1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn

206 754 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn
Tác giả Hà Thị Thanh Đoàn
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Hữu Hồng, TS. Nguyễn Văn Toàn
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Khoa học cây trồng
Thể loại Luận án tiến sĩ nông nghiệp
Năm xuất bản 2014
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 206
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HÀ THỊ THANH ĐOÀNNGHIÊN CỨU SỬ DỤNG MỘT SỐ VẬT LIỆU HỮU CƠ VÀ CHẾ PHẨM VI SINH TRONG SẢN XUẤT CHÈ AN TOÀN Chuyên ngành: Khoa học cây trồng Mã số: 62 62 01 10 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHI

Trang 1

HÀ THỊ THANH ĐOÀN

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG MỘT SỐ

VẬT LIỆU HỮU CƠ VÀ CHẾ PHẨM VI SINH

TRONG SẢN XUẤT CHÈ AN TOÀN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 2

HÀ THỊ THANH ĐOÀN

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG MỘT SỐ VẬT LIỆU HỮU CƠ VÀ CHẾ PHẨM VI SINH

TRONG SẢN XUẤT CHÈ AN TOÀN

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng

Mã số: 62 62 01 10

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Hữu Hồng

2 TS Nguyễn Văn Toàn

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan tất cả những kết quả nghiên cứu trong công trình này là trung thực và chưa được công bố ở bất kỳ công trình nào khác Nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn Mọi trích dẫn trong Luận án đều đã được ghi rõ nguồn gốc

Nghiên cứu sinh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được công trình này, tác giả xin chân thành cảm ơn sự

giúp đỡ, hướng dẫn, hỗ trợ và tạo điều kiện của: PGS.TS Nguyễn Hữu Hồng,

TS Nguyễn Văn Toàn, Ban Giám hiệu Trường Đại học Hùng Vương Phú

Thọ, Phòng Quản lý Đào tạo sau Đại học, Khoa Nông học trường Đại học

Nông Lâm Thái Nguyên, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi

phía Bắc, Viện Thổ Nhưỡng Nông Hóa

Nghiên cứu sinh

Hà Thị Thanh Đoàn

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt vii

Danh mục các bảng viii

Danh mục các hình xi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Những đóng góp mới của luận án 4

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu sản xuất chè an toàn ở Việt Nam 5

1.1.1 Tình hình sản xuất chè an toàn ở Việt Nam 5

1.1.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất chè an toàn ở Việt Nam 7

1.2 Yêu cầu về đất trồng chè và thực trạng đất trồng chè ở một số vùng chè chính của Việt Nam 8

1.2.1 Yêu cầu về đất trồng chè 8

1.2.2 Thực trạng đất trồng chè ở một số vùng chè chính của Việt Nam 9

1.3 Tình hình nghiên cứu sử dụng vật liệu tủ trong sản xuất chè 13

1.3.1 Tác dụng của che tủ thực vật 13

1.3.2 Nghiên cứu về các loại vật liệu che tủ cho chè 15

Trang 6

1.3.3 Nghiên cứu về kỹ thuật che tủ cho chè 18

1.4 Nhu cầu dinh dưỡng của cây chè 20

1.4.1 Nhu cầu về đạm 20

1.4.2 Nhu cầu về lân 23

1.4.3 Nhu cầu về kali 24

1.4.4 Các nguyên tố khác 26

1.5 Nghiên cứu về phân bón vi sinh trên thế giới và Việt Nam 28

1.5.1 Vai trò, thành phần của vi sinh vật 28

1.5.2 Nghiên cứu về các chủng vi sinh vật có khả năng phân giải xelluloza 30 1.5.3 Tình hình nghiên cứu về phân bón vi sinh vật trên thế giới và Việt Nam 32

1.6 Luận giải, phân tích các nội dụng cần đặt ra nghiên cứu 41

Chương 2: NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

2.1 Nội dung nghiên cứu 43

2.2 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 43

2.2.1 Vật liệu nghiên cứu 43

2.2.2 Đối tượng nghiên cứu 44

2.2.3 Hóa chất và dụng cụ 45

2.3 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 46

2.4 Phương pháp nghiên cứu 46

2.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 46

2.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 46

2.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi 51

2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 54

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 55

3.1 Ảnh hưởng của một số vật liệu che tủ hữu cơ đến năng suất, chất lượng, tính chất đất trồng chè 55

3.1.1 Một số tính chất đất trước thí nghiệm 55

Trang 7

3.1.2 Ảnh hưởng của vật liệu che tủ hữu cơ đến một số tính chất đất trồng chè 55

3.1.3 Ảnh hưởng của vật liệu che tủ hữu cơ đến năng suất giống chè LDP1 60 3.1.4 Ảnh hưởng của vật liệu che tủ hữu cơ đến chất lượng chè 63

3.1.5 Ảnh hưởng của vật liệu che tủ hữu cơ đến mật độ sâu hại chè 66

3.1.6 Đánh giá độ hoai mục của các vật liệu che tủ hữu cơ 68

3.2 Ảnh hưởng của các mức che tủ đến năng suất, chất lượng và một số tính chất đất trồng chè 69

3.2.1 Một số tính chất đất trước thí nghiệm 69

3.2.2 Ảnh hưởng của các mức che tủ đến một số tính chất đất 70

3.2.3 Ảnh hưởng của các mức che tủ đến năng suất 74

3.2.4 Ảnh hưởng của các mức che tủ đến chất lượng chè nguyên liệu 77

3.3 Tuyển chọn các chủng vi sinh vật phân giải xelluloza và đánh giá khả năng phân giải của chúng trên cành lá chè đốn 81

3.3.1 Phân lập, tuyển chọn các chủng vi sinh vật có khả năng phân giải xelluloza 81

3.3.2 Đánh giá hiệu quả xử lý thân cành chè của vi sinh vật tuyển chọn 84

3.4 Ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh đến năng suất, chất lượng và một số tính chất đất trồng chè 93

3.4.1 Tính chất đất trồng chè 93

3.4.2 Năng suất giống chè LDP1 98

3.4.3 Chất lượng chè nguyên liệu 100

3.5 Ảnh hưởng của phân hữu cơ sinh học đến năng suất, chất lượng và một số tính chất đất trồng chè 102

3.5.1 Tính chất đất trồng chè 102

3.5.2 Năng suất giống chè LDP1 107

3.5.3 Chất lượng chè LDP1 109

Trang 8

3.6 Xây dựng mô hình ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất chè an

toàn ở Phú Thọ 113

3.6.1 Đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 113

3.6.2 Đánh giá chất lượng 113

3.6.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế trong điều kiện thâm canh của mô hình so với sản xuất đại trà 114

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 115

1 Kết luận 115

2 Đề nghị 116

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ 117

TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

KẾT QUẢ XỬ LÝ SỐ LIỆU 132

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Hàm lượng kim loại cho phép trong chè 8

Bảng 3.1 Một số tính chất đất trước thí nghiệm sử dụng vật liệu che tủ hữu cơ 55

Bảng 3.2 Ảnh hưởng của vật liệu che tủ hữu cơ đến tính chất lý học của đất sau thí nghiệm 56

Bảng 3.3 Ảnh hưởng của vật liệu che tủ hữu cơ đến tính chất hóa học của đất sau thí nghiệm 58

Bảng 3.4 Ảnh hưởng của vật liệu che tủ đến thành phần và số lượng một số nhóm vi sinh vật đất 59

Bảng 3.5 Ảnh hưởng của vật liệu che tủ đến các yếu tố cấu thành năng suất chè LDP1 qua các năm 60

Bảng 3.6 Ảnh hưởng của vật liệu che tủ đến năng suất giống chè LDP1 62

Bảng 3.7 Ảnh hưởng của vật liệu che tủ đến phẩm cấp chè nguyên liệu 64

Bảng 3.8 Ảnh hưởng của các vật liệu tủ đến thành phần sinh hoá búp chè nguyên liệu 65

Bảng 3.9 Ảnh hưởng của vật liệu tủ đến mật độ rầy xanh 66

Bảng 3.10 Ảnh hưởng của vật liệu tủ đến mật độ bọ cánh tơ 68

Bảng 3.11 Diễn biến độ hoai mục của các vật liệu tủ 69

Bảng 3.12 Một số tính chất đất trước thí nghiệm 69

Bảng 3.13 Ảnh hưởng của các mức che tủ đến tính chất lý học của đất sau thí nghiệm 70

Bảng 3.14 Ảnh hưởng của các mức che tủ cành lá chè đốn đến tính chất lý học của đất sau thí nghiệm 71

Bảng 3.15 Ảnh hưởng các mức che tủ cành lá chè đốn đến thành phần và số lượng một số nhóm vi sinh vật đất 73

Trang 11

Bảng 3.16 Ảnh hưởng của các mức che tủ đến năng suất và các yếu tố

cấu thành năng suất chè LDP1 qua các năm 74 Bảng 3.17 Ảnh hưởng của các mức tủ đến phẩm cấp chè nguyên liệu 77 Bảng 3.18 Ảnh hưởng của các mức tủ đến thành phần sinh hóa búp 79 Bảng 3.19 Ảnh hưởng của các mức tủ đến thử nếm cảm quan mẫu chè

xanh giống chè LDP1 80 Bảng 3.20 Các chủng vi sinh vật phân lập 81 Bảng 3.21 Hoạt tính phân giải xelluloza của các chủng vi sinh vật

phân lập 82 Bảng 3.22 Tỷ lệ giảm khối lượng thân cành chè trong bình ủ ở 37 0

C sau

30 ngày 83 Bảng 3.23 Biến động của quần thể xạ khuẩn trong đống ủ 85 Bảng 3.24 Hàm lượng dinh dưỡng trong cành lá chè đốn sau khi xử lý ở

điều kiện đồng ruộng sau 12 tuần 87 Bảng 3.25 Một số chỉ tiêu hoá tính đất sau 2 năm thí nghiệm 88 Bảng 3.26 Ảnh hưởng của việc xử lý thân cành lá chè đến thành phần vi

sinh vật đất 89 Bảng 3.27 Ảnh hưởng của việc xử lý thân cành lá chè đốn đến các yếu

tố cấu thành năng suất chè qua các năm 91 Bảng 3.28 Ảnh hưởng của việc xử lý thân cành lá chè đốn đến năng suất

chè LDP1 92 Bảng 3.29 Ảnh hưởng chế phẩm vi sinh đến một số tính chất lý học của

đất trồng chè 94 Bảng 3.30 Ảnh hưởng của chế phẩm vi sinh đến một số tính chất hóa

học của đất trồng chè 96 Bảng 3.31 Ảnh hưởng của chế phẩm vi sinh đếnthành phần và số lượng

vi sinh vật đất 97

Trang 12

Bảng 3.32 Ảnh hưởng của chế phẩm vi sinh đến năng suất và các yếu tố

cấu thành năng suất giống chè LDP1 98

Bảng 3.33 Ảnh hưởng của các chế phẩm vi sinh đến phẩm cấp chè

nguyên liệu 100 Bảng 3.34 Ảnh hưởng của các chế phẩm vi sinh đến thành phần sinh hóa

búp chè 101 Bảng 3.35 Ảnh hưởng của các chế phẩm vi sinh đến thử nếm cảm quan

chè xanh giống chè LDP1 102 Bảng 3.36 Ảnh hưởng của phân hữu cơ sinh học đến tính chất lý học

của đất sau thí nghiệm 103 Bảng 3.37 Ảnh hưởng của phân hữu cơ sinh học đến một số tính chất

hóa học đất trồng chè 105 Bảng 3.38 Ảnh hưởng của phân hữu cơ sinh học đến thành phần và số

lượng một số nhóm vi sinh vật đất 107 Bảng 3.39 Ảnh hưởng của phân hữu cơ sinh học đến một số yếu tố cấu

thành năng suất chè LDP1 108 Bảng 3.40 Ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ sinh họcđến thành phần

cơ giới búp giống chè LDP1 110 Bảng 3.41 Ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ sinh học đến phẩm cấp

chè nguyên liệu giống LDP1 111 Bảng 3.42 Ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ sinh học đến thử nếm

cảm quan mẫu chè xanh giống chè LDP1 112 Bảng 3.43 So sánh năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của mô

hình thí nghiệm so với mô hình sản xuất đại trà 113 Bảng 3.44 So sánh điểm thử nếm cảm quan trong điều kiện sản xuất mô

hình và sản xuất đại trà 114 Bảng 3.45 Hiệu quả kinh tế của mô hình 114

Trang 13

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Biểu đồ ảnh hưởng của vật liệu tủ đến mật độ rầy xanh 67 Hình 3.2 Biểu đồ ảnh hưởng của vật liệu tủ đến mật độ bọ cánh tơ 68 Hình 3.3 Biểu đồ ảnh hưởng của các mức tủ đến sản lượng chè hàng năm 76 Hình 3.4 Vòng phân giải xelluloza của các chủng vi sinh vật 83 Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn biến động nhiệt độ trong quá trình xử lý thân

lá chè 85 Hình 3.6 Đánh giá cảm quan độ hoai mục giữa công thức ủ bổ sung vi

sinh vật và đối chứng 86 Hình 3.7 Biểu đồ ảnh hưởng của chế phẩm vi sinh đến năng suất và

các yếu tố cấu thành năng suất 99 Hình 3.8 Biểu đồ năng suất chè ở các công thức tham gia thí nghiệm 109

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chè là cây công nghiệp dài ngày, có nguồn gốc nhiệt đới và á nhiệt đới, sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, tập trung chủ yếu

ở châu Á và châu Phi Tuy nhiên hiện nay nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, cây chè đã được trồng ở nhiều nước trên thế giới, từ 33o vĩ Bắc đến 49o

vĩ Nam [10], [48], [59]

Cây chè được phát hiện và sử dụng làm thứ nước uống đầu tiên ở Trung Quốc Đến nay chè đã trở thành thứ nước uống thông dụng và phổ biến trên toàn thế giới Mọi người ưa thích nước chè không những vì hương thơm độc đáo của nó, mà còn do nước chè rất có lợi cho sức khỏe Uống chè chống được lạnh, khắc phục được sự mệt mỏi của cơ bắp và hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ đại não, làm tinh thần minh mẫn sảng khoái, hưng phấn trong những thời gian lao động căng thẳng cả về trí óc và chân tay [60]

Thời gian gần đây, những nghiên cứu trên thế giới về lợi ích của uống chè đối với sức khoẻ, môi trường sống, cộng với sự quảng cáo mạnh mẽ của FAO về chè với sức khoẻ con người, đã đặt ra cách nhìn mới đối với chè toàn cầu Người tiêu dùng ngày càng quan tâm nhiều hơn đến nguồn gốc, xuất xứ của sản phẩm, trong đó chủ yếu là các kỹ thuật sản xuất đảm bảo an toàn cho sản phẩm, không ảnh hưởng đến sức khỏe, môi trường sinh thái

Ngày nay các nước sản xuất chè đã nghiên cứu và áp dụng phương thức canh tác sản xuất chè an toàn, chè hữu cơ có chất lượng cao nhằm tăng sức cạnh tranh trên thị trường chè thế giới và lành mạnh hoá môi trường sản xuất

Việt Nam là một nước có ngành sản xuất chè phát triển nhanh với nhiều vùng chè đặc sản, xuất khẩu sang 107 nước, nhưng năng suất, chất lượng và giá trị chè Việt Nam còn thấp so với trung bình chung của chè thế giới [39]

Trang 15

Có nhiều nguyên nhân làm cho chè Việt Nam chưa đạt so với sản xuất chè trên thế giới, trong đó có việc lạm dụng phân hóa học trong thời gian dài

đã làm cây chè bị suy thoái rất nhanh, giảm khả năng sinh trưởng và phát triển, tăng nguy cơ có dư lượng nitrat cao trong sản phẩm và chất lượng chè ngày càng giảm sút Đồng thời dẫn đến đất đai vùng chè suy kiệt về dinh dưỡng tăng độ bạc màu và làm xấu đi thành phần lý tính của đất Hậu quả của việc lạm dụng phân bón hoá học cũng dẫn đến chi phí sản xuất đầu vào ngày càng tăng, giảm hiệu quả sản xuất chè [23] Ngoài ra đất trồng chè (thường là đất dốc) có độ xói mòn cao, hàm lượng dinh dưỡng nghèo đặc biệt là hàm lượng mùn và độ ẩm thấp Xói mòn hàng năm làm mất đi hàng trăm triệu tấn đất với hàm lượng mùn, dinh dưỡng khá cao Vì vậy để nâng cao hiệu quả sử dụng đất hay tăng cường sức sản xuất bền vững ở các vùng trồng chè , trước tiên phải chú trọng đến những kỹ thuật sử dụng đất hiệu quả và bền vững, thâm canh nhưng vẫn bảo vệ và nâng cao độ phì nhiêu của đất

Chế phẩm vi sinh có tác dụng cung cấp các chủng vi sinh vật có lợi cho

độ phì đất, đồng thời tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp tạo ra nguồn phân hữu cơ tại chỗ cung cấp cho cây chè Bên cạnh đó việc sử dụng các loại vật liệu che tủ hữu cơ cũng có tác dụng làm tăng độ ẩm, độ xốp cũng như tăng hàm lượng chất hữu cơ trong đất, hạn chế được cỏ dại và xói mòn trên đất trồng chè [50]

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn”

2 Mục tiêu của đề tài

Xác định được vật liệu hữu cơ, chế phẩm vi sinh và phân hữu cơ vi sinh thích hợp nhất để nâng cao năng suất, chất lượng tạo sản phẩm chè an toàn, cải thiện độ phì của đất, đảm bảo canh tác bền vững ở các vùng trồng chè

Trang 16

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học nghiên cứu về việc sử dụng các vật liệu tủ hữu cơ và chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất chè an toàn

- Kết quả phân lập một số chủng vi sinh vật mới cung cấp dẫn liệu cho việc vật liệu tủ sẽ phát huy tác dụng cao, kịp thời khi chúng ta đưa vào vật liệu tủ khó phân giải vi sinh vật phù hợp

- Đây là tài liệu tham khảo có giá trị cho cán bộ khoa học kỹ thuật, cho người sản xuất kinh doanh chè, cho giáo viên, sinh viên, học viên cao học trong học tập, nghiên cứu về cây chè

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Xác định được vật liệu tủ hữu cơ có tác dụng làm tăng năng suất, chất lượng chè và độ phì đất trồng chè Đặc biệt là cành lá chè đốn hàng năm là nguồn vật liệu hữu cơ tại chỗ cung cấp cho đất trồng chè

- Xác định được một số chủng vi sinh vật có khả năng phân giải xelluloza, chế phẩm vi sinh và phân HCSH sử dụng trên chè làm tăng năng suất, chất lượng và tăng độ phì đất trồng chè

- Góp phần phát triển các vùng trồng chè an toàn theo hướng VietGAP một cách bền vững, giảm chi phí đầu vào, nâng cao hiệu quả của sản xuất chè

4 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu về vật liệu che tủ, các mức tủ, các chế phẩm vi sinh

và phân hữu cơ sinh học trên giống chè LDP1

- Đề tài nghiên cứu được giới hạn trong tỉnh Phú Thọ, chủ yếu là tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm Nghiệp miền núi phía Bắc

Trang 17

5 Những đóng góp mới của luận án

- Xác định được việc sử dụng cành lá chè đốn hàng năm là nguồn hữu

cơ tại chỗ rất quan trọng đối với cây chè, với lượng tủ 30 tấn/ha/năm Đặc biệt cành lá chè đốn phát huy hiệu quả cao khi bổ sung VSV có khả năng phân giải xelluloza

- Chọn được 7 chủng vi sinh vật có khả năng phân giải xenluloza mạnh (kích thước vòng phân giải ≥ 30 mm) là: XK3, XK4, XK5, XK8, XK10, XK11, VK15 và qua nghiên cứu đã khẳng định việc sử dụng các chủng vi sinh vật tuyển chọn có khả năng làm tăng năng suất và độ phì của đất trồng chè

- Sử dụng chế phẩm vi sinh và phân hữu cơ sinh học ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng chè LDP1 cũng như cải thiện độ phì nhiêu của đất trồng chè Trong đó sử dụng chế phẩm vi sinh vật phân giải nhanh xelloloza được chọn tạo từ các chủng vi sinh vật năng suất sau 3 năm tăng 10,4%

Trang 18

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu sản xuất chè an toàn ở Việt Nam

1.1.1 Tình hình sản xuất chè an toàn ở Việt Nam

Sản xuất chè an toàn là sản phẩm chè sản xuất ra phải đảm bảo vệ sinh

an toàn thực phẩm Các biện pháp kỹ thuật canh tác, theo hướng bảo vệ môi

trường, bảo vệ đất [19]

Hiện nay hiện tượng lạm dụng quá mức thuốc trừ sâu và phân hoá học đang xảy ra khá phổ biến ở các vùng trồng chè trong cả nước Đại bộ phận người sản xuất chưa quan tâm nhiều đến qui trình sản xuất đồng bộ để sản xuất

ra sản phẩm chè an toàn Trong các vùng điều tra, thì vùng Lâm Đồng và Mộc Châu Sơn La có điều kiện khí hậu, đất đai thuận lợi hơn để sản xuất ra sản phẩm

an toàn so với vùng Thái Nguyên (Nguyễn Văn Toàn, 2007)

Ngành chè Việt Nam đang xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 Tuy nhiên hệ thống tiêu chuẩn này mới chỉ áp dụng được ở các nhà máy, còn ở khâu sản xuất nguyên liệu đang gặp rất nhiều khó khăn Vì vậy, hệ thống quản lý chất lượng chè theo các tiêu chuẩn ISO, HACCP, GMP đang đặt ra rất nhiều vấn đề cần giải quyết

Ở các vùng núi cao, vùng đồng bào dân tộc nơi chưa có điều kiện thâm canh chè, chỉ thu hái búp tự nhiên, không sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học, sản phẩm chè được công nhận là chè sạch Một số tổ chức phi chính phủ đã tiến hành đầu tư trang thiết bị chế biến chè quy mô nhỏ, ký hợp đồng với nông dân, bao tiêu sản phẩm trên cơ sở các hộ nông dân cam kết thực hiện các yêu cầu của sản xuất chè hữu cơ

Thái Nguyên là vùng chè trọng điểm của cả nước, với diện tích hơn 18.500 ha, trong đó có gần 17.000 ha chè kinh doanh, năng suất đạt 109 tạ/ha,

Trang 19

sản lượng đạt gần 185 nghìn tấn Từ năm 2009, mô hình sản xuất chè đầu tiên theo tiêu chuẩn VietGAP được thực hiện tại xã Hòa Bình (Đồng Hỷ), đến nay đã được triển khai tại nhiều địa phương Toàn tỉnh hiện có 15 mô hình sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP với tổng diện tích khoảng 200 ha

Tại tỉnh Phú Thọ, tổ chức CIDSE phối hợp với Chi cục Bảo vệ thực vật Tỉnh tiến hành chương trình phát trển các vùng chè an toàn, qui mô 38 xã/6 huyện, bắt đầu năm 2003 Các mô hình được nghiên cứu kỹ, tập trung tại huyện Thanh Ba nhằm nâng cao sự hiểu biết về khoa học kỹ thuật cho người nông dân, nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm, kéo dài thời gian kinh doanh trên cây chè mang lại hiệu quả kinh tế cao Hàng năm trên các diện tích

áp dụng IPM năng suất tăng bình quân 14,7%/năm

Tại Công ty chè Mỹ Lâm (Tuyên Quang), Viện Nghiên cứu Chè đã phối hợp xây dựng mô hình sản xuất chè theo hướng không phun thuốc trừ sâu, tăng bón phân hữu cơ và phân hỗn hợp, không bón phân hoá học dạng đơn trên diện tích 5 ha Tuy nhiên, khi triển khai đã gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì mô hình do chưa giải quyết được những vấn đề khoa học công nghệ có tính hệ thống trong sản xuất chè và đặc biệt là chi đầu vào cao, song giá bán lại chưa được cải thiện

Mô hình sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP tại thôn Làng Bát, xã Tân Thành, huyện Hàm Yên được triển khai thực hiện từ đầu năm

2013 với diện tích 5 ha Qua kết quả đánh bước đầu cho thấy, việc sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP đã giúp tăng hiệu quả kinh tế của các hộ nông dân từ 15% - 20% so với trồng chè đại trà; giảm số lần phun thuốc từ 1 đến 3 lần; đặc biệt là đã nâng cao nhận thức cho các hộ nông dân tham gia thực hiện mô hình trong việc sản xuất và chế biến chè theo tiêu chuẩn VietGAP, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường nông thôn

Trang 20

1.1.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất chè an toàn ở Việt Nam

GAP là việc áp dụng những kiến thức sẵn có vào quá trình sản xuất nông nghiệp để hướng đến sự bền vững về môi trường, kinh tế, xã hội trong sản xuất nông nghiệp và các quá trình sau sản xuất tạo ra các sản phẩm nông nghiệp phi thực phẩm và thực phẩm bổ dưỡng an toàn [19]

Hướng dẫn sản xuất chè an toàn theo VietGAP gồm 12 mục:

1 Đánh giá và lựa chọn vùng sản xuất

2 Giống và gốc ghép

3 Quản lý đất và giá thể

4 Phân bón và chất phụ gia

5 Nước tưới

6 Sử dụng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật

7 Thu hoạch, bảo quản và vận chuyển sản phẩm

8 Quản lý và xử lý nước thải

9 Người lao động

10 Ghi chép, lưu giữ hồ sơ, truy nguyên nguồn gốc và thu hồi sản phẩm

11 Kiểm tra nội bộ

12 Khiếu nại và giải quyết kiếu nại

Viện nghiên cứu chè phối hợp với tổ chức Cidse, trường đại học tổng hợp Hà Nội tiến hành khảo nghiệm phân vi sinh, phân ủ trên chè với lượng 30 tấn phân ủ (Compost) + N : P : K : Mg (3 : 1,5 : 1 : 0,3) kết hợp với phương pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM và sử dụng các loại thuốc trừ sâu sinh học khác, qua 3 năm năng suất chè tăng 15% so đối chứng, chất lượng chè được cải thiện rõ rệt [1]

Khi nghiên cứu kỹ thuật sản xuất chè an toàn tác giả Nguyễn Văn Toàn (2007) đã đề ra giải pháp cho việc sản xuất chè nguyên liệu an toàn là tăng cường biện pháp tủ, tưới, hái chè để lại bộ tán cao 10 cm, hái kỹ, thay thế phân khoáng bằng phân hữu cơ sinh học làm tăng 10 - 14,81% năng suất [70]

Trang 21

Đốn hái đúng kỹ thuật, quản lý cỏ bằng biện pháp tủ gốc, trồng cây che bóng hợp lý đã làm nương chè phục hồi nhanh, có bộ khung tán to khỏe cho năng suất cao hơn những nương không được áp dụng từ 20 - 25% Mô hình quản lý cỏ bằng biện pháp tủ gốc và bón phân vi sinh qua áp dụng đã chống được cỏ dại, giữ ẩm cho đất, tăng được nguồn hữu cơ do vật liệu tự mục nát tạo cho nương chè sinh trưởng tốt, cải tạo được độ chai cứng đất cho năng suất tăng bình quân là 15% so với nương không áp dụng [70]

Hiện nay chúng ta cũng đã ban hành quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho chè búp tươi an toàn tại Việt Nam Đây là những nguyên tắc, thủ tục hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch, bảo quản và chứng nhận chè búp tươi đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội và sức khỏe người sản xuất, người tiêu dùng và bảo vệ môi trường [19]

Theo QCVN 8-2:2011/BYT của Bộ Y tế về danh mục tiêu chuẩn vệ

sinh đối với lương thực thực phẩm, trong đó có chè như sau [19]:

Bảng 1.1 Hàm lƣợng kim loại cho phép trong chè

Trang 22

pH thích hợp cho chè phát triển là 4,5 - 6,0 Đất trồng phải có độ sâu ít nhất là

80 cm, mực nước ngầm phải dưới 1 mét thì hệ rễ mới phát triển bình thường (Nguyễn Ngọc Kính, 1979 [48], Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Kim Phong, 1979 [56])

Đất trồng chè của ta ở các vùng Trung du phần lớn là feralit vàng đỏ được phát triển trên đá granit, gnai, phiến thạch sét và mica Ở vùng núi phần lớn là đất feralit vàng đỏ được phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét Về cơ bản những loại đất này phù hợp với yêu cầu sinh trưởng của chè như có độ

pH từ 4 đến 5 có lớp đất sâu hơn 1 mét và thoát nước Những đất này thường nghèo chất hữu cơ nhất là ở các vùng trồng chè cũ Vì vậy vấn đề bón phân hữu cơ để bổ sung dinh dưỡng cho chè và cải tạo kết cấu vật lý của đất là rất cần thiết Bên cạnh đó, phải coi trọng việc bón đủ và hợp lý phân hóa học hàng năm cho chè Chè là loại cây kỵ vôi, nhiều tài liệu cho biết trong đất trồng chè chỉ có một lượng vôi rất ít, khoảng 0,2% CaCO3 đã gây hại cho cây chè Bởi thế người ta không dùng vôi để bón vào đất trồng chè, trừ khi đất có

độ pH quá thấp, dưới 4 [56],[59]

Quan hệ giữa đất và phẩm chất chè rất phức tạp Phẩm chất do nhiều yếu tố quyết định và tác dụng một cách tổng hợp [68] Song trong những điều kiện nhất định thì điều kiện dinh dưỡng của đất có ảnh hưởng rất lớn đến phẩm chất Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy chè sinh trưởng trên loại đất pha cát, nhiều mùn, thích hợp cho việc chế biến chè xanh, mùi vị hương của chè thành phẩm đều tốt Chè trồng trên đất nặng màu vàng thì có

vị đắng và nước có màu vàng Chè trồng trên đất xấu hương không thơm, vị nhạt và chất hòa tan ít [60]

1.2.2 Thực trạng đất trồng chè ở một số vùng chè chính của Việt Nam

Việt Nam là nước nằm trong vành đai nhiệt đới, gió mùa Châu Á Thái Bình Dương nên có khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều Do đó, môi trường đất ở Việt Nam đặc biệt là đất dốc thường chịu tác động của các hiện tượng xói

Trang 23

mòn rửa trôi, dẫn đến sự thoái hoá đất, làm đất nghèo kiệt về dinh dưỡng, về cấu trúc, giảm độ pH, tăng hàm lượng các chất gây độc hại cho đất và làm cho đất bị chết về sinh học Dưới tác động của mưa lớn, hàng năm hàng trăm triệu tấn đất có chứa phần lớn hàm lượng mùn và các chất dinh dưỡng khác đã bị bào mòn cuốn trôi (Bùi Huy Hiền, 2003) [43]

Đất dốc là hợp phần rất quan trọng trong quỹ đất của Việt Nam, chiếm trên 3/4 diện tích đất tự nhiên và được phân bố tập trung ở Bắc Bộ (8,923 triệu ha), Trung Bộ (4,935 triệu ha) và Tây Nguyên (5,509 triệu ha) Đây là những vùng đất rất giàu tiềm năng để phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh chính trị, xã hội của nước ta Tuy nhiên do địa hình phân cắt mạnh, môi trường sinh thái rất nhạy cảm, lớp thực bì bị xâm hại nhiều nên xói mòn rửa trôi diễn ra nghiêm trọng Hầu hết diện tích đất dốc bị thoái hoá và bị chua, nhiều diện tích bị bỏ hoang hoá vì mất khả năng sản xuất nông lâm nghiệp Đây thực sự là điều khó khăn để tạo ra nền nông nghiệp bền vững trên đất dốc (Thái Phiên, Nguyễn Tư Siêm, 1998) [54]

Quá trình khai hoang trồng mới đã phá vỡ hầu hết thực bì trên bề mặt đất hoang hóa Phân tích đất tại điểm cố định sau khi trồng chè cho thấy: hàm lượng mùn của đất hoang là 2,83%, sau 7 năm trồng chè còn 2,09% (giảm 0,74%), sau 11 năm trồng chè hàm lượng mùn giảm còn 0,73%

(Nguyễn Văn Tạo, 2006) [63]

Cây chè ở Việt Nam được trồng và hình thành ở 5 vùng chính với điều kiện đất đai, khí hậu và các giống chè khác nhau [59]

Vùng chè thượng du (miền núi) phía Bắc

Đất đai vùng đồi núi các tỉnh phía Bắc chiếm 3/4 diện tích đất tự nhiên

có độ cao so với mặt biển từ 200 m trở lên, phần lớn các loại đất được hình thành tại chỗ (đã qua quá trình feralit), có hàm lượng mùn cao, càng lên cao

sự hình thành mùn càng chậm, nhưng sự phân hủy mùn yếu hơn so với vùng

Trang 24

thấp Tầng đất có độ dày mỏng hơn đất vùng đồi, do bị xói mòn mạnh Đất được phát triển trên phiến thạch, sa thạch và đá gnai (ở vùng Đông Bắc), còn

ở vùng Tây Bắc đất được hình thành từ đá gnai, granit, phiến thạch Đất có màu vàng, đỏ vàng và nâu Đa số đất có độ dày trung bình từ 0,6 đến 1 m, đất khá tơi xốp, độ chua cao pHKCL từ 4 - 4,5 thành phần cơ giới thuộc loại thịt nhẹ và trung bình, hàm lượng mùn biến động mạnh, hàm lượng lân tổng số và

dễ tiêu đều nghèo (lân tổng số phổ biến ở mức 0,03 - 0,05%) (Vũ Ngọc Tuyên,Trần Khải, 1977; Nguyễn Vy, Đỗ Đình Thuận, 1977) [77], [79]

Đất ferarit vàng đỏ phát triển trên phiến thạch Mica thích hợp cho phát triển cây chè ở miền Bắc Việt Nam, nhóm đất này luôn chịu ảnh hưởng của quá trình ferarit hóa, đất thường chua, màu đỏ hay màu vàng, tích lũy nhiều sắt, nhôm, hàm lượng sét vật lý cao, quá trình trồng chè có hiện tượng rửa trôi sét xuống tầng sâu, lân dễ tiêu nghèo do bị giữ chặt dưới dạng phosphat sắt, nhôm [49], [69]

Vùng chè trung du

Đất đồi vùng trung du có độ cao so với mặt biển từ 25 - 200 m, chiếm 1/10 diện tích cả nước, không có độ dốc đứng và lòng chảo sâu Ranh giới giữa núi và đồi khó phân biệt chính xác Đất được hình thành trên nhiều loại

đá mẹ khác nhau như phiến sét, phiến thạch mica, gnai dưới những thảm thực vật khác nhau, có mức độ feralit khác nhau, vì lẽ đó mà đất đai vùng trung du không đồng đều, hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất chênh lệch nhau đáng kể [44]

Thành phần cơ giới nặng vì được hình thành từ những đá mẹ giàu sét, cấu trúc kém, ít tơi xốp Đất thường chua, pHKCL có chỗ < 4,5 Các cation

Ca2+, Mg2+, K+ rất nghèo Đất tích lũy nhiều sắt, nhôm, hàm lượng chất hữu

cơ thấp, nhiều nương chè hàm lượng chất hữu cơ chỉ chung quanh 1%, đạm tổng số thường < 0,2%, kali rất nghèo trung bình khoảng 0,15 - 0,2% (Vũ

Trang 25

Ngọc Tuyên, Trần Khải, 1977) [77] Với đất đai vùng trung du như vậy nên trong quá trình trồng và chăm sóc chè cần được chú ý tới biện pháp bảo vệ và bồi dưỡng đất

Vùng khu 4 cũ mùa mưa thường đến muộn nên chè bị hạn vào mùa khô Đất đai thuộc diện nghèo dinh dưỡng, nên trong quá trình trồng chè phải chú ý thâm canh ngay từ đầu

Vùng chè Gia Lai - Kon Tum

Đất đai vùng chè Gia Lai - Kon Tum thuộc loại đất ferarit nâu vàng, nâu đỏ, vàng đỏ và phát triển trên đá Bazan, ở độ cao 700 m so với mặt biển

Đất có tỷ lệ sét cao, trên 50% đất có cấu trúc viên, tơi xốp, thoáng khí Hàm lượng lân tổng số trung bình (0,10 - 0,15%) kali tổng số ở mức nghèo (0,08 - 0,10%), hàm lượng chất hữu cơ trong đất khá cao pHKCL: 4,5 - 5,5

Theo Nguyễn Vy, Đỗ Đình Thuận (1977) thì đất Bazan giàu lân tổng

số, nhưng nghèo lân dễ tiêu [79]

Vùng Tây Nguyên có khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình Mùa khô hạn trầm trọng, mùa mưa lượng mưa rất lớn (từ 1800 đến trên 2000 mm), nhiệt độ dao động ngày đếm lớn Cây chè sinh trưởng trên vùng đất Bazan rất thuận lợi, sản lượng thu bình quân 40 - 50 tạ/ha Tuy nhiên về mùa khô thường thiếu nước nên trồng chè gặp nhiều khó khăn [66]

Vùng chè cao nguyên Lâm Đồng

Chè được trồng tập trung ở các huyện: Di Linh, Đơn Dương, Đức Trọng, Bảo Lộc Vùng chè Lâm Đồng ở độ cao > 800 m so với mặt biển, đây

là vùng rất thuận lợi về mặt chất lượng chè

Trang 26

Đất tích lũy nhiều sắt, nhôm, là một trở ngại lớn cho việc cung cấp lân cho cây chè nói riêng và cây công nghiệp nói chung Hàm lượng chất hữu cơ, hàm lượng đạm, lân, kali tổng số đều ở mức khá, đất chua, pHKCL biến động

từ 4,5 - 5,5 [44], [59]

Cũng như đất đai vùng Gia Lai - Kom Tum, đất vùng cao nguyên Lâm Đồng có độ ẩm cây héo lớn, lượng nước khuếch tán thấp nên mùa khô hạn hán xảy ra nghiêm trọng (Trần Công Tấu, Nguyễn Thị Dần, 1984) [64], (Nguyễn Vy, Đỗ Đình Thuận, 1977) [79]

Nhìn chung, ở Việt Nam cây chè được trồng trên nhiều vùng sinh thái khác nhau với điều kiện canh tác, đất đai khác nhau Nhưng chè được trồng nhiều nhất vẫn là trên loại đất đỏ vàng phát triển trên đá sét và biến chất tập trung ở vùng đồi bị phân cách Đặc biệt 90% nông dân khi trồng chè không sử dụng phân hữu cơ dẫn đến đa phần đất đai của các vùng trồng chè ở nước ta

bị thoái hóa rất nhanh, nghèo các chất dinh dưỡng (N, P, K) kể cả tổng số và

dễ tiêu, đất chua, hàm lượng hữu cơ thấp Đồng thời do điều kiện khí hậu thời tiết nắng nóng, khô hạn kéo dài đã dẫn đến năng suất chè giảm sút [69]

Theo tác giả Uexkull H R và Mutert E (1995) cho rằng có thể cải tạo

độ phì của đất, làm cho tầng đất mặt dày lên, giàu dinh dưỡng hơn là tăng sức sản xuất của đất dốc bằng cách trồng các loài cây họ đậu và che phủ đất để làm giàu hoạt động sinh học, làm giàu dinh dưỡng của tầng đất mặt, ngăn chặn sự xói mòn, đóng váng, nén chặt đất Đây là một trong những bước đầu tiên rất quan trọng (dẫn theo Đỗ Ngọc Quỹ, Lê Tất Khương, 2000) [59]

1.3 Tình hình nghiên cứu sử dụng vật liệu tủ trong sản xuất chè

1.3.1 Tác dụng của che tủ thực vật

Độ che phủ bề mặt đất và tính liên tục của lớp phủ thực vật là hai yếu

tố cơ bản để chống xói mòn, tăng cường hoạt tính sinh học và tăng các quá trình tái tạo dinh dưỡng, tái tạo những tính chất cơ bản của đất như: cấu tượng

Trang 27

đất, độ xốp, hàm lượng mùn, hoạt tính sinh học, độ pH, giảm độ độc nhôm, sắt Hướng đi cơ bản để canh tác bền vững trên đất dốc ở vùng cao nhiệt đới

là cải thiện và giữ gìn đất, biện pháp rẻ tiền và đa dụng nhất là tái sử dụng tàn

dư cây trồng làm vật liệu che phủ (Lê Quốc Doanh, Nguyễn Văn Bộ, Hà Đình Tuấn, 2005) [25]

Che phủ bề mặt đất bằng xác thực vật có những lợi ích sau:

* Lợi ích tại chỗ

- Giảm xói mòn đất do mưa gió

- Đất tơi xốp, tăng độ hấp thu nước, giảm dòng chảy bề mặt,

- Giảm bốc hơi nước, tăng độ ẩm đất

- Dung hoà nhiệt độ bề mặt đất (ấm trong mùa đông, mát trong mùa hè)

- Tăng độ ổn định các cấu trúc bề mặt đất, chống kết vón và đóng váng, tạo độ thông thoáng cho đất

- Giảm cỏ dại, tăng hiệu quả phân bón

- Tăng hàm lượng chất hữu cơ và dinh dưỡng trong đất, giảm độc tố gây hại cho cây trồng

- Tạo điều kiện thuận lợi cho hạt nảy mầm tốt, bộ rễ phát triển khoẻ, cây sinh trưởng tốt

- Tăng và ổn định năng suất, chất lượng cây trồng một cách bền vững

* Lợi ích về môi trường và quản lý tài nguyên

- Hạn chế du canh du cư, tạo điều kiện cải thiện nguồn tài nguyên đất, nước và rừng

- Giảm lũ lụt ở miền xuôi

- Chống lắng đọng các lòng sông hồ, đặc biệt là hồ thuỷ điện

- Giảm ô nhiễm hoá học ở các vùng lân cận

- Việc không đốt tàn dư thực vật sẽ giảm nguy cơ cháy rừng, giảm

lượng CO2 thải vào không khí

- Giảm nhu cầu sử dụng phân vô cơ, giảm ô nhiễm nguồn nước, tiết kiệm năng lượng và giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính

Trang 28

* Lợi ích về xã hội

- Phụ nữ và trẻ em được giải phóng khỏi các công việc nặng nhọc và

tốn thời gian như làm đất, làm cỏ Phụ nữ có nhiều thời gian chăm sóc sức khỏe gia đình, nuôi dạy con cái và phát triển nghề phụ Trẻ em sẽ có nhiều

thời gian đến trường, học hành nâng cao kiến thức

- Đất và nước ít hoặc không bị ô nhiễm, bệnh tật giảm, sức khoẻ cộng đồng được cải thiện

- Hiệu quả kinh tế cao nên xã hội sẽ phát triển nhanh và bền vững hơn

Nhìn chung, khi áp dụng các biện pháp che phủ đất đã mang lại nhiều lợi ích và đáp ứng được hầu hết các yêu cầu trong canh tác đất dốc bền vững góp phần xoá đói giảm nghèo cho nông dân miền núi và bảo vệ môi trường [43]

1.3.2 Nghiên cứu về các loại vật liệu che tủ cho chè

Cây trồng hút chất dinh dưỡng từ đất để sinh trưởng và phát triển Một trong những yếu tố quan trọng có khả năng duy trì và cải thiện độ phì nhiêu của đất là nâng cao hàm lượng mùn trong đất thông qua việc bổ sung các chất hữu cơ cho đất (Robert, 1992) [117] Tàn dư thực vật sau thu hoạch nếu được vùi trả lại đất trở thành nguồn dinh dưỡng đạm và chất hữu cơ quan trọng cho các cây trồng vụ sau (Nguyễn Kim Vũ, 1995) [78]

Việc sử dụng biện pháp che tủ đối với các cây trồng nhiệt đới như chè,

cà phê đã được khuyến cáo từ lâu với rất nhiều lý do khác nhau, trong đó lý

do quan trọng nhất là bảo toàn đất và nguồn nước Mặt khác che tủ cũng dẫn đến việc làm tăng hay giảm nhiệt độ đất và ngăn chặn cỏ dại Che tủ trên bề mặt giúp duy trì độ ẩm đất bằng cách làm chậm quá trình bốc hơi nước và làm giảm tỷ lệ hấp thụ nhiệt của đất Nhiệt độ cao thường tăng quá trình bốc hơi nước, đồng thời làm giảm tỷ lệ di chuyển hơi nước từ đất Các vật liệu che tủ hữu cơ cũng có thể làm tăng khả năng cung cấp nước của đất bằng cách tăng tính thấm của những loại đất có cấu trúc bề mặt kém (Othieno, 1994) [114]

Trang 29

Độ ẩm đất và hàm lượng nước của cây chè vô tính bị tác động khác nhau khi che phủ bằng 5 loại vật liệu tủ: mảnh nhựa đen, mảnh đá vụn, cỏ Eragrostic Curvula, cỏ Napier và cỏ Guatemala Trong điều kiện khô hạn kéo dài, độ ẩm đất nhìn chung đạt cao nhất ở diện tích che tủ bằng cỏ Napier và mảnh nhựa đen Tất cả các công thức nói chung đều tốt hơn so với công thức không được che phủ khi đánh giá độ ẩm đất ở độ sâu 90 cm Vào thời điểm bắt đầu mưa sau một mùa khô hạn kéo dài bất thường, tính thấm nước của đất nhanh hơn khi che tủ bằng các loại cỏ Sau 4 năm liên tục áp dụng biện pháp che tủ bằng cỏ cho thấy hầu hết đều có tác dụng về khả năng giữ nước (Othieno, 1988) [113]

Trong điều kiện che tủ , 2 năm đầu quan sát thấy có sự khác nhau về nhiệt độ đất giữa các công thức che tủ trên chè trồng bằng bầu nhân giống vô tính Nhưng sự khác biệt này không còn nữa khi tán cây chè phát triển đạt độ che phủ > 40% bề mặt mặt đất Đường kính thân, năng suất và tổng lượng chất khô có mối tương quan rõ ràng đến nhiệt độ đất (Othieno, 1979) [112]

Trong công trình nghiên cứu “Nông nghiệp nhiệt đới” Angladette khuyến cáo nông dân trồng chè nên tận dụng nguồn phân xanh tại chỗ để sản xuất phân hữu cơ bón cho chè, làm tăng trữ lượng mùn trong đất, tăng độ xốp, tăng khả năng hút nước, tăng khả năng đệm cho đất và số lượng vi sinh vật đất (dẫn theo Hà Đình Tuấn, Lê Quốc Doanh, 2005) [76]

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Toàn (2007): tủ gốc cho chè 20 tấn/ha bằng cây tế (guột) và cỏ TD58 (cỏ Ghi nê), với chu kỳ 3 - 4 năm, làm tăng năng suất chè 20,54% (không tưới), 37,87% (có tưới) Tủ gốc làm tăng ẩm độ đất, tăng hàm lượng chất hữu cơ, giảm cỏ dại và tăng hiệu quả sản xuất [70]

Viện lân và kali của Canada (1995) xác nhận 80% tổng số kali cây lấy

đi nằm trong xác bã cây Nếu các xác bã thực vật này được hoàn lại cho đất

đã canh tác thì chúng sẽ cung cấp một lượng kali đáng kể cho các cây trồng

vụ sau (dẫn theo Nguyễn Thị Cẩm Mỹ , 2010)[49]

Trang 30

Việc tận dụng cành lá chè đốn, các phụ phẩm nông nghiệp ngoài việc tăng khả năng giữ nước, dinh dưỡng của đất, chống xói mòn, rửa trôi, tăng hiệu quả kinh tế mà còn mang lại hiệu quả trong việc bảo vệ môi trường Tuy nhiên cành lá chè đốn cũng như một số phụ phẩm hữu cơ khác, khi đưa vào đất sẽ cần một thời gian nhất định để phân hủy, tạo thành chất dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng trong khi đó hầu như tại bất kỳ thời điểm nào cây cũng cần chất dinh dưỡng để sinh trưởng phát triển [63]

Che tủ đất bằng xác thực vật cho chè trong giai đoạn kiến thiết cơ bản

có tác dụng tích cực đối với sinh trưởng phát triển của chè (tăng chiều cao cây, tăng chiều rộng tán, tăng chỉ số diện tích lá, giảm cỏ dại), đồng thời khắc phục được các yếu tố hạn chế của đất dốc (đất bị chua, khô hạn ) và tăng năng suất chè từ 14,5% đến 33,6% (Nguyễn Thị Cẩm Mỹ, 2010) [50]

Thành phần hóa học trong lá c hè xanh thuộc hai giống chè Nhật được tổng hợp ở các mức che tủ khác nhau Điều đáng chú ý là tỷ lệ L-theanine/catechin, được xem là một thông số chất lượng chè đã tăng lên khi tăng độ che phủ cùng với sự tăng mức L- theanine và giảm hàm lượng các catechin Điều này cho thấy ảnh hưởng tích cực của che phủ đến chất lượng lá chè về mặt cân bằng các thành phần hóa học (Nguyễn Đặng Dung, Lê Như Bích, 2006) [27]

Sản phẩm cành lá chè đốn hàng năm có khối lượng xấp xỉ bằng khối lượng búp và lá non đã thu hoạch Mỗi năm thu hoạch từ 5 - 10 tấn/ha búp và lá non, tương đương sẽ có 5 - 10 tấn cành lá chè đốn trên 1 ha [63] Vì thế, lượng dinh dưỡng trong đất mất đi khá nhiều Cho nên, giữ lại cành lá chè đốn có tác dụng rất lớn đối với việc cải tạo đất trồng chè vì nó là một trong những nguồn

bổ sung khối lượng chất hữu cơ tại chỗ cho cây chè Đồng thời nó còn giữ ẩm đất, kiểm soát cỏ dại từ đó tăng năng suất, chất lượng chè [62]

Trang 31

Chất hữu cơ trong đất chè được duy trì trước tiên từ cành lá chè đốn giữ lại hàng năm, tiếp sau là được làm giàu hơn bằng nguồn bổ sung qua việc tủ gốc cho chè từ thân lá thực vật không bị nhiễm bẩn, lá rụng, cành tỉa của các loại cây che bóng, cây trồng xen thời kỳ chè kiến thiết cơ bản, tốt nhất là các loại cây có hàm lượng dinh dưỡng cao Thời kỳ cây chè mới trồng cần đặc biệt lưu ý trồng xen cây họ đậu, cây có khả năng cải tạo đất cho lượng chất xanh lớn (cốt khí, tràm lá nhọn…), trồng xen cây cốt khí có thể cho năng suất chè từ 30 - 40 tấn/ha nếu được đầu tư chăm sóc tốt [52]

Sử dụng vật liệu hữu cơ che tủ cho một số giống chè Trung Quốc nhập nội cho thấy tổng sản lượng búp cả năm thu được ở các công thức che phủ đạt cao hơn hẳn so với công thức đối chứng (Nguyễn Thị Ngọc Bình, Hà Đình Tuấn, Lê Quốc Doanh, 2009) [8]

1.3.3 Nghiên cứu về kỹ thuật che tủ cho chè

Theo Daraselia M K (1989) nghiên cứu về tủ rác và tưới nước cho chè ở Liên Xô lần đầu tiên được tiến hành ở Viện nghiên cứu chè và cây trồng

á nhiệt đới ở Grudia vào những năm 1934 - 1936 sau đó vào những năm 1936

- 1937 Kết quả cho thấy hiệu quả của tủ rác và tưới nước đối với năng suất và chất lượng chè Tủ chè, tưới nước làm thay đổi điều kiện quang hợp, thay đổi hoạt tính các men trong rễ chè, kể cả polifenol-oxydaza là men có mặt trong việc tạo tanin của chè (dẫn theo Lê Tất Khương, 1997) [47]

Khi nghiên cứu các biện pháp che tủ đất phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững với vật liệu che phủ là tàn dư thực vật như rơm rạ, thân lá ngô, thân

lá đậu đỗ, cỏ Stylo, lạc dại, đậu nho nhe, các loại cây họ đậu hoang dại thấy rằng: các kỹ thuật nâng cao độ che tủ đất và canh tác theo kiểu làm đất tối thiểu trên đất dốc có thể hạn chế được xói mòn rửa trôi và cỏ dại; cải tạo độ phì và các đặc tính của đất đồng thời làm tăng năng suất cây trồng; tiết kiệm

chi phí lao động (Hà Đình Tuấn, Lê Quốc Doanh, 2005) [76]

Trang 32

Độ ẩm chè tầng 0 - 30 cm có tủ tăng hơn so đối chứng là 4,57 - 5,56%

ở đất Diệp Thạch và 6,50% ở đất phù sa cổ; nhiệt độ đất chè có tủ ở tầng đất mặt 10 cm và tầng đất 30 cm thấp và ổn định Hàm lượng mùn và đạm dễ tiêu đất chè có tủ sau 5 tháng đều tăng hơn so đối chứng; chè con có tủ có tốc độ sinh trưởng gấp 2 lần so đối chứng (Đỗ Ngọc Quỹ, 1989) [58]

Biện pháp chống hạn cho chè vụ đông (tháng 11 - tháng 4) bằng cách tủ

ni lông toàn bộ hàng sông, để cỏ mọc tự nhiên, trồng cỏ Stilo giữa hàng sông, giống chè Trung Du gieo hạt 14 tuổi trên đất Feralit phiến thạch vàng đỏ Kết quả cho thấy có tủ, độ ẩm đất chè vụ đông xuân và sản lượng chè có tủ đều tăng, trồng mục túc và để cỏ tự nhiên, sản lượng đều giảm so với đối chứng (dẫn theo Đỗ Ngọc Quỹ, 1989) [ 58]

Kết hợp giữa tủ và tưới nước tỉ lệ búp có tôm tăng từ 3,7% đến 18,7%; phẩm cấp chè A , B tăng từ 5% đến 17,3%; hàm lượng tanin tăng từ 0,7 - 2,1%; hàm lượng chất hòa tan tăng từ 1,0 - 1,5% (Lê Tất Khương, 1997) [46]

Trên giống chè Trung Du từ 8 - 15 tuổi trồng tại Phú Hộ, không bón phân chuồng, thay vào đó bón ép xanh cành lá chè đốn hàng năm vào tháng 1, cộng với 800 kg đạm amon và 100 kg clorua kali Kết quả năng suất bình quân trong 8 năm đạt 8000 kg búp chè/ha Bón ép xanh cành lá già và cỏ Stilô cũng làm năng suất chè tăng 13,9 - 24,2% Độ xốp đất tăng 5%, độ mịn (0 -

20 cm) tăng 0,3% ở khu ép xanh bằng cành lá chè già Độ xốp đất tăng 8,7%

và mùn tăng 0,84 - 3,87% ở khu ép xanh bằng cỏ Stilô Tốt nhất là ép xanh bằng 1/2 cỏ Stilô + 1/2 cành lá chè già, sản lượng chè tăng 3,19 - 16,4%, độ ẩm tăng 3 - 5% (Đỗ Ngọc Quỹ, 1989) [58]

Kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu chè về việc sử dụng toàn bộ cành lá chè đốn hàng năm, cây cỏ dại quanh đồi và trên nương chè ủ với vôi, supe lân đã cải thiện tốt chế độ mùn và năng suất chè tăng 8 - 10% [68]

Trang 33

1.4 Nhu cầu dinh dƣỡng của cây chè

Theo Balu L Bumb và Carlos A Banante (1996), năng suất đóng góp trên 80% sản lượng cây trồng, 20% còn lại là do tăng diện tích Hiện nay, gần như 100% sản lượng tăng thêm của các cây trồng chính tại Việt Nam là nhờ tăng năng suất [86]

Cây chè có khả năng liên tục hút dinh dưỡng trong chu kỳ phát dục hàng năm cũng như trong chu kỳ phát dục cả đời sống của nó Đối tượng thu hoạch chè là búp và lá non Mỗi năm thu hoạch từ 5 - 10 tấn/ha, vì thế lượng dinh dưỡng trong đất mất đi khá nhiều, nếu không bổ sung kịp cho đất thì cây trồng sẽ sinh trưởng kém và cho năng suất thấp [59]

Theo Eden (1958) trong búp chè non có 4,5% N; 1,5% P2O5 và 1,2 - 2,5% K2O Những kết quả nghiên cứu cho thấy nhu cầu dinh dưỡng khoáng của cây chè rất lớn [97]

1.4.1 Nhu cầu về đạm

Đạm (N): là thành phần của chất hữu cơ, diệp lục tố, nguyên sinh chất,

axit nucleic, protein [40] [65] Đạm giúp tăng chiều cao cây, ra nhiều lá và búp mới, tăng năng suất chè

Thiếu đạm: cây sinh trưởng phát triển kém, ít nảy đọt, búp non có màu

xanh nhạt, xanh vàng đến ửng đỏ, năng suất thấp

Những kết quả nghiên cứu về nhu cầu phân bón và các thực nghiệm về hiệu lực phân bón đã chứng minh: đạm là yếu tố chủ yếu đối với cây chè, có tương quan chặt chẽ với năng suất Đạm có tương quan tuyến tính giữa năng suất chè với cả mức bón phân cao hơn 120 kg N/ha Khi lượng bón trên 80 -

90 kg N/ha thì tối thiểu phải bón làm 2 lần Hiệu ứng của đạm là tác động tích lũy, vượt qua giới hạn của một năm mà phải tính qua các chu kỳ thu hái [48]

Trong cây, hàm lượng đạm tập trung nhiều nhất ở các bộ phận non như búp và lá non, đạm có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của cây và có ảnh

Trang 34

hưởng trực tiếp đến năng suất Thiếu đạm cây sinh trưởng kém, lá nhỏ, búp nhỏ và búp bị mù nhiều, do đó năng suất thấp Yêu cầu về đạm thay đổi tùy theo loại đất tuổi của cây và năng suất của vườn chè [45]

Theo kết quả nghiên cứu ở Assam thấy rằng hiệu lực đạm tăng đều đặn theo thời gian: hiệu suất của 1 kg N của lần bón thứ 1, 2, 3 và 4 là 2 kg, 4 kg,

6 kg và 8 kg chè khô [59]

Ở Đông Phi hiệu suất của 1 kg N là từ 4 - 8 kg chè khô Tác dụng đầy

đủ của đạm được thể hiện chỉ trên nền đảm bảo các yếu tố khác (Willson, 1992) [129]

Cây chè ở giai đoạn đầu sau trồng (1 - 3 tuổi) bước sang giai đoạn cho thu búp (4 - 6 tuổi) lượng đạm được bón làm nhiều lần, bón từ 30 kg N/ha tăng dần nhưng không vượt quá 100 kg N/ha Hiệu lực của lượng đạm 100 kg N/ha đạt cao nhất ở độ tuổi 7 - 8 đến 10 - 12 tuổi Thời kỳ 10 - 12 tuổi lượng đạm bón có hiệu lực cao nhất từ 200 - 300 kg N/ha, nhưng năng suất búp của

1 kg N cao nhất không quá 200 kg N/ha ở những nương chè có mức năng suất

5 - 8 tấn đọt tươi/ha, còn những nương chè có năng suất trên 10 tấn/ha đầu tư đến 300 kg N/ha vẫn cho hiệu suất cao Tất cả các liều lượng bón trên 300 kg N/ha không làm tăng năng suất chè và hiệu suất giảm Các nương chè trên 20 tuổi hiệu lực phân đạm tốt nhất với liều lượng không quá 200 kg N/ha (Willson, 1992) [129]

Cũng theo Willson K C và Lifford M N (1992) để thu hoạch 1 tấn chè búp tươi cần phải bón 32,0 - 33,5 kg N; 16,5 - 18,0 kg P2O5; 2,0 – 10,0 kg

K2O Trong đó chỉ một nửa dinh dưỡng bị lấy đi bởi thu hái búp, được tích lũy trong 25 - 28% lượng vật chất khô trong búp thu hoạch Bởi vậy cung cấp lượng dinh dưỡng hằng năm cho cây chè cần quan tâm đến sự tiêu hao cho quá trình duy trì bộ khung tán cây chè, bộ rễ, sinh khối phần đốn hằng năm,

và duy trì hệ sinh vật đất, các quá trình rửa trôi, bốc hơi, cỏ dại [129]

Trang 35

Cây chè là cây trồng thu hoạch lá nên đạm là chất dinh dưỡng quan trọng nhất Năng suất búp phụ thuộc chặt chẽ vào lượng bón (Sandanam và Rajasingham, 1980) [119]

Về phẩm chất, nhiều tài liệu ở nước ngoài như Nhật Bản, Ấn Độ, Xrilanca đều cho rằng bón đạm không hợp lý, bón quá nhiều hoặc bón đơn độc đều làm giảm chất lượng chè (đặc biệt là đối với nguyên liệu dùng để chế biến chè đen) Những công trình nghiên cứu của Liên Xô cho thấy liều lượng đạm 300 kg/ha thì hàm lượng tanin, cafein và vật chất hòa tan trong búp chè đều cao, có lợi cho phẩm chất, song nếu vượt quá giới hạn trên thì phẩm chất chè giảm thấp Khi bón nhiều đạm hàm lượng protein ở trong lá tăng lên Protein kết hợp với tanin thành các hợp chất không tan vì thế lượng tanin trong chè bị giảm đi Mặt khác khi bón nhiều đạm, hàm lượng ancaloit trong chè tăng lên làm cho chè có vị đắng (dẫn theo Nguyễn Văn Hùng , Nguyễn Văn Tạo, 2006) [45]

Tài liệu của trại thí nghiệm chè Phú Hộ - Vĩnh Phú cho thấy bón đạm đầy đủ, sản lượng búp chè tăng 2 - 2,5 lần so với đối chứng không bón [58]

Bón đạm trên cơ sở cân đối với các yếu tố cơ bản khác, theo Đỗ Ngọc Quỹ (1980): trên nền 100 - 200 kg N/ha, 50 kg K2O/ha hiệu lực phân lân không rõ với mức bón 50 kg P2O5/ha Kết quả nghiên cứu về bón hàng năm

60 -180 kg P2O5/ha trên nền hữu cơ có đạm làm tăng năng suất chè 13,04 - 16,67% [57]

Đạm làm tăng khối lượng búp, tăng lượng nước và chất hòa tan, song làm giảm lượng tannin trong búp chè Kali làm tăng khối lượng búp, giảm lượng nước, tăng độ hòa tan và tăng lượng tannin đóng góp vào việc tăng phẩm chất búp chè rõ rệt (Nguyễn Tử Siêm, Nguyễn Thị Thanh Hà và Thái Phiên, 1997) [61]

Trang 36

1.4.2 Nhu cầu về lân

Lân (P): là thành phần của phosphatides, axit nucleic, protein… quan

trọng trong quá trình trao đổi năng lượng và protein [40], [65] Lân cần thiết cho sự phát triển của bộ rễ, kích thích chồi mới, tăng khả năng chịu hạn, tăng tuổi thọ của cây, tăng năng suất và lượng đường hòa tan và tanin, tăng chất lượng chè [45] Bón kết hợp lân và N đã làm tăng cường sự sinh trưởng của

bộ rễ Lân còn có tác dụng tích cực trong việc nâng cao chất lượng chè chế biến, làm tăng hương vị của chè đen

Thiếu lân: lá có màu xanh đục mờ không sáng bóng, thân cây mảnh, rễ

kém phát triển, khả năng hấp thu đạm kém Chè thiếu lân trầm trọng sẽ bị trụi cành, năng suất và chất lượng đều thấp [45]

Các tài liệu nghiên cứu của Liên Xô cho thấy bón lân có ảnh hưởng tăng năng suất và phẩm chất búp chè rõ rệt Đimitrôva J (1965) cho rằng hiệu quả của phân lân được nâng lên một cách rõ rệt trên đất đã được bón N, K Ngược lại hiệu quả của phân lân thấp không những do lân bị cố định trong đất

mà còn do đất thiếu N, K Một đặc điểm cần chú ý là hiệu quả về sau của lân kéo tới 20 - 25 năm Trên đất đỏ (Liên Xô) hiệu quả về sau của lân thường cao hơn những năm bón trực tiếp Theo nghiên cứu của Urusatze F H thì hiệu quả trực tiếp của 3 năm bón lân với liều lượng 120 - 960 kg/ha trên nền

N, K là tăng sản lượng búp 5 - 30% so với đối chứng bón N, K Song hiệu quả tăng sản bình quân trong 21 năm về sau là 60 - 78% (dẫn theo Đinh Thị Ngọ, 1996) [52]

Những nghiên cứu của Cuaxanop (1954), Mgaloblisvili (1966) đều khẳng định bón phân lân trên nền N, K làm tăng hàm lượng catechin trong búp chè, có lợi cho phẩm chất (dẫn theo Nguyễn Văn Hùng , Nguyễn Văn Tạo, 2006) [45]

Trang 37

Lân chứa trong búp khá lớn, cứ thu hoạch 1 tấn búp, tức đưa ra khỏi đất

4 - 5 kg P2O5, mà lân có trong đất, cây trồng khó sử dụng do đất có khả năng hấp phụ lân cao (ở đất sét 73% lượng lân bị hấp phụ, đất nâu rừng là 56%, đất podzolic 69%, đất nâu bạc 86%) vì vậy khi bón lân cho chè cần bón với lượng cao hơn nhiều so với yêu cầu của cây [61]

Ở nước ta, việc nghiên cứu hiệu quả của phân lân đối với năng suất và phẩm chất búp mới tiến hành chưa được bao lâu Song kết quả sơ bộ rút ra từ thí nghiệm 10 năm bón phân N, P, K cho chè tại trại thí nghiệm chè Phú Hộ cho thấy: trên cơ sở bón 100 kgN/ha, bón thêm 50 kg P2O5 qua từng năm không có sự chênh lệch gì đáng kể về năng suất, nhưng từ năm thứ 7 trở đi bội thu tăng dần một cách rõ rệt và để chúng qua 10 năm thì supe lân tỏ ra có hiệu lực chắc chắn và đáng tin cậy Bình quân 10 năm cứ 1 kg P2O5 đã làm tăng được 3,5 kg búp chè [61]

1.4.3 Nhu cầu về kali

Kali (K): hoạt hóa enzim liên quan đến quang hợp, tổng hợp

hydratcarbon, protein, điều chỉnh pH và nước ở khí khổng [40] Giúp cây cứng chắc, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, rét và hạn, giảm khô lá và rụng lá già, tăng năng suất và tăng độ ngọt, độ đậm trong chè búp [45]

Thiếu kali: cây sinh trưởng chậm, mép và chóp lá có màu xám hay nâu

nhạt sau khô dần, lá già rụng sớm, lá non ngày càng nhỏ, dễ bị sâu bệnh Búp thưa, vỏ cây có màng trắng bạc, cây chậm ra búp, năng suất thấp, chè kém ngọt, chất lượng giảm [59]

Vai trò của kali đối với sự sinh trưởng và năng suất chè còn nhiều ý kiến chưa được thống nhất, có tác giả cho rằng hiệu lực kali đối với chè là tùy thuộc vào từng loại đất Trên các loại đất có hàm lượng kali tổng số và

dễ tiêu thấp, bón kali cho chè đã làm tăng năng suất rõ rệt Song cũng có những nghiên cứu bón kali trong thời gian dài đã không làm tăng năng suất chè ở mức độ có ý nghĩa Thậm chí, có thí nghiệm bón kết hợp đạm và kali kéo dài trong 21 năm cũng không thấy tăng năng suất đáng kể (Wanyoko, Othieno, 1987) [127]

Trang 38

Wanyoko và Othieno (1987) [127] với thí nghiệm bón K cho chè trong thời gian 5 năm, với 4 mức bón K khác nhau (0, 50, 100 và 250 kg

K2O/ha/năm) đi tới kết luận: với mức bón kali khác nhau không làm tăng năng suất búp chè hàng năm ở mức có ý nghĩa

Khi nghiên cứu bón kali cho chè trong 3 năm, với 3 mức bón K2O khác nhau (70, 140 và 200 kg/ha) trên nền bón N và P2O5 đã kết luận: chè được bón kali năng suất tăng so với đối chứng từ 21,0; 24,0 và 30,0% Krishnamoothy (1985) khi nghiên cứu ảnh hưởng của bón kali trên các loại đất khác nhau, đến năng suất chè đã cho thấy: trên các loại đất có hàm lượng kali tổng số và dễ tiêu nghèo, việc bón kali đã làm tăng năng suất ở mức độ tin cậy Nhu cầu K thay đổi tùy theo loại đất, cần định ra mức bón K phù hợp

và cân đối với các loại phân khác Trong điều kiện các chất dinh dưỡng đủ và cân đối cây chè cho năng suất cao Việc định ra mức bón kali chung là khó khăn, khi mà một trong các điều kiện như đất đai, địa hình, năng suất, kỹ thuật canh tác và thời tiết khí hậu khác nhau (dẫn theo Nguyễn Tử Siêm , 1997) [61]

Xu thế hiện nay các tác giả đều cho rằng bón phân cho chè kết hợp 3 yếu tố N, P, K là cần thiết, song tỉ lệ và liều lượng bao nhiêu là hợp lý cũng rất phụ thuộc vào điều kiện đất đai, thời tiết và khí hậu của từng vùng

Bón kali kết hợp với N cho chè năng suất tăng khoảng 13,3 - 20,0% Bón lân với các dạng supe lân Lâm Thao, lân chậm tan đã có tác dụng tăng năng suất chè từ 23 - 24% (Bùi Đình Dinh, 1995) [24]

Trên những nương chè mới trồng, phân kali không có hiệu quả vì trên những loại đất mới khai phá hàm lượng K2O trong đất đủ cho yêu cầu sinh trưởng phát triển của cây (20 - 25 mg K2O/100g đất) ở những nơi thường xuyên bón N, K với liều lượng cao trong nhiều năm, đất trở nên thiếu kali thì hiệu quả việc bón K2O rất rõ rệt [59]

Trang 39

1.4.4 Các nguyên tố khác

Lưu huỳnh (S): là thành phần của các axit amin chứa S và vitamin,

biotin, thiamin và coenzim A Giúp cho cấu trúc protein vững chắc, tăng năng suất, chất lượng chè

Thiếu lưu huỳnh: xuất hiện vệt vàng nhạt giữa gân các lá non, trong

giai đoạn phát triển thiếu lưu huỳnh lá trở nên vàng, khô dần và rụng, năng suất và chất lượng đều thấp Trong một số trường hợp, thiếu lưu huỳnh làm cây chết non

- Magiê (Mg): cấu tạo diệp lục tố, enzim chuyển hóa hydratcarbon và

axit nucleic Thúc đẩy hấp thụ, vận chuyển lân và đường trong cây, giúp cây cứng chắc và phát triển cân đối, tăng năng suất và chất lượng chè khô

Thiếu magiê: xuất hiện những vệt màu xanh tối hình tam giác ở giữa lá,

lá già dần chuyển vàng, hạn chế khả năng ra búp, năng suất thấp, chất lượng chè khô giảm

- Canxi (Ca): cần cho sự phân chia tế bào, duy trì cấu trúc nhiễm sắc

thể, hoạt hóa enzim, giải độc axit hữu cơ Giúp cây cứng cáp, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, và điều kiện thời tiết bất thuận, tăng năng suất và độ dầy của lá, độ lớn của búp, tăng năng suất và chất lượng chè khô

- Đồng (Cu): là thành phần của men cytochrome oxydase, ascorbic,

axit axidase, phenolase, lactase, xúc tiến quá trình hình thành vitamin A, tăng sức chống chịu sâu bệnh, tăng năng suất và chất lượng chè

Thiếu đồng: cây sinh trưởng phát triển kém, dễ bị nấm bệnh tấn công

Chè thiếu đồng khi hàm lượng đồng trong lá < 12 ppm

- Kẽm (Zn): là thành phần của men metallo-enzimes-carbonic,

anhydrase, anxohol dehydrogenase, quan trọng trong tổng hợp axit indol acetic, axit nucleic và protein, tăng khả năng sử dụng lân và đạm của cây Thúc đẩy sinh trưởng, phát triển, tăng năng suất và chất lượng chè

Thiếu kẽm: cây lùn, còi cọc, lá chuyển dần bạc trắng, số búp ít

Trang 40

- Sắt (Fe): là thành phần của nhiều enzim, quan trọng trong chuyển hóa

axit nucleic, RNA, diệp lục tố Tăng sinh trưởng và sức ra búp, tăng năng suất

và chất lượng chè

- Mangan (Mn): là thành phần của pyruvate carboxylase, liên quan đến

phản ứng enzim, hô hấp, chuyển hóa đạm và sự tổng hợp diệp lục tố Kiểm soát thế oxyhóa - khử trong tế bào Giúp tăng khả năng ra lá, ra búp, tăng năng suất và chất lượng chè khô

- Bo (B): cần cho sự phân chia tế bào, tổng hợp protein, lignin trong

cây, tăng khả năng thấm ở màng tế bào và vận chuyển hydrat carbon Tăng

độ dẻo của búp, giảm rụng lá, tăng năng suất và chất lượng chè

- Molypđen (Mo): là thành phần của men nitrogenase, cần cho vi khuẩn

Rhizobium cố định đạm, tăng hiệu suất sử dụng đạm, tăng năng suất và chất lượng chè

- Clo (Cl): là thành phần của axit auxin chloindole-3 acetic, kích thích

sự hoạt động của enzim và chuyển hóa hydrat carbon, khả năng giữ nước của cây, tăng năng suất và chất lượng chè

- Nhôm (Al) và Natri (Na): ảnh hưởng tốt đến hương thơm và vị đậm

của chè Tăng năng suất và nâng cao phẩm cấp của chè búp khô Trong 100

kg búp chè có chứa 4 kg N + 1,15 kg P2O5 + 2,4 kg K2O, tuy nhiên để tạo ra

100 kg chè thương phẩm, lượng dinh dưỡng cần rất lớn Chè cần nhiều đạm nhất sau tới lân, kali và các chất trung vi lượng Chè là cây khá khác biệt so

với các cây khác đó là có nhu cầu cao về nhôm, natri, sắt và mangan

Nhiều nguyên tố vi lượng có ảnh hưởng tốt tới quang hợp: Mn, Cu, B,

Co, Mo đẩy mạnh sự tổng hợp diệp lục trong lá và phân giải diệp lục trong tối; B và các nguyên tố khác tăng cường sự tổng hợp Gluxit, làm cho sự tổng hợp và vận chuyển xacaro và các gluxit khác thuận lợi hơn; Mn, Zn, Cu, Mo làm tăng độ hô hấp và tốc độ của quá trình ôxi hóa khử [82],[83],[84]

Ngày đăng: 29/05/2014, 16:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chu Xuân Ái, Đinh Thị Ngọ, Lê Văn Đức (1998), “Kết quả 10 năm nghiên cứu về phân bón đối với cây chè”, Tuyển tập các công trình nghiên cứu về chè (1988 - 1997), Nhà xuất bản Nông nghiệp, tr. 208 - 221 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả 10 năm nghiên cứu về phân bón đối với cây chè”, "Tuyển tập các công trình nghiên cứu về chè (1988 - 1997)
Tác giả: Chu Xuân Ái, Đinh Thị Ngọ, Lê Văn Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1998
2. Chu Xuân Ái (1992), “Tìm hiểu bước đầu các yếu tố dinh dưỡng chủ yếu của một số giống chè ở Phú Hộ”, Tạp chí Khoa học đất, (Số 2), tr. 52 - 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu bước đầu các yếu tố dinh dưỡng chủ yếu của một số giống chè ở Phú Hộ”", Tạp chí Khoa học đất
Tác giả: Chu Xuân Ái
Năm: 1992
3. Đỗ Ánh (2003), Độ phì nhiêu của đất và dinh dưỡng cây trồng, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độ phì nhiêu của đất và dinh dưỡng cây trồng
Tác giả: Đỗ Ánh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2003
4. Đỗ Trọng Biểu, Đoàn Hùng Tiến, Trịnh Văn Loan (1998), “Mười năm nghiên cứu sinh hoá kỹ thuật chè”, Tuyển tập các công trình nghiên cứu về chè (1988 - 1997), Nhà xuất bản Nông nghiệp, tr. 108 - 130 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mười năm nghiên cứu sinh hoá kỹ thuật chè”, "Tuyển tập các công trình nghiên cứu về chè (1988 - 1997)
Tác giả: Đỗ Trọng Biểu, Đoàn Hùng Tiến, Trịnh Văn Loan
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1998
5. Nguyễn Thị Ngọc Bình (2005), “Thử nghiệm phân lân hữu cơ vi sinh Sông Gianh cho cây chè Trung Du trồng tại Tân Cương , Thái Nguyên ”, Tạp chí khoa học công nghệ và nông nghiệp Việt Nam, Số 3, tr. 72 - 77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm phân lân hữu cơ vi sinh Sông Gianh cho cây chè Trung Du trồng tại Tân Cương , Thái Nguyên ”, "Tạp chí khoa học công nghệ và nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Bình
Năm: 2005
6. Nguyễn Thị Ngọc Bình, Nguyễn Văn Toàn (2005), “Ảnh hưởng của tủ gố c rác, tưới nước đến năng suất, chất lượng hiệu quả sản xuất chè an toàn tại Thái Nguyên”, Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ giai đoạn 2001 - 2005, Nhà xuất bản Nông Nghiệp, tr. 59 - 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của tủ gốc rác, tưới nước đến năng suất, chất lượng hiệu quả sản xuất chè an toàn tại Thái Nguyên”, "Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ giai đoạn 2001 - 2005
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Bình, Nguyễn Văn Toàn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông Nghiệp
Năm: 2005
7. Nguyễn Thị Ngọc Bình, Nguyễn Văn Toàn (2007), “Hiệu quả sử dụng phân lân hữu cơ sinh học sông Gianh trong sản xuất chè an toàn ”, Tạp chí khoa học và công nghệ nông nghiệp Việt Nam ,Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam, Số 4, tr. 96 - 100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả sử dụng phân lân hữu cơ sinh học sông Gianh trong sản xuất chè an toàn ”, "Tạp chí khoa học và công nghệ nông nghiệp Việt Nam ,Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Bình, Nguyễn Văn Toàn
Năm: 2007
8. Nguyễn Thị Ngọc Bình, Hà Đình Tuấn, Lê Quốc Doanh (2009), “Nghiên cứu sử dụng vật liệu hữu cơ che phủ cho một số loại hình chè Trung Quốc nhập nội”, Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ giai đoạn 2006 - 2009, Nhà xuất bản Nông Nghiệp, tr. 97 - 107 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụng vật liệu hữu cơ che phủ cho một số loại hình chè Trung Quốc nhập nội”, "Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ giai đoạn 2006 - 2009
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Bình, Hà Đình Tuấn, Lê Quốc Doanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông Nghiệp
Năm: 2009
9. Nguyễn Thị Ngọc Bình (2009), “Báo cáo điều tra khối lượng phế phụ phẩm nông nghiệp và tình hình sử dụng phế phụ phẩm”, Đề tài Nghiên cứu chuyển giao kỹ thuật chế biến phân vi sinh từ phế phụ phẩm nông nghiệp phục vụ sản xuất chè an toàn, dự án Khoa học công nghệ nông nghiệp vốn vay ADB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo điều tra khối lượng phế phụ phẩm nông nghiệp và tình hình sử dụng phế phụ phẩm”", Đề tài Nghiên cứu chuyển giao kỹ thuật chế biến phân vi sinh từ phế phụ phẩm nông nghiệp phục vụ sản xuất chè an toàn
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Bình
Năm: 2009
10. Nguyễn Văn Bình, Vũ Đình Chính, Nguyễn Thế Côn, Lê Song Dự, Đoàn Thị Thanh Nhàn, Bùi Xuân Sửu (1996), Giáo trình cây công nghiệp, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây công nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Bình, Vũ Đình Chính, Nguyễn Thế Côn, Lê Song Dự, Đoàn Thị Thanh Nhàn, Bùi Xuân Sửu
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1996
11. Ngô Đình Quang Bính (2005), Vi sinh vật học công nghiệp, Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, Trung tâm khoa học Tự nhiên và công nghệ Quốc gia, Hà Nội, tr. 53 - 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật học công nghiệp
Tác giả: Ngô Đình Quang Bính
Năm: 2005
17. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2003), Sổ tay kiểm tra và đánh giá chất lượng chè miền Bắc, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay kiểm tra và đánh giá chất lượng chè miền Bắc
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2003
18. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2003), Báo cáo khoa học tại đại hội lần thứ 9 hiệp hội chè tỉnh Chiết Giang, Tài liệu dịch của Đỗ Ngọc Quỹ, Đỗ Thành Phụ, Nhà xuất bản Nông nghiệp, tr. 27 - 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học tại đại hội lần thứ 9 hiệp hội chè tỉnh Chiết Giang
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2003
19. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trung tâm khuyến nông - khuyến ngư quốc gia (2009), Sổ tay hướng dẫn quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) cho chè búp tươi , Nhà xuất bản Bản đồ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) cho chè búp tươi
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trung tâm khuyến nông - khuyến ngư quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Bản đồ
Năm: 2009
21. Trần Văn Chính (2006), Giáo trình Thổ nhưỡng học , Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thổ nhưỡng học
Tác giả: Trần Văn Chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2006
22. Đường Hồng Dật (2004), Cây chè các biện pháp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây chè các biện pháp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm
Tác giả: Đường Hồng Dật
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động - Xã hội
Năm: 2004
23. Lê Doãn Diên (2003), Nâng cao chất lượng và giá trị xuất khẩu của điều, chè và cà phê Việt Nam, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng và giá trị xuất khẩu của điều, chè và cà phê Việt Nam
Tác giả: Lê Doãn Diên
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động - Xã hội
Năm: 2003
24. Bùi Đình Dinh (1995), Yếu tố dinh dưỡng hạn chế năng suất và chiến lược quản lý dinh dưỡng cây trồng, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố dinh dưỡng hạn chế năng suất và chiến lược quản lý dinh dưỡng cây trồng
Tác giả: Bùi Đình Dinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1995
25. Lê Quốc Doanh, Nguyễn Văn Bộ, Hà Đình Tuấn (2003), Nông nghiệp vùng cao: Thực trạng và giải pháp, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp vùng cao: Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Lê Quốc Doanh, Nguyễn Văn Bộ, Hà Đình Tuấn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2003
26. Lê Quốc Doanh, Hà Đình Tuấn, Andre Chabanne (2005), Canh tác đất dốc bền vững, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Canh tác đất dốc bền vững
Tác giả: Lê Quốc Doanh, Hà Đình Tuấn, Andre Chabanne
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.6. Ảnh hưởng của vật liệu che tủ đến năng suất giống chè LDP1 - Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của vật liệu che tủ đến năng suất giống chè LDP1 (Trang 75)
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của vật liệu che tủ đến phẩm cấp chè nguyên liệu - Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của vật liệu che tủ đến phẩm cấp chè nguyên liệu (Trang 77)
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của vật liệu tủ đến mật độ rầy xanh - Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của vật liệu tủ đến mật độ rầy xanh (Trang 79)
Hình 3.1. Biểu đồ ảnh hưởng của vật liệu tủ đến mật độ rầy xanh - Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn
Hình 3.1. Biểu đồ ảnh hưởng của vật liệu tủ đến mật độ rầy xanh (Trang 80)
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của vật liệu tủ đến mật độ bọ cánh tơ - Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của vật liệu tủ đến mật độ bọ cánh tơ (Trang 81)
Hình 3.3. Biểu đồ ảnh hưởng của các mức tủ đến sản lượng chè hàng năm - Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn
Hình 3.3. Biểu đồ ảnh hưởng của các mức tủ đến sản lượng chè hàng năm (Trang 89)
Bảng 3.19. Ảnh hưởng của các mức tủ đến  thử nếm cảm quan mẫu chè xanh giống chè LDP1 - Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn
Bảng 3.19. Ảnh hưởng của các mức tủ đến thử nếm cảm quan mẫu chè xanh giống chè LDP1 (Trang 93)
Bảng 3.20. Các chủng vi sinh vật phân lập - Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn
Bảng 3.20. Các chủng vi sinh vật phân lập (Trang 94)
Hình 3.4. Vòng phân giải xelluloza của các chủng vi sinh vật - Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn
Hình 3.4. Vòng phân giải xelluloza của các chủng vi sinh vật (Trang 96)
Hình 3.5. Đồ thị biểu diễn biến động nhiệt độ trong quá trình xử lý thân lá chè - Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn
Hình 3.5. Đồ thị biểu diễn biến động nhiệt độ trong quá trình xử lý thân lá chè (Trang 98)
Hình 3.6. Đánh giá cảm quan độ hoai mục giữa công thức ủ - Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn
Hình 3.6. Đánh giá cảm quan độ hoai mục giữa công thức ủ (Trang 99)
Bảng 3.26. Ảnh hưởng của việc xử lý thân cành lá chè - Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn
Bảng 3.26. Ảnh hưởng của việc xử lý thân cành lá chè (Trang 102)
Bảng 3.35. Ảnh hưởng của các chế phẩm vi sinh đến - Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn
Bảng 3.35. Ảnh hưởng của các chế phẩm vi sinh đến (Trang 115)
Hình 3.8. Biểu đồ năng suất chè ở các công thức tham gia thí nghiệm - Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn
Hình 3.8. Biểu đồ năng suất chè ở các công thức tham gia thí nghiệm (Trang 122)
Bảng 3.42. Ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ sinh học - Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn
Bảng 3.42. Ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ sinh học (Trang 125)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w