Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế xuất nhập khẩu
Cơ sở lý luận về quản lý thuế xuất nhập khẩu của ngành hải quan
2.1.1 Các khái niệm cơ bản sử dụng trong luận văn
2.1.1.1 Khái niệm thuế xuất nhập khẩu
Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà cá nhân và tổ chức phải thực hiện theo quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ đối với nhà nước Mức độ và thời hạn nộp thuế được xác định cụ thể để nhà nước có thể thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình.
Khái niệm thuế đã ra đời và tồn tại song song với sự hình thành của Nhà nước Qua thời gian, thuế đã trải qua một quá trình phát triển và hoàn thiện lâu dài, dẫn đến việc hình thành nhiều định nghĩa khác nhau về thuế từ các góc độ khác nhau.
Theo các nhà kinh điển, thuế là khoản tiền mà Nhà nước thu từ dân mà không có sự bù đắp Thuế là một phần thu nhập của Chính phủ, được trích từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, và cuối cùng, thuế được lấy từ tư bản hoặc thu nhập của người nộp thuế.
Thuế được định nghĩa là phương thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội cùng với thu nhập quốc dân, nhằm tạo ra quỹ tiền tệ lớn nhất cho Nhà nước Quỹ này phục vụ cho việc chi tiêu cần thiết để thực hiện các chức năng của Nhà nước.
Thuế được định nghĩa là hình thức huy động tài chính cho Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu Đây là nguồn thu nhập từ các cá nhân và tổ chức trong xã hội, và Nhà nước sử dụng quyền lực chính trị để yêu cầu họ đóng góp thông qua các luật thuế (Gaston Jeze, 1934).
Thuế xuất khẩu: Là một loại thuế gián thu và là công cụ để can thiệp vào các hoạt động ngoại thương, với các mục đích (Quốc hội, 2016):
Giảm cung và cải thiện tỷ lệ ngoại thương sẽ tạo ra nguồn thu cho ngân sách, thay thế cho thuế thu nhập, đồng thời giúp ổn định giá cả trong nước.
Thuế xuất khẩu có thể gây tổn thất cho sản xuất trong nước và ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Để khuyến khích sự phát triển của các ngành sản xuất trong nước, Chính phủ đã quyết định không áp dụng thuế xuất khẩu đối với một số mặt hàng, đặc biệt là hàng nông sản (Quốc hội, 2016).
Thuế nhập khẩu là một loại thuế gián thu, ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa nhập khẩu và làm tăng chi phí đưa hàng hóa vào một quốc gia Mặc dù cũng là thuế tiêu dùng, mục tiêu của thuế nhập khẩu khác với thuế GTGT, vì nó không chỉ tạo nguồn thu mà còn bảo vệ các ngành sản xuất trong nước Theo nguyên tắc, thuế nhập khẩu sẽ làm tăng giá hàng hóa tại nước nhập khẩu và giảm giá tại nước xuất khẩu (Quốc hội, 2016).
2.1.1.2 Đặc điểm của thuế xuất nhập khẩu
Đối tượng chịu thuế xuất khẩu, nhập khẩu bao gồm hàng hoá được phép xuất khẩu và nhập khẩu qua biên giới Việt Nam Chỉ những hàng hoá được vận chuyển hợp pháp qua biên giới mới phải chịu thuế xuất khẩu, nhập khẩu Cần lưu ý một số trường hợp đặc biệt liên quan đến quy định này.
+ Hàng hoá đó có thể là hợp pháp ở nước ngoài nhưng không hợp pháp ở Việt Nam: thì không là đối tượng chịu thuế xuất khẩu, nhập khẩu
+ Hàng hoá hợp pháp nhưng giao dịch không hợp pháp: thì không là đối tượng chịu thuế xuất khẩu, nhập khẩu
+ Giao dịch hợp pháp nhưng hàng hoá không hợp pháp: thì không là đối tượng chịu thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Thứ hai: Hàng hoá chịu thuế xuất khẩu, nhập khẩu phải là hàng hóa được mang qua biên giới Việt Nam:
Hàng hoá chịu thuế xuất khẩu, nhập khẩu phải trải qua hành vi thực tế để di chuyển qua biên giới Việt Nam, bao gồm mua bán, trao đổi hoặc tặng cho Khái niệm về đường biên giới trong thuế xuất khẩu, nhập khẩu không hoàn toàn trùng khớp với khái niệm đường biên giới quốc gia theo công pháp quốc tế.
Biên giới giữa Việt Nam và các nước như Lào, Campuchia, Trung Quốc không chỉ đơn thuần là ranh giới địa lý mà còn mang ý nghĩa pháp lý trong lĩnh vực thuế Theo quy định pháp luật thuế, biên giới kinh tế được xác định khi có sự phân định giữa nền kinh tế Việt Nam và nền kinh tế nước ngoài.
Hành vi xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa qua biên giới Việt Nam phải là hành động trực tiếp làm cho hàng hóa di chuyển qua biên giới Hành vi này được thực hiện bởi đối tượng nộp thuế, người có nghĩa vụ nộp thuế hoặc có thể ủy quyền cho một chủ thể khác thực hiện nghĩa vụ nộp thay.
Thứ ba : Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế gián thu, tiền thuế phải nộp cấu thành trong giá cả hàng hoá
Đối tượng nộp thuế bao gồm các tổ chức và cá nhân có hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa qua biên giới Mọi đối tượng, không phân biệt giàu hay nghèo, đều phải chịu cùng một mức thuế nếu tiêu dùng cùng loại hàng hóa.
2.1.1.3 Phân loại thuế xuất nhập khẩu
- Thứ nhất: Phân theo mục đích bao gồm (dạng thuế quan theo mục đích ngân khố và dạng thuế quan theo mục đích bảo hộ)
Thuế quan theo mục đích ngân khố thường áp dụng cho các hàng hóa tiêu dùng, đặc biệt là những mặt hàng chưa được sản xuất trong nước hoặc những sản phẩm mà xã hội yêu cầu hạn chế, như rượu và bia.
Thuế quan bảo hộ là loại thuế được áp dụng như một hàng rào bảo vệ cho sản xuất công nghiệp và nội địa, nhằm giảm tiêu dùng hàng hóa xuất nhập khẩu khi có tình trạng thiếu hụt cán cân thanh toán kéo dài Loại thuế này thường được sử dụng trong các trường hợp cụ thể để bảo vệ nền kinh tế.
Cơ sở thực tiễn
Việt Nam đã xây dựng một hệ thống chính sách thuế toàn diện, áp dụng đồng nhất cho mọi thành phần kinh tế, nhằm thích ứng với cơ chế thị trường định hướng XHCN Hệ thống này không chỉ là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước mà còn thúc đẩy sản xuất kinh doanh, khuyến khích đầu tư và xuất khẩu, bảo vệ sản xuất trong nước, đồng thời tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo.
Hệ thống chính sách thuế, được ban hành dưới dạng luật và pháp lệnh, tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc nhằm thu hút một phần thu nhập của doanh nghiệp và người dân vào ngân sách nhà nước (NSNN).
Hệ thống chính sách thuế đã loại bỏ sự chênh lệch về nghĩa vụ thuế giữa các thành phần kinh tế trong nước, đồng thời thu hẹp khoảng cách về nghĩa vụ thuế giữa các đối tượng khác nhau.
DN trong nước với DN có vốn đầu tư nước ngoài… tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường
Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thuế đã giúp Việt Nam mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm, từ đó ứng dụng các chính sách thuế tiên tiến và quản lý thuế hiện đại vào hệ thống quản lý thuế trong nước Nhờ đó, hệ thống chính sách thuế của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế.
Việc bảo hộ sản xuất trong nước đồng thời thực hiện chính sách mở cửa nhằm thu hút đầu tư và tự do thương mại là rất quan trọng Điều này giúp Việt Nam thực hiện lộ trình cam kết về thuế với các nước ASEAN, EU, Hoa Kỳ và các tổ chức quốc tế khác.
Việt Nam đã đàm phán và ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với hơn 50 quốc gia, tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho các nhà đầu tư và người nước ngoài khi đến Việt Nam kinh doanh và sinh sống Điều này giúp họ không bị đánh thuế trùng lặp và thực sự được hưởng các chính sách ưu đãi thuế của Việt Nam Nhờ đó, môi trường đầu tư tại Việt Nam trở nên thuận lợi hơn, thu hút các nhà nghiên cứu, giáo sư và chuyên gia nước ngoài, góp phần vào việc đầu tư chất xám vào đất nước.
Hệ thống chính sách thuế đang dần trở nên đơn giản và rõ ràng, giúp giảm chi phí hành chính cho cả người nộp thuế và cơ quan thuế Điều này đã góp phần làm giảm chi phí trong quá trình thu thuế (Phan Thị Yến Phương, 2013).
Sau hơn 30 năm thực hiện chính sách đổi mới kinh tế và hội nhập, hệ thống chính sách thuế của Việt Nam đã được cải cách để đáp ứng nhu cầu phát triển Công tác quản lý thu thuế đã hình thành một hệ thống tổ chức thống nhất và ngày càng được củng cố Trình độ cán bộ công chức được nâng cao theo hướng chuyên sâu và chuyên nghiệp, giúp số thu thuế và phí vào Ngân sách Nhà nước luôn vượt dự toán Tỷ lệ động viên thuế và phí trên GDP đã đạt yêu cầu đề ra bởi Đại hội Đảng toàn quốc.
Luật quản lý thuế đã tạo ra một hệ thống quản lý thuế thống nhất trên toàn quốc, ngày càng được củng cố và nâng cao Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Vũng Áng hoạt động dưới sự lãnh đạo của ngành và chính quyền địa phương, với đội ngũ cán bộ quản lý thuế được đào tạo bài bản và áp dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý Nhờ đó, hiệu quả quản lý thuế được cải thiện, góp phần quan trọng vào việc vượt mức dự toán thu ngân sách nhà nước tại khu vực này.
Trong những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Thành ủy và UBND Thành phố Hà Nội, cùng với sự chỉ đạo của Tổng Cục Hải quan, Cục Hải quan thành phố đã có những bước tiến quan trọng trong công tác quản lý và phát triển.
Hà Nội chủ động phối hợp với các cấp uỷ Đảng, chính quyền và đoàn thể để triển khai nhiều biện pháp đồng bộ, phù hợp với đặc điểm của đơn vị Nhờ đó, đơn vị duy trì sự phát triển ổn định và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.
- Hoàn thành cơ bản các chỉ tiêu thu thuế hàng năm, trong đó có thuế XNK
Tiến hành rà soát và sắp xếp tổ chức lực lượng, quy trình nghiệp vụ để phù hợp với Luật Hải quan và đáp ứng yêu cầu đổi mới trong công tác Hải quan.
- Phân công, phân cấp quản lý cán bộ và công tác chuyên môn xuống tận cơ sở
- Cải tiến mạnh mẽ quy trình nghiệp vụ theo hướng chuyên sâu, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, gắn với quy trình thủ tục Hải quan
- Công tác đấu tranh chống buôn lậu, chống gian lận thương mại, kiểm tra sau thông quan bước đầu đạt kết quả
Cục Hải quan thành phố Hà Nội đã chú trọng và đẩy mạnh công tác xây dựng cơ sở vật chất, đạt nhiều thành tích lớn trong thu thuế nhập khẩu Những nỗ lực này không chỉ thực hiện tốt các nhiệm vụ cấp trên giao mà còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô, đáp ứng yêu cầu quản lý Hải quan trong bối cảnh mới.
Trong năm 2017, Cục Hải quan TP Hà Nội đã thu NSNN đạt 21.816,7 tỷ đồng, vượt 5,6% so với chỉ tiêu dự toán 20.650 tỷ đồng và đạt 94,9% chỉ tiêu phấn đấu 22.985 tỷ đồng Cục đã thực hiện kiểm tra sau thông quan đối với 1.001 doanh nghiệp, truy thu được trên 144 tỷ đồng, tương đương 103,12% chỉ tiêu được giao Tính đến 30/6/2018, số thu NSNN của Cục Hải quan TP Hà Nội đạt hơn 9.978 tỷ đồng (Bộ Tài chính, Tạp chí Tài chính, 2018).
Từ năm 2000 - 2010, Chi cục Hải quan Nghệ An quản lý thu thuế thông qua tờ khai Hải quan, trong đó cơ quan Hải quan tính thuế và thông báo số thuế phải nộp Phương pháp này đảm bảo tính chính xác trong việc thu thuế, ngay cả với các doanh nghiệp mới thành lập Tuy nhiên, cơ chế này không khuyến khích tính tự chủ và trách nhiệm của các doanh nghiệp trong quá trình tham gia Đặc biệt, khi số lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu tăng cao, cơ quan Hải quan phải tốn nhiều công sức, dẫn đến chi phí hành thu gia tăng và ảnh hưởng đến công tác kiểm tra, giám sát.