1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại huyện sông mã, tỉnh sơn la

105 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La
Tác giả Doãn Thị Thu Huyền
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Thị Dương Nga
Trường học Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Sự cần thiết lựa chọn đề tài nghiên cứu (13)
  • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (15)
    • 1.2.1. Mục tiêu chung (15)
    • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể (15)
  • 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (15)
    • 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu (15)
    • 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu (15)
  • 1.4. Câu hỏi nghiên cứu (16)
  • 1.5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn (16)
  • 2.1. Cơ sở lý luận (17)
    • 2.1.1. Một số khái niệm cơ bản (17)
    • 2.1.2. Những tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã (22)
    • 2.1.3. Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã (29)
    • 2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã (33)
  • 2.2. Cơ sở thực tiễn (37)
    • 2.2.1. Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ở một số nước trên thế giới (37)
    • 2.2.2. Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở một số địa phương ở Vi ệ t Nam (39)
    • 2.2.3. Kinh nghi ệ m rút ra cho huy ệ n Sông Mã (45)
  • 3.1. Khái quát v ề đị a bàn nghiên c ứ u (47)
    • 3.1.1. Điề u ki ệ n t ự nhiên (47)
    • 3.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội (49)
    • 3.1.3. Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu (52)
  • 3.2. Phương pháp nghiên cứu (53)
    • 3.2.1. Phương pháp thu thập số liệu, thông tin (53)
    • 3.2.2. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu, thông tin (55)
    • 3.2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu (56)
  • 4.1. Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sông Mã (58)
    • 4.1.1. Quy mô số lượng đội ngũ cán bộ, công chức (58)
    • 4.1.2. Cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức (60)
    • 4.1.3. Trình độ, năng lự c và ph ẩ m ch ấ t làm vi ệ c c ủa đội ngũ cán bộ (61)
    • 4.1.4. Đánh giá k ế t qu ả th ự c thi nhi ệ m v ụ (74)
    • 4.1.5. Thành công và h ạ n ch ế trong vi ệ c nâng cao ch ất lượng đội ngũ cán bộ , công (76)
  • 4.2. Các y ế u t ố ảnh hưởng đế n nâng cao ch ất lượng đội ngũ cán bộ , công ch ứ c c ấ p xã huy ệ n Sông Mã (80)
    • 4.2.1. Công tác tuy ể n d ụ ng, b ố trí, s ử d ụ ng công ch ứ c c ấ p xã (80)
    • 4.2.2. Công tác đào tạ o, b ồi dưỡ ng (81)
    • 4.2.3. Y ế u t ố cơ chế chính sách (87)
    • 4.2.4. Môi trườ ng công tác (88)
  • 4.3. Định hướ ng và các gi ả i pháp nâng cao ch ất lượng đội ngũ cán bộ , công ch ứ c (89)
    • 4.3.1. Định hướ ng nâng cao ch ất lượng đội ngũ cán bộ , công ch ứ c c ấ p xã ở huy ệ n Sông Mã (89)
    • 4.3.2. Gi ả i pháp nâng cao ch ất lượng đội ngũ cán bộ , công ch ứ c c ấ p xã huy ệ n Sông Mã (91)
  • 5.1. K ế t lu ậ n (100)
  • 5.2. Ki ế n ngh ị (101)
    • 5.2.1. Đối với nhà nước (101)
    • 5.2.2. Đối với địa phương (102)
  • Tài liệu tham khảo (104)

Nội dung

Sự cần thiết lựa chọn đề tài nghiên cứu

Chính quyền cấp xã đóng vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị, là cầu nối giữa Nhà nước và nhân dân, thực hiện quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng và an ninh Để đảm bảo các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước được thực hiện hiệu quả, cần có đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có năng lực, đạo đức và sức khỏe tốt.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh tầm quan trọng của cán bộ trong mọi công việc, khẳng định rằng "cán bộ là cái gốc của mọi công việc" Ông cũng chỉ ra rằng sự thành công hay thất bại của mọi nhiệm vụ đều phụ thuộc vào chất lượng của cán bộ, cho thấy vai trò quyết định của họ trong quá trình thực hiện công việc.

“Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi

Cán bộ có vai trò quyết định đến sự thành công của công việc, nếu không có cán bộ tốt sẽ dẫn đến thất bại và lỗ vốn Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, công tác cán bộ càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết (Mạch Quang Thắng, 2009).

Trước tình trạng đội ngũ cán bộ, công chức còn hạn chế về phẩm chất và năng lực, vào ngày 17/9/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg nhằm cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 Mục tiêu của chương trình là xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh và chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước Sau hơn 10 năm thực hiện, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại tỉnh Sơn La đã được nâng cao, cơ bản đáp ứng chuẩn về bằng cấp và chuyên ngành đào tạo Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế tri thức và sự phát triển của chính phủ điện tử, việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trở nên cần thiết hơn bao giờ hết, đặc biệt là để thực hiện mục tiêu của chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 theo Nghị quyết 30c/NQ-CP, nhằm xây dựng nền hành chính trong sạch, minh bạch và hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Mục tiêu của Chính phủ thể hiện quyết tâm trong cải cách nền hành chính nhà nước và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức từ trung ương đến địa phương Để thành công trong chiến lược này, yếu tố quyết định là con người, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức, nguồn lực chủ yếu của hệ thống quản lý hành chính để thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Huyện Sông Mã, cách thành phố Sơn La 110 km về phía Nam theo Quốc lộ 4G, đã nhận được sự quan tâm từ các Bộ, ngành và tỉnh với nhiều chính sách ưu đãi nhằm phát triển kinh tế - xã hội và nguồn nhân lực Mặc dù có những nỗ lực này, huyện vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc nâng cao trình độ phát triển kinh tế, khiến mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa - xã hội của các tỉnh chưa đạt được.

Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại huyện còn thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai các chính sách phát triển kinh tế - xã hội Nguyên nhân chính là sự thiếu hụt về trình độ và năng lực của đội ngũ này Việc đánh giá và đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã diễn ra chậm, thiếu sự đồng bộ và phù hợp với đặc thù của họ Do đó, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là rất quan trọng, vì họ là những người trực tiếp tiếp xúc với dân và thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong cuộc sống hàng ngày.

Nhận thức rõ về ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề, tôi đã quyết định chọn đề tài “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Sông.”

Mã tỉnh Sơn La là đề tài nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp của tôi Bạn có thể tải luận văn tốt nghiệp mới nhất qua email luanvanfull@gmail.com.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung

Đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Sông Mã là cần thiết để xác định những điểm mạnh và yếu Việc này giúp đề xuất các giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ này, từ đó phục vụ tốt hơn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong tương lai.

Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã;

- Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại địa bàn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La;

- Phân tích các yếu tốảnh hưởng tới chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La;

Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại huyện, cần đề xuất các định hướng và giải pháp phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong những năm tới.

Câu hỏi nghiên cứu

Hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng cán bộ, công chức cấp xã bao gồm các vấn đề và nội dung quan trọng, từ đó tạo nền tảng khoa học cho việc phân tích và đánh giá chất lượng cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Thực trạng về số lượng và chất lượng của cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Sông Mã ra sao?

- Các yếu tố nào ảnh hưởng tới chất lượng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sông Mã?

- Giải pháp nào để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện Sông Mã?

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Đề tài luận văn đã cung cấp các khái niệm và cơ sở pháp lý liên quan đến việc đánh giá chất lượng cán bộ, công chức cấp xã Điều này tạo nền tảng cho việc phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ, công chức tại huyện Sông Mã.

Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện Sông Mã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị tại cơ sở, cần có đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có đủ năng lực Nếu cán bộ không nắm bắt và triển khai đúng các chủ trương của Đảng, mọi chính sách sẽ không đạt kết quả Đảng và Nhà nước xem công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã là nhiệm vụ hàng đầu trong việc xây dựng chính quyền của nhân dân Cán bộ cơ sở là những người gần gũi với dân, trực tiếp thực hiện các chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đồng thời tham mưu cho cấp trên về các lĩnh vực xã hội, giúp quần chúng hiểu và thực hiện tốt các chủ trương, chính sách.

Luận văn này đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Sông Mã trong giai đoạn 2015 – 2017 Nó chỉ ra những hạn chế của đội ngũ này và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Sông Mã.

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT

LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ

Cơ sở lý luận

Một số khái niệm cơ bản

2.1.1.1 C ấp xã Điều 2, Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13, quy định các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: 1 Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); 2

Cấp huyện bao gồm huyện, quận, thị xã và thành phố thuộc tỉnh, cũng như thành phố trực thuộc trung ương Cấp xã bao gồm xã, phường và thị trấn, là đơn vị hành chính cơ sở của Việt Nam Ngoài ra, còn có đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (Quốc hội, 2015).

2.1.1.2 Khái ni ệm cán bộ, công chức

Do sự khác biệt trong hệ thống pháp luật và thể chế chính trị của các quốc gia, khái niệm công chức không hoàn toàn giống nhau Một số nước chỉ xem công chức là những người làm việc trong quản lý Nhà nước và thi hành pháp luật, trong khi những nước khác lại bao gồm cả nhân viên trong các cơ quan sự nghiệp cung cấp dịch vụ công Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia đều giới hạn công chức trong bộ máy hành chính Nhà nước, tức là Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương Các nhà chính trị được bầu cử hoặc làm việc trong các cơ quan sự nghiệp và doanh nghiệp Nhà nước không được coi là công chức.

Trong cuộc nói chuyện với các học viên Trường Nguyễn Ái Quốc năm

Năm 1963, Bác Hồ đã nhấn mạnh rằng cán bộ là những người có trách nhiệm giải thích chính sách của Đảng và Chính phủ cho nhân dân, giúp họ hiểu và thực hiện Đồng thời, cán bộ cũng cần báo cáo tình hình của dân chúng để Đảng và Chính phủ có thể điều chỉnh chính sách cho phù hợp.

Vì vậy, cán bộ là gốc của mọi công việc Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” (Mạch Quang Thắng, 2009)

Cán bộ, theo Khoản 1, Điều 4 của Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 (Luật số 22/2008/QH12), được định nghĩa là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn hoặc bổ nhiệm vào các chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 4 vào ngày 13/11/2008 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2010.

Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội hoạt động ở các cấp trung ương, tỉnh, huyện và thành phố, với biên chế và lương được chi trả từ ngân sách nhà nước (Quốc hội, 2008).

- Khái niệm công chức: Khoản 2, điều 4, Luật Cán bộ, Công chức năm

Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm vào các vị trí trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, và các tổ chức chính trị - xã hội ở các cấp khác nhau Họ làm việc trong các cơ quan thuộc Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, không bao gồm sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp Công chức cũng có thể làm việc trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập, nhận lương từ ngân sách nhà nước Đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định pháp luật.

Cán bộ, công chức cấp xã được định nghĩa dựa trên Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, quy định nhiệm vụ cụ thể của HĐND và UBND Theo Luật Cán bộ, công chức ngày 13 tháng 11 năm 2008 và Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng, các quy định này xác định rõ vai trò và trách nhiệm của cán bộ, công chức trong hệ thống chính quyền cấp xã.

Nghị định số 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định về chức danh, số lượng và chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức ở cấp xã, phường, thị trấn, cùng với những người hoạt động không chuyên trách tại địa phương Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTB&XH, ban hành ngày 27 tháng 5 năm 2010, hướng dẫn chi tiết việc thực hiện nghị định này, nhằm đảm bảo sự đồng bộ và hiệu quả trong quản lý nhân sự tại các cấp xã.

Vào ngày 22 tháng 10 năm 2009, Chính phủ ban hành CP quy định về chức danh, số lượng, chế độ và chính sách đối với cán bộ, công chức tại xã, phường, thị trấn, cùng với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã Tiếp theo, Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 cũng được Chính phủ ban hành để quy định rõ hơn về công chức tại các cấp xã, phường, thị trấn.

Cán bộ, công chức cấp xã được quy định tại Luật Cán bộ, công chức năm

Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ và chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn, cũng như những người hoạt động không chuyên trách tại cấp xã Nội dung nghị định này nhằm đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm của các đối tượng này trong việc thực hiện nhiệm vụ công vụ.

Cán bộ cấp xã, bao gồm cán bộ tại xã, phường và thị trấn, là công dân Việt Nam được bầu cử vào các chức vụ như Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, và người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội.

Cán bộ cấp xã gồm có:

- Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy

- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân

- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân

- Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

- Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam có trách nhiệm quản lý và phát triển các hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp tại các xã, phường, thị trấn có tổ chức Hội Nông dân.

- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam

Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng vào các chức danh chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, làm việc trong biên chế và nhận lương từ ngân sách nhà nước (Chính phủ, 2009) Các chức danh này bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau.

- Địa chính - Xây dựng - Đô thị và Môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và Môi trường (đối với xã)

- Tư pháp - Hộ tịch - Văn hóa - Xã hội

CB, CC cấp xã là công dân Việt Nam, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật, được bầu hoặc tuyển dụng để giữ chức vụ Để nâng cao hiệu lực hoạt động của chính quyền cấp xã, đội ngũ CBCC cần có nhiệt tình cách mạng, phẩm chất tốt, đạo đức cao, cùng với tri thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác để hoàn thành nhiệm vụ.

2.1.1.3 Khái ni ệm chất lượng cán bộ, công chức cấp xã

Theo Từđiển tiếng Việt của Hoàng Phê (2018) định nghĩa “Chất lượng” chính là “cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc”

Những tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

2.1.2.1 Tiêu chí v ề số lượng cán bộ, công chức

Theo Quyết định số 591/QĐ-UBND ngày 17/3/2017 của UBND tỉnh Sơn La, số lượng cán bộ, công chức tại các xã, phường, thị trấn được quy định như sau: xã, phường, thị trấn loại 1 không quá 25 người; loại 2 không quá 23 người; loại 3 không quá 21 người Quyết định này cũng nhấn mạnh việc cần có cơ cấu hài hòa về độ tuổi, giới tính, công việc và dân tộc trong đội ngũ cán bộ, công chức.

2.1.2.2 Tiêu chí v ề phẩm chất chính trị, đạo đức

Phẩm chất chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức được thể hiện qua sự tin tưởng tuyệt đối vào lý tưởng cách mạng và sự kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc.

Chủ nghĩa xã hội kiên định trong việc bảo vệ quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, không bị dao động trước những khó khăn và thử thách (Quốc hội, 2008).

Chúng ta cần nghiêm túc tuân thủ các đường lối, chỉ thị và nghị quyết của Đảng cũng như pháp luật của Nhà nước, đồng thời kiên quyết phản đối mọi hành vi lệch lạc và sai trái trong xã hội, nhằm bảo vệ các chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước (Quốc hội, 2008).

Phẩm chất chính trị của cán bộ, công chức được thể hiện qua thái độ phục vụ Nhân dân, tinh thần gương mẫu trong công việc và trách nhiệm đối với cộng đồng (Quốc hội, 2008).

Nhà nước ta là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, vì vậy, cán bộ, công chức phải là công bộc của dân, không được độc đoán hay chuyên quyền Đạo đức của cán bộ, công chức cấp xã được coi là tiêu chí hàng đầu để đánh giá chất lượng đội ngũ này (Quốc hội, 2008).

Cán bộ, công chức cấp xã thực hiện nhiệm vụ đại diện cho quyền lực của Nhân dân, chuyển giao cho Nhà nước thông qua đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất, nhằm phục vụ công vụ cho cộng đồng.

Trong thực thi công vụ phục vụ nhân dân, cán bộ, công chức cấp xã cần có phẩm chất đạo đức, bao gồm đạo đức cá nhân và đạo đức công vụ Đạo đức cá nhân thể hiện qua niềm tin vào định hướng xã hội chủ nghĩa, quyết tâm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, và lối sống lành mạnh, không tham ô, lãng phí Đạo đức công vụ là các giá trị và chuẩn mực pháp lý áp dụng cho cán bộ, công chức khi thi hành nhiệm vụ, và được coi là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng đội ngũ Đạo đức công vụ yêu cầu tinh thần trách nhiệm, kỷ luật, và sự sáng tạo trong công việc, đồng thời thực hành tiết kiệm thời gian và tài chính.

Nhân dân cần sử dụng tiết kiệm công quỹ và tài sản công, đồng thời tiết kiệm tài nguyên của đất nước Việc tích cực chống lãng phí và thực hành tiết kiệm trong các cơ quan Nhà nước là rất quan trọng (Quốc hội, 2008).

Trong bối cảnh hiện nay, đạo đức công vụ đòi hỏi cán bộ, công chức phải trung thực và thật thà, ưu tiên lợi ích tập thể và quốc gia, đồng thời tránh việc lợi dụng chức quyền để mưu lợi cá nhân.

2.1.2.3 Tiêu chí v ề trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức

Trình độ của cán bộ, công chức cấp xã được xác định qua mức độ hiểu biết và kỹ năng, thể hiện qua văn bằng, chứng chỉ mà họ đạt được trong quá trình học tập (Quốc hội, 2008).

Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ là kiến thức và kỹ năng cần thiết cho một nghề nghiệp cụ thể Đối với cán bộ, công chức cấp xã, trình độ này phải phù hợp với yêu cầu của từng vị trí công tác nhằm đảm bảo thực hiện tốt chức trách và nhiệm vụ được giao, theo tiêu chuẩn quy định tại Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ yêu cầu công chức thực hiện theo Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012, nhằm đảm bảo xã đạt chuẩn nông thôn mới Đồng thời, trình độ của cán bộ, công chức xã cần được xây dựng theo quy định tại Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 04/10/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Lý luận chính trị đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho đội ngũ cán bộ, công chức Nó giúp nâng cao nhận thức tư tưởng, bản lĩnh chính trị, niềm tin và năng lực hoạt động thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cách mạng qua các thời kỳ lịch sử Sự hiểu biết về lý luận chính trị là cần thiết để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội, từ đó khẳng định vai trò và ý nghĩa của cán bộ, công chức trong việc thực thi công vụ (Bộ Nội vụ, 2004).

Trình độ tin học ngày càng trở nên quan trọng trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt trong quản lý và phát triển kinh tế - xã hội tại cấp xã Cán bộ, công chức cấp xã cần có khả năng sử dụng công nghệ thông tin và ứng dụng khoa học, công nghệ vào thực tiễn để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong công việc (Bộ Nội vụ, 2004).

Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

2.1.3.1 Nâng cao ph ẩm chất chính trị, đạo đức cho đội ngũ cán bộ, công chức c ấp xã

Phẩm chất chính trị là tiêu chuẩn hàng đầu, quyết định chất lượng hoạt động của cán bộ công chức (CBCC) Đối với CBCC cấp xã, phẩm chất này thể hiện qua sự tin tưởng tuyệt đối vào lý tưởng cách mạng, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước Họ cần quyết tâm cụ thể hóa các chính sách của Đảng và Nhà nước, phù hợp với thực tiễn địa phương Phẩm chất chính trị còn bao gồm lòng nhiệt tình cách mạng, trung thành với lý tưởng của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh, và tinh thần tận tụy vì sự nghiệp nhân dân Cuối cùng, phẩm chất này đòi hỏi bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Người cán bộ công chức chính quyền cấp xã cần có phẩm chất chính trị tốt, thể hiện qua tinh thần trách nhiệm cao trong công việc Họ không được thờ ơ hay dửng dưng trước những vấn đề bức xúc về kinh tế - xã hội Luôn trăn trở về những yếu kém và hạn chế của địa phương so với sự phát triển chung của đất nước, họ quyết tâm tìm ra giải pháp để tháo gỡ khó khăn và giải quyết các vấn đề cấp bách, nhằm thúc đẩy sự phát triển của địa phương nơi mình công tác (Bộ Nội vụ, 2012).

Phẩm chất chính trị của cán bộ, công chức cấp xã được thể hiện qua ý thức tuân thủ kỷ luật Đảng và sự chủ động trong việc thực hiện các chính sách, pháp luật của Nhà nước Họ kiên quyết chống lại mọi biểu hiện sai trái và lệch lạc trong xã hội, đảm bảo phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng và các quy định của pháp luật.

Để xây dựng uy tín trước nhân dân, người cán bộ cần có phẩm chất đạo đức tốt Việc xác định các tiêu chuẩn đạo đức phù hợp với vai trò và chức năng của cán bộ là cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong nền kinh tế thị trường đang biến đổi nhanh chóng, yêu cầu của xã hội đối với đội ngũ cán bộ ngày càng cao, đòi hỏi họ phải nâng cao uy tín và trách nhiệm trong công tác quản lý xã hội.

2.1.3.2 Nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã a Nâng cao trình độ văn hóa và chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

Trình độ văn hóa là yếu tố quan trọng giúp cán bộ, công chức tiếp thu kiến thức và kỹ năng trong công tác chuyên môn và quản lý nhà nước Sự nâng cao dân trí hiện nay yêu cầu cán bộ, công chức không ngừng học hỏi và nâng cao hiểu biết để đáp ứng nhiệm vụ trong bối cảnh mới Việc chủ quan và hài lòng với kiến thức hiện có sẽ hạn chế khả năng tiếp thu kiến thức mới, ảnh hưởng đến việc thực hiện các chính sách và nghị quyết của Đảng và nhà nước Do đó, nâng cao trình độ lý luận chính trị và quản lý nhà nước cho cán bộ, công chức cấp xã là cần thiết để đảm bảo hiệu quả trong công việc và truyền đạt thông tin chính xác.

Trình độ lý luận chính trị và kiến thức quản lý nhà nước là những yếu tố quan trọng giúp cán bộ, công chức giải quyết công việc hiệu quả Những kỹ năng này trang bị cho họ lập trường tư tưởng vững vàng, kiên định với lý tưởng cộng sản, sẵn sàng đối mặt với khó khăn và hoàn thành nhiệm vụ Học thuyết Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho hành động, đồng thời cần trau dồi đạo đức cách mạng và cống hiến cho lý tưởng Cán bộ, công chức cần coi việc phục vụ nhân dân là niềm vui và chân lý cách mạng Bên cạnh đó, việc nâng cao trình độ tin học và ngoại ngữ cũng rất cần thiết cho cán bộ, công chức cấp xã.

Chúng ta cần khẩn trương trang bị và đào tạo cán bộ, công chức cấp xã về kỹ năng sử dụng máy vi tính, điều này là rất quan trọng để họ có thể hoàn thành báo cáo và xử lý văn bản hàng ngày Mặc dù nhu cầu về ngoại ngữ chưa cấp bách, nhưng việc nâng cao trình độ tin học là cần thiết, đặc biệt khi phần lớn cán bộ chưa được đào tạo bài bản và không có cơ hội học hỏi các kỹ năng chuyên sâu Việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào công việc cũng cần được khuyến khích để phục vụ tốt hơn cho nhân dân địa phương.

2.1.3.3 Nâng cao th ể lực cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

Sức khoẻ đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của mỗi cá nhân và dân tộc, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nó là yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh tổng hợp về thể lực trong cách mạng, dẫn đến những thắng lợi vĩ đại của nhân dân (Nguyễn Thị Hậu, 2004).

Rèn luyện thân thể không chỉ giúp phòng bệnh mà còn chữa bệnh hiệu quả, đồng thời duy trì sự cân bằng âm dương trong cơ thể Thiếu vận động làm giảm khả năng thích nghi và tuổi thọ Việc rèn luyện thể chất nâng cao sức khỏe, cải thiện tinh thần và kết hợp với vệ sinh cá nhân sẽ giúp phòng ngừa bệnh tật Một cơ thể khỏe mạnh có khả năng chống lại bệnh tật và vi khuẩn, đồng thời thích ứng tốt với điều kiện thời tiết thay đổi Sức khỏe tốt, tinh thần lạc quan sẽ giúp con người tránh xa mọi bệnh tật.

Thể dục thể thao không chỉ tăng cường sức đề kháng mà còn nâng cao sức khỏe toàn diện cho con người Sức khỏe toàn diện bao gồm sự phát triển đầy đủ các tố chất thể lực như sức nhanh, sức mạnh, sức bền, sự dẻo dai và sự khéo léo, tất cả đều cần được rèn luyện thường xuyên Khi có sức khỏe toàn diện, năng lực thể chất của con người sẽ được cải thiện, đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống, lao động và học tập Năng lực thể chất tốt giúp con người vượt qua khó khăn và hoàn thành công việc hiệu quả Để đạt được điều này, cần có lòng kiên trì và quyết tâm cao trong việc rèn luyện Các cơ quan, ban, ngành cũng thường xuyên tổ chức các giải thi đấu thể thao như cầu lông, bóng đá, bóng chuyền và bóng bàn để thúc đẩy phong trào thể dục thể thao.

2.1.3.4 Nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức cấp xã Đây là năng lực không chỉ liên quan đến mỗi CBCC chính quyền cấp xã mà còn liên quan đến việc tổng hợp năng lực của CBCC để biến chúng thành năng lực tập thể của tổ chức Năng lực tập thể giúp kết hợp tất cả các năng lực khác nhau và sử dụng chúng một cách hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu tổng thể của cơ quan, tổ chức và góp phần vào việc phát triển tổ chức Năng lực tập thể bao gồm các khả năng như biết phân tích và giải quyết vấn đề trong các tình huống khác nhau; biết giải thích cho người khác và chia sẻ kinh nghiệm học tập với đồng nghiệp… Thêm vào đó, biết rút kinh nghiệm thực tế, biết điều chỉnh cho phù hợp với môi trường thay đổi và biết hòa nhập những thứ đó với các điểm mạnh riêng của mình, tức là biết thực hiện nhiệm vụ một cách thực sự Mối quan hệ giữa năng lực CBCC cấp xã và năng lực tập thể là mối quan hệ biện chứng Năng lực không chỉ tồn tại trong mỗi CBCC cấp xã mà năng lực của một cơ quan, tổ chức được xây dựng trên cơ sở kết họp có hiệu quả năng lực của tập thể đội ngũ cán bộ, công chức trong cơ quan, tổ chức Năng lực chính của tập thể là tạo điều kiện hỗ trợ, phát triển năng lực của mỗi CBCC chính quyền cấp xã và sau đó biết cách tổng hợp các năng lực đó một cách có hiệu quả và hiệu suất cao cho hệ thống quản lý hành chính thực hiện nhiệm vụ để đạt được các mục tiêu đã đề ra(Nguyễn Thị Hậu, 2004).

Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

2.1.4.1 Công tác tuy ển dụng, bổ nhiệm

Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Viên chức năm 2010, tuyển dụng là quá trình lựa chọn những cá nhân có phẩm chất, trình độ và năng lực phù hợp để làm việc tại các cơ quan, đơn vị có nhu cầu nhân lực, thông qua nhiều phương thức khác nhau.

Bổ nhiệm là quyết định của người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền, giao nhiệm vụ cho cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo trong một khoảng thời gian nhất định tại cơ quan, đơn vị.

Tuyển dụng cán bộ, công chức là bước đầu tiên quyết định chất lượng đội ngũ Cơ chế tuyển dụng và bổ nhiệm liên quan đến việc lựa chọn và bố trí cán bộ, công chức phù hợp với năng lực và sở trường của họ Việc thực hiện tốt công tác này không chỉ là điều kiện cần thiết mà còn là yêu cầu của quản lý con người, giúp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.

Việc sắp xếp đúng người vào đúng việc là yếu tố quan trọng để phát huy tinh thần làm việc và khuyến khích ý thức học tập, nâng cao trình độ chuyên môn Công tác tuyển chọn và bổ nhiệm có ảnh hưởng lớn đến năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức, đặc biệt là ở cấp xã Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh nguyên tắc khoa học và nhân văn trong việc bố trí cán bộ: phát huy điểm mạnh và hạn chế điểm yếu của từng người Cán bộ cần được bố trí dựa trên nhu cầu công việc cách mạng, và việc bố trí phải chính xác, nếu không sẽ dẫn đến thất bại Ví dụ, thợ rèn không thể làm công việc của thợ mộc.

Thành thửhai người đều lúng túng Nếu biết tùy tài mà dùng người, thì hai người

Trong thời gian qua, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vẫn thực hiện cơ chế đảng cử dân bầu, nhưng việc tuyển chọn và bổ nhiệm chưa gắn với thi tuyển và yêu cầu về trình độ chuyên môn Một số cấp ủy đảng và địa phương chưa nhận thức đầy đủ về việc xây dựng đội ngũ cán bộ, dẫn đến việc tuyển chọn và bổ nhiệm chưa được quan tâm đúng mức Cán bộ sau khi học tập chưa được sử dụng đúng năng lực, trong khi số sinh viên tốt nghiệp cao đẳng, đại học chưa được bổ sung tại cấp xã Việc tuyển chọn thường mang tính hình thức, không theo yêu cầu cụ thể về phẩm chất và năng lực, dẫn đến hiện tượng tuyển dụng những người kém về năng lực, ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

Đào tạo là quá trình hệ thống truyền thụ tri thức và kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học, chủ yếu diễn ra trong môi trường giáo dục và gắn liền với việc giáo dục đạo đức, nhân cách Trình độ đào tạo của mỗi cá nhân không chỉ phụ thuộc vào giảng dạy mà còn vào khả năng tự học và tham gia các hoạt động xã hội, lao động sản xuất Hiệu quả của quá trình đào tạo sẽ được nâng cao khi nó được chuyển hóa thành quá trình tự đào tạo tích cực và tự giác.

Bồi dưỡng là hoạt động nhằm trang bị, cập nhật và nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc Trong khi đào tạo giúp con người đạt được năng lực theo tiêu chuẩn nhất định, bồi dưỡng lại tăng cường năng lực và phẩm chất của họ Việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức nhằm đảm bảo họ có đủ năng lực theo các tiêu chuẩn đã đề ra, bao gồm trình độ kiến thức, khả năng hiểu biết, nhận thức sự việc, cũng như năng lực điều hành, tổ chức thực hiện, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm và đề xuất giải pháp để đạt được mục tiêu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng "cán bộ là cái gốc của mọi công việc" và coi "huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng" Trong suốt cuộc đời, Người luôn chú trọng đến việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ cho Đảng và cách mạng Người khuyên rằng việc học tập không chỉ để làm việc mà còn để trở thành con người và cán bộ tốt Do đó, việc học tập nhằm hình thành năng lực của cán bộ là rất cần thiết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Hiện nay, đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức mới Nhiệm vụ chính trị phức tạp đặt ra yêu cầu cao cho công tác cán bộ và đào tạo Toàn Đảng, toàn dân cần xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng và năng lực thực tiễn để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ sẽ là tiền đề cho sự sáng tạo và đổi mới trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã khởi đầu cho sự đổi mới toàn diện ở Việt Nam, tiếp theo là Đại hội VII và VIII nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp Đặc biệt, việc chú trọng đào tạo cán bộ cấp xã là chiến lược lâu dài, nhằm nâng cao trình độ hiểu biết và khả năng thực thi chính sách Cán bộ cấp xã cần nắm vững đường lối, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước để giải thích cho nhân dân, đồng thời thực hiện các chủ trương như xóa đói giảm nghèo và chống tham nhũng, coi đó là nhiệm vụ quan trọng được giao phó.

2.1.4.3 Ch ế độ, chính sách cán bộ, công chức chính quyền cấp xã

Chế độ và chính sách đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý xã hội, ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động của con người Do đó, chúng là yếu tố quyết định đến chất lượng của cán bộ, công chức.

Trong bối cảnh hiện nay, việc cải cách cơ chế sử dụng và chính sách đối với cán bộ, công chức được xem là một bước đột phá quan trọng.

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều quyết sách nhằm cải thiện tình hình cán bộ, công chức cấp xã, nhưng vẫn còn nhiều bất cập trong hệ thống chính sách hiện tại Chế độ tiền lương và phụ cấp chưa đủ sức hấp dẫn để khuyến khích cán bộ làm việc nhiệt tình Hệ thống chính sách còn mang tính chắp vá, không đồng bộ và chưa khuyến khích những người làm việc tại cơ sở Cơ chế quản lý và thực hiện chính sách còn chồng chéo, thiếu nhất quán, từ quy hoạch đến đào tạo và kiểm tra Những bất hợp lý này đã dẫn đến việc nhiều cán bộ có năng lực không muốn tham gia công tác địa phương hoặc chỉ tham gia một cách tạm bợ.

Môi trường làm việc an toàn và vệ sinh lao động, cùng với trang thiết bị hỗ trợ và máy móc đảm bảo an toàn, đóng vai trò quan trọng trong sự gắn bó của công chức với công việc Khi công chức cảm nhận được sự quan tâm đến nhu cầu cuộc sống, sức khỏe và gia đình, họ sẽ yêu thích công việc hơn Một môi trường làm việc tốt không chỉ nâng cao tinh thần làm việc mà còn có ảnh hưởng tích cực đến đội ngũ công chức (Trần Ánh Dương, 2006).

Cơ sở thực tiễn

Khái quát v ề đị a bàn nghiên c ứ u

Phương pháp nghiên cứu

Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sông Mã

Các y ế u t ố ảnh hưởng đế n nâng cao ch ất lượng đội ngũ cán bộ , công ch ứ c c ấ p xã huy ệ n Sông Mã

Định hướ ng và các gi ả i pháp nâng cao ch ất lượng đội ngũ cán bộ , công ch ứ c

Ki ế n ngh ị

Ngày đăng: 12/07/2023, 15:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nội vụ (2004). Quyết định số 04/2004/QĐ - BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 04/2004/QĐ - BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn
Tác giả: Bộ Nội vụ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
2. Bộ Nội vụ (2012). Thông tư số 06/2012/TT - BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 06/2012/TT - BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn
Tác giả: Bộ Nội vụ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2012
3. Bộ Nội vụ - Bộ Tài chính – Bộ Lao động thương binh xã hội (2010). Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT -BNV-BTC- BLĐTBXH ngày 27/5/2010 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ - CP ngày 22/10/2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT -BNV-BTC- BLĐTBXH
Tác giả: Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Lao động thương binh xã hội
Năm: 2010
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2013). Thông tư 41/2013/TT -BNNPTNT ngày 04/10/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 41/2013/TT -BNNPTNT ngày 04/10/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
5. Bộ Y tế (2005). Quyết định số 2136/QĐ-BYT ngày 15/6/2005 của Bộ Y tế về việc ban hành Bản tiêu chuẩn phân loại sức khỏe cán bộ. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2136/QĐ-BYT ngày 15/6/2005 của Bộ Y tế về việc ban hành Bản tiêu chuẩn phân loại sức khỏe cán bộ
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
6. Cao Khoa Bảng (2012). Chất lượng đội ngũ cán bộ diện Ban thường vụ Thành ủy Hà Nội quản lý trong gia đoạn hiện nay. Luận án Tiến sĩ, Học viên Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng đội ngũ cán bộ diện Ban thường vụ Thành ủy Hà Nội quản lý trong gia đoạn hiện nay
Tác giả: Cao Khoa Bảng
Nhà XB: Học viên Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2012
8. Chính phủ (2009). Nghị định số 92/2009/NĐ - CP ngày 22/10/2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 92/2009/NĐ - CP ngày 22/10/2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
9. Chính phủ (2010). Nghị định số 24/2010/NĐ -CP ngày 15/3/20 10 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 24/2010/NĐ -CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
10. Chính phủ (2011). Nghị định số 112/2011/NĐ - CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 112/2011/NĐ - CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
11. Chính phủ (2015). Nghị định số 56/2015/NĐ -CP ngày 09/6/2 015 của Chính Phủ về phân loại đánh giá cán bộ, công chức, viên chức.luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 56/2015/NĐ -CP ngày 09/6/2015 của Chính Phủ về phân loại đánh giá cán bộ, công chức, viên chức
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
7. Chi cục Thống kê huyện Sông Mã (2016). Báo cáo thống kê kinh tế huyện Sông Mã giai đoạn 2014 -2016 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w