1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật tạo cơ sở cho bảo quản hạt giống sa mộc dầu (cunninghamia konishii hayata)

36 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Tạo Cơ Sở Cho Bảo Quản Hạt Giống Sa Mộc Dầu (Cunninghamia Konishii Hayata)
Tác giả Nguyễn Thị Thúy Hà
Người hướng dẫn PGS.TS. Hoàng Vũ Thơ
Trường học Viện Công Nghệ Sinh Học, Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Kỹ Thuật Bảo Quản Hạt Giống
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (7)
    • 1.1. Những nghiên cứu đặc điểm sinh học của cây Sa mộc dầu (7)
    • 1.2. Đặc điểm nhận dạng (8)
    • 1.3. Khả năng tái sinh (9)
    • 1.4. Đặc tính sinh thái (9)
    • 1.5. Phân bố (10)
    • 1.6. Giá trị (10)
    • 1.7. Tình trạng (11)
  • Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (12)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (12)
    • 2.2. Nội dung nghiên cứu (12)
    • 2.3. Vật liệu nghiên cứu (12)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (13)
  • Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (17)
    • 3.1. Ảnh hưởng của màu sắc vỏ và điều kiện phơi nón quả khi thu hái đến khả năng nảy mầm của hạt (0)
    • 3.2. Ảnh hưởng của kỹ thuật bao gói và điều kiện bảo quản hạt đến khả năng nảy mầm của hạt trước khi bảo quản (21)
    • 3.3. Ảnh hưởng của thời gian bảo quản hạt đến khả năng nảy mầm của hạt trước (0)
    • 3.4. Ảnh hưởng của hàm lượng nước tiêu chuẩn trong hạt đến khả năng nảy mầm của hạt trước khi bảo quản (0)
  • Chương 4 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ (34)
    • 4.1. Kết luận (34)
    • 4.2. Tồn tại và kiến nghị ...................................................................................... 29 TÀI LIỆU THAM KHẢO (34)
  • Hinh 4.9.Nảy mầm ở nhiệt độ phòng (trái) và nhiệt độ 4 0 C (phải) theo hàm lượng nước tiêu chuẩn khác nhau (31)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Những nghiên cứu đặc điểm sinh học của cây Sa mộc dầu

Sa mộc dầu, với tên khoa học là Cunninghamia konishii, thuộc họ Bụt mọc (Taxodiaceae) và bộ Hoàng đàn (Cupressales), là một loài cây gỗ lớn có giá trị kinh tế cao Loài cây này phân bố chủ yếu tại Hà Giang và một số tỉnh miền núi phía Bắc như Nghệ An, Thanh Hóa Ngoài tên gọi Sa mộc dầu, cây còn được biết đến với các tên khác như Ngọc Am, Sa mộc quế phong, và Mạy lung linh (tên tiếng Thái tại Thanh Hóa) Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về Sa mộc dầu, trong đó có công trình của Chu Thuyền và nhóm cán bộ thuộc Viện điều tra quy hoạch rừng, phát hiện loài cây này tại Facatun, Quỳ Châu, Nghệ An.

1994) Hồ Ngọc Sơn (ĐH Thái Nguyên - 2015) với đề tài “Khai thác và phát triển nguồn gen Sa mộc dầu tại tỉnh Hà Giang”, Nguyễn Thị Phương Trang

Năm 2012, Trần Văn Dương đã thực hiện nghiên cứu về đa dạng di truyền của quần thể pơ mu và sa mộc dầu Trước đó, vào năm 2001, Đỗ đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm và sinh thái của loài này.

Ngọc Đài - Nguyễn Quang Hƣng (ĐH Vinh 2012), Viện Khoa Học Việt Nam (2014),…

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về Sa mộc dầu, việc bảo tồn và phát triển nguồn gen quý hiếm này đòi hỏi thêm các nghiên cứu về thu hái, bảo quản và chăm sóc chất lượng hạt giống.

Hiện nay, việc thu hái hạt được thực hiện bằng cách sử dụng cù nèo để giật bẻ từng cành nhỏ dưới 2cm có quả Sau khi bẻ từng chùm quả và loại bỏ cành lá, hạt sẽ được ủ trong 2 - 4 ngày trước khi đem hong phơi dưới nắng nhẹ.

Khi quả nứt vẩy, hãy phơi chúng trên mẹt hoặc cót ở nơi râm mát hoặc có nắng nhẹ trong 2-3 ngày Sau vài giờ, đập nhẹ để tách hạt và sàng sẩy để lấy hạt tốt.

Hạt nên được bảo quản khô trong chum vại, ở nơi thoáng mát và cao ráo, đồng thời cần thỉnh thoảng đảo hạt Hạt chất lượng tốt có tỷ lệ nảy mầm trên 30% và chỉ có khả năng lưu trữ trong vòng 6 tháng.

Từ tháng thứ ba, tỷ lệ nảy mầm của hạt giảm nhanh chóng, vì vậy cần gieo hạt sớm sau khi chế biến Hạt đạt tiêu chuẩn có độ sạch từ 85 - 95%, với mỗi kg chứa từ 120.000 đến 150.000 hạt và tỷ lệ nảy mầm trên 30%.

Cách thu hái và bảo quản hạt Sa mộc dầu hiện nay còn thô sơ, dẫn đến tỷ lệ nảy mầm thấp Để nâng cao khả năng nảy mầm, cần chú ý đến các yếu tố môi trường như ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm và thời gian bảo quản.

Đặc điểm nhận dạng

Hình 1.1 Cây Sa mộc dầu mộc tại Hà Giang

Cây gỗ lớn, thường xanh, có chiều cao từ 35 đến 40m hoặc hơn, với đường kính thân vượt quá 1,5m và tán lá hình tháp Lá cây mọc xoắn ốc, xít nhau, có gốc vặn, thường xếp thành hai dãy, dài từ 1,1 đến 1,9cm và rộng từ 0,20 đến 0,25cm Lá thường thót ngắn thành mũi tù, không cứng, với mép hơi răng cưa và mặt dưới có hai dải lỗ khí.

Cây có Nón đực mọc thành cụm ở nách lá gần đầu cành, trong khi nón cái thường xuất hiện đơn độc hoặc thành cụm từ 2 đến 3 Khi trưởng thành, nón cái có chiều dài từ 2,4 đến 2,8 cm và rộng từ 2,0 đến 2,6 cm Vẩy nón cái có hình tam giác rộng, mũi nhọn ở đầu, với răng cưa ở hai mép và hai tai tròn ở giữa, chứa 3 hạt trong mỗi vẩy Hạt có cánh bên rộng, dài 5 mm và rộng 4 mm.

Khả năng tái sinh

Sa mộc dầu có hạt không tách ra khỏi nón sau khi chín, với nón xuất hiện vào tháng 9 và hạt trưởng thành từ tháng 3 đến tháng 5 năm sau Khi nón rụng xuống và gặp điều kiện thuận lợi, hạt sẽ nảy mầm ngay trên nón, giải thích lý do tại sao sa mộc dầu thường mọc theo cụm hoặc đám trong tự nhiên.

Mật độ cây tái sinh của Sa mộc dầu thường cao ở những khu vực trống, nhiều ánh sáng hoặc nơi đất có sự thay đổi như sạt lở và làm mới Điều này cho thấy cây tái sinh này có nhu cầu ánh sáng rất lớn, dẫn đến việc cây tái sinh ít xuất hiện dưới tán rừng.

Dưới tán rừng, sa mộc dầu có độ tán che cao, dẫn đến sự thiếu hụt ánh sáng nghiêm trọng, gây cản trở sự phát triển của cây tái sinh.

Đặc tính sinh thái

Cây Sa mộc dầu phát triển tốt trong khí hậu ôn hòa, với nhiệt độ trung bình năm từ 16 đến 19ºC và lượng mưa từ 1400 đến 1900mm Loài cây này ưa thích độ ẩm không khí trên 75% và thường xuất hiện ở những vùng có nhiều sương mù và ánh sáng tán xạ.

Sa mộc dầu là cây ưa sáng, cần bóng che khi còn nhỏ và phát triển nhanh hơn nhiều loài cây lá kim khác Loài cây này có khả năng tỉa cành tự nhiên tốt và tái sinh chồi mạnh mẽ, cho phép kinh doanh rừng chồi liên tục trong 3 đến 4 thế hệ.

Sa mộc dầu thường phát triển tốt trên các loại đất như đá phiến thạch sét, phiến thạch mica, đá vôi và đá macma, với độ dày tầng đất từ 0,7 đến 0,8m trở lên Loài cây này không thích hợp với đất kiềm hoặc đất mặn, mà ưa thích những vùng đất sâu ẩm, cát pha, thoát nước tốt, mát mẻ và có độ pH lớn hơn 5, giàu mùn, mang đặc tính của đất rừng.

Phân bố

Vào đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, sa mộc dầu đã được phát hiện tại nhiều khu vực như Pù Mát, Pù Nhông (huyện Con Cuông), Pù Loong, Pù Xai Leng, Pù Mo (huyện Kỳ Sơn), Pù Hoạt (huyện Quế Phong) thuộc tỉnh Nghệ An, cùng với khu bảo tồn Xuân Liên tỉnh Thanh Hóa.

Sa mộc dầu, một loại cây quý, đã được biết đến từ lâu ở Hà Giang, đặc biệt là tại khu vực Tây Côn Lĩnh, nơi được gọi là Ngọc Am Cây này chủ yếu phân bố ở ba huyện: Vị Xuyên, Hoàng Su Phì và Quản Bạ, với các xã như Lao Chải, Xí Chải, Tả Sử Chóng, Túng Sán và Nậm Dịch.

Sa mộc dầu là loài cây phân bố trong hệ sinh thái rừng ở độ cao từ 1200m trở lên, thường sống chung với các loài như Pơ mu, re, giổi, chẹo, giẻ, táu mật, kim giao, chò chỉ và sến mật Đây là cây ưa sáng, thường vươn lên tầng cao nhất của tán rừng, được gọi là tầng nhô.

Sa mộc dầu phù hợp với đất phân hóa từ đá mẹ granit và silicat, nhiệt độ trung bình năm từ 15 - 20ºC, lƣợng mƣa từ 1500 – 2000 mm/năm

Trong các địa danh đã nêu, dọc theo Tây Côn Lĩnh, 2 xã Túng Sán và Tả

Sử Choong trước đây có nhiều Sa mộc dầu nhất

Cây Sa mộc dầu phân bố gián đoạn trên thế giới, bao gồm các khu vực như Đài Loan, Trung Quốc (tỉnh Phúc Kiến) và Lào (tỉnh Hủa Phăn) Sự phân bố này còn được mở rộng từ Hủa Phăn của Bắc Lào đến phần tả ngạn sông Cả của Việt Nam.

Giá trị

Sa mộc dầu là một loài cây gỗ quý thuộc nhóm I trong danh sách các nhóm gỗ Việt Nam, mang lại giá trị kinh tế cao và ý nghĩa khoa học quan trọng.

Gỗ Sa mộc dầu nổi bật với mùi thơm nhẹ và lõi cây có màu vàng đậm hoặc đỏ nhạt Thớ gỗ thẳng, bền đẹp và có khả năng chống mối mọt hiệu quả, giúp việc cưa xẻ trở nên dễ dàng.

Gỗ Sa mộc dầu nổi bật với màu sắc đẹp và vân gỗ rõ nét, cùng với mùi thơm dễ chịu Loại gỗ này có khả năng uốn cong cao, dễ dàng cưa xẻ, bào trơn và đánh bóng, nên được ưa chuộng trong ngành đóng tàu thuyền cũng như sản xuất nội thất và đồ dùng gia dụng.

Cây Sa mộc dầu không chỉ cho ra tinh dầu có giá trị trong y học mà còn được sử dụng để điều trị nhiều loại bệnh Tinh dầu này hiệu quả trong việc chữa trị vết thương, đụng giập, sây sát, thâm tím và đau thấp khớp Tại Trung Quốc, cây Sa mộc dầu được dùng để điều trị lở sơn, di tinh, bỏng nhẹ, bệnh mụn, cũng như các triệu chứng sưng đau do trĩ ngoại và trĩ nội Ngoài công dụng y học, cây Sa mộc dầu còn được trồng làm cây cảnh tại các công sở, ven đường, quanh nhà, và trên đồi để bảo vệ mùa màng khỏi sự phá hoại của gia súc.

Tình trạng

Loài sa mộc dầu đã bị khai thác từ lâu và hiện chỉ còn tồn tại ở những khu vực hiểm trở, xa dân cư Mặc dù nằm trong Vườn quốc gia Pù Mát, nếu không được bảo vệ đúng cách, số lượng loài này sẽ giảm và nguy cơ tuyệt chủng sẽ gia tăng Sa mộc dầu là một loài gen quý hiếm, được phân hạng ở cấp VU A1adC1 trong sách Đỏ Việt Nam năm 2017 và xếp vào nhóm 2 trong danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp quý hiếm theo Nghị định số 32 của Chính phủ.

Sa mộc dầu là loài cây gỗ lớn có giá trị kinh tế cao nhưng đang có nguy cơ cạn kiệt do phân bố hẹp và giảm diện tích Nếu không có chiến lược bảo tồn và phát triển, số lượng loài cây này sẽ tiếp tục giảm nhanh chóng Do đó, nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật để bảo tồn và phát triển sa mộc dầu là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn trong bối cảnh hiện nay.

MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Góp phần hoàn thiện quy trình thu hái, sơ chế và bảo quản hạt Sa mộc dầu nhằm bảo tồn nguồn gen quý hiếm đang có nguy cơ cạn kiệt.

- Xác định được ảnh hưởng của kỹ thuật thu hái quả và sơ chế đến sức sống của hạt trước khi bảo quản

- Xác định được ảnh hưởng của kỹ thuật bao gói và bảo quản hạt đến sức sống của hạt trước khi bảo quản

- Xác định được ảnh hưởng của hàm lượng nước tiêu đến sức sống của hạt trước khi bảo quản.

Nội dung nghiên cứu

1 Nghiên cứu ảnh hưởng của màu sắc vỏ nón quả và điều kiện phơi nón quả đến khả năng nảy mầm của hạt trước khi bảo quản

2 Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật bao gói và điều kiện bảo quản hạt đến khả năng nảy mầm của hạt trước khi bảo quản

3 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian bảo quản hạt đến khả năng nảy mầm của hạt trước khi bảo quản

4 Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng nước tiêu chuẩn đến khả năng nảy mầm của hạt trước khi bảo quản.

Vật liệu nghiên cứu

Các mẫu hạt Sa mộc dầu được cung cấp bởi Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp Đông Bắc Bộ và được bảo quản trong hơn 6 tháng ở điều kiện thường tại phòng thí nghiệm của Bộ môn Chọn tạo giống, Viện Công nghệ sinh học Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp.

Các mẫu hạt thí nghiệm sử dụng trung bình 900 hạt mỗi mẫu, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng hạt giống theo tiêu chuẩn 04-TCN-46-2001 đến 04-TCN-50-2001 và tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5378:1991.

Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của màu sắc vỏ nón cái và điều kiện phơi nón cái đến khả năng nảy mầm của hạt trước khi bảo quản

Thí nghiệm thu hái nón cái được bố trí với hai màu sắc: xanh và nâu xám Nội dung thí nghiệm được thực hiện theo công thức ghi trong mẫu Bảng 3.1.

Bảng 3.1 Bố trí CTTN ảnh hưởng của thời điểm thu hái quả

CTTN Màu sắc nón cái khi thu hái trước khi bảo quản hạt

CT1 Thu Nón (cái) khi vỏ còn xanh (màu vỏ cái còn xanh)

CT2 Thu Nón (cái) khi vỏ đã chín già (chuyển mau từ xanh sang nâu xám)

Hình 3.1 Vỏ nón cái Sa mộc dầu màu xanh (trái) và màu nâu xám (phải)

Mỗi công thức sử dụng 300 hạt và thực hiện 3 lần lặp, với 100 hạt cho mỗi lần Hạt được ngâm trong nước nóng 40ºC và để nguội trong 4 giờ Sau đó, hạt được đặt vào giá thể để nảy mầm trong phòng kiểm nghiệm, sử dụng giấy lọc và đảm bảo nhiệt độ thích hợp.

Nhiệt độ từ 20 - 30ºC được duy trì để theo dõi số hạt nảy mầm hàng ngày Nón cái được phơi dưới ánh nắng trực tiếp và trong điều kiện râm mát Cụ thể, công thức CT3 thực hiện với nón cái phơi khô dưới ánh nắng trực tiếp, trong khi CT4 phơi trong điều kiện râm mát (nắng tán xạ) nhằm tách hạt ra khỏi quả và sơ chế cho các thí nghiệm nảy mầm, xác định sức sống của hạt trước khi bảo quản.

Bảng 3.2 Bố trí CTTN nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường phơi quả CTTN Điều kiện phơi khô nón cái tách hạt cho bảo quản

CT3 Phơi nón cái ở ngoài nắng để tách lấy hạt

CT4 Phơi nón cái ở trong nơi râm mát để tách lấy hạt

Trong nghiên cứu này, tổng số hạt Sa mộc dầu cần lấy là 300 hạt, được thực hiện qua 3 lần lặp, mỗi lần lặp lấy 100 hạt.

Hạt được ngâm trong nước nóng 40ºC và để nguội trong 4 giờ, sau đó được đặt vào giá thể để nảy mầm trong phòng kiểm nghiệm với giấy lọc, duy trì nhiệt độ 20-30ºC và theo dõi số hạt nảy mầm hàng ngày Thí nghiệm bảo quản hạt được thực hiện trong hai điều kiện: nhiệt độ phòng (20 - 30ºC) và tủ lạnh (khoảng 4ºC) Thời gian thí nghiệm kéo dài 1 tháng và 2 tháng, kiểm tra sức sống của hạt bằng phương pháp xử lý nảy mầm và so sánh với tỷ lệ nảy mầm ban đầu là 43%.

Bảng 3.3 Bố trí CTTN nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ bảo quản CTTN Điều kiện bảo quản hạt SMD Thời gian bảo quản

CT1 Bảo quản ở nhiệt độ phòng (20 - 30ºC)

2 tháng CT2 Bảo quản hạt trong tủ lạnh ở nhiệt độ 4ºC

Mỗi công thức lấy 300 hạt, thực hiện 3 lần lặp, 100 hạt/lặp Hạt đem đi ngâm trong nước nóng 40ºC, để nguội dần trong 4h

Sau khi xử lý, các mẫu hạt được gieo trên khay với 5 - 10 lớp giấy thấm ở điều kiện nhiệt độ phòng Theo dõi và đếm số hạt nảy mầm từ ngày đầu tiên đến ngày thứ 15.

Xác định tỷ lệ nảy mầm, thế nảy mầm, chỉ số nảy mầm theo từng công thức riêng

- Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật bao gói và điều kiện bảo quản hạt đến khả năng nảy mầm của hạt trước khi bảo quản

Thí nghiệm bảo quản hạt với các phương pháp đóng gói khác nhau cho thấy tỷ lệ nảy mầm ban đầu là 43% Các phương pháp bảo quản hạt đã được bố trí để đánh giá hiệu quả của từng cách thức đóng gói.

Bảng 3.4 Bố trí CTTN ảnh hưởng của cách thức đóng gói hạt

CTTN Nội dung thí nghiệm

CT1 Bảo quản hở ở nhiệt độ trong phòng

CT2 Bảo quản hở trong tủ lạnh (4ºC)

CT3 Bảo quản kín ở nhiệt độ trong phòng

CT4 Bảo quản kín trong tủ lạnh (4ºC)

Mỗi công thức nghiên cứu sử dụng 300 hạt, thực hiện lặp lại 3 lần với 100 hạt mỗi lần Sau khi xử lý, các mẫu hạt được gieo trên khay có lót 5-10 lớp giấy thấm và được đặt ở điều kiện nhiệt độ phòng Số hạt nảy mầm được theo dõi và đếm từ ngày đầu tiên đến ngày thứ 15, từ đó xác định tỷ lệ nảy mầm, thế nảy mầm và chỉ số nảy mầm cho từng công thức.

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian bảo quản hạt đến khả năng nảy mầm của hạt trước khi bảo quản

Thí nghiệm bảo quản hạt theo thời gian khác nhau: Hạt trước khi bảo quản kiểm tra tỷ lệ nẩy mầm là 43%, thí nghiệm với 12 công thức, mỗi công

Bảng 3.5 Bố trí CTTN ảnh hưởng của thời gian bảo quản hạt

CTTN Thời gian bảo quản

- Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng nước tiêu đến khả năng nảy mầm của hạt trước khi bảo quản

Nghiên cứu này tập trung vào ảnh hưởng của độ ẩm hạt Sa mộc dầu trong quá trình bảo quản dưới các điều kiện nhiệt độ và độ ẩm khác nhau Trước khi bảo quản, tỷ lệ nẩy mầm của hạt được kiểm tra là 43% Thí nghiệm được thực hiện với 5 công thức, mỗi công thức được bảo quản ở hai điều kiện nhiệt độ khác nhau.

Hạt giống Sa mộc dầu có hàm lượng nước tiêu chuẩn thay đổi theo điều kiện nhiệt độ bảo quản Ở nhiệt độ 4ºC trong tủ lạnh, hàm lượng nước tiêu chuẩn là 6%, 8%, 10%, 12% và 14% Trong khi đó, ở nhiệt độ bảo quản phòng từ 20 - 30ºC, hàm lượng nước tiêu chuẩn cũng dao động từ 6%, 8%, 10%, 12% đến 14%.

Xử lý số liệu theo thống kê toán học trong lâm nghiệp trên Excel Ứng dụng phân tích phương sai 1 nhân tố để kiểm trakết quả thí nghiệm.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ảnh hưởng của kỹ thuật bao gói và điều kiện bảo quản hạt đến khả năng nảy mầm của hạt trước khi bảo quản

Điều kiện bảo quản hạt ảnh hưởng lớn đến khả năng nảy mầm của chúng Nhiệt độ thích hợp và việc sử dụng các dụng cụ bảo quản phù hợp là yếu tố quan trọng để đảm bảo chất lượng hạt.

Nghiên cứu này xem xét điều kiện bảo quản hạt giống, bao gồm việc sử dụng túi đựng hạt kín và hở, cũng như việc lưu trữ ở hai môi trường khác nhau: tủ lạnh (4°C) và phòng thí nghiệm Đối với hầu hết các loại hạt giống, nhiệt độ và hàm lượng nước có mối quan hệ nghịch với tuổi thọ của hạt; nhiệt độ càng thấp thì hô hấp càng giảm, dẫn đến tuổi thọ của hạt trong quá trình bảo quản càng cao.

Nhiệt độ quá thấp khiến các mô tế bào trong hạt bị đông cứng, ngăn cản quá trình hô hấp Khi nhiệt độ tăng, cường độ hô hấp của hạt cũng gia tăng, kích thích hoạt động của các enzyme và thúc đẩy quá trình chuyển hóa chất dự trữ trong phôi Tuy nhiên, nếu nhiệt độ tiếp tục tăng, tế bào trong hạt sẽ bị phân giải và dẫn đến cái chết của hạt.

Cần xác định giới hạn nhiệt độ tối ưu cho sự sống của hạt, đảm bảo hạt vẫn hô hấp với cường độ tối thiểu để duy trì sự sống lâu dài Kết quả ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình nảy mầm của hạt Sa mộc dầu được trình bày trong Bảng 4.3 dưới đây.

Bảng4.3.Ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ và thời gian bảo quản

CTTN Điều kiện bảo quản hạt

Thời gian bảo quản hạt

Tổng số hạt thí nghiệm

Số liệu từ Bảng 4.3 cho thấy sức sống của hạt giống giảm theo thời gian bảo quản, và kết quả nghiên cứu đối với loài Sa mộc dầu cũng phản ánh xu hướng này.

Hạt Sa mộc dầu có tỷ lệ nẩy mầm ban đầu là 43% Khi bảo quản hạt ở các điều kiện nhiệt độ khác nhau, sức nảy mầm của hạt thay đổi Sau thời gian bảo quản, sức sống của hạt đều giảm ở tất cả các công thức thí nghiệm, trong đó hạt được bảo quản ở nhiệt độ phòng có sự giảm sút nhanh hơn so với các phương pháp khác.

Sức sống của hạt Sa mộc dầu sau 1 tháng bảo quản ở nhiệt độ phòng (CT3) giảm 6,33%, còn 36,67%, trong khi ở 4 độ C (CT4) giảm 2%, còn 41% Sau 2 tháng, sức sống của hạt tiếp tục giảm, CT3 còn 32% với mức giảm 4,7%, và CT4 còn 39,7% với mức giảm 1,3% Như vậy, sức sống của hạt ở cả hai công thức đều giảm, nhưng CT3 có mức giảm nảy mầm cao hơn CT4 là 3,4%.

4 0 C sức sống của hạt đƣợc kéo dài nhất

Dựa vào số liệu từ Bảng 4.3, có thể nhận thấy sự chênh lệch rõ rệt về tỷ lệ nảy mầm qua các thí nghiệm, được thể hiện qua biểu đồ Hình 4.4 dưới đây.

Hình 4.4 Nảy mầm của hạt theo điều kiện nhiệt độ và thời gian khác nhau

Sức sống của hạt giống giảm theo thời gian bảo quản, điều này được thể hiện rõ qua các cột trong Hình 4.4 Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy hiện tượng tương tự đối với loài Sa mộc dầu.

Hạt Sa mộc dầu có tỷ lệ nẩy mầm ban đầu là 43% Khi được bảo quản ở các điều kiện nhiệt độ khác nhau, khả năng giữ sức nẩy mầm của hạt sẽ thay đổi.

Sau thời gian bảo quản, sức sống của hạt giảm ở tất cả các công thức thí nghiệm Đặc biệt, hạt được bảo quản ở nhiệt độ phòng cho thấy sự giảm sút sức sống nhanh hơn so với các phương pháp khác.

Công thức CT2 (4 0 C) cho thấy hiệu quả vượt trội nhất với tỷ lệ hạt nảy mầm cao nhất đạt 41% sau 1 tháng bảo quản và 39,7% sau 2 tháng bảo quản, trong khi công thức so sánh có kết quả thấp hơn.

Nhƣ vậy bảo quản hạt Sa mộc dầu trong điều kiện trong tủ lạnh (nhiệt độ

4 0 C) tốt hơn trong điều kiện nhiệt độ phòng Nói cách khác, trong nghiên cứu này công thức CT4 tỏ ra thích hợp cho bảo quản hạt SMD

- Ảnh hưởng của hình thức bao gói đến khả năng nảy mầm của hạt

Nghiên cứu cho thấy rằng phương pháp đóng gói hạt giống cây Sa mộc dầu ảnh hưởng đáng kể đến sức sống của hạt Sau 1 tháng bảo quản, hạt được để hở và hạt được bao gói kín cho thấy sự khác biệt rõ rệt về khả năng nảy mầm và duy trì chất lượng.

Nhiệt độ phòng Nhiệt độ 4 độ C

Tỷ lệ (%) kết quả được tổng hợp ở Bảng 4.4, Hình 4.5 dưới đây:

Bảng 4.4 Nảy mầm của hạt theo hình thức bao gói hạt khác nhau

CTTN Hình thức bao gói Điều kiện bảo quản Tổng số kiểm nghiệm (hạt)

CT5 Để hở Nhiệt độ phòng 300 29,7 8,5

Khả năng nảy mầm của hạt Sa mộc dầu giảm từ 43% xuống còn 29,7% sau 1 tháng bảo quản trong điều kiện để hở (CT5 - nhiệt độ phòng), tương ứng với mức giảm 13,3% so với tỷ lệ nảy mầm ban đầu.

Trong khi đó cùng số liệu này song hạt đƣợc bảo quản trong tủ lạnh, nhiệt độ

4 0 C, tỷ lệ nảy mầm vẫn đạt trị số là 35,0%, tức là chỉ giảm 8% so với trị số ban đầu trước khi bảo quản

Khác với lô hạt để hở, lô hạt được bảo quản trong dụng cụ bao gói kín ở nhiệt độ phòng (CT6) sau 1 tháng giảm từ 43% xuống còn 32,7%, tức giảm 10% Trong khi đó, ở điều kiện nhiệt độ 4°C, tỷ lệ nảy mầm chỉ giảm 3,7%, vẫn đạt 39,3% so với tỷ lệ ban đầu 43%.

Hình 4.5 Nảy mầm của hạt theo cách bao gói và điều kiện bảo quản

Ảnh hưởng của hàm lượng nước tiêu chuẩn trong hạt đến khả năng nảy mầm của hạt trước khi bảo quản

Từ tất cả các kết quả nghiên cứu đạt đƣợc ở trên có thể cho phép đi đến kết luận sau:

1 Thu nón cái Sa mộc dầu tốt nhất khi vỏ màu nâu xám, cho thế nẩy mầm và tỷ lệ nẩy mầm của hạt đạt 19,6 và 42,7% tương ứng

2 Nón cái sau khi thu hái phơi tách hạt trong điều kiện râm mát cho thế nảy mầm và tỷ lệ nảy mầm lần lượt là 18,7 và 44,3% tương ứng

3 Hạt Sa mộc dầu đƣợc bao gói kín, đặt trong tủ lạnh, ngăn mát (khoảng

4 0 C) cho tỷ lệ nảy mầm cao (39,3%) sau 2 tháng bảo quản

4 Thời gian bảo quản càng dài, tỷ lệ nảy mầm hay sức sống của hạt Sa mộc dầu càng giảm, sau 12 tháng bảo quản, tỷ lệ nảy mầm chỉ còn 1,3% so với tỷ lệ nảy mầm ban đầu 43%

5 Hàm lượng nước tiêu chuẩn 10% là thích hợp nhất cho bảo quản hạt giống Sa mộc dầu

4.2 Tồn tại và kiến nghị

Trong quá trình thực hiện khóa luận, mặc dù đã nỗ lực hết mình, nhưng do thời gian hạn chế và trình độ chuyên môn của bản thân, nghiên cứu chưa được tiến hành một cách kỹ lưỡng.

Tiếp tục thực hiện các nghiên cứu bổ sung nhằm đánh giá chính xác hơn phương pháp bảo quản hạt SMD trong các điều kiện khác nhau, với số lượng mẫu lớn hơn và thời gian nghiên cứu kéo dài hơn.

mầm ở nhiệt độ phòng (trái) và nhiệt độ 4 0 C (phải) theo hàm lượng nước tiêu chuẩn khác nhau

lượng nước tiêu chuẩn khác nhau

- Nảy mầm của hạt ở điều kiện nhiệt độ 4 0 C theo hàm lượng nước tiêu chuẩn khác nhau

Hạt trong công thức TN3 (nhiệt độ 4ºC) có sức sống cao nhất, vượt trội hơn công thức TN1 (nhiệt độ 4ºC) với tỷ lệ 16,67%, cao hơn công thức TN2 (nhiệt độ 4ºC) là 2%, công thức TN4 (nhiệt độ 4ºC) là 14,67%, và cũng cao hơn công thức TN5.

TN1 TN2 TN3 TN4 TN5

TN1 TN2 TN3 TN4 TN5

Tỷ lệ nảy mầm (%) độ 4ºC) là 21% Nhƣ vậy, độ ẩm của hạt Sa mộc dầu ở công thức TN3 (10%, nhiệt độ 4ºC) đem bảo quản là phù hợp nhất

Bảo quản hạt trong điều kiện khô mát (nhiệt độ phòng), công thức TN1, TN2, TN3, TN4 và TN5 sức sống của hạt tương ứng là 19; 30,33; 31,33; 18 và 13,67% tương ứng

Khả năng nảy mầm của hạt trong công thức TN3 (nhiệt độ phòng) đạt mức cao nhất, vượt trội hơn so với công thức TN1 (nhiệt độ phòng) là 12,33%, công thức TN2 (nhiệt độ phòng) là 1%, công thức TN4 (nhiệt độ phòng) là 13,33% và công thức TN5 là 17,67%.

Độ ẩm của hạt Sa mộc dầu ở TN3 (10%, nhiệt độ phòng) là phù hợp cho việc bảo quản Biểu đồ Hình 4.10 cho thấy sự biến động rõ rệt giữa các cột đồ thị.

Các cột đồ thị màu xanh cho thấy tỷ lệ nảy mầm của hạt giống sa mộc dầu được bảo quản ở nhiệt độ 4°C cao hơn so với ở điều kiện nhiệt độ phòng Đặc biệt, công thức TN3 với hàm lượng nước tiêu chuẩn 10% đạt tỷ lệ nảy mầm cao nhất là 31,3% và 39,3% ở nhiệt độ phòng và 4°C tương ứng.

Phân tích phương sai một nhân tố bằng phần mềm SPSS cho thấy xác suất F về độ ẩm của hạt được bảo quản có giá trị Sig = 0,000, nhỏ hơn 0,05 Điều này chứng tỏ có sự khác biệt rõ rệt trong khả năng giữ sức nẩy mầm của hạt giữa các công thức thí nghiệm liên quan đến độ ẩm của hạt Sa mộc dầu.

Tiêu chuẩn Duncan được áp dụng để kiểm tra sự khác biệt giữa các trung bình mẫu nhằm xác định công thức tối ưu cho khả năng nảy mầm của hạt Kết quả cho thấy công thức TN3 (10%, nhiệt độ 4°C) là công thức vượt trội nhất, với tỷ lệ hạt nảy mầm cao nhất đạt 39,33%.

Công thức TN3 là lựa chọn tối ưu cho việc bảo quản hạt Sa mộc dầu Độ ẩm 10% của hạt Sa mộc dầu, kết hợp với nhiệt độ 4°C trong tủ lạnh, giúp tăng tỷ lệ nảy mầm và duy trì sức sống của hạt tốt hơn so với các công thức khác trong cùng điều kiện.

Chương 4 KẾT UẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 4.1 Kết luận

Từ tất cả các kết quả nghiên cứu đạt đƣợc ở trên có thể cho phép đi đến kết luận sau:

1 Thu nón cái Sa mộc dầu tốt nhất khi vỏ màu nâu xám, cho thế nẩy mầm và tỷ lệ nẩy mầm của hạt đạt 19,6 và 42,7% tương ứng

2 Nón cái sau khi thu hái phơi tách hạt trong điều kiện râm mát cho thế nảy mầm và tỷ lệ nảy mầm lần lượt là 18,7 và 44,3% tương ứng

3 Hạt Sa mộc dầu đƣợc bao gói kín, đặt trong tủ lạnh, ngăn mát (khoảng

4 0 C) cho tỷ lệ nảy mầm cao (39,3%) sau 2 tháng bảo quản

Thời gian bảo quản hạt Sa mộc dầu ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ nảy mầm và sức sống của chúng Cụ thể, sau 12 tháng bảo quản, tỷ lệ nảy mầm giảm mạnh chỉ còn 1,3%, so với mức 43% ban đầu.

5 Hàm lượng nước tiêu chuẩn 10% là thích hợp nhất cho bảo quản hạt giống Sa mộc dầu

4.2 Tồn tại và kiến nghị

Trong quá trình thực hiện khóa luận, mặc dù đã nỗ lực hết mình, nhưng do thời gian hạn chế và trình độ chuyên môn của bản thân, nghiên cứu chưa được tiến hành một cách kỹ lưỡng.

Tiếp tục thực hiện các nghiên cứu bổ sung nhằm đánh giá chính xác hơn về phương pháp bảo quản hạt SMD trong các điều kiện khác nhau, với số lượng mẫu lớn hơn và thời gian nghiên cứu kéo dài hơn.

1 Bộ Khoa Học và Công Nghệ, 2007: Sách Đỏ Việt Nam Phần thực vật

530-532 (nhà xuất bản Khoa học Tự nhiên và Công nghệ)

2 Bộ NN & PTNT (2002) Quy trình trồng rừng Sa mộc Tiêu chuẩn ngành 04 – TCN – 66 - 2002 - ban hành kèm theo quyết định số 4895/QĐ – BNN - KHCN ngày 11/11/2002

3 Phạm Hồng Ban (9/2015), Loài Sa mu dầu ở khu bảo tồn thiên nhiên

Pù Hoạt, Tạp chí KH-CN

4 Công ty giống và phục vụ trồng rừng (1995), Sổ tay kỹ thuật hạt giống và gieo ươm một số loài cây trồng rừng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội

5 Cục Lâm nghiệp (2007) Tuyển tập tài liệu về quản lý và kỹ thuật giống cây trồng Lâm nghiệp Việt Nam Nxb Lao động - Xã hội tháng 4 năm 2007

6 Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001: danh lục các loài thực vật Việt Nam

Tập 1 1165-1166 (nhà xuất bản Nông Nghiệp)

7 Đỗ Ngọc Đài, Nguyễn Quang Hƣng (2012), Thành phần hóa học tinh dầu gỗ loài Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii) ở Hà Giang, Tạp chí Sinh học

8 Ngô Kim Khôi (1998), Thống kê toán học trong lâm nghiệp, Nxb NN

Hoàng Vũ Thơ (2017) đã nghiên cứu ảnh hưởng của GA3 và NAA đến khả năng nảy mầm của hạt Thông đuôi ngựa (Pinus Masoninana) sau khi bảo quản Nghiên cứu này được công bố trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm Nghiệp.

Nguyễn Hữu Tiến (2004) đã thực hiện nghiên cứu về phân bố và đặc điểm lâm học của cây Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) tại Vườn quốc gia Pù Mát, Nghệ An, thuộc ĐH Nông Lâm Thái Nguyên.

11 Willan R.L (1992) Hướng dẫn kỹ thuật hạt giống cây rừng (Phạm

Ngày đăng: 12/07/2023, 14:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm