Bên cạnh đó, khóa luận cũng chỉ rõ vai trò quan trọng của Nhà nước trong việc định hướng, hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa để họ thể hiện mình tốt hơn trong cuộc cạnh tra
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
GIAI ĐOẠN HẬU GIA NHẬP WTO
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Ngọc Trang
Giảng viên hướng dẫn : ThS NguyễnThị Tường Anh
HÀ NỘI, 11/2007
Trang 2LờI Mở ĐầU 1
Chương I - Lý luận chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, cạnh tranh quốc tế và giai đoạn hậu gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) 4
I Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam 4
1 Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam 4
2 Đặc điểm của các doanh nghiệp nhỏ và vừa 9
3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với nền kinh tế 11
II Cạnh tranh quốc tế 16
1 Khái niệm cạnh tranh 16
1.1 Khái niệm và vai trò của cạnh tranh 16
1.2 Phân loại cạnh tranh 17
2 Cạnh tranh quốc tế 20
2.1 Khái niệm cạnh tranh quốc tế 20
2.2 Đặc điểm của cạnh tranh quốc tế trong giai đoạn hiện nay 20
3 Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa 21
3.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh 21
3.2 Tiêu chí đánh giá của năng lực cạnh tranh 22
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh 23
III Giai đoạn hậu gia nhập WTO 25
1 Tổng quan về Tổ chức thương mại thế giới WTO 25
2 ý nghĩa của việc gia nhập WTO 27
3 Đặc điểm của giai đoạn hậu gia nhập WTO đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam 28
3.1 Bối cảnh của nền kinh tế thế giới hiện nay 28
3.2 Dự đoán triển vọng kinh tế thế giới trong thời gian tới 29
Chương II - các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trong điều kiện cạnh tranh quốc tế giai đoạn hậu gia nhập WTO (phân tích SWOT và bài học kinh nghiệm) 32
I Điểm mạnh 32
II Điểm yếu 41
III Cơ hội 46
IV Thách thức 50
V Kinh nghiệm của Trung Quốc sau khi đã trở thành thành viên của WTO 52
1 Thành tựu của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO 52
2 Kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh quốc tế giai đoạn hậu gia nhập WTO của Trung Quốc 54
2.1 Kinh nghiệm trong lĩnh vực thương mại hàng hóa 54
Trang 3cho các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện cạnh tranh
quốc tế giai đoạn hậu gia nhập WTO 62
I Quan điểm phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của đảng và nhà nước Việt Nam giai đoạn 2006-2010 62
II Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện cạnh tranh quốc tế giai đoạn hậu gia nhập WTO 66
1 Về phía nhà nước 66
2 Về phía người tiêu dùng 73
3 Về phía các doanh nghiệp 75
KếT LUậN 83
Tài liệu tham khảo 85
Trang 4LờI Mở ĐầU
Tháng 11 năm 2006, sự kiện lớn nhất trong năm của Việt Nam được đánh dấu bằng tiếng búa của ông Eirik Glenne - Chủ tịch Đại hội đồng Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organisation- WTO), chính thức xác nhận việc kết nạp Việt Nam là thành viên thứ 150 của WTO Sự kiện này đã khép lại chuỗi 11 năm với những nỗ lực liên tục, những cố gắng không mệt mỏi của Việt Nam, kể từ ngày chính thức đệ đơn gia nhập WTO Những nỗ lực của Việt Nam, đặc biệt là của những người được giao nhiệm vụ trực tiếp chuẩn bị và đàm phán đã được đền đáp Việc trở thành thành viên của WTO đánh dấu một bước tiến mới trong lịch sử hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam khi chúng ta tham gia ngày càng sâu rộng vào “Thế giới phẳng” Sự kiện này có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc tới khối doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa Tiềm năng và tầm quan trọng của khối doanh nghiệp này đối với sự phát triển chung của đất nước ngày càng
được công nhận, song sự hiểu biết của xã hội về đặc điểm, năng lực kinh doanh cũng như những rào cản mà các doanh nghiệp này đang phải đối mặt hiện vẫn còn nhiều hạn chế Trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường hiện nay của Việt Nam, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang phải cố gắng thích nghi với môi trường có nhiều thay đổi lớn lao, trong đó tiềm tàng nhiều cơ hội song cũng ẩn chứa không ít thách thức Trước đây, khối doanh nghiệp nhỏ và vừa cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong nước đã khó khăn, thì nay họ lại phải đối đầu với các công
ty, tập đoàn nước ngoài hùng mạnh cả về tiềm lực tài chính, công nghệ lẫn trình độ quản lý Cuộc đấu tranh sinh tồn sẽ ngày càng gay gắt và khả năng thua ngay trên thị trường nước nhà của các doanh nghiệp Việt Nam là hoàn toàn có thực
Câu hỏi đặt ra là đứng trước vận hội mới, các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam phải xác định cho mình những bài toán gì? Đó là làm thế nào để tồn tại trong môi trường cạnh tranh quốc tế khốc liệt? Bên cạnh đó là làm thế nào để tận dụng
được các cơ hội lớn do Toàn cầu hóa đem lại như tiếp cận với thị trường thế giới, tranh thủ các nguồn lực quốc tế bao gồm vốn, công nghệ, trình độ lãnh đạo, quản lý,… ? Có thể nói đây là một bài toán không đơn giản, nhưng các doanh nghiệp nhỏ
Trang 5và vừa Việt Nam vẫn có thể tìm ra câu trả lời nếu biết phát huy nội lực và tận dụng
được sự quan tâm đặc biệt cũng như các ưu đãi, hỗ trợ từ phía Đảng và Nhà nước Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trong
điều kiện cạnh tranh quốc tế giai đoạn hậu gia nhập WTO” hướng tới các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam nhằm giúp các doanh nghiệp nhận thức đúng đắn
về thực trạng của mình trong giai đoạn mới hiện nay Đồng thời, khóa luận cũng đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong việc nắm bắt các cơ hội và vượt qua thách thức một cách dễ dàng hơn, góp phần vào thành công của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đang là một đòi hỏi bức thiết hiện nay Bên cạnh đó, khóa luận cũng chỉ rõ vai trò quan trọng của Nhà nước trong việc
định hướng, hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa để họ thể hiện mình tốt hơn trong cuộc cạnh tranh không cân sức với các đối thủ đến từ bên ngoài và sự ủng hộ vô cùng cần thiết từ phía người tiêu dùng trong nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Thông qua việc nghiên cứu các tài liệu lý luận, kinh nghiệm thành công một số nước khác và thực tiễn các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, khóa luận tốt nghiệp
sẽ tập trung nghiên cứu và phân tích những đặc điểm, thực trạng của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế giai đoạn hậu gia nhập WTO và các đề xuất giải pháp từ nhiều phía
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận được kết cấu thành
ba chương:
• Chương 1: Lý luận chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, cạnh tranh quốc tế và giai đoạn hậu gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
• Chương 2: Các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trong điều kiện cạnh tranh quốc tế giai đoạn hậu gia nhập WTO (phân tích SWOT và bài học kinh nghiệm)
• Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh
Trang 6nghiệp Việt Nam trong điều kiện cạnh tranh quốc tế giai đoạn hậu gia nhập WTO
Do hạn chế về thời gian, nguồn tài liệu và kiến thức của người viết, khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn để hoàn thành khóa luận tốt hơn nữa
Sau cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Giảng viên ThS Nguyễn Thị Tường Anh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ để em có thể hoàn thành khóa luận này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các lãnh đạo, cán bộ, nhân viên công tác tại Thư viện Quốc gia, Viện nghiên cứu kinh tế Trung Ương, Phòng Thương Mại và Công nghiệp Việt Nam- VCCI, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân … đã hỗ trợ, cung cấp cho em những tài liệu, thông tin và kinh nghiệm quý báu
Trang 7Chương I
Lý luận chung về doanh nghiệp nhỏ vμ vừa Việt Nam, cạnh tranh quốc tế vμ giai đoạn hậu gia nhập Tổ chức
thương mại thế giới (WTO)
I Doanh nghiệp nhỏ vμ vừa Việt Nam
1 Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ vμ vừa của Việt Nam
Doanh nghiệp là một tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh phổ biến với mọi mô hình kinh tế Trong một xã hội, những loại hình doanh nghiệp thường gặp như doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp), doanh nghiệp nhà nước và các công ty (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty quốc doanh, công ty hợp danh, nhóm công ty mẹ-con, tập đoàn kinh tế, …) Theo Điều 4 Luật Doanh nghiệp Việt Nam ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch
ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”
Có nhiều tiêu chí để phân loại doanh nghiệp Xét theo ngành, ta có thể chia thành doanh nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệp thương mại, doanh nghiệp tài chính, các ngân hàng, … Xét theo dạng sản phẩm, ta có doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ Xét theo tiêu chí hình thức sở hữu
Trang 8vốn, ta có doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã, doanh nghiệp dân doanh, công ty liên doanh, và công ty hợp danh Dựa trên tiêu chí quy mô, chúng ta có doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ
Phạm vi của khóa luận sẽ tập trung nghiên cứu các doanh nghiệp nhỏ và vừa Vậy doanh nghiệp như thế nào sẽ được xếp vào nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của luật Việt Nam?
Mặc dù khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME - Small & Medium-sized Enterprises) đã được biết đến trên thế giới từ những năm đầu của thế kỷ XX, và khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa được các nước quan tâm phát triển từ những năm 50 của thế kỷ XX, tuy nhiên, ở Việt Nam khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa mới được biết đến từ những năm 1990 đến nay
Theo thông tư liên bộ số 21/LĐTT ngày 17/6/1993 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính, các doanh nghiệp ở Việt Nam được phân chia thành
5 hạng: hạng đặc biệt, hạng I, II, III, IV, dựa trên độ phức tạp của quản lý và hiệu quả sản xuất, kinh doanh với 8 tiêu chí rất phức tạp như vốn, công nghệ, lao động, lợi nhuận, doanh thu đối tượng phân loại chủ yếu chỉ giới hạn trong các doanh nghiệp Nhà nước với mục đích chủ yếu là để xếp lương cho cán bộ quản lý doanh nghiệp
Ngày 20/6/1998, Chính phủ đã có công văn số 681/CP-KCN về việc định hướng chiến lược và chính sách phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo công văn này, doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có vốn đăng ký dưới 5 tỷ
đồng và lao động thường xuyên dưới 200 người Việc áp dụng một trong hai tiêu chí hoặc cả hai tiêu chí tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, ngành, lĩnh vực Đây có thể được coi là văn bản đầu tiên đưa ra tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa Nó là cơ sở để cho phép thực hiện các biện pháp hỗ trợ cho khu vực này Theo nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 23 tháng
11 năm 2001 về trợ giúp phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp nhỏ và vừa được hiểu là “cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung
Trang 9bình hàng năm không quá 300 người” Đây là văn bản pháp luật chính thức đầu tiên quy định về khái niệm này và hiện nay vẫn đang được áp dụng trên toàn quốc Quy
định về doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở để các cơ quan Nhà nước, các tổ chức trong nước và quốc tế thực hiện các biện pháp hỗ trợ cho loại hình doanh nghiệp này Theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê năm 2005, cả nước có 109.338 doanh nghiệp có quy mô lao động thuộc loại nhỏ và vừa, chiếm 96,8% tổng số doanh nghiệp Trong đó doanh nghiệp có quy mô nhân sự từ 5 đến 49 người chiếm phần lớn với 65,2% (chi tiết theo bảng 1.1)
Bảng 1.1 Tỷ trọng doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy mô lao động năm 2005
Nguồn: Tổng cục Thống kê1
Số liệu Bảng 1.2 sau đây cho thấy xét theo quy mô vốn, doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2005 chiếm 87% tổng số doanh nghiệp Trong đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa có số vốn từ 1 đến 5 tỷ Đồng chiếm tỷ trọng lớn nhất với 37,1%, tiếp đến là doanh nghiệp có vốn dưới 500 triệu đồng với 23,6%
1
http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=409&idmid=4&ItemID=6710
Tỷ lệ (Phân theo quy mô lao động) Loại doanh nghiệp
Tổng số doanh nghiệp Dưới 5
người
5 - 9 người
10-49 người
50-199 người
200-299 người Doanh nghiệp
Trang 10Bảng 1.2 Tỷ trọng doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy mô vốn năm 2005
Nguồn: Tổng cục Thống kê2
Tỷ trọng các loại hình doanh nghiệp theo quy mô lao động năm 2005 như hình 1.1 Trong đó, tỷ trọng Công ty TNHH chiếm tỷ trọng lớn nhất với 47,39%, doanh nghiệp tư nhân chiếm 31,59%, Công ty cổ phần chiếm 10,19% tổng số doanh nghiệp nhỏ và vừa Các loại hình doanh nghiệp khác chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ
Hình 1.1 Tỷ trọng các loại hình doanh nghiệp có quy mô
Doanh nghiệp tư nhân Công ty TNHH Công ty cổ phần
Doanh nghiệp có vốn nước ngoài
Tổng số doanh nghiệp Dưới 0,5 tỷ đồng dưới 1 tỷ đồngTừ 0,5 đến Từ 1 đến dưới 5 tỷ đồng Từ 5 đến dưới 10 tỷ đồng Doanh nghiệp nhà
Trang 11Tỷ trọng các loại hình doanh nghiệp theo quy mô vốn năm 2005 có nhiều
điểm tương đồng so với tỷ trọng theo quy mô lao động (hình 1.2) với 48,03% là Công ty TNHH, 34,44% là doanh nghiệp tư nhân
Hình 1.2 Tỷ trọng các loại hình doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ và vừa năm 2005
Doanh nghiệp tư nhân Công ty TNHH Công ty cổ phần
Doanh nghiệp có vốn nước ngoài
Nguồn: Tổng cục Thống kê4
Như vậy, các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam nhìn chung có quy mô vốn
và lao động rất hạn chế Đây là một bất lợi khi nền kinh tế hội nhập sâu hơn với khu vực và quốc tế
Theo số liệu của Tổng cục Thống Kê về tổng số các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng rất lớn trong hầu hết các nhóm ngành nghề (đều trên 87%) Cá biệt có nhiều ngành nghề, khối doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đến 99% như Thủy sản, Thương nghiệp - Dịch vụ sửa chữa, Kinh doanh tài sản - dịch vụ tư vấn, Giáo dục và đào tạo
Xét riêng trong khối doanh nghiệp nhỏ và vừa, các ngành nghề chiếm tỷ trọng lớn gồm có Thương nghiệp - Dịch vụ sửa chữa (42,7%), Công nghiệp chế biến (20%), Xây dựng (13,4%); Các ngành nghề chiếm tỷ trọng rất nhỏ chủ yếu nằm trong các lĩnh vực văn hóa, thể thao, xã hội, nghiên cứu khoa học, sản xuất điện, nước, khí đốt, giáo dục - đào tạo, nông - lâm nghiệp (dưới 1%)
4
http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=409&idmid=4&ItemID=6710
Trang 12Bảng 1.3 Tỷ trọng Doanh nghiệp nhỏ và vừa xét theo ngành nghề năm 2005
Ngành nghề Tổng số
DN
Số DNNVV
5
Tỷ trọng DNNVV trong Tổng số DN
Tỷ trọng các ngành nghề trong khối DNNVV Nông nghiệp và lâm
Tài chính, tín dụng 1.139 1.105 97,0% 1,0%Hoạt động khoa học và
2 Đặc điểm của các doanh nghiệp nhỏ vμ vừa
Do đặc trưng của nền kinh tế nước ta vẫn còn đang trong giai đoạn chuyển đổi
Trang 13từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam có những đặc điểm riêng khác với loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa của những nền kinh tế phát triển trên thế giới Những đặc điểm cơ bản của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam thể hiện như sau:
Thứ nhất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam thuộc nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức tổ chức doanh nghiệp, bao gồm doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp và Công ty tư nhân, hợp tác xã Trong một thời gian dài, do sự tập trung phát triển của Đảng và Nhà nước đối với khối doanh nghiệp quốc doanh nên các doanh nghiệp thuộc khối ngoài quốc doanh hầu như chưa được đối xử bình đẳng
Điều đó ảnh hưởng đến tâm lý, thói quen kinh doanh của các doanh nghiệp này,
đồng thời cũng tạo ra những điểm xuất phát khác nhau trong việc tiếp cận nguồn lực không như nhau (trong giao đất, trong vay vốn ngân hàng )
Đa số doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp khởi sự thuộc khu vực kinh tế tư nhân Đặc điểm này đã làm cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp nhiều khó khăn, hạn chế trong quá trình hoạt động kinh doanh và mở rộng sản xuất của mình
Thứ hai, trình độ quản lý của các chủ doanh nghiệp còn hạn chế Đây là một thực tế rất phổ biến tại Việt Nam Khi hoạt động kinh doanh được tổ chức ở quy mô nhỏ thì kết quả thường khá tốt nhưng đến khi chuyển đổi thành doanh nghiệp với cơ cấu tổ chức theo phòng ban chức năng và quy mô người lao động tăng lên thì họ lại lâm vào tình trạng mất định hướng, khó kiểm soát…
Thứ ba, trình độ tay nghề của người lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tương đối thấp Do hạn chế về tài chính nên các chủ doanh nghiệp thuộc loại hình này không đủ khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc thuê lao
động có tay nghề cao Người lao động được thuê vào khu vực này ít được đào tạo, nếu có đào tạo thì lại do nguồn kinh phí hạn hẹp, bởi vậy kỹ năng và trình độ chuyên môn không cao Hơn nữa, định kiến của người lao động cũng như những người thân của họ về khu vực này còn khá lớn Chính sự thiếu ổn định khi làm việc
Trang 14cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cùng với việc có ít cơ hội phát triển tại các doanh nghiệp này cũng khiến cho nhiều lao động có kỹ năng không muốn làm việc trong khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thứ tư, trình độ công nghệ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn thấp do không đủ năng lực tài chính đầu tư cho nghiên cứu, thiết kế Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa có những sáng kiến công nghệ tiên tiến nhưng do nguồn kinh phí phục
vụ cho việc nghiên cứu triển khai còn hạn hẹp nên không thể hình thành công nghệ mới hoặc sáng kiến này bị các doanh nghiệp lớn mua lại với giá rẻ Mặc dù vậy, các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất linh hoạt trong việc đổi mới những công nghệ cũ và lạc hậu do giá trị của dây chuyền công nghệ thấp Điều này thể hiện tính nhạy bén và khả năng tạo nên sự khác biệt về sản phẩm, dịch vụ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa để có thể tồn tại trên thị trường
Thứ năm, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường gặp khó khăn trong việc thuê mặt bằng sản xuất, do đó họ thường sử dụng chính diện tích đất riêng của mình làm nơi sản xuất, kinh doanh Điều này dẫn tới thực tế là các doanh nghiệp gặp rất nhiều trở ngại trong việc phát triển hoạt động kinh doanh khi quy mô doanh nghiệp được
mở rộng
Thứ sáu, khả năng tiếp cận thị trường của các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn thấp, đặc biệt đối với thị trường nước ngoài Nguyên nhân chủ yếu là do các doanh nghiệp này thường là những doanh nghiệp mới thành lập, khả năng tài chính cũng như mức độ ưu tiên cho các hoạt động marketing còn chưa cao và họ cũng chưa có nhiều khách hàng truyền thống Hơn nữa, phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp này thường bó hẹp trong một địa phương, do đó việc mở rộng ra các thị trường mới
là rất khó khăn
Trên đây là những đặc điểm chung của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam Mặc dù còn có nhiều hạn chế như vậy song các doanh nghiệp này đã và đang khẳng
định vai trò ngày càng quan trọng của mình trong nền kinh tế
3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ vμ vừa đối với nền kinh tế
Trang 15Từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước, việc chuyển đổi sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường ở Việt Nam, cùng với sự ra đời của Luật Công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân (1990), và đặc biệt là Luật Doanh nghiệp Việt Nam 1999, sửa đổi năm 2005, các doanh nghiệp nhỏ và vừa nước ta đã
có sự phát triển mạnh mẽ, thể hiện vai trò ngày càng cao trong nền kinh tế quốc gia Với số lượng các doanh nghiệp được thành lập mới ngày càng tăng nhanh, đóng góp của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng lớn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Vì vậy, vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với nền kinh tế - xã hội của Việt Nam được thể hiện các mặt sau:
Trước hết, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp quan trọng vào GDP và tốc
độ tăng trưởng kinh tế Những doanh nghiệp này ngày càng đóng góp nhiều hơn vào tổng GDP do số lượng doanh nghiệp ngày càng lớn và phân bố rộng khắp trong hầu hết các ngành, lĩnh vực Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng của khu vực doanh nghiệp nhỏ
và vừa cũng thường cao hơn so với các khu vực doanh nghiệp khác Nếu tính theo tổng doanh thu của các doanh nghiệp cả nước, tỷ trọng của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy mô lao động (dưới 300 người) năm 2002 - 2004 là 81,5% - 86,5% (theo bảng 1.4) Điều đó cho thấy các doanh nghiệp nhỏ và vừa có đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế Trong đó, đóng góp nhiều nhất là những doanh nghiệp
có quy mô lao động từ 5 đến 200 người
Bảng 1.4 Tỷ trọng doanh thu doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế
Chia ra theo quy mô lao động (%) Năm
Tổng doanh
thu
(tỷ đồng)
Tỷ trọng doanh thu doanh nghiệp nhỏ và vừa ( %)
Dưới 5 người
Từ 5 - 200 người
Từ 200 – 300 người
Trang 162001 tăng lên hơn 7,2% năm 20028, đến những năm 2004, 2005 tỷ lệ này đã tăng lên khoảng từ 24% đến 25,5% Nhưng đóng góp của các doanh nghiệp dân doanh trong nguồn thu của ngân sách địa phương còn lớn hơn nhiều
Thứ hai là các doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh
tế Việc nhiều doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập tại các vùng nông thôn, vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa giúp cho việc chuyển dịch cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp và tăng
tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ
Thứ ba là các doanh nghiệp nhỏ và vừa làm tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Với sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực sẽ làm giảm tính độc quyền và buộc các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh và liên tục đổi mới để có thể tồn tại và phát triển Với tính linh hoạt của mình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng sẽ tạo sức ép cạnh tranh thậm chí với cả các công ty lớn, các tập đoàn xuyên quốc gia Đồng thời nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa còn đóng vai trò là vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn, thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa và phân công lao động trong sản xuất, làm tăng hiệu quả của chính các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như của công ty hợp tác
Thứ tư là doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp vào quá trình tăng tốc độ áp dụng công nghệ mới Với sự linh hoạt của mình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đi tiên phong trong việc áp dụng các phát minh mới về công nghệ mới cũng như các sáng kiến về kỹ thuật Do áp lực cạnh tranh nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường xuyên phải cải tiến công nghệ, tạo sự khác biệt để có thể cạnh tranh thành công Mặc dù không tạo ra được những phát minh, sáng kiến mang tính đột phá nhưng đó
là những tiền đề cho sự thay đổi về công nghệ
Thứ năm là các doanh nghiệp nhỏ và vừa giúp tăng cường thu hút vốn đầu tư Theo bảng 1.5, số vốn huy động được qua đăng ký thành lập mới và mở rộng quy mô kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn tiếp tục tăng Mức vốn đăng ký trung bình của một
8
Vấn đề quản lý và phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam hiện nay, Tạp chí Cộng sản, số 6 năm 2004
Trang 17doanh nghiệp cũng tăng đáng kể qua các năm (từ dưới 1 tỷ đồng lên đến trên 2 tỷ
Vốn trung bình 1 doanh nghiệp, triệu đồng Trước 2000 46.770 139.531,6 2983,4
đáng kể Như vậy phần lớn số người mới tham gia vào lực lượng lao động trông chờ vào khu vực kinh tế nông thôn và khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nếu không kể hộ kinh doanh cá thể thì khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 7% lực lượng lao động trong các ngành kinh tế, hay 20% lực lượng lao động phi nông nghiệp, hoặc 85,2% số lao động trong khu vực doanh nghiệp Nếu kể cả hộ kinh doanh cá thể thì khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 19% lực lượng lao động làm việc trong tất cả các ngành kinh tế Trong những năm qua, các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa có mức tăng trưởng cao về lao động Số lượng lao động tại khu vực này đã tăng 2,36 lần trong năm 2002 so với thời điểm 1995 Trong giai đoạn 2001-2005 ước tính
có khoảng 1,6 đến 2 triệu chỗ làm mới đã được tạo ra nhờ các doanh nghiệp, hộ kinh
9
http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=409&idmid=4&ItemID=6710; http://www.mpi.gov.vn/
Trang 18doanh cá thể mới thành lập và mở rộng quy mô kinh doanh theo Luật doanh nghiệp
199910, sửa đổi năm 2005
Thứ bảy là doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng đóng góp không nhỏ vào xuất khẩu
Với đặc điểm nền kinh tế kém phát triển, khu vực kinh tế nông thôn chủ yếu là sản xuất nhỏ và các làng nghề truyền thống, những ngành nghề có khả năng xuất khẩu như dệt may, thuỷ sản, cũng có rất nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia Vì vậy, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là lực lượng rất quan trọng trong việc tăng cường xuất khẩu Một số ngành nghề, đặc biệt là các ngành nghề thủ công, ngành nghề truyền thống, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu do các doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo ra
Thứ tám, doanh nghiệp nhỏ và vừa là tiền đề tạo ra những doanh nghiệp lớn,
đồng thời làm lành mạnh môi trường đầu tư và kinh doanh Với những doanh nghiệp thành công, quy mô của các doanh nghiệp sẽ được mở rộng và nhiều doanh nghiệp trong số này dần dần trở thành các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn kinh tế Với một
số doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động kinh doanh không hiệu quả, phải rút lui khỏi thị trường (có thể là do phá sản) thì điều đó không gây tác động nhiều đến nền kinh
tế, xã hội, như đối với các doanh nghiệp lớn hay các tập đoàn
Thứ chín là các doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò là tiền đề tạo ra một môi trường kinh doanh mang tính kinh tế thị trường, tạo ra những nhà kinh doanh giỏi
Đây là điều rất cần thiết đối với Việt Nam hiện nay Chúng ta đã ở trong giai đoạn kinh tế kế hoạch hoá tập trung khá lâu, vì vậy môi trường kinh doanh mang tính thị trường gần như không tồn tại hoặc không có cơ hội phát triển, đội ngũ doanh nhân giỏi, có khả năng điều hành các doanh nghiệp trong điều kiện quốc tế hóa và hội nhập kinh tế quốc tế rất hạn chế Vì vậy, việc tạo ra một môi trường kinh doanh mang tính thị trường cũng như một đội ngũ doanh nhân giỏi là điều kiện cực kỳ quan trọng để Việt Nam có thể hội nhập thành công
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với sự phát triển kinh tế đất nước thực
sự rất quan trọng Song để các doanh nghiệp này đóng góp nhiều hơn nữa cho nền
10
Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn làm cơ sở để xây dựng chiến lược hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam từ nay đến năm 2010, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trang 19kinh tế thì họ rất cần sự hỗ trợ, giúp đỡ của các cơ quan, các cấp chính quyền nói chung cũng như từ phía người tiêu dùng trong xã hội Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan, đặc điểm, đánh giá về thực trạng và vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, chương II của khóa luận sẽ phân tích rõ hơn về điểm mạnh, điểm yếu cũng như các cơ hội, thách thức mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam phải đối mặt khi hội nhập vào nền kinh tế quốc tế
II Cạnh tranh quốc tế
1 Khái niệm cạnh tranh
1.1 Khái niệm và vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh là sự ganh đua giữa hai hay nhiều bên nhằm đạt được một mục tiêu nào đó Cạnh tranh diễn ra giữa các cá thể sống cùng tồn tại trong một môi trường với các nguồn lực hạn chế
Trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều có cạnh tranh bởi không có cạnh tranh thì
sẽ không có sinh tồn và phát triển Cạnh tranh mang lại động cơ cho sự phát triển tự thân Đó là quy luật tồn tại của muôn loài
Trong kinh doanh, “cạnh tranh là cuộc ganh đua giữa các doanh nghiệp nhằm giành các điều kiện có lợi nhất về sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ… trong nền kinh tế thị trường Cạnh tranh là áp lực cưỡng bức từ bên ngoài buộc các doanh nghiệp phải tìm mọi giải pháp để nâng cao năng suất lao động trong doanh nghiệp,
đưa ra thị trường sản phẩm có chất lượng, giá cả hợp lý,… từ từ mở rộng kinh doanh, tăng tích lũy cho doanh nghiệp”11
Theo tác giả Trần Sửu trong cuốn “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa”, NXB Lao Động, 2006, thì “cạnh tranh, nói chung, là
sự phấn đấu vươn lên không ngừng để giành lấy vị trí hàng đầu trong một lĩnh vực
11
Để thành công trong cạnh tranh thị trường, Trần Đình Thêm, năm 1991, XNB TP HCM
Trang 20hoạt động nào đó bằng cách ứng dụng những tiến bộ khoa học- kỹ thuật tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra sản phẩm mới, tạo ra năng suất và hiệu quả cao nhất”
Triết học duy vật biện chứng đã khẳng định đấu tranh là nguồn gốc của sự vận
động, cạnh tranh lành mạnh như là một động lực quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất, tiến bộ khoa học, kỹ thuật, quản lý, là điều kiện để giáo dục tính tháo vát, năng động nhạy bén và óc sáng tạo của những nhà doanh nghiệp Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là cơ sở để các hàng hóa, sản phẩm không ngừng được cải tiến cả
về chất lượng, mẫu mã và chủng loại, đem lại cho người tiêu dùng nhiều sự lựa chọn hơn với mức giá hợp lý hơn Những sản phẩm, dịch vụ yếu về năng lực cạnh tranh, không phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ và nhu cầu của con người sẽ bị đào thải, để lại những sản phẩm tiến bộ hơn, phục vụ nhu cầu khách hàng tốt hơn Cũng tương tự như vậy, doanh nghiệp nào hoạt động kinh doanh kém hiệu quả sẽ bị các doanh nghiệp khác lớn mạnh hơn, có chiến lược kinh doanh bài bản hơn đánh bật khỏi thị trường Cạnh tranh nâng cao chất lượng của cuộc sống
1.2 Phân loại cạnh tranh
Trong kinh doanh, cạnh tranh có thể là giữa các sản phẩm với nhau, hoặc giữa các doanh nghiệp với nhau, hoặc thậm chí là cạnh tranh giữa các ngành và cao nhất
là cạnh tranh quốc tế mà chúng ta sẽ nghiên cứu sâu trong phần tiếp theo
Cạnh tranh giữa các sản phẩm có thể được phân ra thành 3 loại sau đây: cạnh tranh trực tiếp, cạnh tranh thay thế và cạnh tranh trong ngân sách của người tiêu dùng
Dạng cạnh tranh hẹp nhất là cạnh tranh trực tiếp (còn được gọi là cạnh tranh theo loại hay cạnh tranh về nhãn hiệu), trong đó, các sản phẩm có cùng một chức năng sẽ cạnh tranh với nhau Một ví dụ về sản phẩm dịch vụ, hãng taxi Cổ phần Hà Nội sẽ cạnh tranh với một vài các hãng taxi khác như taxi Mai Linh, taxi Phù Đổng, taxi Phú Gia…
Hai công ty đang là đối thủ cạnh tranh của nhau và một trong hai công ty đưa
ra một sản phẩm mới, thì chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, công ty kia cũng sẽ
Trang 21đưa ra một sản phẩm tương tự Một ví dụ điển hình là trên thị trường sản phẩm nước xả vải, hai nhãn hàng Comfort và Downy liên tục tung ra các sản phẩm nước xả vải mới, với những tính năng cạnh tranh ngày càng tinh tế, quan tâm sâu sắc đến người tiêu dùng
Dạng thứ hai là cạnh tranh thay thế hay cạnh tranh gián tiếp, trong đó những sản phẩm thay thế cho nhau sẽ cạnh tranh với nhau Ví dụ như bơ sẽ cạnh tranh với bơ làm từ thực vật, với mayonnaise và các loại nước sốt khác nhau
Dạng thứ ba là dạng cạnh tranh rộng nhất, được gọi là cạnh tranh về ngân sách của người tiêu dùng Dạng cạnh tranh này bao gồm tất cả các sản phẩm mà người tiêu dùng có thể dùng số tiền sẵn có của mình để mua được Chẳng hạn như một sinh viên có 200.000 Đồng, anh ta có thể lựa chọn việc tiêu dùng số tiền ấy vào nhiều sản phẩm khác nhau, như sách, đĩa nhạc hay ăn một bữa tối thịnh soạn Khi
đó các sản phẩm này được coi là cạnh tranh với nhau trong khoản tiền sẵn có của người sinh viên đó
Đó là việc phân loại cạnh tranh ở mức độ sản phẩm Xét ở một tầm vĩ mô hơn, cạnh tranh có thể được chia ra thành cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nội bộ ngành, cạnh tranh giữa các ngành và mức cao nhất là cạnh tranh quốc tế Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cuộc đấu tranh giữa những nhà doanh nghiệp cùng kinh doanh một loại hàng hóa, hay dịch vụ, nhằm giành lấy các điều kiện có lợi nhất trong việc sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ ấy, và thu được lợi nhuận cao nhất so với vốn bỏ
ra Trong cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thì doanh nghiệp phải tạo ra ưu thế của doanh nghiệp mình đối với những doanh nghiệp khác Các đối sách mà doanh nghiệp thường chọn sẽ là: 1 Đối đầu trực tiếp với các đối thủ cạnh trạnh để vượt lên trên và duy trì lợi thế cạnh tranh Đối sách này sẽ rất tốn kém, song đem lại hiệu quả nhanh chóng 2 Tạo nên một sự cạnh tranh khác biệt (như chiến lược Đại dương xanh12) để thắng lợi mà không cần phải hy sinh nhiều Đối sách này ít tốn kém nhưng cũng có nhiều khó khăn Cho dù doanh nghiệp chọn đối sách nào đi nữa thì
họ cũng phải có chiến lược cạnh tranh Chiến lược cạnh tranh ở đây có thể là: Lựa
12 Chiến lược đại dương xanh - làm thế nào để tạo khoảng trống thị trường và vô hiệu hóa cạnh tranh, W Chan Kim & Renee Mauborgne
Trang 22chọn các thị trường khác với các đối thủ cạnh tranh hoặc là đầu tư để làm cho hàng hóa có giá cá biệt nhỏ hơn giá cả thị trường để cạnh tranh ngay trên tuyến thị trường của các đối thủ cạnh tranh đang hoạt động Để thực hiện cạnh tranh, các doanh nghiệp cần phải làm những công việc sau: Trước hết, nắm bắt tình hình các đối thủ cạnh tranh hiện hữu trên thị trường trong nước và nước ngoài Tiếp theo, tiên đoán khả năng có đối thủ cạnh tranh mới xuất hiện Và cuối cùng là thường xuyên cập nhật tình hình diễn biến trong nước và thế giới để đưa ra các giải pháp cạnh tranh hữu hiệu Việc am hiểu thị trường của mình sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao sự nhạy bén, đưa ra các giải pháp hữu hiệu trong hoạt động kinh doanh và cạnh tranh với các
Và ngược lại, doanh nghiệp nào có năng suất lao động thấp dẫn đến giá trị cá biệt của hàng hóa cao thì khi bán hàng hóa theo giá cả thị trường doanh nghiệp đó đã mất một số lợi nhuận, dẫn đến tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp thấp đi
ở một mức độ cao hơn nữa là cạnh tranh giữa các ngành Đây là cuộc ganh
đua giữa các nhà doanh nghiệp sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ khác ngành với nhau, nhằm thu lợi nhuận và có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với vốn đã bỏ ra và đầu tư vốn vào ngành có lợi nhất cho sự phát triển Sự cạnh tranh giữa các ngành dẫn đến việc nhà doanh nghiệp từ lĩnh vực, ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp đổ xô vào lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận cao hơn Trong điều kiện kinh tế thị trường, các nhà doanh nghiệp thường chuyển từ ngành này sang ngành khác để tìm kiếm cơ hội đầu tư vốn
có nhiều lợi nhuận hơn Và khi đó, sự cạnh tranh trong nội bộ ngành lại tăng lên Tại thời điểm viết khóa luận này, ngành tài chính - ngân hàng và kinh doanh bất động sản đang là những ngành đem lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn nhiều so mức tỷ suất lợi nhuận trung bình của các ngành Và hệ quả là vốn và các nguồn lực khác cũng được
đổ sang các lĩnh vực này
Trang 23Và mức độ cạnh tranh cao nhất là cạnh tranh quốc tế
2 Cạnh tranh quốc tế
2.1 Khái niệm cạnh tranh quốc tế
Cạnh tranh quốc tế có thể được hiểu là cạnh tranh có mang yếu tố quốc tế Nó
là sự cạnh tranh giữa sản phẩm của các doanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp của các nước khác nhau ngay trên thị trường một nước hoặc trên thị trường quốc tế Như vậy yếu tố xuyên quốc gia chính là điểm khác biệt giữa cạnh tranh quốc
tế và cạnh tranh thông thường Cạnh tranh quốc tế cũng mang đầy đủ những đặc trưng của cạnh tranh thông thường, nhưng ở một tầm cao hơn, mức độ khốc liệt hơn Thứ nhất, đối tượng tham gia vào cạnh tranh quốc tế phong phú hơn rất nhiều so với cạnh tranh thông thường Số lượng các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau tăng lên nhiều lần ở các trình độ phát triển khác nhau cùng với quy mô được mở rộng hơn trên mọi lĩnh vực Thứ hai, khi cạnh tranh có sự tham gia của các doanh nghiệp đến
từ nhiều nước trên thế giới thì các nguyên tắc, quy định, thông lệ, tập quán… trong hoạt động kinh doanh cũng không hạn chế trong phạm vi pháp luật của một nước Các doanh nghiệp đều phải tuân thủ theo những nguyên tắc, luật lệ quốc tế chung
mà đôi khi còn xa lạ với một số doanh nghiệp thiếu kinh nghiệm, thiếu cơ hội cọ xát với các đối thủ đến từ bên ngoài Ngoài ra, cạnh tranh quốc tế còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như chính trị, ngoại giao giữa các quốc gia, bối cảnh kinh tế thế giới
và đặc biệt là sự ảnh hưởng, can thiệp của các nước lớn đối với “luật chơi” chung Chính vì cạnh tranh quốc tế là một thách thức không hề đơn giản như vậy nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam muốn tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sẽ phải chuẩn bị thật kỹ về mọi mặt, đồng thời cần có sự hỗ trợ của Nhà nước cũng như người tiêu dùng trong nước để có thể trụ vững và phát triển hơn nữa
2.2 Đặc điểm của cạnh tranh quốc tế trong giai đoạn hiện nay
Cạnh tranh quốc tế trong giai đoạn hiện nay rất khốc liệt, tinh tế, thể hiện trong
Trang 24mối quan hệ vừa hợp tác vừa cạnh tranh Xu thế mới nhất trong sự phát triển của nền kinh tế thế giới và cũng là xu thế cơ bản của cạnh tranh quốc tế ngày nay là tất cả các nước đều phải gia tăng thực lực kinh tế của mình và lấy đó làm điểm tựa chính
để mở rộng khả năng tham gia vào cuộc cạnh tranh ngày càng quyết liệt trên phạm
vi toàn cầu; mặt khác, cạnh tranh quốc tế lấy thực lực kinh tế làm cốt lõi cũng khiến cho nền kinh tế thế giới phát triển theo hướng quốc tế hóa và khu vực hóa
Toàn cầu hóa kinh tế và nhất thể hóa kinh tế khu vực làm gia tăng sự liên kết trực tiếp giữa các doanh nghiệp của các nước, nhưng đồng thời cũng buộc các doanh nghiệp phải trực tiếp cạnh tranh với nhau Tuy nhiên, kết quả của cuộc chơi toàn cầu hóa hoàn toàn không phải là hai bên đều thắng, mà nó thường gây ra hiệu ứng hai mặt Có những khu vực, những nước và doanh nghiệp giàu lên nhanh chóng nhờ toàn cầu hóa thì cũng có những khu vực, những nước, doanh nghiệp bị thua thiệt hoặc thậm chí bị đẩy ra khỏi dòng chảy sôi động của thương mại và đầu tư quốc tế Ngày nay, muốn tránh thua thiệt và được hưởng lợi trong cạnh tranh quốc tế, thì vấn
đề cốt lõi là phải tăng cường thực lực kinh tế và chủ động hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia, mà xuất phát từ sự nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
3 Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ vμ vừa
3.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh
Từ cạnh tranh sẽ dẫn đến sản phẩm có năng lực cạnh tranh mạnh và sản phẩm
có năng lực cạnh tranh yếu, hay doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh mạnh và doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh yếu, và tương tự với các ngành khác nhau Vậy năng lực cạnh tranh của sản phẩm và doanh nghiệp là gì?
Năng lực cạnh tranh, còn được biết đến với tên gọi khả năng cạnh tranh hay sức cạnh tranh của sản phẩm, là khả năng sản phẩm đó tiêu thụ được nhanh trong khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên cùng thị trường Nói cách khác, năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm đó
Trang 25Nhu cầu đối với một loại hàng hóa dịch vụ của một thị trường là có giới hạn, trong khi số người tham gia vào việc cung cấp hàng hóa dịch vụ đó trên thị trường thì ngày càng tăng Cạnh tranh giữa các sản phẩm của các doanh nghiệp là điều tất yếu Và chỉ có sản phẩm nào đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, hoặc mang lại độ thỏa mãn cao hơn thì sản phẩm đó mới tồn tại trên thị trường Khi đó người ta nói rằng những sản phẩm như vậy là có năng lực cạnh tranh cao
Còn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra
được lợi thế cạnh tranh và năng suất cao hơn đối thủ, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là yếu tố
đảm bảo cho sự tồn tại của doanh nghiệp trên thị trường Cũng tương tự với trường hợp của các sản phẩm, dịch vụ, tỷ trọng của doanh nghiệp trên thị trường cho biết năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó so với các đối thủ cạnh tranh trong cùng ngành
Năm 198713, tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã đưa ra định nghĩa chung cho năng lực cạnh tranh như sau: Năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả, làm cho các doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế
Đây là một định nghĩa mang sức khái quát cao, đúng với các loại hình doanh nghiệp, các ngành nghề và các quốc gia, khu vực trên thế giới Xét cho cùng, năng lực cạnh tranh là điều kiện cần thiết cho sự phát triển bền vững, mục tiêu của mọi quốc gia nói chung và mỗi doanh nghiệp khi tham gia hoạt động kinh doanh nói riêng
3.2 Tiêu chí đánh giá của năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng, giá cả, khả năng cung cấp, dịch vụ đi kèm, uy tín của người bán, thương hiệu, quảng cáo, điều kiện mua bán…
13 Indicators of international competitiveness: conceptual aspects and evaluation, Mattine Durand and
Claude Giorno, trang 149
Trang 26Người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi nhiều hơn ở sản phẩm mình lựa chọn Một sản phẩm muốn tiêu thụ tốt trước hết phải có chất lượng trên mức trung bình, phải
có giá cả hợp lý, dịch vụ cung cấp nhanh, tiện lợi cho người tiêu dùng, nhà sản xuất
có uy tín trên thị trường Trước kia chủ yếu là các doanh nghiệp trong nước cạnh tranh với nhau, người tiêu dùng không có mấy sự lựa chọn Song trong điều kiện thương mại ngày càng được mở rộng, buôn bán giao thương giữa các quốc gia trở nên thuận lợi hơn bao giờ hết như hiện nay thì rõ ràng người tiêu dùng đứng trước một loạt các sự lựa chọn vô cùng phong phú Khi ấy, các tiêu chí để đánh giá năng lực cạnh tranh của một sản phẩm hay mức độ làm hài lòng người tiêu dùng của sản phẩm đó càng được quan tâm hơn trước nhiều Các doanh nghiệp phải tính toán sao cho sản phẩm của mình làm ra không chỉ cạnh tranh được với đối thủ trong nước,
mà còn phải cạnh tranh được với vô vàn sản phẩm đến từ các doanh nghiệp khác trên thế giới Năng lực cạnh tranh của sản phẩm thấp đồng nghĩa với việc sản phẩm làm ra không có thị trường tiêu thụ, điều đó cũng có nghĩa là doanh nghiệp đang trên đà phá sản
Đối với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, các tiêu chí đánh giá dựa trên các mặt như: trình độ công nghệ sản xuất; năng lực quản lý; nguồn lao động; tài sản (cả hữu hình và vô hình) và vốn của doanh nghiệp; các yếu tố đầu vào, nguyên vật liệu, chi phí; thị phần và đầu ra của doanh nghiệp; giá trị gia tăng của sản phẩm; lợi nhuận của doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường
Một doanh nghiệp được thành lập xét đến cùng là vì mục tiêu kinh doanh có hiệu quả Mức độ hiệu quả ở đây được xác định trên cơ sở thị phần của doanh nghiệp trên thị trường lớn hay nhỏ, doanh thu từ hoạt động của doanh nghiệp cao hay thấp, lợi nhuận thu được của doanh nghiệp là bao nhiêu, có tăng trưởng đều đặn hay không, đời sống người lao động trong doanh nghiệp có được đảm bảo hay không, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường theo đánh giá của người tiêu dùng ra sao…
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, bao gồm
Trang 27nhóm yếu tố bên trong và nhóm yếu tố bên ngoài
Nhóm yếu tố bên trong tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là:
a) Nhận thức chung của người lao động trong doanh nghiệp
b) Quản trị doanh nghiệp
c) Sự sẵn sàng của các nhân tố đầu vào
d) Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
e) Các chiến lược, chính sách của doanh nghiệp
Nhóm yếu tố bên trong đóng vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp
Còn nhóm nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phải kể đến:
f) Nguồn cung ứng đầu vào
g) Thị trường tiêu thụ sản phẩm
m)Năng lực cạnh tranh của quốc gia
Khác với các nhân tố bên trong, các nhân tố bên ngoài không thuộc phạm vi kiểm soát của doanh nghiệp Các nhân tố này có thể mang lại những lợi thế nhưng
đồng thời cũng có thể tạo ra bất lợi cho doanh nghiệp, từ đó tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trên cơ sơ nắm được các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh, các doanh
Trang 28nghiệp sẽ đề ra được các giải pháp đúng đắn, hiệu quả nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường
III Giai đoạn hậu gia nhập WTO
1 Tổng quan về Tổ chức thương mại thế giới WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO - World Trade Organization) là một tổ chức quốc tế chính thức được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1995, có trụ sở chính đặt tại Giơnevơ, Thụy Sĩ WTO có chức năng giám sát các hiệp định thương mại giữa các nước thành viên với nhau theo các quy tắc thương mại Hoạt động của WTO nhằm mục đích loại bỏ hay giảm thiểu các rào cản thương mại để tiến tới tự
do thương mại Tính đến ngày 27 tháng 7 năm 2007, WTO đã có 151 thành viên Việt Nam chính thức gia nhập WTO vào ngày 11 tháng 1 năm 2007
Từ khi WTO khởi đầu vòng đàm phán mới (Đô-ha14) năm 2001 đã có một số nước đang khẩn trương chuẩn bị để gia nhập vào tổ chức này Một vài nước đã rút ngắn quá trình đàm phán, thậm chí bỏ qua hầu hết các bước để nhanh chóng được kết nạp Nhân tố đó cho thấy WTO ngày càng có một vai trò hấp dẫn hơn đối với các nền kinh tế đang phát triển trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế Vậy WTO đem lại những lợi ích gì cho các nước thành viên của mình?
Trước hết, WTO giúp giảm bớt hàng rào thương mại thông qua thương lượng
và áp dụng nguyên tắc không phân biệt đối xử Việc giảm bớt các hàng rào mậu dịch khiến cho thương mại tự do hơn, từ đó sẽ giảm bớt các phí tổn cho các công ty
Và như vậy, chi phí sản xuất giảm, giá cả hàng hóa dịch vụ cũng giảm theo và kết quả là giảm được chi phí cuộc sống Đồng thời, thương mại tăng trưởng tự do hơn, không có nhiều các rào cản như trước làm tăng thu nhập, cả thu nhập quốc dân và
14
Vòng đàm phán Đôha được khởi động từ năm 2001, với mục tiêu là dỡ bỏ các rào cản thuế quan và chính sách trợ giá trong thương mại nhằm tạo đà tăng trưởng kinh tế cho các nước đang phát triển ( www.wto.org )
Trang 29thu nhập cá nhân Mức sống nói chung được cải thiện
Thứ hai, hệ thống này giúp gìn giữ hoà bình cho thế giới Do thương mại được phát triển thuận lợi và có các giải pháp mang tính xây dựng dựa trên cơ sở nhất trí ý kiến và tập trung vào việc tuân thủ các nguyên tắc để giải quyết các bất đồng giúp giải quyết các tranh chấp này một cách hoà bình và mang tính xây dựng Các nước
đều chủ trương đối thoại thay cho đối đầu
Thứ ba, việc gia nhập WTO kích thích tăng trưởng kinh tế và giúp giảm bớt gánh nặng trong việc tạo ra việc làm Hoạt động sản xuất buôn bán trao đổi giữa các nước ngày càng mở rộng, nhiều công ty mới được thành lập hơn, tạo ra thêm nhiều cơ hội việc làm cho người lao động Số lao động dôi dư của một nước có thể xuất khẩu sang các nước có trình độ phát triển cao hơn, nhưng hạn chế về nguồn lao động
Thứ tư, WTO thu hẹp sự bất bình đẳng về quyền lợi giữa các quốc gia Khi đã
là thành viên của WTO thì nước lớn hay nhỏ cũng vẫn phải tuân thủ theo các nguyên tắc của tổ chức Chính nhờ những nguyên tắc đó mà những nước nhỏ cũng có tiếng nói hơn, và nước lớn thì không thể dựa vào sức mạnh của mình để áp đặt luật chơi chung Tất nhiên, chúng ta không thể đòi hỏi sự bình đẳng tuyệt đối, song những thiện chí của WTO dành cho các nước đang phát triển, những nước yếu thế hơn là rất đáng ghi nhận
Thứ năm, WTO như là một sức ép bên ngoài khuyến khích chính phủ hoạt
động tốt hơn Việt Nam là một ví dụ điển hình cho khía cạnh này Từ khi nộp đơn gia nhập cho đến bây giờ, khi đã trở thành thành viên của WTO được gần 1 năm, Chính phủ nước ta vẫn đang phải nỗ lực không ngừng để cải thiện hoạt động của Nhà nước, cải cách hành chính, pháp luật… cho phù hợp với các cam kết của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế và cũng để mình không bị lạc lõng giữa các thành viên khác
Thứ sáu, một lợi ích nữa của WTO là đem đến cho người tiêu dùng nhiều lựa chọn hơn, và phạm vi chất lượng rộng hơn để lựa chọn Các rào cản mậu dịch được dần dần gỡ bỏ giúp cho giao thương giữa các nước ngày càng phát triển Người tiêu dùng ở các nước thành viên WTO được mở rộng quyền lựa chọn đối với các sản
Trang 30phẩm hàng hóa, dịch vụ Chưa bao giờ việc thay đổi một nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ lại dễ dàng như hiện nay
2 ý nghĩa của việc gia nhập WTO
Bên cạnh những lợi ích mà WTO mang lại thì việc gia nhập WTO còn mang những ý nghĩa hết sức lớn lao đối với Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp nhỏ
và vừa của Việt Nam nói riêng
Sự kiện gia nhập WTO là mốc đánh dấu bước phát triển mới của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Sau những nỗ lực bền bỉ, chúng ta đã được thế giới ghi nhận Tuy tiềm lực nhỏ bé, song Việt Nam có thể tự tin với tư cách là một thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới Vị thế của Việt Nam giờ đã nâng lên một tầm cao mới Việc này có một ý nghĩa quan trọng, khích lệ lòng
tự hào dân tộc của mỗi người dân, trong đó có cả những người chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tham gia vào tổ chức WTO, Việt Nam có điều kiện nắm bắt các cơ hội, nhưng cũng luôn phải sẵn sàng đối mặt với những thách thức to lớn, bởi đó là lẽ tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế Đây là một cơ hội tốt cho Việt Nam đánh giá toàn diện nền kinh tế của mình và đón nhận những thay đổi lớn lao cả về chất và lượng
Riêng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam, việc gia nhập WTO cũng mang nhiều ý nghĩa quan trọng Một loạt những sự kiện lớn xảy ra trong hơn một năm qua như một cú huých mạnh, tạo đà cho các doanh nghiệp vươn lên khẳng
định mình Từ nay, các doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng với tất cả các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế có cơ hội phát huy tính chủ động, sáng tạo của mình, hạn chế
sự phụ thuộc, ỷ lại vào sự bảo hộ của Chính phủ như trước kia
Lần đầu tiên, các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam được tham gia vào một sân chơi lớn cùng với rất nhiều doanh nghiệp đến từ các nước thành viên WTO trên khắp thế giới Các doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận và học hỏi từ chính các đối thủ cạnh tranh của mình Đây là môi trường cho các doanh nghiệp nhìn nhận rõ khả
Trang 31năng của mình so với mặt bằng chung của các doanh nghiệp trong khu vực và trên thế giới
Mặc dù các doanh nghiệp nhỏ và vừa ý thức được môi trường cạnh tranh khốc liệt, song với quyết tâm và với đường lối chiến lược đúng đắn, chắc rằng các doanh nghiệp của chúng ta sẽ tồn tại và xây dựng nên một hệ thống doanh nghiệp vững mạnh
3 Đặc điểm của giai đoạn hậu gia nhập WTO đối với doanh nghiệp nhỏ vμ vừa Việt Nam
3.1 Bối cảnh của nền kinh tế thế giới hiện nay
Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế và tự do hóa thương mại trên bình diện toàn cầu đang diễn ra nhanh chóng và trở thành vấn đề nổi bật của thế giới
đương đại Do ảnh hưởng của toàn cầu hóa, nền kinh tế thế giới hiện nay đang chuyển thành một hệ thống liên kết ngày càng chặt chẽ và mức độ phụ thuộc lẫn nhau ngày càng cao giữa các quốc gia và khu vực trên thế giới Toàn cầu hóa đòi hỏi các quyết định kinh tế, dù được đưa ra ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, đều phải tính tới các yếu tố quốc tế Từ cuối thế kỷ XX trở lại đây, sự chuyển dịch hàng hóa, dịch
vụ và các nguồn vốn đầu tư giữa các nước gia tăng ngày càng nhanh, tạo ra sự biến
đổi về chất so với trước đây
Các định chế và tổ chức kinh tế - thương mại khu vực và quốc tế đã được hình thành để phục vụ cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tạo lập hành lang pháp lý chung cho các nước cùng tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề lớn của nền kinh tế thế giới mà không một quốc gia nào có thể thực hiện một cách đơn lẻ
Biểu hiện cơ bản của quá trình hội nhập kinh tế là xu hướng tăng cường hợp tác song phương, liên kết khu vực và đẩy mạnh hợp tác đa phương Một làn sóng tự
do hóa thương mại đang diễn ra sôi động chưa từng có trên thế giới với việc hình thành các Khu vực Thương mại Tự do (FTAs) và các Thỏa thuận Thương mại Khu vực (RTAs) Cho đến nay, hầu như tất cả các nước trên thế giới đã là thành viên,
Trang 32hoặc đang đàm phán tham gia vào ít nhất một FTAs hoặc RTAs Khoảng trên 50% tổng giá trị giao dịch thương mại toàn cầu15 được tiến hành thông qua các thỏa thuận thương mại khu vực
Xu hướng gia tăng tự do hóa thương mại và cạnh tranh toàn cầu đang phát triển cùng với xu hướng tăng cường hợp tác đa phương thể hiện qua việc ngày càng có nhiều quốc gia xin gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới Đến nay WTO đã có 151 thành viên được kết nạp và khoảng gần 30 nước đang xin gia nhập tổ chức này Năm 2006, tốc độ tăng trưởng thương mại hàng hóa và dịch vụ quốc tế tăng 8,9%16 so với năm 2005 Tuy nhiên, tăng trưởng thương mại không đồng đều được thể hiện rõ trong mỗi nhóm nước Sự mất cân đối trong thương mại quốc tế tiếp tục gia tăng, thể hiện thông qua việc tăng thâm hụt ở nhóm các nước phát triển và giá trị thặng dư được tạo ra nhiều hơn trong nhóm các thị trường đang nổi lên và các nước
đang phát triển Thâm hụt thương mại của nhóm các nước phát triển đã lên tới 571,1
tỷ USD năm 2006 so với 486,3 tỷ USD năm 2005 Trong khi đó, thặng dư của nhóm nước thứ hai không ngừng tăng lên, từ 79,6 tỷ USD năm 2001, lên 424,7 tỷ USD năm 2005 và 586,7 tỷ USD năm 2006 Dự kiến năm 2007 sẽ lên đến 638,9 tỷ USD17
Cũng trong năm 2006, giá cả tiếp tục tăng cao, đặc biệt là dầu lửa và một số kim loại, nguyên nhân chủ yếu là do cung chưa kịp tăng so với cầu Nhân tố quan trọng góp phần gây ra thực trạng này là tăng trưởng kinh tế, hay cụ thể hơn là tăng trưởng công nghiệp ở các thị trường đang nổi, đặc biệt là Trung Quốc
Sau sự đổ vỡ của vòng đàm phán Doha năm 2003, nỗ lực của hầu hết các nước thành viên WTO với việc thông qua “Gói Tháng Bảy” năm 2005 với những biện pháp nhằm thúc đẩy đàm phán trở lại khiến triển vọng của Vòng Đàm phàn Doha trở nên sáng sủa hơn
3.2 Dự đoán triển vọng kinh tế thế giới trong thời gian tới
Trang 33Theo dự báo, mức tăng trưởng của nền kinh tế thế giới năm 2007 sẽ giảm chút
ít so với năm 2006 do tiếp tục chịu ảnh hưởng của chính sách tiền tệ thắt chặt đang
được thực hiện ở nhiều nước phát triển nhằm giảm bớt thâm hụt trong cán cân thanh toán và giá cả một số mặt hàng như năng lượng, nguyện liệu thô, dầu mỏ và kim loại vẫn ở mức cao Theo các chuyên gia IMF, tốc độ tăng trưởng thương mại quốc tế năm 2007 sẽ vào khoảng 7,6% trong đó xuất khẩu sẽ có mức giảm lớn hơn Giá cả hàng hóa trên thị trường thế giới sẽ có xu hướng giảm đi so với năm 2006 Dù đã có khởi sắc, song dự báo đàm phán đa phương về tự do hóa thương mại trong năm 2007
sẽ gặp nhiều trở ngại lớn Tuy vậy, các nhà lãnh đạo WTO sẽ vẫn tiếp tục theo đuổi mục đích tôn chỉ của mình và các nước thành viên sẽ tham gia tích cực nhằm tìm kiếm giải pháp hữu hiệu cho “Gói tháng Bảy” Bên cạnh những kết quả tốt đẹp đã
đạt được từ hội nghị cấp cao APEC lần thứ 14, những bước tiến mới của các nước ASEAN và Đông á trong tiến trình tự do hóa thương mại mở ra một triển vọng khá sáng sủa trong lĩnh vực cải cách chính sách Việc các nước thành viên ASEAN thống nhất thiết lập một thị trường chung của khối vào năm 2015 và tăng cường xóa
bỏ các hàng rào phi thuế quan cùng với thúc đẩy tự do hóa dịch vụ, đầu tư và lao
động lành nghề trên toàn khu vực đồng thời với việc ký kết Hiệp định Thương mại Song phương với Hàn Quốc AK-FTA, tăng cường thực hiện AC-FTA,… cho thấy năm 2007 sẽ là năm có những bước tiến mới trong ASEAN trên con đường tự do hóa thương mại18
Việc gia nhập vào một tổ chức thương mại có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam Với triển vọng nền kinh tế thế giới tương đối khả quan trong thời gian tới, các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam có thể yên tâm vào những cơ hội phát triển mở ra trước mắt Mặc dù vậy, để góp phần giúp các doanh nghiệp có sự chuẩn bị đầy đủ về mọi mặt, chương II của khóa luận sẽ trình bày phần phân tích điểm mạnh và điểm yếu của các doanh nghiệp xét trong điều kiện cạnh tranh quốc tế hiện nay, xác định những cơ hội dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam đồng thời vạch
18
Thương mại quốc tế 2006 và triển vọng 2007, TS Nguyễn Hồng Nhung, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, số 2/2007
Trang 34rõ những thách thức tiềm ẩn để các doanh nghiệp chủ động có biện pháp đối phó tích cực và hữu hiệu
Trang 35Chương II các doanh nghiệp nhỏ vμ vừa Việt Nam trong điều kiện cạnh tranh quốc tế
giai đoạn hậu gia nhập WTO (phân tích SWOT vμ bμi học kinh nghiệm)
Tiếp theo những lý luận chung về tổng quan và đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, về cạnh tranh quốc tế, về bối cảnh mới trong giai đoạn hậu gia nhập WTO và phần nào đánh giá thực trạng khối doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trong chương I, chương II của khóa luận sẽ áp dụng phương pháp SWOT (điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức) để đánh giá các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đặt trong điều kiện cạnh tranh quốc tế từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO Việc đánh giá theo phương pháp SWOT sẽ lần lượt xem xét sâu hơn các điểm mạnh (lợi thế cạnh tranh) cũng như các điểm yếu (bất lợi) của các doanh nghiệp nhỏ
và vừa Việt Nam, từ đó nhìn nhận đầy đủ và đúng mức các cơ hội và những nguy cơ trong môi trường cạnh tranh mới biến đổi về chất (cạnh tranh quốc tế giai đoạn hậu gia nhập WTO)
Trang 36c) Nguồn lực lao động dồi dào, nhân công giá rẻ, ham học hỏi, cầu tiến và ý thức hội nhập cao
d) Sự quan tâm và hỗ trợ đặc biệt của Nhà nước
Thứ nhất, xét về môi trường kinh doanh, Việt Nam là một trong số các nước có
độ ổn định cao về chính trị và ít có các nguy cơ khủng bố Ưu thế này cùng với vị trí
địa lý nằm trong khu vực Đông Nam châu Á (ASEAN), một khu vực hiện đang được
đánh giá là năng động nhất thế giới trên khía cạnh tăng trưởng kinh tế, là một trong những thế mạnh đặc trưng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam so với các doanh nghiệp nhỏ và vừa khác ở các quốc gia và vùng lãnh thổ thường xuyên có bất
ổn về chính trị - kinh tế - xã hội Khu vực doanh nghiệp này được tạo điều kiện phát triển ổn định, lâu dài, tránh được sự ảnh hưởng tiêu cực từ các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
Hình 1.3 Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam và các nước ASEAN (%)
Nguồn: 7th GfK Annual Conference19
19 An overview of Vietnam’s Economy Opportunities & Chanllenges, Vu Thanh Tu Anh, Fulbright
Economics Teaching Program 25/10/2007
Trang 37Hình 1.3 còn cho thấy Việt Nam hiện đang là nền kinh tế có tốc tăng trưởng hơn hẳn so với tốc độ tăng trưởng trung bình của khu vực ASEAN
Tương tự như vậy, Việt Nam vẫn nằm trong tốp các nền kinh tế tăng trưởng nhất so với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình của các nền kinh tế chuyển đổi (hình 1.4) Các chỉ số khác như tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng ở mức rất cao so với khu vực Đông Nam á, Trung Quốc, và thế giới (hình 1.5 và hình 1.6)
Hình 1.4 Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam và các nền kinh tế chuyển đổi (%)
Nguồn: 7th GfK Annual Conference20
20 An overview of Vietnam’s Economy Opportunities & Chanllenges, Vu Thanh Tu Anh, Fulbright
Economics Teaching Program 25/10/2007
Trang 38H×nh 1.5 T¨ng tr−ëng xuÊt khÈu cña ViÖt Nam vµ c¸c n−íc (%)
Nguån: 7th GfK Annual Conference21
H×nh 1.6 Thu hót vèn ®Çu t− trùc tiÕp FDI cña ViÖt Nam vµ c¸c n−íc (% GDP)
Nguån: 7th GfK Annual Conference22
21 An overview of Vietnam’s Economy Opportunities & Chanllenges, Vu Thanh Tu Anh, Fulbright
Economics Teaching Program 25/10/2007
22 An overview of Vietnam’s Economy Opportunities & Chanllenges, Vu Thanh Tu Anh, Fulbright
Economics Teaching Program 25/10/2007
Trang 39Thứ hai, các doanh nghiệp nhỏ và vừa luôn năng động trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chủ động tìm kiếm nguồn nguyên vật liệu cho sản xuất, tích cực tìm kiếm thị trường cho sản phẩm đầu ra Đó là ưu điểm mà TS Phạm Thị Thu Hằng, Giám đốc Trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho rằng: “Điểm mạnh của người Việt Nam là ý chí kinh doanh rất cao” Điều tra gần đây của Ngân hàng Thế giới đã đánh giá ý chí kinh doanh của người Việt Nam còn cao hơn cả người Trung Quốc Thực tế ở nước ta cũng chỉ rõ sự bứt phá trong tinh thần kinh doanh của người Việt Nam23 Điều này cũng thể hiện rất rõ ở số liệu đăng ký kinh doanh mới của các doanh nghiệp Việt Nam trong những năm qua (bảng 1.5) Đây là một thực tế rất
đáng mừng, một điểm mạnh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam so với các đối thủ cạnh tranh đến từ khắp nơi trên thế giới Lý do là bởi có ý chí vươn lên trong kinh doanh, các doanh nghiệp sẽ không dễ đầu hàng trước những khó khăn, thách thức mà sẽ luôn suy nghĩ tìm ra cho mình con đường phát triển phù hợp với hoàn cảnh và đặc điểm của mình
Thứ ba, là một đất nước có dân số trẻ với hơn 84 triệu dân, nguồn lực lao động dồi dào cộng với chi phí nhân công rẻ, thị trường lao động Việt Nam được đánh giá
là một trong những thị trường hấp dẫn nhất khu vực Châu á Theo thống kê, năm
2006 số người trong độ tuổi lao động của cả nước là 43,44 triệu, trong đó số lao
động trong độ tuổi thanh niên chiếm khoảng 47%24 Người lao động Việt Nam rất cần cù, chịu khó học hỏi, tiếp thu nhanh các công nghệ hiện đại và có khả năng thích nghi cao Tận dụng được điểm mạnh này, các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam sẽ tiến thêm một bước nữa trong cuộc cạnh tranh với các doanh nghiệp đến từ bên ngoài bởi họ có thể tiết kiệm được một khoản chi phí trong việc thuê nhân công lao động, đồng thời việc áp dụng các công nghệ hiện đại có xuất xứ từ các nước phát triển hơn trên thế giới cũng có thể thực hiện được một cách đơn giản do người lao
động Việt Nam dễ tiếp thu và ham học hỏi Từ hai yếu tố trên sẽ dẫn tới việc giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa sản phẩm do các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam sản xuất so với hàng
Trang 40hóa, sản phẩm nhập ngoại
Thứ tư là một lợi thế đặc biệt của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, đó
là sự quan tâm và hỗ trợ đặc biệt từ phía Đảng và Nhà nước Hệ thống thể chế hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam hoạt động dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng
được thành lập theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 Hội đồng Khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa làm cố vấn cho Thủ tướng trong công tác phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm chủ tịch Cục Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ quan điều phối chính sách liên quan tới doanh nghiệp nhỏ và vừa ở cấp trung ương đồng thời đóng vai trò là thư ký thường trực cho Hội đồng khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Sở Kế hoạch và Đầu tư dưới sự chỉ đạo của ủy ban Nhân dân tỉnh/thành phố là cơ quan
điều phối chính sách liên quan tới doanh nghiệp nhỏ và vừa ở cấp địa phương đồng thời các Sở ban ngành khác cũng thực hiện các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ
và vừa Các cơ quan ban ngành của Chính phủ ở Trung ương phối hợp chặt chẽ với các tổ chức đại diện cho khu vực tư nhân và các nhà cung cấp dịch vụ tư nhân cũng như nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực cạnh tranh (hình 1.6)