguyên container (FCL), hàng lẻ (LCL), hàng không
+ Dedicated contract carriage (chuyên chở hàng hóa theo hợp đồng chuyên dụng)
+ Intermodal service (Vận tải đa phương thức)
+ Merge – in – Transit: Áp dụng cho các công ty nhập bộ phận hoàn chỉnh
từ nhiều nhà cung cấp, công ty logistics sẽ kết hợp đầu vào và đầu ra của dây chuyền cung ứng một cách ăn khớp và hiệu quả, tiến hành lắp ráp thành sản phẩm cuối cùng và giao trực tiếp cho khách hàng
Trang 23+ Repair Logistics: Tiếp nhận và sửa chữa thành phẩm hoặc bộ phận
+ Revers Logistics: Thiết kế và quản lý dòng vật liệu hoặc thiết bị không
sử dụng ngược trở lại dây chuyền cung ứng
+ Call Center: Tiếp nhận đơn hàng và đăng ký giao hàng giúp khách hàng
- Dịch vụ logistics hàng đầu (Lead Logistics Provider): Thay mặt khách hàng quản lý toàn bộ chuỗi cung ứng hoặc khi cần thiết thuê lại dịch vụ của một
số công ty logistics khác, khách hàng chỉ phải giao dịch với một nhà cung cấp dịch vụ duy nhất (Robert J Bowman, 2001)
2.1.1.4 Nhà cung cấp dịch vụ logistics
* Khái niệm nhà cung cấp logistics (LSP)
Kinh doanh dịch vụ logistics là việc một tổ chức hay một cá nhân sẽ đóng vai trò trung tâm, đứng ra phối hợp các công đoạn cung cấp nguyên liệu - sản xuất – phân phối dựa trên các dữ liệu về nhu cầu hàng hóa, dịch vụ, quy cách phẩm chất, năng lực sản xuất, lịch trình chuyên chở và nguồn cung cấp theo yêu cầu của người ủy thác
Theo Điều 3, Mục 2, Nghị định số 140/2007/NĐ-CP (Chính phủ, 2007) định nghĩa: “Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là thương nhân tổ chức thực hiện dịch vụ logistics cho khách hàng bằng cách tự mình thực hiện hoặc thuê lại thương nhân khác thực hiện một hoặc nhiều công đoạn của dịch vụ đó”
Và tại Nghị định 140/2007/NĐ-CP tại Điều 5, Điều 6, Điều 7 còn qui định rất rõ ràng về điều kiện kinh doanh đối với thương nhân kinh doanh các dịch vụ logistics chủ yếu; dịch vụ logistics liên quan đến vận tải; dịch vụ logistics liên quan khác
* Phân loại nhà cung cấp dịch vụ logistics (LSP)
- Nhà cung cấp dịch vụ bên thứ hai (2PL - Second Party Logistics): Đây là một chuỗi những người cung cấp dịch vụ cho hoạt động đơn lẻ cho chuỗi hoạt động logistics nhằm đáp ứng nhu cầu của chủ hàng nhưng chưa tích hợp với hoạt động logistics (chỉ đảm nhận một khâu trong chuỗi logistics) 2PL là việc quản lý các hoạt động truyền thống như vận tải, kho vận, thủ tục hải quan, thanh toán,…
-Nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba (3PL - Third Party Logistics):
Là người thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận như: thay mặt cho người gửi hàng thực hiện thủ tục XNK, cung cấp chứng từ giao nhận - vận tải và vận chuyển nội địa hoặc thay mặt cho người
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 24XNK làm thủ tục thông quan hàng hóa và đưa hàng đến điểm đến quy định,… Dịch vụ 3PL bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hoá, xử lý thông tin,… có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng Nhà cungcấp 3PL là các hoạt động do một công ty cung cấp dịch vụ logistics thực hiện trên danh nghĩa của khách hàng dựa trên các hợp đồng có hiệu lực tối thiểu là một năm hoặc các yêu cầu bất thường Sử dụng 3PL là việc thuê các công ty bên ngoài để thực hiện các hoạt động logistics, có thể là toàn bộ quá trình quản lý logistics hoặc chỉ là một số hoạt động có chọn lọc Các công ty sử dụng 3PL và nhà cung cấp dịch vụ logistics có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm thực chia sẻ thông tin, rủi ro, và các lợi ích theo một hợp đồng dài hạn
-Nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ tư (4PL – Fourth Party Logistics): Đây là người hợp nhất, gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics Dịch vụ 4PL là việc quản lý và thực hiện các hoạt động logistics phức tạp như quản lý nguồn lực, trung tâm điều phối kiểm soát, các chức năng kiến trúc và tích hợp các hoạt động logistics 4PL có liên quan với 3PL và được phát triển trên nền tảng của 3PL nhưng bao gồm lĩnh vực hoạt động rộng hơn, gồm cả các hoạt động của 3PL, các dịch vụ công nghệ thông tin, và quản lý các tiến trình kinh doanh 4PL được coi như một điểm liên lạc duy nhất,
là nơi thực hiện việc quản lý, tổng hợp tất cả các nguồn lực và giám sát các chức năng 3PL trong suốt chuỗi phân phối nhằm vươn tới thị trường toàn cầu, lợi thế chiến lược và các mối quan hệ lâu bền
-Nhà cung cấp dịch vụ logistics thứ năm (5PL – Fifth Party Logistics): 5PL
là loại dịch vụ thị trường thương mại điện tử, bao gồm các 3PL và 4PL quản lý tất
cả các bên liên quan trong chuỗi phân phối trên nền tảng thương mại điện tử Chìa khoá thành công của các nhà cung cấp dịch vụ logistics thứ năm là các hệ thống (Hệ thống quản lý đơn hàng (OMS), Hệ thống quản lý kho hàng (WMS) và Hệ thống quản lý vận tải (TMS) Cả ba hệ thống này có liên quan chặt chẽ với nhau trong một hệ thống thống nhất và công nghệ thông tin (James R Stock, 1998)
2.1.2 Quản trị chi phí dịch vụ logistics
2.1.2.1 Khái niệm chi phí dịch vụ logistics
Chi phí dịch vụ logistics là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 25hay phát sinh các khoản nợ từ đó làm giảm vốn chủ sở hữu không bao gồm các khoản phân phối cho cổ đông hay chủ sở hữu (theo chuẩn mực kế toán Việt Nam)
Để phục vụ cho việc ra quyết định hiệu quả thì chi phí còn được nhận thức theo nhiều góc độ khác nhau Từ góc nhìn của người làm nghiệp vụ kế toán đến góc nhìn của nhà quản trị thì chi phí:
+ Là những phí tổn thực tế phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh được tổng hợp theo từng bộ phận
+ Là các phí tổn ước tính hoặc dự kiến trước để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh
+ Là những phí tổn mất đi do lựa chọn phương án này thay cho phương
án khác
Chính vì vậy để cung cấp thông tin cho việc ra quyết định về giá cả thì chủ doanh nghiệp phải quản lý được chi phí có hiệu quả Quản lý chi phí là việc tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng việc sử dụng các nguồn vốn và chi phí, từ đó đưa ra những quyết định về chi phí ngắn hạn cũng như dài hạn của doanh nghiệp
Khái niệm chi phí logistics trong ngắn hạn là chi phí logistics bao gồm toàn bộ các chi phí phát sinh từ hoạt động logistics, trong dài hạn, chi phí logistics bao gồm cả những chi phí liên quan tới việc tính toán xác định vị trí nhà máy, kho hàng, và các nội dung khác
2.1.2.2 Đặc điểm và phân loại chi phí dịch vụ logistics
Đặc điểm của chi phí dịch vụ logistics
Theo nghiên cứu các ngành kinh doanh khác nhau có mức chi phí logistics khác nhau vì vậy nhiệm vụ quan trọng của quản trị logistics là giảm chi phí trong khi vẫn đảm bảo chất lượng dịch vụ Trong nhiều ngành, chi phí logisics có thể vượt quá 25% chi phí sản xuất Do đó nếu quản trị logisics tốt có thể tiết kiệm được một khoản chi phí đáng kể, góp phần tăng lợi nhuận của công ty Bên cạnh đó, quản trị logisics tốt còn góp phần tăng tốc độ chu chuyển và rút ngắn thời gian thu hồi vốn Muốn quản trị tốt thì cần biết rõ đặc điểm của chi phí phát sinh, cụ thể:
Các ngành kinh doanh khác nhau thì chi phí logistics cũng khác nhau
Thường có tính đơn chiếc, chi phí phát sinh tập hợp theo đơn hàng
Không có sản phẩm tồn kho
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 26 Phân loại chi phí dịch vụ logistics
Giữa các loại chi phí logistics có mối quan hệ tương hỗ, tác động qua lại
và ảnh hưởng lẫn nhau, chi phí này ràng buộc hữu cơ với chi phí kia thể hiện qua hình 2.1 Chi phí logisics được hình thành từ chi phí của các hoạt động cấu thành, bao gồm 6 loại chi phí chủ yếu:
-Chi phí dịch vụ khách hàng: Chi phí dịch vụ khách hàng bao gồm các chi phí để hoàn tất những yêu cầu của đơn đặt hàng (chi phí phân loại, kiểm tra, bao
bì đóng gói, dán nhãn…); chi phí để cung cấp dịch vụ, hàng hóa; chi phí để giải quyết tình huống hàng bị trả lại… chi phí dịch vụ khách hàng liên quan mật thiết với các khoản chi phí vận tải, chi phí dự trữ và chi phí cho công nghệ thông tin -Chi phí xử lí đơn hàng và hệ thống thông tin: Để hỗ trợ dịch vụ khách hàng và kiểm soát chi phí một cách hiệu quả cần bỏ ra một khoản chi phí không nhỏ để trao đổi thông tin với khách hàng và các bộ phận có liên quan nhằm giải quyết đơn đặt hàng, thiết lập các kênh phân phối, dự báo nhu cầu thị trường Chi phí này cũng liên quan đến chi phí quản lý kho, dự trữ, sản xuất…
-Chi phí vận tải: Chi phí vận tải là một trong những khoản lớn nhất trong chi phí logisics Chi phí vận tải chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: loại hàng hoá, quy mô lô hàng, tuyến đường vận tải… Chi phí vận tải của một đơn vị hàng hoá (cước phí) tỷ lệ nghịch với khối lượng vận tải và với quãng đường vận chuyển
Hình 2.1 Mối quan hệ giữa các loại chi phí logistics
Chi phí dịch vụ khách hàng
Chi phí xử lý đơn đặt hàng và thông tin
Chi phí kho bãi
Trang 27-Chi phí kho bãi: Chi phí quản lý kho nhằm đảm bảo cho các nghiệp vụ kho được diễn ra suôn sẻ, trong một số trường hợp bao gồm cả chi phí thiết kế mạng lưới kho chi phí khảo sát, chọn địa điểm và xây dựng kho hàng Tuy nhiên
số lượng kho hàng có ảnh hưởng đến dịch vụ khách hàng và doanh thu của công
ty nên cần phân tích, tính toán kỹ lưỡng để cân bằng giữa chi phí quản lý kho, chi phí dự trữ, chi phí vận tải với khoản doanh thu có thể bị tăng hoặc giảm tương ứng khi quyết định số lượng kho cần có trong hệ thống logisics
-Chi phí thu mua (để có lô hàng đủ theo yêu cầu) Khoản chi phí này dùng cho thu gom, chuẩn bị hàng cung cấp cho khách Bao gồm nhiều khoản chi phí nhỏ: xây dựng cơ sở gom hàng; tìm nhà cung cấp ; Mua và tiếp nhận nguyên vật liệu… -Chi phí dự trữ: Hoạt động logisics tạo ra chi phí dự trữ Chi phí này tăng giảm tuỳ theo số lượng hàng hoá dự trữ nhiều hay ít Có 4 loại chi phí dự trữ:
(1) Chi phí vốn hay chi phí cơ hội, khoản chi phí này công ty có thể thu hồi lại được
(2) Chi phí dịch vụ dự trữ, gồm cả bảo hiểm và thuế đánh trên lượng dự trữ (3) Chi phí mặt bằng kho bãi, chi phí này thay đổi theo mức độ dự trữ
(4) Chi phí để phòng ngừa rủi ro, khi hàng hoá bị lỗi thời, mất cắp hư hỏng…
2.1.2.3 Bản chất và vai trò của quản trị chi phí dịch vụ logistics
Bản chất của quản trị chi phí logistics
Để nắm rõ được bản chất của quản trị chi phí trước tiên phải hiểu được bản chất kinh tế của chi phí Chi phí có thể được hiểu theo nhiều phương diện khác nhau nhưng bản chất của chi phí là những phí tổn tài nguyên, vật chất, lao động và phát sinh gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh Chi phí có thể là những phí tổn phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc những phí tổn ước tính để thực hiện một hoạt động sản xuất kinh doanh
Quản trị chi phí luôn đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của một doanh nghiệp Từ thông tin thực tế phát sinh trong nội bộ ở kỳ kế toán trong đó
có những chi phí thì việc quản trị các chi phí này là mấu chốt để nhà quản trị đưa
ra quyết định như: tính giá sản phẩm, hạch toán vào sổ sách, sử dụng nguồn lực tiết kiệm…từ đó đánh giá hiệu quả làm việc của nhân lực, vật lực và tính toán lợi nhuận mục tiêu Phụ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp cũng như quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp khác nhau mà phát sinh các chi
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 28phí khác nhau trong kỳ hoạt động Đặc biệt trong doanh nghiệp dịch vụ thì những phát sinh chi phí có liên quan đến việc tính giá thành sản phẩm dịch vụ chủ yếu: chi phí nhân công, chi phí vật liệu,…Quản trị chi phí là quản trị số liệu phản ánh chi phí, nguồn phát sinh và dựa vào các yếu tố chi phí này để phân tích toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến việc tạo thành sản phẩm hoặc toàn bộ chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh Dựa trên nhiều góc độ, tiêu chí đánh giá khác nhau mà cho ra những quyết định về chi phí ngắn hạn hay dài hạn từ đó tính giá thành của sản phẩm dịch vụ hoặc sản phẩm sản xuất trong doanh nghiệp
Vai trò của quản trị chi phí logistics trong doanh nghiệp
Do sự phát triển của xã hội, nhu cầu con người ngày càng tăng dẫn đến cần phải tổ chức sản xuất ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu này Tuy nhiên, nguồn lực để phục vụ mục đích của doanh nghiệp thì ngày càng khan hiếm Chính vì vậy, quản trị chi phí đóng vai trò như một công cụ để tạo ra của cải vật chất và phân phối chúng cho các đối tượng trong xã hội có hiệu quả và hợp lý Trong hệ thống các thông tin kinh tế, thông tin về chi phí có ý nghĩa hết sức quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến tính chính xác, trung thực của các báo cáo tài chính Thông tin chi phí trong kế toán tài chính gắn liền với quá trình sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm dịch vụ nhất định Các thông tin
về chi phí phản ánh sự chuyển hóa tài sản, vốn kinh doanh biến động trong quá trình hoạt động và được thể hiện trên những chứng từ hóa đơn Là những chứng cứ thực tế mang tính pháp lý phản ánh những phí tổn thực tế đã bỏ ra trong quá trình sản xuất sản phẩm hay trong quá trình thực hiện để hình thành dịch vụ của doanh nghiệp
Doanh nghiệp là cầu nối giữa sản phẩm và người tiêu dùng vậy nên doanh nghiệp sản xuất hay doanh nghiệp dịch vụ đều cần phải tổ chức lao động, sử dụng các NVL và các chi phí cần thiết khác để phục vụ quá trình hình thành sản phẩm nói chung Quản trị chi phí chặt chẽ sẽ giúp cung cấp thông tin về các
số liệu trên giấy tờ và thực tế một cách đầy đủ và khoa học nhất
Quản trị chi phí giúp nhà quản trị đưa ra quyết định chính xác hơn, đóng vai trò rất quan trọng trong sự thành công của doanh nghiệp Nhà quản trị sẽ xây dựng các kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm tra đánh giá và ra quyết định cùng với những thông tin từ hoạch toán kế toán để thực hiện chức năng của mình như việc định giá sản phẩm, dịch vụ từ những chi phí phát sinh Mục đích của việc
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 29quản trị chi phí là đảm bảo nguồn vốn được huy động từ các nguồn thích hợp với chi phí hợp lý vào đúng đối tượng tập hợp chi phí, qua đó phân tích và phân bổ chi phí hợp lý để phục vụ cho mục đích định giá được chính xác hơn từ đó quyết định đến sức cạnh tranh trên thị trường, gián tiếp tác động đến mức độ tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp và kéo theo lợi nhuận doanh nghiệp thu được trong
kỳ hoạt động Quản trị chi phí là công cụ đắc lực cho việc định giá sản phẩm, dịch vụ giúp ban giám đốc đánh giá được hiệu quả làm việc của doanh nghiệp đồng thời ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp trên thị trường kinh doanh Quản trị chi phí đóng một vai trò quan trọng và không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp, là mấu chốt trong việc đưa ra quyết định, đánh giá hiệu quả làm việc, giữ vai trò cố vấn cho doanh nghiệp và giúp doanh nghiệp sử dụng một cách tối ưu nhất các nguồn tài nguyên
Nhiệm vụ của bộ phận quản trị chi phí nói chung có mối quan hệ chặt chẽ với bộ phận kế toán tác động qua lại với ban lãnh đạo cấp cao của công ty và quyết định mạnh mẽ tới quá trình định giá sản phẩm sản xuất cũng như dịch vụ ở bất kỳ một loại hình doanh nghiệp nào, đặc biệt là dịch vụ tài chính kế toán
2.1.2.4 Nội dung quản trị chi phí dịch vụ logistics
Quản trị chi phí là một trong những phạm trù nhỏ của quản lý nói chung,
vì vậy quản trị chi phí cũng không nằm ngoài quy trình quản lý chung Nếu hiểu một cách đơn thuần, quản trị chi phí là việc nắm được đầy đủ các thông tin về chi phí, hiểu được “hành vi” hay bản chất, cũng như sự biến động của chi phí Từ những thông tin về chi phí, người quản trị sẽ phải tìm ra nguyên nhân phát sinh chi phí (ở sản phẩm, hay ở cơ cấu tổ chức hay bộ phận quản lý) Trên cơ sở đó người quản trị sẽ đưa ra các quyết định ngắn hạn và dài hạn trong kinh doanh Các quyết định này lại làm phát sinh các khoản chi phí là một quá trình liên tục,
có hệ thống đòi hỏi các biện pháp phù hợp tính chất của chi phí, chiến lược, kế hoạch kinh doanh của đơn vị
Quản trị chi phí cũng gồm ba bước cơ bản: xây dựng định mức và lập kế hoạch chi phí, thực hiện kế hoạch, kiểm soát và đánh giá
Lập kế hoạch chi phí là việc ước tính bao nhiêu nguồn lực cần sử dụng để hoàn thành một sản phẩm, dịch vụ hay một dự án của doanh nghiệp Dựa trên những số liệu từ những kỳ kinh doanh trước, nguồn lực hiện có của doanh nghiệp
và các thông tin liên quan khác, các yêu cầu về nguồn lực sẽ được thiết lập Từ
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 30những yêu cầu về nguồn lực đó, doanh nghiệp sẽ ước tính chi phí cần thiết cụ thể cho mỗi hoạt động
Trên cơ sở lập kế hoạch chi phí, doanh nghiệp triển khai thực hiện theo kế hoạch đã đề ra Và bước cuối cùng của quy trình quản lý chi phí là kiểm soát chi phí Kiểm soát chi phí được thực hiện trong suốt quá trình thực hiện kế hoạch chi phí để bảo đảm duy trì chi phí trong giới hạn đã đề ra hoặc có những điều chỉnh
để kế hoạch hợp lý hơn, mà vẫn duy trì được hiệu quả Để kiểm soát chi phí thật tốt, thông tin về chi phí phải được cập nhật đầy đủ, kịp thời và chính xác Thông tin chi phí chính là nguồn nguyên liệu đầu vào rất quan trọng cho quá trình ra quyết định của doanh nghiệp ở trong nhiều ngành như là các quyết định về định giá bán sản phẩm, quyết định tự sản xuất hay mua ngoài, quyết định mở rộng hay thu hẹp sản xuất, quyết định đầu tư cho một dự án mới, đều liên quan đến chi phí Chính vì vậy tổ chức tập hợp phân tích chi phí chính xác, kịp thời sẽ đem lại hiệu quả cao cho công tác quản lý chi phí
Về bản chất, Logistics là một chuỗi kết hợp nhiều hoạt động kinh tế nhằm tối ưu hoá vị trí và quá trình lưu chuyển, dự trữ hàng hoá từ điểm đầu cho đến điểm cuối – người sử dụng, nên nếu giảm chi phí tuỳ tiện ở từng hoạt động riêng
lẻ, chưa chắc đã đạt được kết quả mong muốn Giữa các hoạt động logistics có liên quan mật thiết với nhau, dẫn đến giảm chi phí ở khâu này có thể làm tăng chi phí ở khâu khác và cuối cùng tổng chi phí không giảm mà còn có thể tăng, đi ngược lại mục đích của quản trị logistics Do vậy, chìa khoá để đạt được yêu cầu giảm chi phí trong quản trị chi phí logisics là phân tích tổng chi phí hay ta có thể hiểu quản trị chi phí dịch vụ logistics chính là việc thu thập, phân tích, đánh giá tổng chi phí để ngoài việc kiểm soát chi phí chặt chẽ thì nó cũng đem lại thông tin cho nhà quản trị đưa ra các quyết định kinh doanh cũng như sản xuất cho doanh nghiệp Điều này có nghĩa là nhà quản trị logisics phải tìm cách giảm tổng chi phí xuống mức thấp nhất trong điều kiện cho phép trong khi có thể lựa chọn rất nhiều các mức dịch vụ khách hàng với các cấu trúc dịch vụ khác nhau Để làm được điều này trước cần nắm vững các kỹ năng phân tích cân đối chi phí
giữa các hoạt động logisics
Xuất phát từ góc độ này, các nhà quản trị logistics hình thành nên quan điểm quản trị logistics tích hợp (intergreted logistics management) Quan điểm tiếp cận hệ thống hay quản trị logistics tích hợp là một nguyên lý cơ bản trong quản trị logistics hiện đại Quan điểm này cho rằng, tất cả các chức năng và các
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 31hoạt động cần được nhận thức dưới cùng những điều kiện ảnh hưởng và bị ảnh hưởng, các thành phần và các hoạt động của nó luôn tương tác lẫn nhau Hiểu theo cách này thì bản thân logistics là một hệ thống, một mạng lưới các hoạt động được liên hệ với mục tiêu quản trị các dòng hàng hóa liên tục vào các tổ chức trong chuỗi logistics Tiếp cận hệ thống là sự biến hóa sức mạnh đơn giản nhất để nhận thức các mối quan hệ tương hỗ giữa các thành phần trong một hệ thống Nếu nhìn các hoạt động một cách cô lập, chúng ta sẽ không nhận thức được toàn cảnh, đâu là yếu tố tác động và bị tác động bởi những hành động khác Theo cách tiếp cận này thì tổng số hay kết quả đầu ra của một chuỗi liên kết các
hoạt động thì lớn hơn các thành phần riêng rẽ của nó
Quan điểm quản trị logistics tích hợp đề cập đến việc quản lý nhiều hoạt động như một hệ thống hợp nhất được áp dụng trong nhiều công ty kinh doanh hiện đại như 3M, Quacker Oats, Herman Miller, họ đã nhận ra rằng tổng chi phí logistics có thể giảm bằng cách phối hợp một loạt các hoạt động logistics có liên quan như dịch vụ khách hàng, vận chuyển, nhà kho, dự trữ, quá trình đặt hàng,
hệ thống thông tin kế hoạch sản xuất và mua sắm Nếu không có sự phối hợp có thể dẫn đến sự thiếu hiệu quả, như làm tăng dự trữ tại các giao diện kinh doanh chủ yếu như: nhà cung ứng - hoạt động mua hàng, mua hàng – sản xuất, sản xuất-marketing, marketing – phân phối, phân phối - trung gian, trung gian -
khách hàng
Thực tế các hoạt động logistics tại các công ty này cho thấy, trong quản trị các dòng dự trữ, việc hợp nhất vận tải và nhà kho rất hữu dụng và thường tạo ra hiệu quả gấp hai lần Thí dụ thay cho việc phòng mua hàng thỏa thuận với các nhà vận chuyển sản phẩm đầu ra và các nhà vận chuyển nguyên liệu đầu vào thì chỉ cần thương lượng với một nhà vận chuyển về việc chuyên chở cả hai Kết quả
là toàn bộ gía hàng hóa vận chuyển sẽ giảm xuống vì số lượng chuyên chở tăng lên Điều này còn cho phép các kế họach chuyên chở của công ty và nhà vận chuyển có hiệu quả và hiệu lực cao hơn Quan điểm này chi phối các phương
pháp và cách thức để tối ưu hóa tổng chi phí logistics
Tuy nhiên việc giảm chi phí theo quan điểm nêu trên lại không đơn giản là giảm cục bộ các chi phí cấu thành để đạt được mục tiêu mong muốn mà cần xem xét tất cả các chi phí này trong mối tương quan đánh đổi (Trade-off), hay sự thay thế lẫn nhau để tìm ra phương án có chi phí thỏa đáng Chính vì vậy các nhà quản trị logistics coi sự hợp nhất các hoạt động logistics tập trung chủ yếu vào kỹ thuật
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 32phân tích và tính toán chi phí thay thế giữa các hoạt động hợp thành để chọn ra các phương án phối hợp tối ưu
* Lập kế hoạch chi phí
Lập kế hoạch chi phí là công việc ước tính bao nhiêu nguồn lực cần sử dụng để hoàn thành sản phẩm, dịch vụ hay một dự án của doanh nghiệp Dựa trên những số liệu từ những kỳ kinh doanh trước, nguồn lực hiện có của doanh nghiệp
và các thông tin liên quan khác, các yêu cầu về nguồn lực sẽ được thiết lập Từ những yêu cầu về nguồn lực đó, doanh nghiệp sẽ ước tính chi phí cần thiết cụ thể cho mỗi hoạt động
* Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Phản ánh tất cả chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cần thiết để đáp ứng yêu cầu sản xuất đã được thể hiện trên dự toán sản xuất Để lập dự toán nguyên vật liệu trực tiếp cần xác định
Định mức tiêu hao nguyên vật liệu để sản xuất một sản phẩm Đơn giá xuất nguyên vật liệu Thông thường đơn giá xuất ít thay đổi Tuy nhiên để có thể phù hợp với thực tế và làm cơ sở cho việc kiểm tra, kiểm soát khi dự toán đơn giá này cần phải biết doanh nghiệp sử dụng phương pháp tính giá hàng tồn kho nào: phương pháp LIFO, FIFO, giá đích danh hay đơn giá bình quân
Mức độ dự trữ nguyên vật liệu trực tiếp vào cuối kỳ dự toán được tính toán trên cơ sở lý thuyết quản trị tồn kho
Như vậy:
Dự toán lượng nguyên vật liệu sử dụng =
Định mức tiêu hao nguyên vật liệu *
Số lượng sản phẩm sản xuất theo dự toán
Và dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp xuất dùng cho sản xuất sẽ là:
Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp =
Dự toán lượng nguyên vật liệu sử dụng *
Đơn giá xuất nguyên vật liệu
*Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Mục tiêu cơ bản của dự toán này là duy trì lực lượng lao động vừa đủ để đáp ứng yêu cầu sản xuất, tránh tình trạng lãng phí hoặc bị động trong sử dụng
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 33lao động Dự toán lao động còn là cơ sở để doanh nghiệp lập dự toán về đào tạo, tuyển dụng trong qúa trình hoạt động sản xuất Để lập dự toán chi phí này, doanh nghiệp phải tính toán dựa vào số lượng nhân công, quỹ lương, cách phân phối lương và nhiệm vụ của doanh nghiệp
Dự toán chi phí
NX trực tiếp =
Dự toán lượng sản phẩm sản xuất *
Định mức tiêu thời gian *
Định mức đơn giá tiền công
* Dự toán chi phí sản xuất chung: bao gồm dự toán biến phí sản xuất
chung và dự toán định phí sản xuất chung
Dự toán chi phí sản xuất chung =
Dự toán định phí sản xuất chung +
Dự toán biến phí sản xuất chung
Biến phí sản xuất chung có thể được xây dựng theo từng yếu tố chi phí cho một đơn vị hoạt động (chi phí vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp, ) Tuy nhiên thường cách làm này khá phức tạp, tốn nhiều thời gian Do vậy khi
dự toán chi phí này, thường xác lập biến phí sản xuất chung theo sản lượng sản xuất cho từng đơn vị hoạt động
Dự toán biến phí cũng có thể được lập theo tỷ lệ trên biến phí trực tiếp, khi đó biến phí sản xuất chung dự toán sẽ xác định:
Dự toán biến phí sản xuất chung =
Dự toán biến phí trực tiếp *
Tỷ lệ biến phí theo
dự kiến
Dự toán định phí sản xuất chung cần thiết phải phân biệt định phí bắt buộc
và định phí tùy ý Đối với định phí bắt buộc, trên cơ sở định phí chungcả năm chia đều cho 4 quý nếu là dự toán quý, hoặc chia đều cho 12 tháng nếu là dự toán tháng Còn đối với định phí tùy ý thì phải căn cứ vào kế hoạch của nhà quản trị trong kỳ dự toán Dự toán định phí hằng năm có thể được lập dựa vào mức độ tăng giảm liên quan đến việc trang bị, đầu tư mới ở doanh nghiệp
Dự toán định phí sản xuất chung
=
Định phí sản xuất chung thực tế kỳ trước
*
Tỷ lệ % tăng (giảm) định phí sản xuấtchung theo dự kiến
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 34* Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp
Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp thường phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp Chi phí này liên quan đến toàn bộ doanh nghiệp, mà không liên quan đến từng bộ phận, đơn vị hoạt động nào Tương tự như dự toán chi phí bán hàng, việc lập dự toán biến phí quản lý doanh nghiệp thường dựa vào biến phí quản lý đơn vị nhân với sản lượng tiêu thụ dự kiến
Dự toán biến phí
Dự toán biến phí đơn vị QLDN *
Sản lượng tiêu thụ theo
dự toán
Dự toán biến phí QLDN cũng có thể sử dụng phương pháp thống kê kinh nghiệm, trên cơ sở tỷ lệ biến phí QLDN trên biến phí trực tiếp trong và ngoài khâu sản xuất ở các kỳ kế toán trước để xác định tỷ lệ biến phí bình quân giữa các kỳ Công thức để xác định biến phí này như sau:
Dự toán biến phí
Dự toán biến phí trực tiếp *
Tỷ lệ biến phí QLDN
Số liệu từ dự toán này còn là cơ sở để lập dự toán tiền mặt và báo cáo kết quả kinh doanh dự toán của doanh nghiệp
Còn định phí quản lý doanh nghiệp thường không thay đổi theo mức độ hoạt động Các thay đổi của loại chi phí này chủ yếu do việc trang bị đầu tư thêm cho bộ phận quản lý của doanh nghiệp Lập dự toán bộ phận này cần căn cứ vào
dự báo các nội dung cụ thể của từng yếu tố chi phí để xác định chính xác định phí theo dự toán
2.1.2.5 Tổ chức thực hiện
Trên cơ sở lập kế hoạch chi phí đã được lập cho công việc bao gồm định mức lương và định mức đơn giá từng loại, doanh nghiệp triển khai thực hiện chi phí theo kế hoạch đề ra Trong quá trình thực hiện kế hoạch cần phải kiểm soát chi phí để đảm bảo duy trì chi phí trong giới hạn đã đề ra hoặc có những có điều chỉnh để kế hoạch hợp lý hơn, mà vẫn duy trì được hiệu quả Để kiểm soát chi phí thật tốt, thông tin về chi phí phải được cập nhật đầy đủ, kịp thời, chính xác
2.1.2.6 Phân tích tình hình thực hiện chi phí dịch vụ logistics
Và bước cuối cùng của quy trình quản lý chi phí là phân tích, đánh giá tình hình thực hiện các loại chi phí nguyên liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp, chi
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 35phí sản xuất chung Thông tin chi phí chính là nguồn nguyên liệu đầu vào rất quan trọng cho quá trình ra quyết định của doanh nghiệp ở trong nhiều ngành như là các quyết định về giá bán sản phẩm, quyết định tự sản xuất hay mua ngoài, quyết định mở rộng hay thu hẹp sản xuất, quyết định đầu tư cho một dự án mới, … đều liên quan đến chi phí Chính vì vậy tổ chức tập hợp phân tích chi phí chính xác, kịp thời sẽ đem lại hiệu quả cao cho công tác quản lý chi phí
Việc phân tích biến động chi phí là yếu tố cần thiết với doanh nghiệp Qua phân tích có thể xác định được khả năng tiềm tàng, các nguyên nhân về chủ quan
và khách quan tác động đến tăng giảm chi phí thực tế so với dự toán, do đó kịp thời khắc phục những yếu điểm, góp phần tiết kiệm chi phí đồng thời giúp kiểm soát chi phí chặt chẽ hơn
a Phân tích chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Là chênh lệch giữa chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thực tế phát sinh với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp dự toán với khối lượng sản xuất thực tế, được phân tích qua biến động mức tiêu hao nguyên vật liệu và biến động giá
b Phân tích chi phí nhân công trực tiếp
Là chênh lệch giữa chi phí nhân công trực tiếp thực tế phát sinh với chi phí nhân công dự toán cho khối lượng sản xuất thực tế, được phân tích qua biến động giá nhân công và biến động thời gian lao động
c Phân tích chi phí sản xuất chung
Biến phí sản xuất chung gồm những chi phí gián tiếp liên quan đến phụcvụ và quản lý hoạt động sản xuất Chi phí này thường thay đổi theo sự biến thiên của mức độ hoạt động sản xuất của doanh nghiệp như: chi phí vật tư gián tiếp, tiền lương bộ phận quản lý trả theo sản phẩm gián tiếp, chi phí năng lượng thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất
Biến động của biến phí sản xuất chung do nhiều nguyên nhân, nhưng về phương pháp phân tích trong kiểm tra, nó cũng được phân tích thành ảnh hưởng của nhân tố giá và nhân tố lượng như đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp
Định phí sản xuất chung là các khoản chi phí phục vụ và quản lý sản xuất, thường không thay đổi theo sự biến thiên của mức độ hoạt động trong phạm vi phù hợp Chẳng hạn: tiền lương bộ phận quản lý phân xưởng trả theo thời gian, chi phí
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 36bảo hiểm, tiền thuê mặt bằng, khấu hao tài sản cố định vv là những chi phí không thay đổi theo qui mô sản xuất trong phạm vi hoạt động Biến động định phí sản xuất chung thường liên quan đến việc thay đổi cấu trúc sản xuất của doanh nghiệp hoặc
do hiệu quả sử dụng năng lực sản xuất của doanh nghiệp
Việc sử dụng kém hiệu quả năng lực sản xuất xảy ra khi công ty sản xuất thấp hơn dự toán đặt ra hoặc thấp hơn năng lực bình thường dẫn đến biến động không tốt Ngược lại, việc sử dụng hiệu quả năng lực sản xuất khi công ty sản xuất vượt trội mức sản xuất dự toán (các điều kiện khác không đổi)
2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị chi phí dịch vụ logistics
2.1.3.1 Nhân tố khách quan
- Yếu tố chính trị và luật pháp:
Các yếu tố thuộc môi trường chính trị và luật pháp tác động mạnh đến việc hình thành và khai thác cơ hội kinh doanh và thực iện mục tieue của doanh nghiệp ổn định chính trị là tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh, thay đổi về chính trị có thể gây ảnh hưởng có lợi cho nhóm doanh nghiệp này hoặc kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp khác Hệ thống pháp luật hoàn thiện và
sự nghiêm minh trong thực thi pháp luật sẽ tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp, tránh tình trạng gian lận,buôn lậu
Mức độ ổn định về chính trị và luật pháp của một quốc gia cho phép doanhnghiệp có thể đánh giá được mức độ rủi ro, của môi trường kinh doanh và ảnh hưởng của của nó đến doanh nghiệp như thế nào, vì vậy nghiên cứu các yếu
tố chính trị và luật pháp là yeu cầu không thể thiếu được khi doanh nghiệp tham gia vào thị trường
-Yếu tố kinh tế : Có thể tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc xâm nhập mở
rộng thị trường, nghhành hàng này nhưng lại hạn chế sự phát triển cuả nghành hàng khác Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến sức mua, sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng hay xu hướng phát triển của các ngành hàng , cac syếu tố kinh tế bao gồm : + Hoạt động ngoại thương : Xu hướng đóng mở của nền kinh tế cóảnh hưởng các cơ hội phát triển của doanh nghiệp ,các điều kiện canh tranh ,khả năng
sử dụng ưu thê quốc gia về công nghệ, nguồn vốn + Lạm phát và khả năng điều khiển lạm phát ảnh hưởng đến thu nhập, tích luỹ , tiêu dùng, kích thích hoặc kìm hãm đầu tư
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 37+Sự thay đổi về cơ cấu kinh tế ảnh hưởng dến vị trí vai trò và xu hướng phát triển của các ngành kinh tế kéo theo sự thay đổi chiều hướng phát triển của doanh nghiệp
+ Tôc độ tăng trưởng kinh tế : Thể hiện xu hướng phát triển chung của nền kinh tế liên quan đến khả năng mở rộng hay thu hẹp quy mô kinh doanh của mỗi doanh nghiệp
-Các yếu tố văn hoá xã hội : Có ảnh hưởng lớn tới khách hàng cũng như
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ,là yếu tố hình thành tâm lí, thị hiếu của người tiêu dùng Thông qua yếu tố này cho phép các doanh nghiệp hiểu biết ở mức độ khác nhau về đối tượng phục vụ qua đó lưạ chọn các phương thức kinh doanh cho phù hợp
Thu nhập có ảnh hưởng đến sự lựa chọn loại sản phẩm và chất lượng đáp ứng, nghề nghiệp tầng lớp xã hội tác động đến quan điểm và cách thức ứng xử trên thị trường , các yếu tố về dân tộc ,nền văn hoá phản ánh quan điểm và cách thức sử dụng sản phẩm , điều đó vừa yêu cầu đáp ứng tình riêng biệt vừa tạo cơ hội đa dạng hoá khả năng đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp
-Yếu tố kỹ thuật công nghệ : ảnh hưởng đến yêu cầu đổi mới công nghệ
trong thiết bị khả năng sản xuất sản phẩm với chất lượng khác nhau, Năng suất lao động và khả năng cạnh tranh, lựa chọn và cung cấp công nghệ
-Điều kiện tự nhiên và cơ sở ha tầng : Các yếu tố điều kiện tự nhieen như
khí hậu ,thời tiết ảnh hưởng đến chu kỳ sản xuất kinh doanh trong khu vực , hoặc ảnh hưởng đến hoạt động dự trữ , bảo quản hàng hoá Đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật ,các điều kiện phục vụ cho sản xuất kinh doanh một mặt tạo cơ sở cho kinh doanh thuận lợi khi khai thác cơ sở hạ tầng sẵn có của nền kinh tế, mặt khác nó cũng có thể gây hạn chếkhả năng đầu tư, phát triển kinh doanh đặc biệt với doanh nghiệp thương mại trong quá trình vận chuyển, bảo quản, phân phối…
-Yếu tố khách hàng : Khách hàng là những người có nhu cầu và khả năng
thanh toán về hàng hoá và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh Khách hàng là nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Khách hàng có nhu cầu rất phong phú và khác nhau tuỳ theo từng lứa tuổi, giới tính mức thu nhập, tập quán …Mỗi nhóm khách hàng có một đặc trưng riêng phản ánh quá trình mua sắm của họ Do đó doanh nghiệp phải có chính sách đáp ứng nhu cầu từng nhóm cho phù hợp
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 38-Đối thủ canh tranh : Bao gồm các nhà sản xuất, kinh doanh cùng sản
phẩm của doanh nghiệp hoặc kinh doanh sản phẩm có khả năng thay thế Đối thủ canh tranh có ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp, doanh nghiệp có cạnh tranh được thì mới vó khả năng tồn tại ngược lại sẽ bị đẩy lùi ra khỏi thị trường , Cạnh tranh giúp doanh nghiệp có thể nâng cao hoạt động của mình phục vụ khách hàng tốt hơn ,nâng cao được tính năng động nhưng luôn trong tình trạng bị đẩy lùi
-Người cung ứng : Đó là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong và
ngoài nước mà cung cấp hàng hoá cho doanh nghiệp, người cung ứng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh cua doanh nghiệp không phải nhỏ ,điều đó thể hiện trong việc thực hiện hợp đồng cung ứng, độ tin cậy về chất lượng hàng hoá, giá
cả, thời gian, điạ điểm theo yêu cầu …
Nền sản xuất dựa trên logistics kéo đối lập hẳn với cơ chế logistics đẩy truyền thống trước đây – đó là cơ chế sản xuất được điều khiển bởi cung (Supply
- Driven) và được dẫn dắt,chỉ đạo theo một kế hoạch sản xuất đã được sắp đặt trước.Trong hệ thống sản xuất điều khiển bởi cung, các thiết bị và sản phẩm hoàn thiện được “đẩy” vào các quá trình sản xuất hoặc chuyển vào các nhà kho lưu trữ theo sự sắp sẵn của công suất máy móc Rõ ràng, cơ chế sản xuất dựa trên logistics đẩy không thực tế và phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng, dẫn đến sự
dư thừa và lãng phí Logistics kéo là quá trình sản xuất được dẫn dắt bởi hoạt động trao đổi muabán trên thực tế hơn là dự đoán mức nhu cầu Cơ chế “cần kéo” (logistics kéo) chỉ sản xuất những sản phẩm đã được bán hoặc được khách
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 39hàng đặt hàng mua.Chuỗi cung cấp hậu cần kéo liên kết quá trình kế hoạch hóa sản xuất và quá trình thiết kế với việc phân phối các sản phẩm sản xuất Đây chính là mô hình được điều khiển bởi cầu (Demand – Driven) nhằm mục tiêu chính là đáp ứng được nhu cầu dự trữ cuối cùng của người tiêu dùng Trong khi,
cơ chế hậu cần “đẩy” hạn chế khả năng liên kết giữa các nhà cung cấp, nhà sản xuất và nhà phân phối, thì cơ chế hậu cần “kéo” đã đạt được mức thành công cao hơn và tính hiệu quả của quá trình liên kết Hơn nữa, sự trao đổi số lượng cầu (Demand Data) bao gồm cả số lượng mua bán cần thiết sẽ giúp thống nhất hội tụ giữa mức cung của người sản xuất với cầu của người tiêu dùng
Là toàn bộ các yếu tố thuộc tiềm lực của doanh nghiệp mà doanh nghiệp
có thể kiểm soát ở mức độ nào đó và sử dụng để khai thác các cơ hội kinh doanh Tiềm năng phản ánh thực lực cuả doanh nghiệp trên thị trường, đánh giá đúng tiềm năng cho phép doanh nghiệp xây dựng chiến lược và kế hoạch kinh doanh đúng đắn đồng thời tận dụng được các cơ hội kinh doanh mang lại hiệu quả cao Các yếu tố thuộc tiềm năng của doanh nghiệp bao gồm : Sức mạnh về tài chính, tiềm năng về con người, tài sản vô hình, trình độ tổ chức quản lí, trình độ trang thiết bị công nghệ, cơ sở hạ tầng, sự đúng đắn của các mục tiêu kinh doanh
và khả năng kiểm soát trong quá trình thực hiện mục tiêu +Sức mạnh về tài chính thể hiện trên tổng nguồn vốn (bao gồm vốn chủ
sở hữu,vốn huy động) mad doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng quản lí có hiệu quả các nguồn vốn trong kinh doanh Sức mạnh tài chính thể hiện ở khả năng trả nợ ngắn hạn, dài hạn, các tỉ lệ về khả năng sinh lời của doanh nghiệp
+Tiềm năng về con người : Thể hiện ở kiến thức, kinh nghiệm có khả năng đáp ứng cao yêu cầu của doanh nghiệp, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đội ngũ cán bộ của doanh nghiệp trung thành luôn hướng về doanh nghiệp
có khả năng chuyên môn hoá cao, lao động giỏi có khả năng đoàn kết, năng động biết tận dụng và khai thác các cơ hội kinh doanh …
+Tiềm lực vô hình : Là các yếu tố tạo nên thế lực của doanh nghiệp trên thị trường, tiềm lực vô hình thể hiện ở khả năng ảnh hưởng đến sự lựa chọn, chấp nhận và ra quyết định mua hàng của khách hàng.Trong mối quan hệ thương mại yếu tố tiềm lực vô hình đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác mua hàng, tạo nguồn cũng như khả năng cạnh tranh thu hút khách hàng, mở rộng thị trường
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 40kinh doanh …Tiềm lực vô hình của doanh nghiệp có thể là hình ảnh uy tín của doanh nghiệp trên thị trường hay mức độ nổi tiếng cuả nhãn hiệu, hay khả năng giao tiếp và uy tín của người lãnh đạo trong các mối quan hệ xã hội …
+ Vị trí địa lí , cơ sở vật chất của doanh nghiệp cho phép doanh nghiệp thu hút sự chú ý cuả khách hàng, thuận tiện cho cung cấp thu mua hay thực hiện các hoạt động dự trữ Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp thể hiện nguồn tài sản cố đinh mà doanh nghiệp huy động vào kinh doanh bao gồm văn phòng nhà xưởng, các thiết bị chuyên dùng … Điều đó thể hiện thế manh của doanh nghiệp , quy mô kinh doanh cũng như lợi thế trong kinh doanh …
- Xu hướng thuê dịch vụ logistics từ các công ty logistics chuyên nghiệp ngày càng phổ biến
Toàn cầu hoá nền kinh tế càng sâu rộng thì tính cạnh tranh lại càng gay gắt trong mọi lĩnh vực của cuộc sống Trong lĩnh vực logistics cũng vậy, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, thì ngày càng có nhiều nhà cung cấp dịch
vụ logistics ra đời và cạnh tranh quyết liệt với nhau Bên cạnh những hãng sản xuất
có uy tín đã gặt hái được những thành quả to lớn trong hoạt động kinh doanh nhờ khai thác tốt hệ thống logistics như: Hawlett - Packerd, Spokane Company, Ladner Buiding Products, Favoured Blend Coffee Company, Sun Microsystems, SKF, Procter & Gamble… thì tất cả các công ty vận tải, giao nhận cũng nhanh chóng chớp thời cơ phát triển và trở thành những nhà cung cấp dịch vụ logistics hàng đầu thế giới với hệ thống logistics toàn cầu như: TNT, DHL, Maersk logistics, NYK Logistics, APL Logistics, MOL Logistics, Kuehne & Nagel, Schenker, Birkart, Ikea,… Để tối ưu hoá, tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, nếu như trước đây, các chủ sở hữu hàng hóa lớn thường tự mình đứng ra tổ chức và thực hiện cáchoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân, thì giờ đây việc đi thuê các dịch vụ logistics ở bên ngoài ngày càng trở nên phổ biến
Thực tế cho thấy việc sử dụng các nhà cung cấp dịch vụ logistics đã đem lại những nguồn lợi rất to lớn cho doanh nghiệp, nhờ giảm chi phí đầu tư cho hoạt động logistics, các doanh nghiệp có thể giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế Bên cạnh đó các công ty logistics chuyên nghiệp còn có thể giúp doanh nghiệp: Thâm nhập thị trương, tiếp cận công nghệ mới và được cung cấp những thông tin kịp thời, chính xác về nguồn cung cấp cũng như thị trường tiêu thụ
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si