Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được bố trí ngoài đồng ruộng, tại khu sản xuất của trại giống cây trồng Yên Khê (Yên Khê – Yên Thường – Gia Lâm - Hà Nội).
Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
- 35 dòng lúa được tạo ra từ hai giống lúa thuần Hương thơm số 1 (19 dòng), Bắc thơm số 7 (16 dòng) của vụ mùa 2015(Bảng phụ lục 1,2 – Tr67, 68)
Giống lúa thuần Hương thơm số 1 là giống lúa ngắn ngày, cảm ôn, được nhập từ Trung Quốc và được công nhận là giống quốc gia vào năm 2004 Hạt lúa có dạng nhỏ, thon, màu vàng sẫm và hạt gạo trong.
Giống lúa thuần Bắc thơm 7, được nhập nội bởi công ty giống cây trồng Quảng Ninh từ năm 1993, là một giống lúa thơm ngắn ngày Giống này có dạng cây gọn, mùi thơm đặc trưng, khả năng đẻ nhánh tốt, chống đổ ở mức trung bình và trỗ tập trung.
Sử dụng 3 loại phân bón:
- Kali Mop (công ty cổ phần xuất nhập khẩu Hà Anh) (60% K2O)
Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá đặc điểm sinh trưởng của 35 dòng lúa được chọn từ hai giống thuần
Nghiên cứu này tập trung vào ảnh hưởng của việc bón đạm đến sự sinh trưởng và năng suất của hai giống lúa Hương thơm 1 và Bắc thơm 7 Tài liệu có thể được tải về từ luanvanfull mới nhất qua địa chỉ email z z @gmail.com, phục vụ cho việc hoàn thành luận văn thạc sĩ.
Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Thí nghiệm 1: Đánh giá đặc điểm sinh trưởng của 35 dòng lúa được chọn từ hai giống thuần
* Phương pháp bố trí thí nghiệm:
Thí nghiệm được thực hiện với 35 dòng và 2 giống cây, bao gồm Hương thơm số 1 và Bắc thơm 7 làm giống đối chứng Mỗi công thức được bố trí tuần tự, không lặp lại, với mật độ 42 khóm trên mỗi mét vuông và cấy 1 dảnh Diện tích của mỗi công thức là 10 mét vuông.
Hương thơm số 1 Bắc thơm 7 ĐC: Hương thơm số 1 ĐC: Bắc thơm 7
H17 H18 H19 3.5.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của đạm bón đến sinh trưởng, năng suất của hai giống lúa Hương thơm 1, Bắc thơm 7
*Phương pháp bố trí thí nghiệm:
Thí nghiệm được thực hiện với hai nhân tố chính, bao gồm hai giống lúa: G1 là Hương thơm số 1 và G2 là Bắc thơm số 7.
Nhân tố phụ: 4 mức đạm bón khác nhau: N1: 0kg N/ha
Thí nghiệm được thiết kế theo kiểu Split-plot với 3 lần nhắc lại, trong đó mỗi khối nhắc lại được chia thành 2 ô tương ứng với 2 giống lúa Mỗi ô lớn được chia thành 4 ô nhỏ tương ứng với 4 mức đạm, với diện tích mỗi ô nhỏ là 10m² Tổng diện tích thí nghiệm là 240m², chưa bao gồm dải bảo vệ.
*Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
3.5.3 Các biện pháp kỹ thuật
3.5.3.1 Làm đất, làm mạ cấy
Đất cày bừa kỹ, làm sạch cỏ dại, bón lót phân trước khi cấy Bón lót toàn bộ lân + 1/5N + 1/5K2O
Làm mạ theo phương pháp mạ dược
3.5.3.2 Thời vụ và mật độ cấy
- Mật độ: 42 khóm/ m 2 , mỗi khóm 1 dảnh
Lượng bón cho 1 ha: 90 kg N + 60 kg P2O5 + 60 kg K2O + Bón lót: 100% P2O5 + 30% N luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
+ Bón thúc chia làm hai đợt: Đợt 1: 40% N + 50% K2O khi lúa bén rễ hồi xanh Đợt 2: 30% N + 50% K2O trước trỗ khoảng 15 ngày
Nền phân bón: Lân + Kali
Phân bón được chia thành ba giai đoạn theo quy trình sản xuất của trại GCT Yên Khê Giai đoạn bón lót diễn ra trước khi cấy, bao gồm toàn bộ lân và 1/5 lượng N và K2O Giai đoạn bón thúc lần 1 được thực hiện khi lúa bén rễ hồi xanh, với 1/2 lượng N và 1/2 K2O Cuối cùng, bón thúc lần 2 diễn ra trước thời điểm trỗ 15 ngày, khi bón toàn bộ lượng phân còn lại.
Trong giai đoạn mạ cần chủ động tưới tiêu để tạo điều kiện tốt nhất để cho mạ có thể phát triển tốt nhất
3.5.4 Các chỉ tiêu và phương pháp xác định 3.5.4.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng
Phương pháp đánh giá bằng mắt được thực hiện thông qua việc quan sát toàn bộ ô thí nghiệm, từng cây hoặc các bộ phận của cây và cho điểm Các chỉ tiêu định lượng được đo đếm trên cây mẫu hoặc toàn ô thí nghiệm, với mẫu được lấy ngẫu nhiên, ngoại trừ cây ở rìa ô Việc theo dõi các chỉ tiêu diễn ra theo đúng giai đoạn sinh trưởng thích hợp của cây lúa.
Quan sát và đánh giá các chỉ tiêu theo thang điểm đánh giá của IRRI (Hệ thống Đánh giá Tiêu chuẩn cho Lúa 1996) và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng giống lúa QCVN 01-55:2011/BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
Thời gian sinh trưởng (ngày):
- Từ gieo đến nhổ cấy luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
- Từ trỗ 50% - chín hoàn toàn
- Từ gieo – chín hoàn toàn
- Đo chiều cao cây: Bắt đầu đo từ sau cấy 1 tuần với tần suất là 7 ngày /1 lần Đo chiều cao từ mặt đất đến vuốt lá cao nhất
- Số nhánh hữu hiệu: Theo dõi 7 ngày một lần, tiến hành theo dõi 5 cây/ ô thí nghiệm
3.5.4.2 Theo dõi tình hình sâu bệnh hại
Theo dõi một số loại sâu bệnh hại chính trên cây lúa như:
* Bệnh khô vằn lúa (IRRI, 2002): Phân cấp dựa trên chiều cao phát triển của vết bệnh
1 Vết bệnh giới hạn tới < 20% chiều cao cây
3 Vết bệnh giới hạn tới 20 – 30% chiều cao cây
5 Vết bệnh giới hạn tới 31 – 45% chiều cao cây
7 Vết bệnh giới hạn tới 46 – 65% chiều cao cây
9 Vết bệnh giới hạn tới > 65% chiều cao cây CSB có thể được tính = trung bình cấp bệnh của các cây điều tra
1 1-10% số dảnh chết hoặc bông bạc
9 >51% luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
3 Gây hại từ 11 – 20% thân cây
5 Gây hại từ 21 – 30% thân cây
7 Gây hại từ 31 – 60% thân cây
9 Gây hại trên 60% thân cây
* Rầy nâu Thang điểm Mô tả
1 Hơi biến vàng trên 1 số cây
3 Lá biến vàng bộ phận chưa bị cháy rầy lá bị vàng rõ, cây lùn và héo, ít hơn
5 Một nửa số cây bị cháy rầy, cây còn lại lùn nặng lá bị vàng rõ, cây lùn và héo, ít hơn
7 Một nửa số cây bị cháy rầy, cây còn lại bị lùn nặng
9 Tất cả các cây bị chết
3.5.4.3 Các chỉ tiêu sinh lý Diện tích lá (LAI): Theo dõi ở 3 thời kỳ: thời kỳ đẻ nhánh rộ, khi trỗ và chín sáp Tính chỉ số diện tích lá theo phương pháp cân trực tiếp Lấy 3 khóm lúa, cắt lá dải trên 1dm 2 , cân 1dm 2 đó (P1) sau đó cân toàn bộ phiến lá (P2), từ đó tính diện tích lá của mỗi khóm lúa (P2/P1/100) rồi nhân với mật độ ta có LAI = số m 2 lá/m 2 đất
Chỉ số SPAD được theo dõi ở ba thời kỳ quan trọng: thời kỳ đẻ nhánh rộ, khi trỗ và khi chín sáp Để đo chỉ số này, chọn ba cây và sử dụng máy đo SPAD-502 của Nhật để đo tại ba vị trí khác nhau trên lá cây hoàn thiện ở phần trên cùng, sau đó tính giá trị trung bình.
Khả năng tích lũy chất khô của cây được đánh giá qua các thời kỳ như thời kỳ đẻ nhánh, trỗ bông và thu hoạch Sau khi thu hoạch, phần trên mặt đất được phơi khô dưới ánh sáng mặt trời và sấy ở nhiệt độ 80 độ C trong 48 giờ cho đến khi khối lượng không đổi qua ba lần cân.
3.5.4.4 Các chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
Vào thời điểm thu hoạch tiến hành lấy mẫu 5 khóm/ ô thí nghiệm để xác định các chỉ tiêu về năng suất:
- Số bông/ khóm: Đếm tổng số bông hữu hiệu trên khóm
Số lượng bông và tỷ lệ hạt chắc được phân chia thành ba lớp: bông to, bông trung bình và bông nhỏ Để xác định tổng số hạt và số hạt chắc, cần lấy ngẫu nhiên một bông từ mỗi lớp và tiến hành đếm Từ đó, tính toán tỷ lệ hạt chắc trong mỗi lớp bông.
- Khối lượng 1000 hạt: Trộn đều hạt chắc của 5 khóm trong ô, đếm 2 lần
500 hạt, nếu chênh lệch giữa hai lần cân không quá 5% thì khối lượng 1000 hạt bằng tổng hai lần cân đó, nếu chênh lệch hơn 5% thì làm lại
NSLT = Số bông/ khóm x số khóm/ m 2 x số hạt/ bông x tỷ lệ hạt chắc x khối lượng 1000 hạt x 10 -4 ( tạ/ ha)
- Năng suất thực thu: Thu hoạch toàn bộ diện tích ô thí nghiệm, tuốt hạt, phơi khô, loại bỏ hạt lép, hạt lửng, tính năng suất hạt ( độ ẩm 13%)
Năng suất sinh vật học (NSSVH) được xác định bằng cách cắt sát mặt đất, phơi khô ngoài nắng trong 72 giờ, sau đó đo khối lượng Tiếp theo, tách hạt để tính toán năng suất kinh tế.
- Hệ số kinh tế ( HSKT):
Năng suất kinh tế HSKT Năng suất sinh vật học
- Hiệu suất sử dụng đạm = Năng suất thực thu (kg) / lượng N sử dụng (kg) 3.5.4.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Các số liệu thu thập trong quá trình thí nghiệm đã được tổng hợp, xử lý thống kê và phân tích phương sai ANOVA bằng phần mềm EXCEL và IRRISTAT 5.0.
Kết quả nghiên cứu
Đánh giá đặc điểm sinh trưởng của 35 dòng lúa được chọn từ hai giống lúa thuần
4.1.1 Thời gian qua các giai đoạn của một số dòng lúa thuần
Thời gian sinh trưởng của cây lúa, tính từ khi gieo hạt đến khi chín hoàn toàn, là một đặc tính quan trọng của giống lúa Tuy nhiên, thời gian này còn bị ảnh hưởng đáng kể bởi các điều kiện ngoại cảnh và thời vụ.
Thời gian sinh trưởng của cây lúa đóng vai trò quan trọng trong việc sắp xếp cơ cấu thời vụ, tạo điều kiện cho việc thâm canh và tăng vụ Điều này giúp xây dựng chế độ luân canh hợp lý, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Qua quá trình theo dõi về thời gian sinh trưởng của các dòng tham gia thí nghiệm, kết quả được trình bày qua bảng 4.1, 4.2
Bảng 4.1 Thời gian sinh trưởng của các dòng lúa Hương thơm số 1 (ngày)
KH dòng Gieo- cấy Cấy - trỗ Trỗ - chín Tổng TGST Đ/C 40 84 29 153
H19 40 86 29 155 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Bảng 4.2 Thời gian sinh trưởng của các dòng lúa Bắc thơm 7 (ngày)
KH dòng Gieo- cấy Cấy - trỗ Trỗ - chín Tổng TGST Đ/C 40 77 26 143
Qua bảng 4.1 cho thấy các dòng lúa có thời gian sinh trưởng đồng đều và tương đương với công thức Đ/C (Hương thơm số 1) là: H1, H2, H5, H6, H8, H10, H13, H14, H16, H18
Với các dòng Bắc thơm 7: B2, B3, B4, B5, B10, B13, B14, B16 có thời gian sinh trưởng đồng đều và bằng với thời gian sinh trưởng của công thức Đ/C (Bắc thơm 7)
4.1.2 Khả năng tăng trưởng chiều cao của các dòng lúa thuần
Chiều cao cây lúa là một tính trạng quan trọng, được xác định bởi kiểu gen và ảnh hưởng bởi điều kiện chăm sóc cũng như môi trường Nó phản ánh tình hình sinh trưởng và phát triển của cây, với chiều cao cây có thể ảnh hưởng đến khả năng chống đỡ với điều kiện ngoại cảnh Cây cao dễ bị gãy đổ và chịu phân kém, trong khi cây thấp có khả năng chống đổ tốt và chịu phân cao hơn.
Chiều cao các dòng lúa Hương thơm số 1 được thể hiện qua bảng:
Bảng 4.3 Chiều cao cây của các dòng lúa Hương thơm số 1 (cm)
KH dòng 1TSC 2TSC 3TSC 4TSC 5TSC 6TSC CCCC Đ/C 21,4 32,9 41,4 51,4 73,8 83,3 103,3
Qua bảng 4.3 cho thấy chiều cao các dòng lúa Hương thơm số 1 tăng dần qua các tuần theo dõi
Từ giai đoạn 1TSC đến 4TSC, cây lúa hương thơm số 1 đang trong quá trình bén rễ hồi xanh, dẫn đến chiều cao tăng chậm Tuy nhiên, từ 5TSC đến 7TSC, khi bộ rễ đã phát triển và được chăm sóc bằng cách bón phân, chiều cao lúa tăng nhanh chóng.
Các dòng lúa Hương thơm số 1 có tốc độ tăng trưởng chiều cao và chiều cao cây cuối cùng thấp hơn so với công thức Đ/C, ngoại trừ dòng H3 với chiều cao cây cuối cùng đạt 103,8 cm, cao hơn Đ/C.
Bảng 4.4 chiều cao cây của các dòng lúa Bắc thơm 7 (cm)
KH dòng 1TSC 2TSC 3TSC 4TSC 5TSC 6TSC CCCC Đ/C 18,3 26,8 32,4 40,5 57,3 70,2 94,3
Qua bảng 4.4 ở giai đoạn từ 1TSC – 5TSC chiều cao các dòng lúa Bắc thơm 7 tăng chậm
Chiều cao của cây lúa Bắc thơm 7 tăng nhanh trong giai đoạn từ 6TSC đến 7TSC Theo công thức Đ/C, chiều cao cuối cùng của các dòng lúa này đều cao hơn, ngoại trừ dòng B9 có chiều cao thấp hơn, chỉ đạt 93,5 cm.
4.1.3 Động thái đẻ nhánh của các dòng lúa Đẻ nhánh là một đặc điểm nông sinh học của cây lúa có liên quan chặt chẽ đến quá trình hình thành số bông và năng suất lúa sau này Khà năng đẻ nhánh của lúa phụ thộc nhiều vào nhiều yếu tố như: giống, phân bón, đất đai, các yếu tố khí hậu, chế độ thâm canh…Những giống lúa đẻ nhánh sớm, đẻ luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si nhánh tập trung sẽ cho tỷ lệ bông hữu hiệu cao Ngược lại những giống lúa đẻ nhánh muộn, đẻ nhánh lai rai thì tỷ lệ bông hữu hiệu thấp dẫn đến khả năng cho năng suất thấp Động thái đẻ nhánh của các dòng lúa thuần được thể hiện qua bảng 4.5, 4.6 Bảng 4.5 Động thái đẻ nhánh của các dòng lúa Hương thơm số 1
4TSC 5TSC 6TSC 7TSC 8TSC SNHH Đ/C 1,0 1,7 3,3 6,3 5,4 4,7
H19 0,8 2,2 4,4 8,9 6,6 5,0 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Bảng 4.6 Động thái đẻ nhánh của các dòng lúa Bắc thơm 7
4TSC 5TSC 6TSC 7TSC 8TSC SNHH Đ/C 1,0 1,2 3,4 8,6 6,6 5,3
Từ các bảng trên, có thể thấy rằng tất cả các dòng lúa của hai giống lúa đều bắt đầu đẻ nhánh vào tuần thứ 4 sau khi cấy, khi rễ lúa đã phát triển đầy đủ Trong giai đoạn này, với các biện pháp chăm sóc kỹ thuật như bón phân, cây lúa bắt đầu đẻ nhánh Giai đoạn đẻ nhánh nhanh nhất diễn ra từ tuần thứ 6 đến tuần thứ 7 sau cấy Sau tuần thứ 7, số nhánh ở tất cả các dòng có xu hướng giảm dần do cây lúa đang tập trung dinh dưỡng cho quá trình làm đòng Một số nhánh bắt đầu lụi đi do thiếu chất dinh dưỡng, trong khi những nhánh còn lại chính là số nhánh hữu hiệu của cây.
Theo bảng 4.5, so với công thức Đ/C, các dòng H4, H9, H12, H17 có số nhánh hữu hiệu thấp hơn, trong khi các dòng còn lại đều có số nhánh hữu hiệu cao hơn mức 4,7 nhánh Bảng 4.6 cho thấy các dòng B2 cũng có sự khác biệt đáng chú ý.
B3, B5, B10, B14 có SNHH cao hơn so với công thức Đ/C (5,3 nhánh) Các dòng còn lại đều có SNHH thấp hơn
4.1.4 Khả năng chống chịu sâu bệnh của các dòng lúa thuần Sâu bệnh là một trong những đối ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng của cây lúa Trên cùng một giống thì sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh phụ thuộc rất lớn vào điều kiện khí hậu, điều kiện dinh dưỡng, mật độ cấy…
Theo tình hình sâu bệnh hại, các loại sâu bệnh chủ yếu ảnh hưởng đến các dòng lúa thuần trong vụ xuân bao gồm: khô vằn, bạc lá (BT7), sâu cuốn lá và sâu đục thân.
Kết quả theo dõi được trình bày tại Bảng 4.7, 4.8 Bảng 4.7 Tình hình sâu bệnh hại các dòng lúa Hương thơm số 1
Bệnh hại (điểm) Sâu hại (điểm)
Khô vằn Bạc lá Sâu đục thân Sâu cuốn lá Rầy nâu Đ/C 3 0 0 0 0
H19 1 0 0 1 0 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Bảng 4.8 Tình hình sâu bệnh hại các dòng lúa Bắc thơm 7
KH dòng Bệnh hại (điểm) Sâu hại (điểm)
Khô vằn Bạc lá Sâu đục thân Sâu cuốn lá Rầy nâu Đ/C 0 0 0 0 0
Nghiên cứu cho thấy, trong giai đoạn đẻ nhánh, thời tiết mưa phùn, nồm ẩm và âm u tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh khô vằn phát triển Các dòng lúa Hương thơm số 1 và Bắc thơm 7 không bị rầy nâu tấn công, trong khi dòng Hương thơm số 1 không bị bệnh bạc lá, còn bệnh này chỉ xuất hiện trên dòng Bắc thơm 7, đặc biệt là dòng B1 và B8 với mức độ hại nặng Ở giai đoạn lúa làm đòng – trỗ, thời tiết nắng nóng xen lẫn mưa tạo điều kiện cho sâu cuốn lá và sâu đục thân phát triển nhẹ, với mức độ hại ở các dòng lúa Hương thơm số 1 và Bắc thơm 7 chỉ ở điểm 0-1.
Trong vụ xuân, các dòng lúa thuần thường bị ảnh hưởng bởi nhiều loại sâu bệnh hại, bao gồm sâu cuốn lá, sâu đục thân trong giai đoạn đẻ nhánh, và khô vằn trong giai đoạn làm đòng – trỗ Đặc biệt, hiện tượng bạc lá chỉ xảy ra trên các dòng lúa Bắc thơm 7.
4.1.5 Các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng lúa thuần
4.1.5.1 Các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng lúa Hương thơm số 1
Bảng 4.9 các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng lúa Hương thơm số 1
Số hạt chắc/bôn g (hạt)
Hương thơm ĐC 23,0 4,7 171,6 153,9 89,70 23,40 88,70 62,00 Trắng Thơm
TB 22,7 157,1 Độ lệch chuẩn 0,4 10,9 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
4.1.5.2 Các yếu tố cấu thành năng suất của cá dòng lúa Bắc thơm 7
Bảng 4.10 các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng lúa Bắc thơm 7
Số hạt chắc/ bông (hạt)
TB 22,1 143,2 Độ lệch chuẩn 0,5 16,1 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Số bông/khóm là yếu tố quan trọng nhất quyết định năng suất lúa, phụ thuộc vào số dảnh cấy, khả năng đẻ nhánh, tỷ lệ nhánh hữu hiệu, cũng như chế độ bón phân và tưới nước Thời kỳ đẻ nhánh, đặc biệt là giai đoạn đẻ nhánh hữu hiệu, là thời điểm quyết định số bông/khóm Do đó, việc áp dụng các biện pháp canh tác hợp lý như chế độ bón phân và tưới nước trong và sau thời kỳ đẻ nhánh có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình đẻ nhánh và hình thành số bông.
Các giống lúa có đặc tính đẻ nhánh sớm và tập trung, cùng với diện tích lá và góc độ lá đòng phù hợp, sẽ mang lại hiệu quả cao trong việc tạo nhánh Đối với các giống lúa thấp cây và chịu thâm canh tốt, có thể cấy dày, trong khi các giống lúa cao cây và chịu thâm canh kém nên được cấy thưa hơn để tránh hiện tượng lốp đổ.
Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa thuần
4.2.1 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến chiều cao cây của các giống lúa thí nghiệm Động thái tăng trưởng chiều cao cây là một chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng và phát triển của cây lúa Sự tăng trưởng chiều cao cây nhanh hay chậm phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó phân đạm có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa Sự tăng trưởng chiều cao cây mạnh ngay từ ban đầu sẽ thuận lợi cho sinh trưởng về sau vì cây sớm đạt độ đồng hóa và duy trì hệ số đó trong thời gian dài Đây là cơ sở cho việc tăng năng suất cây trồng
Kết quả theo dõi ảnh hưởng của lượng đạm bón đến sự tăng trưởng chiều cao cây được trình bày trong bảng Thông tin chi tiết có thể được tìm thấy trong luận văn tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ mới nhất.
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến tăng trưởng chiều cao của các giống lúa thí nghiệm Đơn vị: cm
Công thức Thời điểm theo dõi
1TSC 2TSC 3TSC 4TSC 5TSC 6TSC CCCC
Qua bảng 4.11 cho thấy, hai công thức không bón đạm (G1N1, G2N1) có chiều cao cây thấp nhất ở tất cả các giai đoạn
Chiều cao cuối cùng của lúa ở các mức đạm dao động từ 95,1 cm đến 98,8 cm, với mức thấp nhất là ở nhóm không bón đạm và mức 90 kg N/ha, trong khi mức 120 kg N/ha cho chiều cao cao nhất Điều này cho thấy rằng, trong một giới hạn nhất định, việc tăng lượng đạm bón sẽ làm tăng chiều cao cây, nhưng khi đã đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của cây, chiều cao cuối cùng sẽ không tăng thêm mặc dù có tăng lượng đạm bón.
Chiều cao cuối cùng của các giống lúa dao động từ 90,5 cm đến 106,0 cm, phụ thuộc vào giống và lượng đạm bón Cây lúa có sự tăng trưởng mạnh mẽ trong giai đoạn 4-5 tuần sau cấy, nhưng từ tuần thứ 6 trở đi, chiều cao cây tăng chậm lại do lúa đang bước vào thời kỳ làm đòng.
Khi tăng lượng đạm bón từ N1 lên N2, chiều cao cây lúa tăng mạnh, nhưng khi tiếp tục nâng mức đạm, mức tăng chiều cao lại giảm Sự khác biệt về chiều cao cuối cùng giữa các mức đạm N1, N2 và các mức đạm cao hơn là có ý nghĩa Tuy nhiên, trong cùng một giống lúa, sự khác nhau về CCCC giữa mức đạm N3 và N4 không có ý nghĩa ở độ tin cậy 95%.
Các giống cây khác nhau có ảnh hưởng đáng kể đến chiều cao cuối cùng, ngay cả khi mức đạm được giữ ổn định Điều này cho thấy sự khác biệt giữa các giống cây ảnh hưởng đến sự tăng trưởng chiều cao và chất lượng cây trồng.
Trong nghiên cứu, hai yếu tố thí nghiệm là lượng đạm bón và giống đã có ảnh hưởng rõ rệt đến CCCC Kết quả cho thấy sự tương tác giữa giống và lượng đạm bón, trong đó các CT G1N1 và G2N1 đạt CCCC thấp nhất, trong khi các CT G1N3, G1N4, G2N3 và G2N4 đạt CCCC cao nhất.
4.2.2 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến số nhánh của các giống lúa thí nghiệm Đẻ nhánh là một đặc tính sinh học của cây lúa, số nhánh đẻ liên quan chặt chẽ đến quá trình hình thành số bông hữu hiệu và năng suất sau này Song khả năng đẻ nhánh của cây lúa lại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: điều kiện thời tiết, chế dộ dinh dưỡng, mật độ, nguồn nước cũng như điều kiện kỹ thuật canh tác Ở giai đoạn đầu, do bộ rễ phát triển chưa hoàn chỉnh nên khả năng đẻ nhánh còn thấp, sau cấy 4 tuần lúc này bộ rễ đã phát triển hoàn chỉnh, phát huy khả năng hút đạm để thúc đẻ nhánh Khả năng đẻ nhánh tăng dần ở những tuần sau đó, số nhánh ở tất cả các công thức đạt tối đa vào giai đoạn 4-6 tuần sau cấy Từ tuần thứ 8 sau cấy những nhánh vô hiệu bắt đầu lụi đi và số nhánh ổn định vào giai đoạn hình thành bông hữu hiệu Kết quả theo dõi động thái đẻ nhánh của hai giống lúa được thể hiện qua bảng: luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Bảng 4.12 Ảnh h hưởng của lượng đạm bón đến số nhánh của các giống lúa thí nghiệm
Công thức Thời điểm theo dõi
1TSC 2TSC 3TSC 4TSC 5TSC 6TSC SNHH
Bảng 4.12 cho thấy rằng khả năng đẻ nhánh của các công thức khác nhau không có sự khác biệt đáng kể Nguyên nhân là do các công thức khi cấy gặp thời tiết lạnh và cấy mạ đã 35 ngày tuổi, dẫn đến khả năng đẻ nhánh kém.
Theo dõi khả năng đẻ nhánh của lúa cho thấy số nhánh tối đa dao động từ 5,8 đến 6,7 nhánh Công thức có số nhánh tối đa cao nhất là G2N2 với 6,7 nhánh, tiếp theo là G2N3 với 6,6 nhánh Đối với giống Hương thơm số 1, công thức bón đạm N3 (90kg/ha) đạt số nhánh tối đa là 6,3 nhánh.
Khả năng đẻ nhánh của lúa đạt cao nhất từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 5 sau cấy, với đỉnh điểm vào tuần thứ 5 Trong giai đoạn này, hầu hết các nhánh đẻ sẽ trở thành nhánh hữu hiệu Tuy nhiên, khả năng đẻ nhánh giảm dần từ tuần thứ 6 trở đi, khi cây lúa chuyển sang giai đoạn làm đòng và tập trung dinh dưỡng cho quá trình này, dẫn đến một số nhánh bắt đầu lụi do thiếu chất dinh dưỡng.
Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến chỉ số diện tích lá các giống lúa
Lá là cơ quan chính thực hiện quang hợp ở cây, vì vậy diện tích lá ảnh hưởng trực tiếp đến lượng quang hợp Trong một giới hạn nhất định, có mối quan hệ thuận giữa hệ số diện tích lá (LAI) và lượng quang hợp Tuy nhiên, khi vượt qua giới hạn này, sản lượng chất khô thực tế sẽ giảm do quá trình hô hấp tỷ lệ thuận với LAI Chỉ số diện tích lá là chỉ tiêu sinh lý quan trọng để đánh giá khả năng phát triển của bộ lá trong quần thể lúa, và nó thay đổi theo giống, lượng phân bón và mật độ cấy Do đó, cần điều chỉnh các yếu tố này hợp lý để đạt được chỉ số diện tích lá tối ưu ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng, từ đó tối đa hóa quá trình quang hợp và tạo ra các chất hữu cơ.
Chỉ số diện tích lá (LAI) của các giống lúa tăng dần trong quá trình sinh trưởng từ khi bén rễ đến thời kỳ trỗ LAI tăng mạnh trong giai đoạn từ đẻ nhánh đến trỗ, nhưng sau đó, khi cây lúa bước vào thời kỳ chín, sự phát triển về thân lá bắt đầu giảm dần Kết quả theo dõi chỉ số diện tích lá ở hai giống lúa thí nghiệm cũng cho thấy quy luật tương tự, cho thấy đạm có tác dụng mạnh trong giai đoạn đầu sinh trưởng, làm tăng nhanh hệ số diện tích lá của cây lúa.
Bảng 4.13 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến chỉ số diện tích lá của các giống lúa (m 2 lá/m 2 đất) Đơn vị: m 2 lá/m 2 đất
Công thức Thời điểm theo dõi Đẻ nhánh Trỗ Chín sáp
Qua bảng 4.13 cho thấy: chỉ số diện tích lá đạt cao nhất vào thời kỳ trỗ
Trong giai đoạn chín sáp, chỉ số diện tích lá giảm do dinh dưỡng chủ yếu tập trung vào việc nuôi hạt, dẫn đến nhiều lá bị vàng và héo.
Giống lúa Bắc thơm 7 có diện tích lá tối đa đạt 4,5 m² lá/m² đất ở giai đoạn trỗ, thấp hơn so với giống lúa Hương thơm số 1 với 5,7 m² lá/m² đất Khi tăng lượng đạm từ 0N lên 120N, chỉ số diện tích lá (LAI) ở giai đoạn đẻ nhánh tăng từ 2,4 m² lá/m² đất lên 3 m² lá/m² đất Ở giai đoạn trỗ, LAI dao động từ 4,5 m² lá/m² đất đến 5,6 m² lá/m² đất, nhưng giảm xuống còn 3,0 – 3,6 m² lá/m² đất ở giai đoạn chín sáp Sự khác biệt này chỉ có ý nghĩa thống kê ở giai đoạn trỗ Trong thời kỳ đẻ nhánh rộ, chỉ số diện tích lá cao nhất đạt 3,2 ở giống Hương thơm số 1 và 2,8 ở giống Bắc thơm 7 khi bón 120kg N Ở mức bón 0kg N, LAI thấp nhất chỉ đạt 3,0 (Hương thơm số 1) và 1,9 (Bắc thơm 7) Không có sự khác biệt có ý nghĩa ở mức bón 90 - 120N tại độ tin cậy 95%, trong khi mức bón 120kg N cho LAI cao hơn so với đối chứng (0kg N) có ý nghĩa ở mức tin cậy 95%.
Giai đoạn trỗ là thời kỳ mà chỉ số diện tích lá (LAI) đạt cao nhất trong quá trình sinh trưởng của cây lúa, với sự chênh lệch giữa công thức thấp nhất G2N1 và công thức cao nhất G1N4 là 2,3 m² lá/m² đất Việc tăng lượng đạm bón từ 0N lên 120N đã dẫn đến LAI ở các công thức bón đạm cao hơn một cách có ý nghĩa so với công thức không bón đạm.
Trong giai đoạn chín sáp, chỉ số diện tích lá (LAI) ở tất cả các công thức đều giảm, với giá trị dao động từ 2,9 đến 4,1 Công thức G1N4 đạt LAI cao nhất là 4,1 m² lá/m² đất Ở giai đoạn này, các công thức có lượng phân bón cao cho cả hai giống lúa duy trì LAI ở mức cao hơn so với các công thức khác Điều này cho thấy rằng việc sử dụng phân bón với liều lượng cao giúp duy trì bộ lá lâu hơn, từ đó kéo dài quá trình quang hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích lũy sau trỗ.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan (2005) chỉ ra rằng, trong cùng một giai đoạn theo dõi, khi mức bón đạm tăng, chỉ số diện tích lá (LAI) tăng ở giai đoạn đẻ nhánh Tuy nhiên, ở các giai đoạn sau, LAI tăng nhưng không đáng kể và bắt đầu giảm khi mức bón đạm vượt quá 150kg N/ha ở giai đoạn trỗ và 100kg N/ha ở giai đoạn chín sữa Kết quả từ bảng 4.13 cho thấy LAI ở cả ba giai đoạn đều có xu hướng tăng khi mức đạm bón tăng, nhưng mức tăng không nhiều.
Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến chỉ số diệp lục lá (spad) của hai giống lúa
Chỉ số diệp lục lá được tiến hành đo vào 3 giai đoạn: đẻ nhánh, trỗ và chín sáp, kết quả được trình bày qua bảng 4.13 như sau:
Bảng 4.14 Chỉ số SPAD của các giống lúa ở các giai đoạn sinh trưởng
Công thức Thời điểm theo dõi Đẻ nhánh Trỗ Chín sáp
Kết quả bảng 4.14 cho thấy chỉ số SPAD của các giống đều giảm dần từ giai đoạn đẻ nhánh rộ đến giai đoạn trỗ giai đoạn chín sáp
Giai đoạn đẻ nhánh rộ chỉ số diệp lục lá của các giống có sự sai khác, tuy nhiên sự sai khác này không khác nhau ở mức ý nghĩa
Giai đoạn trỗ các công thức có chỉ số SPAD dao động từ 39,4 – 48,8, trong đó công thức G1N4 (41,3), G2N4 (48,8) có chỉ số SPAD cao nhất
Giai đoạn chín sáp chỉ số SPAD của các công thức giảm dần, các công thức G1N4 , G2N2 có chỉ số SPAD cao nhất lần lượt là 39 (G1N4) và 45,4 (G2N2)
Chỉ số diệp lục lá trong các giai đoạn sinh trưởng của công thức G1N1 và G2N4 đạt mức cao nhất, ngoại trừ giai đoạn chín sáp.
Khả năng tích lũy chất khô của các giống lúa
Cây lúa bắt đầu tích lũy chất khô mạnh mẽ khoảng 2 tuần trước khi trỗ, đạt mức cực đại trong bẹ và thân vào thời điểm trỗ Khi chín, chất khô chủ yếu được vận chuyển về hạt Khả năng tích lũy chất khô và vận chuyển các chất hữu cơ từ cơ quan sinh trưởng đến cơ quan sinh sản là yếu tố quyết định năng suất hạt Do đó, khả năng tích lũy chất khô cao của cây lúa sẽ dẫn đến tiềm năng năng suất lớn hơn Kết quả nghiên cứu về chất khô tích lũy của các giống lúa qua các giai đoạn sinh trưởng được trình bày trong bảng 4.1.
Bảng 4.15 Khối lượng chất khô tích lũy của các giống lúa ở các giai đoạn sinh trưởng (gam/khóm) Đơn vị: g/khóm
Công thức Thời điểm theo dõi Đẻ nhánh Trỗ Chín sáp
LSD0,05(GXN) 1,2 4,6 3,1 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Theo bảng 4.14, ba thời kỳ theo dõi trong thí nghiệm đều cho thấy khả năng tích lũy chất khô mạnh Khả năng này tăng dần từ thời kỳ đẻ nhánh đến thời kỳ trỗ và thời kỳ chín sáp.
Khối lượng chất khô trung bình của giống lúa Bắc thơm 7 thấp hơn so với giống Hương thơm số 1 ở tất cả các thời kỳ, với sự khác biệt có ý nghĩa chỉ ở thời kỳ chín sáp, khi Bắc thơm 7 đạt 23,1g/khóm và Hương thơm số 1 là 27,7g/khóm Ở giai đoạn đẻ nhánh hữu hiệu, khi tăng mức đạm bón từ 0kg lên 120kg/ha, khối lượng chất khô tích lũy trung bình tăng lên một cách có ý nghĩa Cụ thể, khối lượng chất khô của giống Bắc thơm 7 dao động từ 5,0-5,8g/khóm, trong khi giống Hương thơm số 1 từ 5,5-6,2g/khóm Cả hai giống đều cho thấy sự gia tăng có ý nghĩa khi tăng mức đạm từ 0N đến 120kgN/ha, với Hương thơm số 1 tăng từ 4,9-6,2g/khóm và Bắc thơm 7 tăng từ 2,5-5,8g/khóm.
Trong giai đoạn trỗ, khối lượng chất khô tăng nhanh so với thời kỳ đẻ nhánh hữu hiệu Đặc biệt, giống Bắc thơm 7 cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa khi tăng lượng đạm từ N1 (0kg/ha) lên N4 (120kg/ha) Ngược lại, giống Hương thơm số 1 không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai mức đạm này.
Trong giai đoạn chín sáp, phân tích khối lượng chất khô cho thấy giống lúa Hương thơm số 1 đạt 27,7g/khóm, cao hơn đáng kể so với giống Bắc thơm 7 với 23,1g/khóm Khi tăng mức đạm từ N1 lên N4, khối lượng chất khô của giống Hương thơm số 1 tăng từ 25,3 lên 30,0g/khóm, trong khi giống Bắc thơm 7 cũng có sự gia tăng từ 19,6 lên 24,7g/khóm.
Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến tình hình sâu bệnh hại của các giống lúa
Sâu bệnh là nguyên nhân chính làm giảm năng suất và chất lượng lúa, do đó khả năng chống chịu với sâu bệnh là yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất cây trồng Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của sâu bệnh Vì vậy, cần áp dụng các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hiệu quả để bảo vệ mùa màng.
Tình hình sâu bệnh hại của các giống ở các công thức bón đạm khác nhau được thể hiện qua bảng 4.16
Bảng 4.16 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến tình hình sâu bệnh hại của các giống lúa Đơn vị: Điểm
Theo bảng 4.16, vào cuối vụ xuân năm 2016, thời tiết ấm lên đã dẫn đến sự xuất hiện của một số bệnh hại như khô vằn và bạc lá, nhưng mức độ nhiễm chỉ nhẹ Bệnh bạc lá chỉ ghi nhận trên giống Bắc thơm 7 với mức độ 1 điểm ở công thức bón đạm N2 Trong giai đoạn lúa làm đòng – trỗ bông, thời tiết có những ngày nắng nóng xen lẫn mưa, tạo điều kiện cho sâu đục thân và sâu cuốn lá phát triển, nhưng mức độ nhiễm vẫn ở mức nhẹ (từ 0-1 điểm) trên tất cả các công thức.
Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
4.7.1 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa
Năng suất là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tác động của các biện pháp kỹ thuật và điều kiện canh tác, bao gồm cả phân bón Giống có năng suất cao phụ thuộc vào hai yếu tố chính: yếu tố di truyền và điều kiện ngoại cảnh như khí hậu, đất đai, và biện pháp kỹ thuật Năng suất chịu ảnh hưởng trực tiếp từ số bông/khóm, số hạt chắc/bông, và khối lượng 1000 hạt Do đó, để tăng năng suất lúa, cần kết hợp yếu tố giống với các biện pháp kỹ thuật phù hợp nhằm phát huy tối đa tiềm năng của các yếu tố cấu thành năng suất.
Bảng 4.17 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa
Công thức Số bông/m 2 Số hạt/bông Tỷ lệ hạt chắc (%)
CV% 18,4 17,3 2,1 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Số bông/m² là yếu tố quyết định và sớm nhất trong các yếu tố cấu thành năng suất Mỗi công thức chính có số bông tương ứng với số nhánh hữu hiệu của nó Ví dụ, giống lúa Hương thơm số 1 đạt 249,2 bông/m², cao hơn so với giống lúa Bắc thơm 7 với 239,8 bông/m², và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.
Số hạt/bông là yếu tố quyết định năng suất lúa, với giống Hương thơm số 1 đạt 158,5 hạt, cao hơn giống Bắc thơm 7 (147,8 hạt) Sự thay đổi mức đạm bón ảnh hưởng rõ rệt đến số hạt trên bông; khi tăng đạm từ 0kg đến 90kg/ha, số hạt tăng lên, nhưng khi đạt 120kg/ha, số hạt có xu hướng giảm Giống Hương thơm số 1 có số hạt/bông cao nhất ở công thức G1N3 với 171,6 hạt, tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa so với công thức G1N4 (166,6 hạt).
Khối lượng 1000 hạt là yếu tố quyết định năng suất lúa, với sự biến động tương đối ít so với các yếu tố khác, chủ yếu phụ thuộc vào giống lúa Giống lúa Hương thơm số 1 có khối lượng 1000 hạt trung bình là 23,4g, trong khi giống lúa Bắc thơm 7 có khối lượng thấp hơn, chỉ đạt 19,3g.
Năng suất lý thuyết được xác định từ các yếu tố cấu thành năng suất, là tổng hợp của tất cả các yếu tố này Việc phân tích các chỉ số của các yếu tố này giúp xây dựng các biện pháp kỹ thuật nông học phù hợp để khai thác tiềm năng năng suất của giống Đặc biệt, năng suất lý thuyết của giống Hương thơm số 1 cao hơn so với giống Bắc thơm 7 Ngoài ra, lượng đạm bón 120kg/ha cho thấy ảnh hưởng tích cực nhất đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết của cả hai giống.
4.7.2 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến năng suất thực thu và hệ số kinh tế của các giống lúa
Bảng 4.18 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến năng suất thực thu và hệ số kinh tế của các giống lúa Đơn vị: tạ/ha
Công thức NSTT NSSVH HSKT
Chữ cái giống nhau trong cùng một cột cho thấy sự khác biệt không có ý nghĩa ở mức độ tin cậy 95% Tải xuống luận văn tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ mới nhất qua email: z z @gmail.com.
Năng suất thực thu là lượng sản phẩm thực tế thu được, phản ánh tổng hợp các yếu tố trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá tác động của các biện pháp kỹ thuật lên giống lúa Kết quả nghiên cứu cho thấy năng suất thực thu của giống Hương thơm số 1 cao hơn so với giống Bắc thơm 7.
Nghiên cứu cho thấy, khi tăng mức đạm từ 0N lên 90N, năng suất thu hoạch (NSTT) có xu hướng tăng từ 53,8 tạ/ha lên 61,4 tạ/ha Tuy nhiên, khi mức đạm tiếp tục tăng lên 120N, năng suất thực thu lại giảm nhẹ xuống còn 59,9 tạ/ha, nhưng không có ý nghĩa thống kê Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Lưu Ngọc Quyến và cộng sự.
(2014) công thức bón (80-100kg N + 90kg K2O)/ha trên nền 8 tấn phân chuồng + 90kg P2O5/ha cho năng suất thực thu cao nhất
Giống lúa Hương thơm số 1 cho thấy năng suất tăng có ý nghĩa khi mức đạm bón tăng từ 0kg lên 90N, đạt 62 tạ/ha, nhưng giảm nhẹ xuống 60 tạ/ha khi tăng lên 120N mà không có ý nghĩa thống kê Trong khi đó, giống lúa Bắc thơm 7 đạt năng suất cao nhất 60,8 tạ/ha ở mức đạm 90N, vượt trội hơn so với các mức bón thấp hơn, nhưng cũng giảm xuống 59,8 tạ/ha khi tăng lên 120N mà không có ý nghĩa thống kê.
Ở lượng đạm bón N2, NSTT tương đối cao, trong khi sự sai khác về NSTT ở lượng đạm bón N3 và N2 không có ý nghĩa ở độ tin cậy 95% Do đó, cần xem xét thêm hiệu quả sử dụng đạm để phát triển công thức đạt hiệu quả cao hơn.
Biểu đồ 4.1 Năng suất thực thu của các công thức bón đạm ở hai giống
Hương thơm số 1 và Bắc thơm 7 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Năng suất sinh vật học là tổng khối lượng của cây, bao gồm cả rơm rạ và thóc, phản ánh tiềm năng năng suất và khả năng tích lũy chất khô của lúa Kết quả cho thấy năng suất sinh vật học dao động từ 121,5 đến 131,9 tạ/ha Đạm đóng vai trò quan trọng trong quá trình tích lũy chất khô của lúa; khi tăng mức đạm bón, năng suất sinh vật học cũng tăng lên đáng kể, đạt cao nhất ở mức 120kg/ha.
Hệ số kinh tế của giống cây trồng phản ánh khả năng tích lũy chất khô, đặc biệt là ở cây lúa, nơi hệ số này cho thấy khả năng tích lũy chất khô vào hạt Hệ số kinh tế cao cho thấy khả năng tích lũy mạnh mẽ hơn, nhưng cũng bị ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết, phân bón và đất đai, đặc biệt trong giai đoạn sau trỗ Kết quả từ bảng 4.17 cho thấy giống Hương thơm số 1 có hệ số kinh tế dao động từ 0,42 đến 0,47, với mức cao nhất ở công thức bón đạm 90kgN/ha Đối với giống lúa Bắc thơm 7, công thức không bón đạm có hệ số kinh tế thấp nhất là 0,44, trong khi công thức bón đạm G2N3 đạt 0,50 Sự khác biệt về hệ số kinh tế giữa hai giống là không đáng kể.
4.7.3 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến hiệu suất sử dụng đạm của các giống lúa
Hiệu suất phân đạm (kg thóc/kgN) là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả kinh tế trong việc sử dụng phân đạm trong sản xuất Theo bảng 4.19, hiệu suất bón đạm dao động từ 10,76 kg thóc/kg N ở CT G2N4 đến 21,49 kg thóc/kg N ở CT G2N2.
Theo xu hướng tăng lượng đạm bón, hiệu suất phân đạm có xu hướng giảm, dẫn đến năng suất thu hoạch của giống lúa cũng bị ảnh hưởng tiêu cực.
Bảng 4.19 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến hiệu suất sử dụng đạm của các giống lúa Đơn vị: kg thóc/ kg N
Hiệu suất sử dụng đạm (kg thóc/kg N)
Hiệu suất sử dụng đạm của các giống bắt đầu giảm khi lượng đạm bón tăng từ công thức N2 lên N3 Khi tiếp tục tăng lượng đạm bón lên công thức N4, hiệu suất bón đạm giảm mạnh ở tất cả các giống.