1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu kỹ thuật xử lý nảy mầm hạt giống và chăm sóc cây con tục đoạn (dipsacus japonicus miq) ở giai đoạn vườn ươm

39 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu kỹ thuật xử lý nảy mầm hạt giống và chăm sóc cây con Tục đoạn (Dipsacus japonicus Miq) ở giai đoạn vườn ươm
Tác giả Vũ Minh Lương
Người hướng dẫn TS. Khuất Thị Hải Ninh
Trường học Trường Đại học Lâm nghiệp
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học
Thể loại Đề tài khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 813,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (8)
    • 1.1. Giới thiệu chung về cây Tục đoạn (8)
      • 1.1.1. Đặc điểm sinh học (8)
      • 1.1.2. Phân bố và sinh thái (8)
      • 1.1.3. Thành phần hóa học (9)
      • 1.1.4. Công dụng và liều dùng (9)
    • 1.2. Hợp chất thiên nhiên trong cây Tục đoạn (9)
      • 1.2.1. Alkaloid (9)
      • 1.2.2. Hợp chất tannin (10)
      • 1.2.3. Glycos (11)
    • 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự nảy mầm của hạt giống (11)
      • 1.3.1. Nước (11)
      • 1.3.2. Nhiệt độ (13)
      • 1.3.3. Ánh sáng (14)
      • 1.3.4. Không khí (15)
    • 1.4. Nghiên cứu về nảy mầm của hạt (16)
  • CHƯƠNG 2. MỤC TIÊU, NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ (20)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (20)
    • 2.2. Nội dung nghiên cứu (20)
    • 2.3. Vật liệu nghiên cứu và địa điểm nghiên cứu (20)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (20)
      • 2.4.1. Phương pháp luận (20)
      • 2.4.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm và thu thập số liệu (21)
      • 2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu (24)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (26)
    • 3.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ nước ngâm hạt đến sự nảy mầm của hạt giống Tục đoạn (26)
    • 3.2. Ảnh hưởng của thời gian ngâm hạt đến sự nảy mầm của hạt Tục Đoạn (28)
    • 3.3. Ảnh hưởng của giá thể gieo hạt đến quá trình hình thành cây con Tục Đoạn (29)
    • 3.4. Nghiên cứu sự ảnh hưởng của phân NPK giai đoạn bón lót đến sự sinh trưởng của cây con ở giai đoạn vườn ươm (31)
  • CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ (34)
    • 4.1. Kết luận (34)
    • 4.2. Tồn tại (34)
    • 4.3. Kiến nghị ...................................................................................................... 28 TÀI LIỆU THAM KHẢO (34)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Giới thiệu chung về cây Tục đoạn

Tục đoạn tên khoa học là Dipsacus japonicus Miq thuộc học Tục đoạn Dipsacaceae, bộ Tục đoạn Dipsacales [6]

Cây thảo, cao 1,2 - 2m, có rễ mập, phân nhánh ít thân có cạnh và gai thƣa

Lá mọc đối, không cuống, có bẹ, hình mác, dài 4-10cm và rộng 5-6cm, với mép khía cạnh răng cưa Những lá ở phần gốc và giữa thân chia thùy không đều, to dần về phía ngọn, trong khi thùy tận cùng rất to hình trứng Các lá phía trên nguyên hoặc có ít răng hình mác hẹp, gân lá nổi rõ ở mặt dưới, hai mặt lá gần như cùng màu Cụm hoa hình đầu mọc trên một cán dài phủ đầy lông, với lá bắc có lông ở mép phía dưới Hoa màu trắng, có 4 lá dài nhỏ bằng nhau hoặc gần bằng nhau, cánh hoa hơi thành hình phễu, 4 nhị với chỉ nhị hình chỉ, thò ra khỏi tràng hoa, nhẵn và bao dài 1mm Quả bế dài 4-5mm, rộng 0.5-1mm, hơi hình 4 cạnh và nhẵn.

1.1.2 Phân bố và sinh thái

Tục đoạn là cây ưa sáng, thường mọc ở các trảng cỏ trên đồi cây bụi và chân núi đá vôi, tại độ cao từ 1.300-1.600m Cây có nguồn gốc từ phía Bắc, thích nghi với khí hậu ẩm mát quanh năm, nên chỉ thấy mọc tự nhiên ở vùng núi cao sát biên giới phía Bắc Việt Nam Nhiệt độ trung bình năm ở đây dao động từ 13,8-15,3°C, với mùa đông lạnh kéo dài, có lúc xuống dưới 0°C Tục đoạn là cây sống khỏe, chịu hạn và chua, phát triển tốt trên đất feralit núi cao giàu mùn với pH từ 5-6 Cây mọc từ hạt vào tháng 4-5, sinh trưởng nhanh trong mùa hè thu, và ra hoa quả từ tháng 7-11 Toàn bộ phần trên mặt đất tàn lụi vào mùa đông, nhưng phần gốc và củ dưới mặt đất có thể mọc lại vào mùa xuân năm sau, với tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt Tại Việt Nam, Tục đoạn phân bố chủ yếu ở các tỉnh Hà Giang, đặc biệt là huyện Quản.

Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc); Lai Châu (Phong Thổ, Sìn Hồ); Điện Biên (Tủa Chùa); Lào Cai (Sa Pa, Bát Xát); Yên Bái (Mù Cang Chải)

Năm 1978, Viện Dược liệu đã chuyển giống từ Sa Pa về trồng tại Trại dược liệu Trà My, Quảng Nam, và hiện nay, một quần thể nhỏ đã trở nên hoang dại hóa.

- Bao gồm: tinh dầu, tannin, saponin

- Rễ củ Tục Đoạn có chứa một số chất là sucrose, b-sitosterol, akebia saponin D

- Rễ củ chứa 1 triterpen glycosid, 3 iridoid glycosid (swerosid, loganin, cantleyosid)

- Ngoài ra, còn chứa 2 saponin là japondisaponin E1 và E2 [8]

1.1.4 Công dụng và liều dùng

Tục đoạn có vị đắng, cay, tính ôn, quy vào các kinh can và thận, mang lại nhiều tác dụng như bổ gan thận, nối gân xương, hành huyết, chỉ huyết và an thai.

Tục đoạn trong y học cổ truyền được sử dụng như một loại thuốc bổ, có tác dụng chữa trị các vấn đề như đau lưng, mỏi gối, sưng tấy do té ngã, gãy xương, động thai, dọa sảy thai, và tình trạng ít sữa sau khi sinh Ngoài ra, nó cũng hỗ trợ nam giới trong trường hợp di tinh Tục đoạn thường được sử dụng dưới dạng thuốc sắc hoặc chế viên hoàn, với liều lượng từ 6-12g mỗi ngày.

Một số bài thuốc có Tục đoạn và cách sử dụng :

Thuốc bổ gan thận và chữa đau lưng mỏi gối bao gồm các thành phần như Tục đoạn, Ngưu tất, Đỗ trọng, Tang kí sinh, Cẩu kỉ tử, Đương quy, và Hà thủ ô Những thảo dược này có thể được sắc hoặc ngâm rượu để sử dụng.

- Chữa động thai, dọa sảy thai: Tục đoạn (tẩm rƣợu), Đỗ trọng (trích gừng), Táo nhục; chế viên, uống

- Chữa vết thương sưng tấy, gãy sương: Tục đoạn, Cốt toái bổ, Ngưu tất, Nhũ hương, Một dược, Tam thất, Đỗ trọng, Đương quy, Xuyên khung; sắc uống

- Chữa kinh nguyệt quá nhiều, kinh nhạt màu: Tục đoạn, Thục địa, Đương quy, Ngải diệp, Xuyên khung; sắc uống [6].

Hợp chất thiên nhiên trong cây Tục đoạn

Các hợp chất thiên nhiên trong cây Tục đoạn có thể xếp trong ba nhóm chính là alkaloid, tannin và glycoside [11]

Tác dụng sinh học của alkaloid

Công dụng của alkaloid rất đa dạng và phong phú, tùy theo từng loại alkaloid [5]

Tác dụng lên hệ thần kinh

Kích thích thần kinh trung ương có thể được thực hiện bằng strychnine và caffeine, trong khi morphin và codeine có tác dụng ức chế thần kinh trung ương Ephedrine được sử dụng để kích thích thần kinh giao cảm, trong khi yohimbin gây liệt giao cảm Đối với hệ phó giao cảm, pilocarpin có tác dụng kích thích, còn atropine gây liệt phó giao cảm Cocaine được biết đến với khả năng gây tê.

 Tác dụng hạ huyết áp: reserpine, serpentin

 Tác dụng chống ung thƣ: vinblastine, vincristine

 Tác dụng diệt ký sinh trùng, diệt khuẩn: quinine, berberine, arecoline, emetine

1.2.2 Hợp chất tannin Ứng dụng của tannin

Tannin có khả năng bảo vệ protein khỏi sự phân giải của vi khuẩn và được sử dụng như một loại thuốc làm se niêm mạc ruột, giúp điều trị các chứng bệnh tiêu chảy Một liều lượng nhỏ tannin có tác dụng cầm máu và vô trùng hiệu quả.

Tannin là một chất kháng sinh hiệu quả, hiện nay người ta đang nghiên cứu nó làm chất chống ung thƣ và chất ức chế virus HIV

 Trong y học: Tannin là một hợp chất có khá nhiều ứng dụng trong điều trị bệnh:

Tannin có khả năng tạo tủa với protein, khi tiếp xúc với niêm mạc, tổ chức da bị tổn thương hoặc vết loét, sẽ hình thành một màng mỏng giúp máu đông lại và ngừng chảy Do đó, tannin được ứng dụng trong việc chế tạo thuốc đông máu và thuốc săn se da.

Tannin có tính kháng khuẩn, kháng virus, đƣợc dùng trong điều trị các bệnh viêm ruột, tiêu chảy

Tannin không chỉ có tính làm săn se mà còn được sử dụng để chế tạo thuốc súc miệng, giúp điều trị viêm loét niêm mạc miệng và họng, cũng như chữa vết loét do người bệnh nằm lâu.

Tannin tạo kết tủa với các alcaloid và các muối kim loại nặng nhƣ chì, thuỷ ngân, kẽm [11]

Glycoside tim là glycoside steroid có tác dụng mạnh mẽ lên tim, giúp cường tim và điều hòa nhịp tim khi sử dụng đúng liều Tuy nhiên, nếu dùng quá liều, chúng có thể gây ra các triệu chứng như nôn, chảy nước bọt, mờ mắt, tiêu chảy, yếu cơ, loạn nhịp tim, giảm sức co bóp của tim, và thậm chí dẫn đến ngừng tim trong giai đoạn tâm thu ở tim ếch và tâm trương ở động vật máu nóng.

Glycoside tim, hay còn gọi là glycoside digitalic, là glycosid được chiết xuất từ lá cây digitan (Digitalis) và được sử dụng đầu tiên trong lâm sàng để điều trị bệnh tim Đây là các loại thuốc có cấu trúc steroid, có tác dụng mạnh mẽ và chọn lọc lên tim, thường được chỉ định trong điều trị suy tim.

Glycoside tim xuất hiện trong hơn 45 loài thực vật, chủ yếu thuộc các họ như Apocynaceae, Celastraceae, Euphorbiaceae, Fabaceae, Liliaceae, Meliaceae, Ranulculaceae, Scrophulariaceae, Sterculiaceae và Tiliaceae Ngoài ra, glycoside tim cũng có mặt trong một số loại côn trùng Trong cây, glycoside tim được tìm thấy ở nhiều bộ phận như lá, hoa, vỏ thân, rễ, thân rễ, dò và nhựa mủ.

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự nảy mầm của hạt giống

Nước là yếu tố thiết yếu cho sự nảy mầm của hạt, vì để nảy mầm, hạt cần trải qua quá trình hút nước Quá trình này phụ thuộc vào thành phần các chất có trong hạt.

Sự hấp thu nước là một quá trình sinh lý không cần năng lượng trao đổi chất, mà phụ thuộc vào tính keo trong mô hạt Điều này được chứng minh qua việc hạt sống và hạt chết đều hấp thụ nước với mức độ tương tự.

Prôtein là thành phần chính tạo ra khả năng hút nước của hạt, với đặc tính mang điện tích âm và dương, giúp nó có khả năng hấp thụ mạnh mẽ các cực của phân tử nước.

Chất nhày trong hạt, bao gồm cellulose và pectins, đóng vai trò quan trọng trong khả năng hút nước của hạt Mặc dù tinh bột có mặt với số lượng lớn, nhưng ảnh hưởng của nó đến sự hút nước là không đáng kể do cấu trúc vật lý của nó.

Nước chỉ nên được hút ở độ pH thấp hoặc sau khi trải qua quá trình xử lý nhiệt độ cao, điều này không xảy ra tự nhiên Bên cạnh đó, khả năng thấm của vỏ hạt cũng là một yếu tố quan trọng cần xem xét.

Nước thẩm thấu vào hạt chủ yếu qua vỏ hạt, nơi có cấu trúc đặc biệt Vỏ hạt có độ mỏng tại lỗ noãn, tạo điều kiện cho nước dễ dàng thấm vào Ngoài ra, rốn của nhiều loại hạt cũng hỗ trợ quá trình này, giúp nước xâm nhập hiệu quả hơn.

Nhiều loại hạt có cấu trúc đặc biệt giúp ngăn chặn nước tự nhiên xâm nhập, khiến hạt rơi vào trạng thái ngủ Một số hạt cho phép nước thẩm thấu qua vỏ, nhưng mức độ này có sự biến động lớn giữa các loài.

Vỏ hạt có tính thấm chọn lọc, với một số loài có khả năng thấm nước mạnh, trong khi những loài khác lại không thấm Sự hiện diện của lipit, tanins và pectin trong vỏ hạt đóng vai trò quan trọng trong khả năng thấm nước Áp lực nước trong môi trường tỷ lệ thuận với lượng nước mà hạt hấp thu Khả năng hút nước của hạt phụ thuộc vào tiềm năng nước của tế bào và chịu ảnh hưởng bởi ba yếu tố: sức ép của thành tế bào, nồng độ thẩm thấu tế bào và sức trương của tế bào.

Vỏ hạt hoạt động như một màng bán thấm, cho phép nước và dung dịch thẩm thấu vào bên trong, nhưng ngăn cản các chất khác Khả năng thấm này có thể do ion hoá axit và nhóm chất cơ bản của lipit màng nguyên sinh Màng này đẩy các ion cùng dấu và hút các ion trái dấu, trong khi các phân tử không ion hoá trong dung dịch không thể thấm qua vỏ hạt như các phân tử ion hoá Sự có mặt của nước cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình này.

Tỷ lệ nước thấm qua vỏ hạt chịu ảnh hưởng phức tạp từ môi trường Khả năng thấm nước được xác định bởi tiềm năng nước của tế bào và là kết quả của ba tác động chính.

Cường độ của khuôn thành tế bào được xác định bởi thành tế bào và cellulose trung gian, bao gồm cả ty thể, ribôxôm và thể cầu, là những đặc điểm tiêu biểu cho sự xuất hiện của màng nguyên.

7 sinh Những màng này biến đổi điện tích hút các phân tử nước và đóng góp vào tổng số tiềm năng nước của tế bào

+ Nồng độ thẩm thấu cuả tế bào, nồng độ các hợp chất hoà tan lớn khả năng hút nước lớn hơn

Sức căng bề mặt tế bào là áp lực mà nước tạo ra khi vào trong tế bào, ảnh hưởng đến thành tế bào Khác với áp lực thành tế bào và nồng độ các chất thấm lọc, sức căng bề mặt đóng vai trò cản trở, làm chậm quá trình hút nước vào tế bào.

Khi độ ẩm tăng cường độ hô hấp sẽ tăng lên mạnh nhất tạo điều kiện cho sự nảy mầm nhanh chóng

Giai đoạn ngủ nghỉ của hạt diễn ra trong điều kiện độ ẩm thấp và không có hoạt động trao đổi chất Độ ẩm đất, hay độ ẩm đồng ruộng, có vai trò quan trọng trong sự nảy mầm của các loài Một số loài có thể nảy mầm ở độ ẩm đất tại điểm héo sinh lý, trong khi những loài khác cần độ ẩm môi trường cao hơn mức cho phép Tuy nhiên, độ ẩm không thích hợp vẫn có thể ngăn cản quá trình nảy mầm hoàn toàn Cụ thể, hạt ngô nảy mầm ở độ ẩm 30.5%, hạt lúa ở 26.5%, và hạt đậu tương ở 50% Độ ẩm cao có thể cản trở sự nảy mầm của hạt.

Trong sản xuất, nước và nhiệt độ là hai yếu tố quan trọng nhất để điều chỉnh quá trình nảy mầm của hạt giống thông qua phương pháp ngâm ủ.

Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng trong sự sinh trưởng của thực vật, đặc biệt là trong quá trình nảy mầm của hạt Quá trình này bao gồm nhiều phản ứng và giai đoạn khác nhau, trong đó nhiệt độ là yếu tố quyết định Sự ảnh hưởng của nhiệt độ được xác định bởi các giới hạn tối thiểu, tối ưu và tối đa cho sự nảy mầm Nhiệt độ tối ưu là mức mà hạt có tỷ lệ nảy mầm cao nhất trong thời gian ngắn nhất, thường nằm trong khoảng 25-28 °C cho hầu hết các loài Nhiệt độ tối ưu này thường thấp hơn so với nhiệt độ tối ưu cho sự sinh trưởng Đối với thực vật ôn đới, nhiệt độ tối cao cho sự nảy mầm là 35-37 °C, trong khi thực vật nhiệt đới có thể chịu được nhiệt độ từ 37-40 °C.

Nghiên cứu về nảy mầm của hạt

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quá trình nảy mầm của hạt giống, bao gồm phẩm chất hạt, điều kiện môi trường và hoạt động sinh lý trong hạt Các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tỉ lệ nảy mầm của hạt giống.

Phẩm chất hạt là yếu tố quan trọng quyết định tỉ lệ nảy mầm của hạt Hạt giống có phẩm chất tốt không chỉ có di truyền tốt mà còn phải có phẩm chất gieo ươm cao Phẩm chất di truyền quyết định sự phát triển của cây sau này, nhưng để thể hiện được điều đó, hạt cần có phẩm chất gieo ươm tốt Chỉ khi có phẩm chất gieo ươm tốt, cây con mới đạt được sản lượng và chất lượng cao Phẩm chất hạt bao gồm nhiều yếu tố khác nhau.

Độ thuần (độ sạch) là tỷ lệ phần trăm trọng lượng của những hạt chắc so với tổng trọng lượng hạt được kiểm nghiệm Nếu độ thuần thấp, tỷ lệ nảy mầm cũng sẽ giảm, và lô hạt có thể chứa nhiều hạt lép hoặc tạp vật, gây khó khăn trong việc bảo quản.

- Trọng lượng hạt: thường tính cho đơn vị 1000 hạt thuần có độ khô thông thường

Tỉ trọng hạt là tỉ số giữa trọng lượng của hạt và trọng lượng của khối nước mà hạt đó chiếm chỗ, giúp phản ánh độ chín và độ mập của hạt.

- Tỉ lệ nảy mầm (hay khả năng nẩy mầm)

Sức nảy mầm là tỷ lệ hạt nảy mầm của cây mầm bình thường trong giai đoạn đầu, thường chiếm 1/3 thời gian nảy mầm, so với tổng số hạt được thí nghiệm Chỉ số này có ý nghĩa quan trọng trong việc so sánh giữa hai lô hạt khác nhau.

- Thời gian nảy mầm bình quân

Giá trị thực dụng của lô hạt là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng sử dụng trong sản xuất, thường dựa vào độ thuần và tỷ lệ nảy mầm Để xác định phẩm chất hạt giống, cần kiểm tra các chỉ tiêu như nhiệt độ, lượng nước, thành phần dinh dưỡng và hàm lượng hormone trong hạt.

Lượng nước trong hạt ảnh hưởng lớn đến cường độ và tính chất của quá trình hô hấp, cũng như sự chuyển hóa chất hữu cơ và hoạt động của vi sinh vật Khi nước trong hạt nhiều, quá trình thủy giải diễn ra mạnh mẽ, dẫn đến hô hấp mạnh và thải ra nhiều axit cacbonic Nếu hạt không được thông thoáng, nhiệt độ và hơi nước sẽ tích tụ, gây ra tình trạng thiếu dưỡng khí, làm giảm năng lượng cung cấp và tạo ra sản phẩm độc hại Ngược lại, hạt quá khô sẽ làm chậm quá trình chuyển hóa, khiến enzym ít hoạt động và cường độ hô hấp thấp, có thể dẫn đến cái chết của phôi hoặc phá hủy protein, làm giảm khả năng nảy mầm của hạt.

- Nước liên kết chặt: từ 0 – 10% RH (độ ẩm tương đối) tương đương 3 – 5% độ ẩm hạt (W.b)

- Nước liên kết yếu: từ 10 – 85% RH tương đương 5 – 25% độ ẩm hạt

- Nước tự do: chiếm trên 85% RH tương đương trên 25% độ ẩm hạt

Khi nước tự do bị mất, một số loại hạt ưa ẩm có thể chết Việc loại bỏ nước liên kết yếu làm giảm khả năng nảy mầm của hạt trung gian, trong khi loại bỏ nước liên kết chặt có thể ảnh hưởng đến khả năng nảy mầm của một số hạt ưa khô.

Nhiệt độ ảnh hưởng mạnh mẽ đến sức sống của hạt, tác động đến hoạt động của enzym và quá trình chuyển hóa chất hữu cơ bên trong hạt Khả năng thích ứng với nhiệt độ của hạt phụ thuộc vào đặc tính loài cây, cấu trúc vỏ hạt và lượng nước có trong hạt.

Hạt có tỉ lệ nảy mầm cao và sức sống tốt khi đạt đến chín sinh lý, nhưng việc xác định thời điểm này thường khó khăn Các chỉ tiêu như hình thái trái lớn hơn, màu sắc đậm hơn, và vỏ trái cứng hơn thường được sử dụng để nhận biết Trọng lượng khô của hạt tại thời điểm này thường đạt mức cao nhất Sau khi hạt chín sinh lý khoảng 1-2 tuần, độ ẩm của hạt giảm nhanh chóng, và thường được thu hái vào thời điểm này Độ ẩm hạt cũng cao khi rụng, với mức 40% cho quả nón của cây sồi đen và 50% cho cây sồi trắng.

Năm 1992, 58% cho táo (Acer pseudoplatanus L) được ghi nhận (Hong và Ellis, 1990) Đối với hạt orthodox, giai đoạn cuối của quá trình phát triển hạt diễn ra khi trái khô, chín tự nhiên xuất hiện trên cây và rụng Giai đoạn này yêu cầu sự tổng hợp nhiều loại enzym, đóng vai trò quan trọng trong khả năng chịu rút khô và nảy mầm của hạt (Bewley và Black).

Hạt orthodox với trái tươi thường bị rụng trước khi phát triển khả năng chịu rút khô Khả năng này xuất hiện chậm hơn khi vỏ trái đã khô hoặc rời xa Nhiều loài trong số này hình thành hiện tượng miên trạng, cho thấy sự tác động qua lại giữa hiện tượng ngủ và sự trì hoãn quá trình chín của hạt.

Hạt ưa ẩm không có dấu hiệu rõ ràng của sự chín, do sự phát triển vẫn tiếp tục diễn ra, và độ ẩm giảm nhẹ dẫn đến việc rụng trái Đặc biệt, nhiều loài cây nhiệt đới có hạt nảy mầm ngay sau khi rụng, trong khi một số loài như dẻ, mít và dừa thậm chí nảy mầm khi vẫn còn trên cây.

Nghiên cứu về khô chín của hạt và sức chịu rút khô trong quá trình phát triển của hai loài Acer platanoides (hạt ưa khô) và Acer pseudoplatanus (hạt ưa ẩm) cho thấy rằng cả hai loài đều có khả năng nẩy mầm khi độ ẩm của hạt giảm Hạt Acer platanoides có thể nẩy mầm sớm hơn, khoảng 4 tuần trước khi đạt chín sinh lý, trong khi hạt Acer pseudoplatanus cần đến 10 tuần (khi hạt mới phát triển được 60%) Khi đến thời điểm chín sinh lý, độ ẩm của hạt giảm nhanh chóng, và sức chịu đựng rút khô tăng dần theo sự phát triển của hạt.

 Sự biến đổi các chất dự trữ trong hạt

Trong quá trình phát triển, hợp chất cacbon từ quang hợp được vận chuyển tới hạt dưới dạng đường saccarose Tại hạt, đường này chuyển đổi thành nhiều hợp chất, chủ yếu là chất dự trữ như carbonhydrat, lipid và protein (Bewley và Black, 1994) Mặc dù nhiều loài hạt có nhiều dạng dự trữ khác nhau, thường chỉ có một dạng là ưu thế.

MỤC TIÊU, NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ

Mục tiêu nghiên cứu

Tìm ra được phương pháp xử lý nảy mầm hạt giống và chăm sóc cây con ở giai đoạn vườn ươm cho cây Tục đoạn.

Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ nước ngâm hạt đến sự nảy mầm của hạt giống

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian ngâm hạt đến sự nảy mầm của hạt giống

- Nghiên cứu ảnh hưởng của loại giá thể gieo trồng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây con ở giai đoạn vườn ươm

- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân NPK giai đoạn bón thúc đến sự sinh trưởng và phát triển của cây con ở giai đoạn vườn ươm.

Vật liệu nghiên cứu và địa điểm nghiên cứu

- Vật liệu nghiên cứu: Hạt giống cây Tục đoạn do trung tâm nghiên cứu giống cây trồng Đạo Đức – Hà Giang cung cấp

- Địa điểm nghiên cứu: Đề tài tiến hành nghiên cứu tại phòng thí nghiệm và vườn ươm Viện CNSH Lâm nghiệp – Đại học Lâm nghiệp

Phương pháp nghiên cứu

- Các nhân tố là chỉ tiêu nghiên cứu: Phải chia thành các công thức thí nghiệm khác nhau

- Các nhân tố không phải chỉ tiêu nghiên cứu: Phải đảm bảo tính đồng nhất giữa các công thức thí nghiệm

- Số mẫu hạt của mỗi công thức thí nghiệm phải đủ lớn (n ≥ 30)

- Thí nghiệm đƣợc bố trí đủ số lần nặp (n = 3)

2.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm và thu thập số liệu

Các bước được tiến hành như sau :

( Xác định nhiệt độ nước và thời gian ngâm hạt)

Gieo hạt nảy mầm trên các loại giá thể khác nhau

( Xác định giá thể nảy mầm)

Cấy cây con Tục Đoạn vào bầu đât có bón NPK (5-10-3) ở các liều lƣợng khác nhau

( Xác định liều lƣợng phân bón lót phù hợp nhất )

Các thí nghiệm đƣợc bố trí 3 lần lặp, 50 mẫu/lặp

2.4.2.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ nước ngâm hạt đến sự nảy mầm của hạt Tục đoạn

Hạt Tuc đoạn được rửa sạch sau đó tiến hành ngâm hạt trong nước ở nhiệt độ ban đầu khác nhau: 30 0 C, 50 0 C, 70 0 C và 100 0 C (bảng 2.1), trong thời gian 7 giờ

Các thí nghiệm đƣợc bố trí 3 lần lặp, 50 mẫu/lặp

Bảng 2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm và thu thập số liệu về ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự nảy mầm của hạt Tục đoạn

(ngày) n % Bắt đầu Kết thúc

2.4.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian ngâm hạt đến sự nảy mầm của hạt giống

- Sử dụng nhiệt độ nước ngâm hạt tốt nhất ở thí nghiệm 1, tiếp tục nghiên cứu thời gian ngâm hạt: 4 giờ, 7 giờ, 10 giờ, 13 giờ và 16 giờ (bảng 2.2)

- Các thí nghiệm đƣợc bố trí 3 lần lặp, 50 mẫu/lặp

Bảng 2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm và thu thập số liệu về ảnh hưởng của thời gian ngâm hạt đến sự nảy mầm của hạt Tục Đoạn

(ngày) n % Bắt đầu Kết thúc

2.4.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của loại giá thể gieo hạt đến quá trình sinh trưởng của cây con ở giai đoạn vườn ươm

- Hạt giống sau khi nảy mầm gieo vào 2 giá thể đất và cát, tiến hành chăm sóc và theo giõi quá trình sinh trưởng của cây mầm

- Mỗi loại giá thể gieo 400 hạt

Bảng 2.3 Phương pháp bố trí nghiệm và thu thập số liệu về ảnh hưởng của giá thể đất và cát đến tỉ lệ sống của cây mầm

Loại giá thể Tỉ lệ cây sống ( % ) n % Đất Cát

2.4.2.4 Ảnh hưởng của liều lượng phân NPK giai đoạn bón thúc đến sự sinh trưởng và phát triển của cây con ở giai đoạn vườn ươm

Cây con được hình thành từ việc gieo trồng trên các giá thể, có 2 lá mầm và chiều cao khoảng 2-3 cm Sau đó, cây con được cấy vào bầu đất đã trộn phân NPK với liều lượng khác nhau.

- Các công thức bón phân NPK (5-10-3) (hình 2.1) nhƣ sau: 200g/m 3 , 300g/m 3 , 400g/m 3 , 500g/m 3 , 600g/m 3 (bảng 2.4)

-Theo dõi quá trình sinh trưởng và phát triển của cây con trong 3 tháng:

Bảng 2.4 trình bày phương pháp bố trí thí nghiệm và thu thập số liệu nhằm đánh giá ảnh hưởng của phân NPK đến sự sinh trưởng và phát triển của cây con trong giai đoạn vườn ươm.

NPK Số mẫu TN Tỉ lệ cây sống

Lƣợng tăng chiều cao (cm)

Hình 2.1 Phân lân NPK (5-10-3) Văn Điển

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu

- Tính toán các đặc trƣng mẫu bằng công thức sau :

- Số liệu đƣợc xử lý bằng phần mềm SPSS (20) và phần mềm Excel Cụ thể:

* So sánh các công thức thí nghiệm về tỉ lệ nảy mầm, tỉ lệ cây sống bằng tiêu chuẩn khi bình phương (X 2 )

+ m 2 ij : là tần số quan sát thực nghiệm ở công thức thứ i và đặc trƣng đặc tính thứ j

+ tj: tổng tần số quan sát của các công thức đối với cấp j

+ ni: dung lƣợng mẫu của công thức thứ i

+ N : là tổng số các quan sát ; N= n1+n2+ +nk =t1+t2+ +tr

Số liệu đƣợc xử lý bằng phần mềm SPSS(20), kết quả kiểm tra sai dị đƣợc thể hiện bằng trị số sig

+ Nếu sig (xác suất của X 2 ) nhỏ hơn 0,05 các chỉ tiêu nghiên cứu có sự sai khác giữa các công thức thức thí nghiệm

+ Nếu sig (xác suất của X 2 ) lớn hơn 0.05 các chỉ tiêu nghiên cứu không có sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm

* So sánh giữa các công thức thí nghiệm về chiều cao cây bằng phân tích phương sai một nhân tố

Biến động giữa các trị số quan sát trong các mẫu thể hiện sự khác biệt giữa các số trung bình mẫu của các cấp độ của nhân tố (A).

Ta gọi biến động này là VA và do tính chất cộng của biến động nên

+ Người ta đã chứng minh rằng nếu giả thuyết H0: α1 =α2= =αa= 0 là đúng thì

Số liệu đƣợc xử lý bằng phần mềm SPSS(20), kết quả kiểm tra sai dị đƣợc thể hiện bằng trị số sig

+ Nếu sig (xác suất của F) nhỏ hơn 0,05 các chỉ tiêu nghiên cứu có sự sai khác giữa các công thức thức thí nghiệm

+ Nếu sig (xác suất của F) lớn hơn 0.05 các chỉ tiêu nghiên cứu không có sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ nước ngâm hạt đến sự nảy mầm của hạt giống Tục đoạn

Nhiệt độ nước ngâm đóng vai trò quan trọng trong quá trình nảy mầm của hạt, ảnh hưởng đến nhiều phản ứng và pha khác nhau Sự nảy mầm được xác định bởi các giới hạn nhiệt độ tối thiểu, tối ưu và tối đa Nhiệt độ tối ưu là mức nhiệt mà hạt đạt tỷ lệ nảy mầm cao nhất trong thời gian ngắn nhất Yêu cầu về nhiệt độ có thể thay đổi tùy thuộc vào các giai đoạn khác nhau của quá trình nảy mầm, cũng như phụ thuộc vào loài, giống, vùng gieo trồng và thời gian thu hoạch.

Nhiệt độ ngâm hạt ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình nảy mầm, với nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp đều có tác động tiêu cực Điều này đã dẫn đến việc thực hiện các thí nghiệm về nhiệt độ nước ngâm hạt, và kết quả được trình bày trong bảng 3.1.

Bảng 3.1 Tỉ lệ hạt nảy mầm khi xử lý bằng nước ngâm ở nhiệt độ khác nhau STT

Nhiệt độ nước ngâm hạt ( o C)

(ngày) n % Bắt đầu Kết thúc

Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ hạt nảy mầm khi xử lý bằng nước ở nhiệt độ khác nhau

Kết quả kiểm tra thống kê cho thấy tỉ lệ hạt nảy mầm ở các công thức nhiệt độ ngâm nước khác nhau có sự khác biệt rõ rệt (sig < 0,05).

Khi xử lý hạt ở nhiệt độ 30 °C, tỷ lệ nảy mầm đạt 75,3% sau 10 ngày Tăng nhiệt độ nước ngâm hạt lên 50 °C mang lại tỷ lệ nảy mầm cao nhất là 88% và thời gian nảy mầm sớm nhất là 9 ngày Tuy nhiên, khi nhiệt độ nước ngâm hạt tăng lên 70 °C, tỷ lệ nảy mầm giảm đáng kể chỉ còn 12,7% Đặc biệt, ở nhiệt độ 100 °C, hạt không thể nảy mầm do chết.

Nhƣ vậy, ngâm hạt ở nhiệt độ 50 0 C là thích hợp nhất với tỉ lệ nảy mầm đạt 88%

Hình 3.1 Hạt Tục đoạn nảy mầm ở các nhiệt độ ngâm khác nhau từ trái qua phải 1000C,700C, 500C và 300C

Nhiệt độ nước ngâm hạt (0C)

Ảnh hưởng của thời gian ngâm hạt đến sự nảy mầm của hạt Tục Đoạn

Kết quả thí nghiệm cho thấy ngâm hạt ở nhiệt độ 50 °C mang lại hiệu quả tốt nhất Để xác định ảnh hưởng của thời gian ngâm đến tỉ lệ nảy mầm, hạt Tục Đoạn được ngâm ở nhiệt độ 50 °C trong các khoảng thời gian khác nhau: 4 giờ, 7 giờ, 10 giờ, 13 giờ và 16 giờ Kết quả chi tiết được trình bày trong bảng 3.2.

Bảng 3.2 Tỉ lệ hạt nảy mầm khi xử lý ở thời gian ngâm khác nhau

Thời gian ngâm hạt trong nước

(ngày) n % Bắt đầu Kết thúc

Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ hạt nảy mầm khi ngâm hạt trong thời gian khác nhau

Kết quả kiểm tra thống kê cho thấy tỉ lệ hạt nảy mầm ở các công thức thời gian ngâm hạt trong nước khác nhau có sự khác biệt rõ rệt với giá trị sig < 0,05.

Theo số liệu từ bảng 3.2 và biểu đồ 3.2, công thức ngâm hạt trong nước trong thời gian 4 và 7 giờ đã đạt tỷ lệ nảy mầm cao, lần lượt là 90% và 88% Quá trình nảy mầm kết thúc sớm nhất sau 9 ngày.

Thời gian ngâm hạt (giờ)

Ngâm hạt trong nước trong thời gian 10, 13 và 16 giờ dẫn đến tỷ lệ nảy mầm giảm rõ rệt, dưới 58,7%, và thời gian kết thúc quá trình nảy mầm kéo dài hơn, sau 10 ngày.

Ngâm hạt trong nước ở nhiệt độ 50°C trong thời gian 4 giờ là phương pháp hiệu quả và tiện lợi cho quá trình xử lý hạt giống, mặc dù thời gian ngâm 7 giờ cũng có thể được áp dụng.

Ảnh hưởng của giá thể gieo hạt đến quá trình hình thành cây con Tục Đoạn

Hạt giống Tục đoạn sau khi xử lý nảy mầm được gieo trên hai loại giá thể là đất và cát nhằm nghiên cứu khả năng phát triển của cây mầm Kết quả nghiên cứu được trình bày trong bảng 3.3.

Bảng 3.3 Tỉ lệ cây con hình thành khi xử lý ở giá thể khác nhau

Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ cây con hình thành trên các loại giá thể gieo hạt khác nhau

Kết quả kiểm tra thống kê cho thấy tỉ lệ cây sống trên các loại giá thể gieo hạt khác nhau có sự khác biệt rõ rệt (sig

Ngày đăng: 12/07/2023, 14:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Fett - Neto A.G., Stewart J.M., Nicholson S.A., Pennington J.J., and Dicosmo F. (1994), Improved taxol yield by aromatic carboxylic acid and amino acid feeding to cell cultures of T. cuspidata. Biotechnology Bioengineering:967-971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Improved taxol yield by aromatic carboxylic acid and amino acid feeding to cell cultures of T. cuspidata
Tác giả: Fett - Neto A.G., Stewart J.M., Nicholson S.A., Pennington J.J., Dicosmo F
Nhà XB: Biotechnology Bioengineering
Năm: 1994
14. Harborne, J. B. and F. A. Tomas-Barberan (eds.) (1991). Ecological Chemistry and Biochemistry of the Plant Terpernoids. Oxford Univ. Press, Oxford Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ecological Chemistry and Biochemistry of the Plant Terpernoids
Tác giả: J. B. Harborne, F. A. Tomas-Barberan
Nhà XB: Oxford Univ. Press
Năm: 1991
15. Rao SR (2000) Biotechnological production of phyto-pharmaceuticals. Journal of Biochemistry Molecular Biology Biophysics: 73-102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biotechnological production of phyto-pharmaceuticals
Tác giả: Rao SR
Nhà XB: Journal of Biochemistry Molecular Biology Biophysics
Năm: 2000
16. Slichenmyer W.J., Von Horf D.D. (1991) Taxol: a new and effective anticancer drug. Anti-Cancer Drug: 519-530 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Taxol: a new and effective anticancer drug
Tác giả: Slichenmyer W.J., Von Horf D.D
Nhà XB: Anti-Cancer Drug
Năm: 1991
17. Srinivasan V., Pestchanker L., Hirasuma MT., Taticek R.A., and Shuler M.L. (1995) Taxol production in bioreactor; kinetics of biomass accumulation, nutrient uptake, and taxol production by cell suspensions of Taxus baccata.Biotechnol Bioeng: 666 - 676 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Taxol production in bioreactor; kinetics of biomass accumulation, nutrient uptake, and taxol production by cell suspensions of Taxus baccata
Tác giả: Srinivasan V., Pestchanker L., Hirasuma MT., Taticek R.A., Shuler M.L
Nhà XB: Biotechnol Bioeng
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm và thu thập số liệu về ảnh hưởng - Nghiên cứu kỹ thuật xử lý nảy mầm hạt giống và chăm sóc cây con tục đoạn (dipsacus japonicus miq) ở giai đoạn vườn ươm
Bảng 2.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm và thu thập số liệu về ảnh hưởng (Trang 21)
Bảng 2.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm và thu thập số liệu về ảnh hưởng - Nghiên cứu kỹ thuật xử lý nảy mầm hạt giống và chăm sóc cây con tục đoạn (dipsacus japonicus miq) ở giai đoạn vườn ươm
Bảng 2.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm và thu thập số liệu về ảnh hưởng (Trang 22)
Bảng 2.3. Phương pháp bố trí nghiệm và thu thập số liệu về ảnh hưởng của - Nghiên cứu kỹ thuật xử lý nảy mầm hạt giống và chăm sóc cây con tục đoạn (dipsacus japonicus miq) ở giai đoạn vườn ươm
Bảng 2.3. Phương pháp bố trí nghiệm và thu thập số liệu về ảnh hưởng của (Trang 22)
Bảng 2.4. Phương pháp bố trí thí nghiệm và thu thập số liệu về ảnh hưởng của  phân NPK  đến sự sinh trưởng và phát triển của cây con ở giai đoạn vườn ươm - Nghiên cứu kỹ thuật xử lý nảy mầm hạt giống và chăm sóc cây con tục đoạn (dipsacus japonicus miq) ở giai đoạn vườn ươm
Bảng 2.4. Phương pháp bố trí thí nghiệm và thu thập số liệu về ảnh hưởng của phân NPK đến sự sinh trưởng và phát triển của cây con ở giai đoạn vườn ươm (Trang 23)
Bảng 3.1. Tỉ lệ hạt nảy mầm khi xử lý bằng nước ngâm - Nghiên cứu kỹ thuật xử lý nảy mầm hạt giống và chăm sóc cây con tục đoạn (dipsacus japonicus miq) ở giai đoạn vườn ươm
Bảng 3.1. Tỉ lệ hạt nảy mầm khi xử lý bằng nước ngâm (Trang 26)
Hình 3.1. Hạt Tục đoạn nảy mầm ở các nhiệt độ ngâm khác nhau - Nghiên cứu kỹ thuật xử lý nảy mầm hạt giống và chăm sóc cây con tục đoạn (dipsacus japonicus miq) ở giai đoạn vườn ươm
Hình 3.1. Hạt Tục đoạn nảy mầm ở các nhiệt độ ngâm khác nhau (Trang 27)
Bảng 3.2. Tỉ lệ hạt nảy mầm khi xử lý ở thời gian ngâm khác nhau - Nghiên cứu kỹ thuật xử lý nảy mầm hạt giống và chăm sóc cây con tục đoạn (dipsacus japonicus miq) ở giai đoạn vườn ươm
Bảng 3.2. Tỉ lệ hạt nảy mầm khi xử lý ở thời gian ngâm khác nhau (Trang 28)
Bảng 3.3. Tỉ lệ cây con hình thành khi xử lý ở giá thể khác nhau - Nghiên cứu kỹ thuật xử lý nảy mầm hạt giống và chăm sóc cây con tục đoạn (dipsacus japonicus miq) ở giai đoạn vườn ươm
Bảng 3.3. Tỉ lệ cây con hình thành khi xử lý ở giá thể khác nhau (Trang 30)
Bảng 3.4.  Sinh trưởng của cây con Tục đoạn khi được bón lót phân NPK - Nghiên cứu kỹ thuật xử lý nảy mầm hạt giống và chăm sóc cây con tục đoạn (dipsacus japonicus miq) ở giai đoạn vườn ươm
Bảng 3.4. Sinh trưởng của cây con Tục đoạn khi được bón lót phân NPK (Trang 32)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm