Cạnh tranh đối với khu vực công: kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt Nam Abstract: Luận giải cơ sở lý luận cạnh tranh đối với khu vực công, làm rõ những đặc trưng, hình thức k
Trang 1Cạnh tranh đối với khu vực công: kinh nghiệm
quốc tế và những vấn đề của Việt Nam
Abstract: Luận giải cơ sở lý luận cạnh tranh đối với khu vực công, làm rõ những đặc
trưng, hình thức kỹ thuật thúc đẩy cạnh tranh đối với khu vực công, kinh nghiệm vận dụng cạnh tranh đối với khu vực công ở một số nước Đánh giá thực trạng cạnh tranh đối với khu vực công ở Việt Nam thời gian qua, trên cơ sở đó chỉ rõ các vấn đề cần giải quyết Đồng thời xây dựng các nguyên tắc vận dụng cạnh tranh đối với khu vực công và
đề xuất hệ thống giải pháp thiết thực thúc đẩy cạnh tranh trong lĩnh vực này ở Việt Nam
Keywords: Cạnh tranh; Khu vực công; Kinh tế chính trị
Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khu vực công (KVC) là tập hợp những cơ cấu tổ chức nhà nước hoạt động nhằm phục vụ lợi ích chung của tập thể cộng đồng và toàn xã hội Hoạt động của khu vực công (KVC) có ảnh hưởng to lớn tới mọi mặt của đời sống xã hội, từ việc xác nhận sinh, tử cho tới việc cung ứng hàng hóa và dịch vụ bảo đảm sự tồn tại và phát triển của cuộc sống con người
Song, hoạt động của KVC thường bị coi là kém hiệu quả vì thiếu môi trường cạnh tranh
và vấp phải những thất bại nhà nước Từ đó, nguồn lực công không được sử dụng một cách hiệu quả Nhiều công trình nghiên cứu đã kiến nghị các chính phủ nên vận dụng cơ chế cạnh tranh như là một trong các phương cách khắc phục những hạn chế trên
Ở Việt Nam, hoạt động của KVC còn nhiều bất cập, nguồn lực quốc gia bị chi tiêu lãng phí, hiệu quả cung cấp hàng hoá và dịch vụ công thấp, đa số các hoạt động này mang nặng tính độc quyền nhà nước Nhưng cho tới nay, chưa nhiều công trình nghiên cứu công phu nào bàn về chủ đề này ở Việt Nam
Trang 2Trong khi đó, các công trình khoa học ở nước ngoài chứng minh rằng việc vận dụng cạnh tranh đối với KVC đã đem lại những lợi ích trong việc cải thiện hiệu quả KVC ở nhiều nước Vì vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm các nước để rút ra bài học hữu ích là cần thiết cho Việt Nam trong công cuộc cải cách KVC hiện nay
Trên cơ sở những lý do thiết thực như trên, Tác giả luận án quyết định lựa chọn đề tài
nghiên cứu: “cạnh tranh đối với khu vực công: kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt
Nam”
2 Tình hình nghiên cứu về đề tài
Tình hình triển khai nghiên cứu ở nước ngoài
Luận án đã khảo sát một số lượng lớn các công trình khoa học nước ngoài liên quan tới nội dung cạnh tranh đối với KVC Từng công trình này chỉ bàn tới một vài khía cạnh riêng của từng quốc gia
Trong tác phẩm “Market failure, government failure, leadership and public policy”,
Wallis và Dollery chỉ rõ rằng sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế gây ra một số thất bại nhà nước như “thất bại lập pháp”, “thất bại hành chính”, “thất bại tư pháp”, “thất bại hành pháp”,
“thất bại chính trị” Mặt khác, KVC thường thiếu vắng áp lực cạnh tranh Chính những thất bại
đó làm cho KVC vận hành không hiệu quả
Trong tác phẩm “Market or Government: choosing between imperfect alternatives”, Wolf
đã lập luận rằng việc vận dụng cơ chế thị trường vào KVC làm cho hoạt động của khu vực này trở nên linh hoạt, hiệu quả và đáp ứng kịp thời nhu cầu người tiêu dùng hơn
Osborne và Gaebler, trong tác phẩm “Sáng tạo lại chính phủ: tinh thần kinh doanh sẽ làm
biến đổi khu vực công ra sao?”, đã kiến nghị thị trường hoá hoạt động công cộng để nâng cao
hiệu qủa của chúng Hai tác giả đã đề xuất nhiều ý tưởng mới nhằm đưa tinh thần kinh doanh theo phong cách tư nhân vào khu vực công
“Báo cáo phát triển thế giới 1997” của Ngân hàng thế giới đề xuất việc hoàn thiện quy
trình cung ứng hàng hoá và dịch vụ công thông qua cơ chế thị trường và sự tham gia của tư nhân
Tác phẩm “Phục vụ và duy trì: giới thiệu hành chính công trong một thế giới cạnh
tranh”, đã giới thiệu cơ chế cạnh tranh trong mua sắm công và những tiêu chí đánh giá kết quả
hoạt động cung ứng hàng hóa và dịch vụ công
Jan-Erik Lane đã đánh giá những kinh nghiệm cải cách khu vực công ở nhiều quốc gia
trong tác phẩm của mình “Public Sector Reform: rationale, trends and problems” Một ý tưởng
quan trọng được phát hiện trong tác phẩm này là các cuộc cải cách KVC đều theo hướng mở rộng môi trường cạnh tranh trong khu vực này ở các nước như Australia, New Zealand, Germany, Canada, Anh và nhiều nước phát triển khác
Nhiều công trình khác cũng đã tổng kết kinh nghiệm vận dụng cạnh tranh vào KVC ở các nước như Trung Quốc, Singapore Chẳng hạn, Janet Tay đã khảo cứu tiến trình và kết quả thực
hiện cải cách khu vực công ở Singapore trong thập kỷ vừa qua một số tác phẩm như “Public
service reforms in Singaporre” Kai Hong Phua tập trung vào đánh giá những kinh nghiệm của
Singapore trong lĩnh vực y tế trong công trình khoa học “Health care financing options: lessons
and innovations from the Singapore system”, v.v
Xu Songtao đã giới thiệu những tiếp cận mới mà Chính phủ Trung Hoa vận dụng vào cải
cách KVC trong môi trường cạnh tranh của thế giới trong tác phẩm “China's Public
Trang 3Administration Reform: New Approaches” Mok, K.H công bố công trình “Merging of the Public and Private Boundary: Education and the Market place in China” để phân tích cạnh tranh công-
tư trong lĩnh vực giáo dục
Qua khảo sát các công trình nghiên cứu nước ngoài này, điều dễ nhận thấy rằng cho tới thời điểm này chưa có một công trình nghiên cứu của học giả nước ngoài bàn về cạnh tranh đối với KVC ở Việt Nam Như vậy, chủ đề nghiên cứu này vẫn còn rất mới lạ, cần phải đầu tư nghiên cứu nhiều
Tình hình triển khai nghiên cứu trong Việt Nam
Ở Việt Nam, gần như chưa có công trình nghiên cứu công phu và toàn diện về cạnh tranh đối với KVC Điều này được kiểm chứng cứ thông qua quá trình sưu tầm tư liệu cho Luận án Cho tới nay, chưa có một công trình nào trực tiếp bàn về cạnh tranh đối với KVC hay liên quan tới đề tài này được lưu trữ trong các trung tâm đào tạo và viện nghiên cứu lớn trong cả nước như Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh, Viện quản lý kinh tế Trung ương, Trường đại học kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện chính trị và hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Viện kinh tế Việt Nam, v.v
Tuy nhiên, Viện quản lý kinh tế Trung ương đã công bố kết quả dự án VIE 01/025:
“Nâng cao năng lực cạnh tranh Quốc gia” (2003) Trọng tâm của công trình này là năng lực
cạnh tranh Quốc gia Song, một số thông tin trong công trình này có ích cho luận giải một số khía cạnh về cạnh tranh đối với KVC Chẳng hạn, việc đánh giá tình trạng độc quyền nhà nước trong một số lĩnh vực kết cấu hạ tầng là những thông tin cần thiết cho luận án này
Trong một số năm gần đây, trên diễn đàn khoa học đã xuất hiện một số công trình đề cấp
tới một số khía cạnh liên quan tới cạnh tranh trong các lĩnh vực công Trong “Báo cáo phát triển
Việt Nam 2005” của Ngân hàng thế giới và UNDP, khi bàn về giải pháp nâng cao việc sử dụng
hiệu quả các nguồn chi tiêu công cộng, các tác giả có kiến nghị mở rộng việc cạnh tranh đối với khu vực này để các chủ thể công và tư nhân có thể cạnh tranh vì hiệu quả cao, chất lượng hàng hóa công phù hợp với nhu cầu khách hàng Đó cũng là gợi ý phù hợp với ý tưởng mà Luận án đang theo đuổi giải quyết Riêng Tác giả luận án đã công bố vài công trình trên các tạp chí liên quan tới nội dung cạnh tranh đối với KVC
Tóm lại, còn quá ít công trình nghiên cứu sâu rộng về cạnh tranh đối với KVC ở Việt Nam thời gian qua Ở nước ngoài, nhiều công trình bàn tới khả năng vận dụng cạnh tranh vào KVC, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào về cạnh tranh đối với KVC ở Việt Nam Trong phạm vi quốc gia, các nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm chưa thỏa đáng tới những ý tưởng vận dụng cạnh tranh vào khu vực công nên còn rất hiếm các công trình khoa học hay đề tài nghiên cứu về nội dung này Vì thế, có thể khẳng định rằng vấn đề cạnh tranh đối với khu vực công ở Việt Nam còn nhiều cơ hội bỏ ngỏ cho nghiên cứu chuyên sâu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích chính của Luận án là phác họa bức tranh cạnh tranh đối với KVC ở Việt Nam
và luận giải hệ thống giải pháp thúc đẩy cạnh tranh trong khu vực này Để đạt được mục tiêu cơ bản này, Luận án đặt ra 4 nhiệm vụ quan trọng sau đây: (i) luận giải cơ sở lý luận cạnh tranh đối với khu vực công; (ii) giới thiệu những kinh nghiệm cần thiết về cạnh tranh đối với KVC ở một
số nước trên thế giới như cơ sở tham khảo cho Việt Nam; (iii) phân tích thực trạng cạnh tranh đối với KVC ở Việt Nam; (iv) đề xuất hệ thống giải pháp thúc đẩy cạnh tranh đối với KVC ở Việt Nam trong thời gian tới
Trang 44 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Trọng tâm nghiên cứu của Luận án là “cạnh tranh đối với KVC”
trong việc cung ứng hàng hóa và dịch vụ công (gọi tắt là HHC) và một số loại hàng hóa và dịch
vụ tư (gọi tắt là HHT) Nội hàm “cạnh tranh đối với KVC” thể hiện ý tưởng chủ đạo rằng sự
cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa các chủ thể thuộc KVC với nhau mà còn diễn ra giữa các chủ thể công với chủ thể tư, chủ thể liên doanh công tư và các chủ thể kinh tế khác
Bằng phương pháp định tính là chủ yếu, Luận án chỉ tập trung xem xét sự cạnh tranh của
các chủ thể công với nhau, giữa chủ thể công với chủ thể tư và chủ thể hỗn hợp công tư trong việc cung ứng HHC và một số HHT Những số liệu hay trường hợp minh họa cho nghiên cứu trong Luận án được giới hạn trong các lĩnh vực kết cấu hạ tầng công ích (điện lực, bưu chính viễn thông, giao thông) và hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục) Đây là những lĩnh vực cơ bản có tác động rộng lớn tới đời sống tất cả thành viên xã hội và hoạt động của nền kinh tế quốc dân
Giới hạn không gian: Luận án tập trung chính vào giải quyết những vấn đề đã lựa chọn
diễn ra ở Việt Nam Bên cạnh đó, Luận án lựa chọn giới thiệu những kinh nghiệm quan trọng của một số quốc gia tiêu biểu về cạnh tranh đối với KVC như Anh, Australia, New Zealand, Trung Quốc và Singapore
Giới hạn thời gian: Giai đoạn mà Luận án tập trung nghiên cứu là giai đoạn sau khi có
chính sách đổi mới ở Việt Nam Tất nhiên, để nghiên cứu có hệ thống, một số khía cạnh liên quan trong quá trình luận giải vấn đề chính có thể thuộc về giai đoạn trước 1986 Đối với phân tích kinh nghiệm quốc tế, phạm vi thời gian nghiên cứu bao hàm giai đoạn thời gian rộng hơn, từ những năm đầu của thập kỷ 1980s trở lại đây
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu và nhiệm vụ đề ra, Luận án kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là phương pháp luận cần thiết cho phân tích
và luận giải bản chất và quá trình vận động và phát triển của các hiện tượng, sự vật Nghiên cứu KVC cùng không thể không vận dụng phương pháp luận này Hơn nữa, Luận án còn sử dụng nhiều phương pháp khoa học cụ thể như Phân tích, Tổng hợp, So sánh,Thống kê, v.v
6 Đóng góp khoa học của Luận án
Với những kết quả nghiên cứu, Luận án hy vọng sẽ đóng góp những ý tưởng mới và thúc đẩy công tác nghiên cứu KVC ở Việt Nam theo chiều rộng và chiều sâu của vấn đề:
i Hệ thống hóa lý luận cạnh tranh đối với KVC, làm rõ những đặc trưng, hình thức và kỹ thuật thúc đẩy cạnh tranh đối với KVC;
ii Làm rõ thực trạng cạnh tranh đối với KVC ở Việt Nam thời gian qua trên cơ sở đó chỉ rõ các vấn đề cần giải quyết
iii Xây dựng các nguyên tắc vận dụng cạnh tranh đối với KVC và thiết kế hệ thống giải pháp thiết thực thúc đẩy cạnh tranh ở Việt Nam
Những đóng góp khoa học này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của KVC, đặc biệt trong quan chức và những người hoạch định chính sách để nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực này
7 Kết cấu Luận án
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận án được bố cục thành 4 chương
gồm 16 mục và 45 tiết
Trang 5Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH
ĐỐI VỚI KHU VỰC CÔNG 1.1 KHU VỰC CÔNG VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC
1.1.1 Khu vực công trong nền kinh tế
Việc phân tích dẫn tới sự khái quát về KVC như sau: KVC là tập hợp nhiều cơ quan và tổ chức tập thể nhằm phục vụ lợi ích chung của mọi thành viên xã hội, gồm các đặc trưng: (i) những cơ quan và tổ chức này do nhà nước thành lập nhằm phục vụ lợi ích nhà nước và thông qua đó phục vụ công dân; (ii) mục tiêu và quy chế hoạt động của chúng là do nhà nước quyết định thông qua quy trình chính trị và hành chính; (iii) nguồn ngân sách đảm bảo hoạt động của các tổ chức này được phân bổ từ nguồn thu nhập thuế quốc gia và địa phương và chịu sự giám sát của nhà nước; (iv) nhà nước chịu trách nhiệm về những giao ước pháp lý cho các thực thể hợp phần của mình và nắm quyền kiểm soát pháp lý về những hoạt động của chúng
1.1.2 Quan niệm về hàng hoá công
Việc phân định hàng hóa và dịch vụ công (HHC) và hàng hóa và dịch vụ tư (HHT) dựa vào hai tiêu chí: (i) tính loại trừ; (ii) tính tranh giành
Tính loại trừ hàm ý trả lời câu hỏi: „có thể ngăn cản mọi người sử dụng hàng hoá
không?‟ Những hàng hoá không có tính loại trừ là những hàng hoá mà mọi người đều có thể tiếp
cận sử dụng nó mà không thể ngăn cản, và ngược lại
Tính tranh giành hàm nghĩa trả lời câu hỏi: „việc sử dụng hàng hoá của người này có làm
giảm khả năng tiêu dùng hàng hoá đó của người khác không?‟ Hàng hoá không tranh giành là
những hàng hoá mà việc sử dụng của người này không ảnh hưởng đến khả năng sử dụng đồng thời của người khác đối với hàng hóa đó, và ngược lại
Những hàng hoá mang tính loại trừ và tính tranh giành gọi là HHT thuần tuý Ngược lại, những hàng hoá có hội tụ đầy đủ cả hai thuộc tính không loại trừ và không tranh giành gọi là HHC thuần tuý Trong thực tế, ranh giới giữa HHT với HHC chỉ là tương đối Trong khoảng giữa hai cực HHT thuần tuý và HHC thuần tuý, tồn tại một số loại hàng hóa được gọi là HHC không thuần tuý và/hay HHT không thuần tuý, tức là có thể hội tụ không đủ hai tiêu chí nói trên hoặc sự kết hợp hai tiêu chí ở giới hạn nhất định
Việc phân loại HHC mang ý nghĩa tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhận thức về mức độ “công”, hoàn cảnh lịch sử, điều kiện thị trường, quy định pháp lý và tình trạng công nghệ Tuy nhiên, việc phân định HHC rất cần thiết để hiểu rõ những vấn đề cần giải quyết khi đưa ra quyết định liên quan tới KVC
Xuất phát từ đặc điểm của HHC như vậy, có thể rút ra kết luận rằng về cơ bản nhà nước thực hiện cung ứng HHC hiệu quả hơn thị trường tư nhân Do HHC không có tính loại trừ, nên người hưởng lợi không phải trả tiền khi sử dụng Thị trường không thể cung cấp miễn phí như vậy Hơn nữa, vấn đề „kẻ ăn không‟ không thể giải quyết trên thị trường tư nhân Do đó, nhà nước cần phải giải quyết vấn đề này bằng cách thực hiện cung ứng HHC thông qua tài trợ bằng thuế vì lợi ích hưởng lợi đồng đều cho mọi người
Bảng 1.2: Chức năng của nhà nước hiện nay Chức
Trang 6Y tế cộng đồng
Bảo vệ người nghèo:
Chương trình chống đói nghèo Trợ cấp thiên tai
Bảo vệ
môi trường
Điều tiết độc quyền:
Điều tiết
sử dụng
hạ tầng, Chính sách chống độc quyền
Khắc phục rủi ro:
Bảo hiểm (nhân thọ, hưu trí) Điều tiết tài chính Bảo vệ người tiêu dùng
Cung cấp bảo hiểm xã hội:
Phân bổ lại lương hưu Trợ cấp gia đình Bảo hiểm thất nghiệp
Phân phối lại:
Phân phối lại tài sản
1.1.3 Vai trò của nhà nước trong điều tiết kinh tế
Sau khi phân tích chi tiết về hoạt động điều tiết kinh tế của nhà nước, Luận án rút ra kết luận rằng sứ mệnh của sự can thiệp nhà nước vào kinh tế nhằm khắc phục khuyết tật thị trường
và cải thiện công bằng xã hội Các chức năng căn bản của chính phủ được tập hợp trong Bảng 1.2
1.2 SỰ CẦN THIẾT VẬN DỤNG CẠNH TRANH ĐỐI VỚI KHU VỰC CÔNG
Cạnh tranh được coi là một trong những phương cách khắc phục những thất bại nhà nước
và tạo môi trường ganh đua trong KVC, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả của khu vực này
1.2.1 Các thất bại nhà nước
Nhiều công trình nghiên cứu đã phân chia những thất bại nhà nước thành 3 nhóm phổ
biến sau: Thứ nhất, thất bại lập pháp thể hiện trong sự mất hiệu quả phân bổ Thứ hai, thất bại
hành chính quan liêu làm cho việc thực hiện các chính sách không hiệu quả cho dù những chính
sách đó có lợi cho xã hội Thứ ba, tệ nạn trục lợi phát sinh khi nhà nước thực hiện can thiệp vào
nền kinh tế Nhiều người cũng có thể lợi dụng quyền lực công/chính sách công để phân phối lại nguồn lực có lợi cho cá nhân
Với những lập luận như vậy, nhà nước cũng có những thất bại trong việc bảo đảm tính hiệu quả trong cung ứng hàng hoá Nếu chỉ duy nhất chủ thể nhà nước thực hiện việc cung cấp hàng hoá sẽ không tối ưu, nhiều nguồn ngân sách sẽ bị chi tiêu lãng phí
1.2.2 Sự hạn chế về môi trường cạnh tranh
Một trong các lý do dẫn tới tình trạng kém hiệu quả kinh tế của KVC là các chủ thể thuộc KVC gần như ít bị áp lực cạnh tranh gay gắt Các chủ thể KVC ít phải đối mặt với nguy cơ phá sản vì được sự bảo trợ của nhà nước
10
Trang 7Tình trạng này dẫn tới hiện tượng độc quyền nhà nước Sự độc quyền nhà nước gây ra ba
tác động tiêu cực như sau: Thứ nhất, độc quyền nhà nước làm mất cân đối trong tương quan lợi ích giữa các chủ thể hoạt động trong nền kinh tế Thứ hai, độc quyền nhà nước ngăn cản hay hạn
chế sự cạnh tranh và gia nhập thị trường của các chủ thể kinh tế khác Thứ ba, độc quyền nhà
nước đã gây ảnh hưởng tới lợi ích của người tiêu dùng và các cộng đồng xã hội
1.2.3 Vai trò của cạnh tranh đối với khu vực công
Cạnh tranh được coi như một trong các phương cách nâng cao hiệu quả KVC, điều này thể hiện trong 3 tác động cơ bản: (i) cạnh tranh góp phần sử dụng tối ưu các nguồn lực công; (ii) cạnh tranh góp phần đa dạng hóa quyền lựa chọn cho người sản xuất và tiêu dùng; (iii) cạnh tranh góp phần thay đổi hành vi ứng xử của bộ máy công quyền
1.3 CÁC Ý TƯỞNG VẬN DỤNG CẠNH TRANH VÀO THỰC TIỄN
Xuất phát từ sự cấp thiết ở trên, ý tưởng vận cạnh tranh đối với KVC được luận giải trong nhiều lý thuyết Đó là những gợi ý khoa học cần phải tìm hiểu để nắm bắt phương pháp luận
1.3.1 Ý tưởng về tái cấu trúc nhà nước
Chính phủ tạo môi trường cạnh tranh tích cực cho khu vực công và tư để nâng cao hiệu quả và chất lượng hàng hóa cho công dân Thực tế cho thấy ở đâu có cạnh tranh ở đó có hiệu quả hơn, chi tiêu hợp lý hơn và cung ứng hàng hóa chu đáo hơn Hoạt động cung cấp không chỉ do các đơn vị nhà nước mà còn do nhiều cơ sở tư nhân đảm nhận Tuỳ thuộc vào loại hình hàng hoá công thuần tuý hay không thuần tuý mà các loại hình cạnh tranh được vận dụng cho phù hợp
1.3.2 Chủ nghĩa công quản mới
Ý tưởng chính của chủ nghĩa công quản mới là đề cao vị trí của khu vực tư (KVT) trong việc cải thiện hiệu quả KVC thông qua cơ chế cạnh tranh Môi trường cạnh tranh được khuyến khích mở rộng theo cả trong và ngoài phạm vi của khu vực công Bằng nhiều hình thức, như chuyển đổi hình thức sở hữu, hợp đồng, cho thuê và đấu thầu, phong cách hoạt động của khu vực công tiến gần lại phong cách của khu vực tư nhân về phương diện hạch toán kinh tế, cách thức phục vụ khách hàng
1.3.3 Lý thuyết lựa chọn công
Lý thuyết lựa chọn công cho rằng lực lượng thị trường hơn là nhà nước tạo ra sự lựa chọn tốt hơn cho xã hội Sự đa dạng hóa quyền lựa chọn cho công dân là thiết thực trên cơ sở chuyển nhiều hoạt động của KVC cho KVT đảm nhận trong chừng mực có thể Cơ chế thị trường sẽ làm cho KVC linh hoạt hơn, phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn
1.3.4 Lý thuyết chính yếu/đại diện
Trong KVC, thiếu động lực lợi nhuận và áp lực giải thể/cạnh tranh, nên các nhà quản lý không tích cực hay thiếu trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng nguồn lực công vì lợi ích chung xã hội Lý thuyết này đề xuất lối thoát cho vấn đề trách nhiệm trong KVC là thiết lập cơ
sở hợp đồng với bên ngoài trong những hoạt động công có thể Các chủ thể công buộc đẩy vào
môi trường cạnh tranh nội bộ với nhau và cạnh tranh với những chủ thể bên ngoài KVC
1.4 THỰC CHẤT CẠNH TRANH ĐỐI VỚI KHU VỰC CÔNG
1.4.1 Đặc điểm cạnh tranh đối với khu vực công
Sau khi phân tích nội hàm của nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh trong nền kinh
tế, Tác giả luận án rút ra một định nghĩa riêng về cạnh tranh đối với KVC trong lĩnh vực cung ứng hàng hóa:
Trang 8Cạnh tranh phản ánh quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế trong việc tranh giành những lợi thế cho bản thân bằng nhiều phương pháp thích hợp để cung ứng hàng hóa KVC phục
vụ mọi tầng lớp xã hội một cách hiệu quả và công bằng theo đúng mục tiêu cam kết
Quan trọng hơn, Luận án còn làm rõ những đặc điểm cạnh tranh đối với KVC:
(i) Các chủ thể cạnh tranh: Các chủ thể kinh tế cạnh tranh trong cung ứng hàng hoá KVC
bao gồm cơ quan nhà nước và cơ quan do nhà nước uỷ quyền Các chủ thể do nhà nước ủy quyền
có thể là cộng đồng, tổ chức phi chính phủ, các chủ thể tư nhân và các chủ thể liên doanh Điều đặc biệt là dù rằng những chủ thể do nhà nước ủy quyền nhưng họ vẫn phải tuân thủ những quy trình hành chính nhất định trong những hợp đồng cung ứng HHC cụ thể Họ vẫn phải hành động thay mặt nhà nước để phục vụ xã hội chứ không thể từ bỏ những cam kết với nhà nước để chạy theo lợi ích cá nhân
(ii) Đối tượng cạnh tranh: Đối tượng mà các chủ thể cạnh tranh tranh giành trong lĩnh
vực cung ứng hàng hóa KVC chủ yếu là: (i) nguồn lực công để tổ chức sản xuất hàng hoá cho công dân; (ii) chủng loại hàng hóa cần thiết và quy trình thực hiện; (iii) số lượng người hưởng lợi các chương trình công Đối với các đối thủ cạnh tranh, nguồn lực cộng đồng và ngân sách nhà nước trở thành tiền đề quan trọng bảo đảm cho việc sản xuất hàng hóa phục vụ lợi ích chung các nhóm cộng đồng hay toàn xã hội
Trong môi trường cạnh tranh, các chủ thể phải khẳng định mình bằng những ưu thế riêng
có, chẳng hạn như chi phí hợp lý, giá cả cạnh tranh, chất lượng như cam kết
(iii) Phạm vi cạnh tranh: phân định bộ phận KVC có thể cạnh tranh và bộ phận không thể
(hạn chế) cạnh tranh Những bộ phận cốt lõi thường không được phép cạnh tranh vì nó liên quan tới quyền lực quản lý nhà nước Những bộ phận công mở rộng được phép mở cửa cho cạnh tranh nội bộ KVC hay cạnh tranh với KVT;
(iv) Tính chất cạnh tranh: cạnh tranh có kiểm soát vì nâng cao phúc lợi công, các mục
tiêu kinh tế-xã hội đã cam kết Bất luận chủ thể nào được quyền cung ứng loại hàng hóa này, mục tiêu đã cam kết buộc phải tuân thủ và quá trình thực hiện mục tiêu nằm dưới sự kiểm soát của cơ quan nhà nước Sự kiểm soát này còn ngăn chặn những động cơ sai lệch gây thiệt hại cho đối tượng hưởng lợi chương trình công như cắt giảm tiêu chuẩn, gian lận chất lượng hàng hóa và dịch vụ công, trục lợi cá nhân từ nguồn lực công
1.4.2 Các hình thức và kỹ thuật xúc tiến cạnh tranh đối với khu vực công
Luận án tổng hợp và khái quát 9 hình thức và kỹ thuật cơ bản xúc tiến cạnh tranh nội bộ trong các lĩnh vực KVC và giữa KVC với KVT, ví như Đấu thầu cạnh tranh, Hợp đồng dịch vụ, Hợp đồng quản lý, Nhượng quyền, Công ty hoá, So chuẩn, v.v Đó là những thủ pháp có thể tạo
ra sự cạnh tranh trực tiếp và có thể tạo ra áp lực cạnh tranh gián tiếp giữa các chủ thể Luận án giải thích rõ khả năng vận dụng từng hình thức và kỹ thuật vào các lĩnh vực công cụ thể
1.4.3 Tiêu chí đánh giá hoạt động cung ứng hàng hoá trong khu vực công
Luận án làm rõ nội dung và yêu cầu của 5 tiêu chí để đánh giá hoạt động cung ứng hàng hóa trong KVC Cụ thể, các tiêu chí đó là: (i) tính kinh tế; (ii) tính hiệu quả; (iii) tính hiệu lực; (iv) công bằng; (v) chất lượng
Chương 2 KINH NGHIỆM VẬN DỤNG CẠNH TRANH ĐỐI VỚI KHU VỰC CÔNG Ở
MỘT SỐ NƯỚC
Trang 92.1 VẬN DỤNG LÝ LUẬN CÔNG QUẢN MỚI Ở ANH 2.1.1 Sự thể nghiệm lý luận công quản mới ở Anh
Chính phủ Anh đã tiến hành nhiều chương trình cải cách trong bộ máy công quyền và hệ thống cung ứng HHC Đối với bộ máy công quyền, việc tách bạch chức năng hoạch định chính sách và chức năng thực thi được xác định rõ ràng Đối với hệ thống cung ứng HHC, quá trình phi tập trung hóa việc cung ứng hàng hóa cho công dân được triển khai mạnh mẽ theo một số hướng; (i) chuyển cho tư nhân cung ứng; (ii) sử dụng khu vực tự nguyện; (iii) phân cấp và ủy quyền cho chính phủ địa phương thực hiện Chính phủ Anh cam kết với công dân về chất lượng HHC mà
do các tổ chức ngoài nhà nước cung cấp thông qua sự kiểm soát chặt chẽ
2.1.2 Nhận xét về tư nhân hoá ở Anh
Sau đánh giá những thành công và thất bại trong quá trình tư nhân hóa bằng nhiều số liệu
cụ thể, có thể rút ra một số nhận xét quan trọng như sau: Thứ nhất, phạm vi và quy mô tư nhân
hoá ở Anh bao gồm nhiều lĩnh vực cốt yếu của nền kinh tế quốc dân: kết cấu hạ tầng công ích;
dịch vụ xã hội; các ngành sản xuất-kinh doanh khác Thứ hai, việc tư nhân hoá tài sản công tạo
ra một số lợi ích: (i) cắt giảm mạnh KVC, từ đó có thể tiết kiệm chi tiêu ngân sách; (ii) tạo ra áp lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp công còn lại với doanh nghiệp tư nhân trong cùng lĩnh vực
hoạt động Thứ ba, tư nhân hóa gây ra một số tác động tiêu cực như việc làm, gây xung đột lợi
ích
2.2 MỞ RỘNG CẠNH TRANH ĐỐI VỚI KHU VỰC CÔNG Ở AUSTRALIA
2.2.1 Cơ sở pháp lý cho cạnh tranh đối với khu vực công
Cơ sở để thúc đẩy cạnh tranh KVC là sự điều chỉnh pháp luật và quy định hiện hành; xây dựng khuôn khổ cạnh tranh Trên cơ sở này, cơ chế cạnh tranh được xác lập trong đó các chủ thể được phép cạnh tranh bình đẳng, các doanh nghiệp độc quyền phải cơ cấu lại, công tác giám sát cạnh tranh được triển khai chặt chẽ
2.2.2 Áp dụng rộng rãi đấu thầu cạnh tranh
Bằng nhiều số liệu thống kê trong nhiều lĩnh vực công, Luận án đã ghi nhận rằng hình thức đấu thầu cạnh tranh ở Australia được vận dụng phổ biến trong tất cả các lĩnh vực chi tiêu ngân sách nhà nước, được thực thi trong tất cả các cấp chính phủ từ liên bang tới tiểu bang và lãnh thổ
Luận án cũng đã dẫn chứng nhiều công trình đánh giá cho rằng hình thức đấu thầu cạnh tranh góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong việc đầu tư, triển khai các chương trình công một cách hiệu quả
2.2.3 Hạn chế về áp dụng cạnh tranh đối với khu vực công
Luận án cũng phân tích một số hạn chế do việc vận dụng cạnh tranh đối với KVC Từ đó,
cần phải điều chỉnh hợp lý để tránh những hậu quả không mong muốn
2.3 MÔ HÌNH KHU VỰC CÔNG MỚI Ở NEW ZEALAND 2.3.1 Những nguyên tắc đổi mới khu vực công
Quá trình cải cách hệ thống KVC từ thập kỷ 1980s ở New Zealand được thực hiện dựa trên 6 nguyên tắc cơ bản: (i) chuyển giao; (ii) công ty hóa; (iii) công khai hóa; (iv) phân định trách nhiệm rõ ràng; (v) hiệu quả thị trường; (vi) tối ưu chi phí
2.3.2 Công ty hoá các bộ phận sở hữu nhà nước
Trang 10Công ty hóa đặt các doanh nghiệp sở hữu nhà nước vào môi trường tương tác các nhân tố: (i) môi trường cạnh tranh, (ii) môi trường pháp lý và chính trị, (iii) các cơ chế quản lý nhà nước khác
Luận án làm rõ những điều kiện cần thiết cho quá trình công ty hóa các cơ quan sở hữu nhà nước ở New Zealand
2.3.3 Một số điểm đáng lưu ý
Điểm nổi bật trong quá trình thiết lập mô hình KVC mới ở New Zealand là duy trì sự hài hòa các bộ phận mở rộng cạnh tranh và bộ phận nhà nước độc quyền Chính phủ trung ương vẫn duy trì sở hữu những bộ phận kết cấu hạ tầng quan trọng như hệ thống nhà máy điện chính và truyền tải cao áp, cảng biển lớn, viễn thông ; những bộ phận dịch vụ xã hội cơ bản như chăm
sóc y tế cơ sở
2.4 CẠNH TRANH ĐỐI VỚI KHU VỰC CÔNG Ở TRUNG QUỐC
2.4.1 Tái cơ cấu nhà nước trong môi trường cạnh tranh
Dựa trên nhiều công trình nghiên cứu và thông tin khoa học, Luận án chỉ rõ rằng Trung Quốc đã tiến hành tái cơ cấu bộ máy của mình qua 4 lần theo hướng làm rõ chức năng ra chính sách và chức năng kinh doanh, sắp xếp và tinh giảm bộ máy quan liêu, hoàn thiện công tác cung ứng phù hợp với cơ chế thị trường XHCN Các nhà quản trị công Trung Quốc đề xuất nhiều cách thức khuyến khích KVT tham gia vào KVC, đề cao trách nhiệm công-tư trong các hình thức kết
hợp công tư
2.4.2 Cạnh tranh trong các lĩnh vực dịch vụ xã hội
Thông qua nhiều số liệu thống kê và nghiên cứu, Luận án đã chứng minh rằng lĩnh vực dịch vụ xã hội như y tế và giáo dục đang đối mặt với cạnh tranh giữa nhiều chủ thể nhà nước với
tư nhân trong nước và nước ngoài Nhiều cơ sở tư nhân, liên doanh được phép cạnh tranh với những cơ sở nhà nước về chất lượng, giá cả, đầu tư, v.v
Tuy nhiên, Chính phủ Trung Quốc vẫn thực hiện kiểm soát rất chặt đối với nhiều lĩnh vực công mà có thể gây tác động bất lợi tới đa số nhân dân
2.4.3 Cạnh tranh trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng công ích
Tình hình cạnh tranh đối với các lĩnh vực hạ tầng công ích ở Trung quốc có nhiều biến đổi tích cực so với thời kỳ trước 1979, đặc biệt trong một số ngành như cung cấp nước sạch và
xử lý nước thải, viễn thông Chủ thể tham gia cung ứng ngày càng trở nên đa dạng, bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc và các công ty nước ngoài Tình trạng độc quyền nhà nước đang được nới lỏng dần bằng cách cơ cấu lại doanh nghiệp lớn và khuyến khích gia nhập ngành tự do hơn
2.4.4 Một số nhận xét đáng lưu ý
Luận án rút ra 3 nhận xét quan trọng: (i) Trung Quốc chấp nhận sự cạnh tranh đối với KVC; (ii) nhiều khuôn khổ pháp lý và chính sách khuyến khích cạnh tranh lành mạnh đã được thông qua; (iii) Trung Quốc cẩn trọng trong việc chuyển đổi sở hữu nhằm tạo áp lực cạnh tranh đối với KVC trong nền kinh tế thị trường XHCN mầu sắc Trung Quốc
2.5 CẢI CÁCH KHU VỰC CÔNG THEO HƯỚNG CẠNH TRANH Ở SINGAPORE
2.5.1 Cải cách khu vực công
Trang 11Chính phủ Singapore cũng đã thực hiện nhiều cải cách mang tính cấp tiến trong cơ cấu bộ máy hành chính, trong đó đáng lưu ý tới việc hoàn thiện thiện cơ chế cung ứng hàng hoá công cho công dân, đổi mới phong cách phục vụ của công chức đối với công dân
2.6 NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Luận án khái quát 6 bài học kinh nghiệm qua nghiên cứu 5 quốc gia trên: (i) các nước đều nỗ lực xây dựng và tiếp cận với những lý luận mới về KVC; (ii) xây dựng khuôn khổ pháp lý cho cạnh tranh đối với khu vực công; (iii) khuyến khích gia nhập ngành; (iv) xây dựng chiến lược thực hiện; (v) giám sát và kiểm soát cạnh tranh; (vi) những bài học về kinh nghiệm thất bại Một số kinh nghiệm thất bại như công tác đấu thầu tiêu cực, quản lý hợp đồng kém, phân biệt đối
xử công-tư
Chương 3 THỰC TRẠNG CẠNH TRANH ĐỐI VỚI KHU VỰC CÔNG
Ở VIỆT NAM 3.1 KHU VỰC CÔNG TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI SANG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG
3.1.1 Khu vực công và cạnh tranh trước khi Đổi mới
Bằng nhiều số liệu và chứng cứ thực tế, Luận án đã chứng minh rằng trước năm 1986, Việt Nam vướng phải tư duy sai lầm mang tính lịch sử: (i) vô thừa nhận KVT; (ii) vô thừa nhận nền kinh tế thị trường và vai trò của nó trong phát triển kinh tế và xã hội
Chính từ đó, yếu tố cạnh tranh trong nền kinh tế nói chung và KVC nói riêng cũng không được thừa nhận Trong điều kiện lịch sử đó, thi đua XHCN thay thế cho cạnh tranh của nền kinh
tế thị trường
3.1.2 Khu vực công sau khi Đổi mới
Bằng nhiều số liệu thống kê và những trích dẫn cụ thể từ các văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nước Việt Nam, Luận án chứng minh rõ ràng rằng đồng hành với sự phát triển nền kinh tế thị trường, KVC và KVT đang có những chuyển đổi phù hợp KVC co hẹp về quy mô và nhiều nhiệm vụ được chuyển sang cho KVT đảm nhận Ngược lại, KVT cũng đang củng cố và xâm nhập vào KVC để cùng chia sẻ nguồn lực và trách nhiệm cung ứng hàng hóa thỏa mãn nhu cầu càng cao của nhân dân Vai trò và vị trí của hai khu vực này đang được khẳng định lại cho phù hợp với hiện thực khách quan của nền kinh tế thị trường
3.2 TÌNH TRẠNG CẠNH TRANH ĐỐI VỚI KHU VỰC CÔNG
3.2.1 Thực trạng độc quyền nhà nước
Trong điều kiện kinh tế chính trị của Việt Nam, độc quyền nhà nước gắn liền với thực tiễn kéo dài của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp Sự hình thành độc quyền nhà nước xuất phát từ ý chí chính trị của nhà nước chứ không phải vì tích tụ và tập trung sản xuất dưới tác động của quy luật cạnh tranh trên thị trường