Với chủ trương về phát triển kinh tế nhiều thành phần, nhất là chủtrương về thu hút đầu tư nước ngoài đã tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển mạnh mẽ về số lượng và chất l
Trang 1CÔNG NGHIỆP ĐỒNG NAI VỚI QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG
VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
Đồng Nai là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.Phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và TP
Hồ Chí Minh, phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp Bình Dương vàBình Phước Diện tích tự nhiên là 589.474 ha, chiếm 1,76% diện tích cả nước
và 25,5% diện tích vùng Đông Nam Bộ Đồng Nai có nguồn tài nguyên đất,nguồn nước, khoáng sản phong phú đáp ứng tốt nhu cầu phát triển côngnghiệp trên địa bàn Điều kiện địa hình, địa chất Đồng Nai có nền đất ổn định,rất phù hợp cho việc xây dựng các cơ sở sản xuất công nghiệp với chi phíthấp Vị trí Đồng Nai gần các cảng biển, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và có
hệ thống đường giao thông quốc gia đi qua nên rất thuận tiện cho giao thôngvận tải Hệ thống lưới điện quốc gia đảm bảo cung cấp nguồn điện ổn địnhcho sản xuất công nghiệp Bên cạnh đó, Đồng Nai còn có thuận lợi nhờ pháthuy những lợi thế của TP Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực và cung cấp dịch
vụ Như vậy, vị trí địa lý của Đồng Nai đã tạo ra những thuận lợi rất cơ bản
để phát triển kinh tế, đặc biệt là phát triển công nghiệp và là vị trí lý tưởng đểcác nhà đầu tư lựa chọn địa điểm đầu tư
Với những điều kiện khá thuận lợi như trên, công nghiệp Đồng Naitrong quá trình hình thành và phát triển đã sớm gắn liền với việc xây dựngKhu Công nghiệp (KCN) tập trung KCN đầu tiên được xây dựng ở Biên Hoàvào năm 1963 với diện tích 335 ha (nay gọi là KCN Biên Hoà 1) KCN nàyđược xem là “cái nôi” của ngành công nghiệp Đồng Nai Với cơ sở hạ tầng kỹthuật được xây dựng tương đối đầy đủ, KCN Biên Hoà 1 lúc đó có khả năngtiếp nhận 70 nhà máy công nghiệp và thu hút khoảng 15.000 lao động Nhưvậy, mô hình phát triển KCN tập trung đã hình thành khá sớm tại Đồng Nai
Mô hình này đã tỏ ra có nhiều ưu điểm như: quản lý các nhà máy công nghiệptập trung tạo điều kiện thuận lợi để xử lý chất thải công nghiệp, sử dụng hiệu
Trang 2quả đất đai và các công trình hạ tầng kỹ thuật… Ngay từ khi hình thành, KCNBiên Hoà 1 đã có vai trò tích cực đối với phát triển của công nghiệp, là nơitập trung hầu hết các nhà máy công nghiệp của tỉnh với trình độ công nghệkhá hiện đại vào thời điểm đó KCN này cũng chính là tiền thân của ngànhcông nghiệp Đồng Nai
1 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP ĐỒNG NAI TỪ 2004.
1991-Ngành công nghiệp Đồng Nai thực sự bứt phá phát triển vào nửa đầuthập niên 90 khi Đảng và Nhà nước ta thực hiện chính sách phát triển kinh tếnhiều thành phần Trong đó, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của ViệtNam đã được các nhà đầu tư quốc tế biết đến và nhanh chóng triển khai các
dự án đầu tư tại Việt Nam nói chung và Đồng Nai nói riêng Từ sau thời điểmnày, công nghiệp Đồng Nai đã bắt đầu tăng trưởng nhanh với sự tham gia củakhu vực công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời khu vực ngoài quốcdoanh cũng đã thu hút được nhiều doanh nghiệp với quy mô, công nghệ kháhiện đại, sản xuất nhiều sản phẩm đa dạng phục vụ tiêu dùng trong nước vàxuất khẩu
Năm 1990 - năm trước khi xây dựng và phát triển KCN - giá trị SXCNtoàn tỉnh đạt 441 tỷ đồng (theo giá cố định năm 1989) Trong đó, công nghiệpquốc doanh Trung ương là 257 tỷ đồng, chiếm 58% giá trị SXCN toàn tỉnh;công nghiệp quốc doanh địa phương là 128 tỷ đồng, chiếm 29% giá trị toàntỉnh; công nghiệp quốc doanh địa phương là 128 tỷ đồng, chiếm 29% giá trịtoàn tỉnh; công nghiệp ngoài quốc doanh là 56 tỷ, chiếm 13% giá trị toàn tỉnh
và chưa có sự đong góp của khu vực công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Cơ cấu công nghiệp trong GDP của tỉnh chỉ chiếm 29,3%
Số cơ sở và lao động công nghiệp năm 1990 có tổng cộng 2.529 cơ sởvới 43.621 lao động Trong đó, công nghiệp quốc doanh Trung ương là 40 cơ
sở với 12.598 lao động, chiếm 29% lao động công nghiệp; công nghiệp quốcdoanh địa phương là 65 cơ sở với 9.777 lao động, chiếm 22% lao động công
Trang 3nghiệp; công nghiệp ngoài quốc doanh là 2.424 cơ sở với 21.246 lao động,chiếm 49% lao động công nghiệp.
Cơ cấu theo thành phần thì công nghiệp Đồng Nai năm 1990 chủ yếu làthành phần công nghiệp quốc doanh Trung ương và địa phương chiếm 88%
về giá trị SXCN và 51% tổng số lao động công nghiệp toàn tỉnh Khu vựccông nghiệp ngoài quốc doanh chỉ chiếm 12% giá trị SXCN và 49% tổng laođộng công nghiệp Khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh chủ yếu là các cơ
sở sản xuất có sẵn tại KCN Biên Hoà 1 và khu vực ngoài quốc doanh phầnlớn là các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ, sử dụng nhiều lao động nhưng chiếm tỷtrọng nhỏ (12%) trong giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh
GIAI ĐOẠN 1991 - 1995.
Đây là giai đoạn đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế trongquá trình thực hiện chính sách đổi mới của Đảng Trong bối cảnh đó, ngànhcông nghiệp Đồng Nai đã có một bước phát triển nhanh cả về chiều rộng vàchiều sâu Với chủ trương về phát triển kinh tế nhiều thành phần, nhất là chủtrương về thu hút đầu tư nước ngoài đã tạo điều kiện cho các thành phần kinh
tế phát triển mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, đặc biệt là sự phát triểnmạnh của hai khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh và công nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài
Năm 1995, giá trị SXCN toàn tỉnh đạt 2.147 tỷ đồng (theo giá cố địnhnăm 1989), tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 1991 - 1995 là37,28%/năm Trong đó, công nghiệp quốc doanh Trung ương là 951 tỷ đồng,chiếm 44,3% giá trị toàn ngành và tăng bình quân hàng năm 30%/năm; côngnghiệp quốc doanh địa phương là 176 tỷ đồng, chiếm 8,2% giá trị toàn ngành
và tăng bình quân hàng năm 6,6%/năm; công nghiệp ngoài quỗc doanh là 171
tỷ đồng, chiếm 8% giá trị toàn ngành và tăng bình quân hàng năm 25%/năm;khu vực công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 849 tỷ, chiếm 39,54% giátrị toàn ngành Tốc độ tăng trưởng nhanh trong giai đoạn 1991 - 1995 đã gópphần quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đồng Nai theo
Trang 4GIAI ĐOẠN 1996 - 2004.
Trong giai đoạn này, ngành công nghiệp Đồng Nai bị ảnh hưởng lớnbởi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực Châu Á, nhất là trong khoảngthời gian từ năm 1998 - 2000 và sau đó tình hình đã khôi phục lại cho đếnnay Thu hút đầu tư nước ngoài trong giai đoạn này bị giảm sút mạnh, tìnhhình triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng tại một số KCN bị đình trệ, tình hìnhthị trường xuất khẩu bị thu hẹp đã ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất củanhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… Tuynhiên, tính chung trong cả giai đoạn này thì ngành công nghiệp Đồng Nai vẫnduy trì tăng trưởng khá cao (khoảng 20%/năm)
Năm 2004, giá trị SXCN toàn tỉnh đạt 34.129 tỷ đồng (theo giá cố địnhnăm 1994), tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 1996 - 2004 là19,98%/năm Trong đó công nghiệp quốc doanh Trung ương là 5.960 tỷ đồng,chiếm 17,5% giá trị SXCN toàn tỉnh và tăng bình quân 7,1%/năm; côngnghiệp quốc doanh địa phương là 2.123 tỷ đồng, chiếm 6,2% toàn tỉnh và tăng
Trang 5bình quân 27,3%/năm; KCN có vốn đầu tư nước ngoài là 21.086 tỷ, chiếm61,8% toàn tỉnh và tăng bình quân 25,1%/năm Tốc độ tăng trưởng khá caotrong giai đoạn 1996 - 2004 đã góp phần đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấukinh tế của Đồng Nai theo hướng công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ Trong
đó, tỷ trọng GDP công nghiệp đã tăng từ 37,8% năm 1995 tăng lên 57% năm2004
Số cơ sở công nghiệp tính đến năm 2004 có tổng cộng 8.936 cơ sở(tăng 2.396 cơ sở so với năm 1995) với 278.242 lao động (tăng 200.246 laođộng so với năm 1995) Trong đó, công nghiệp quốc doanh Trung ương là 36
cơ sở (giảm 6 cơ sở) với 13.812 lao động (giảm 1.966 lao động), chiếm 5%lao động công nghiệp; công nghiệp quốc doanh địa phương là 22 cơ sở (giảm
10 cơ sở) với 11.448 lao động (giảm 1.937 lao động), chiếm 4% lao độngcông nghiệp; công nghiệp ngoài quốc doanh là 8.568 cơ sở (tăng 2.130 cơ sở)với 70.948 lao động (tăng 45.142 lao động), chiếm 26% lao động côngnghiệp; khu vực đầu tư nước ngoài đã có 310 dự án đi vào sản xuất (tăngthêm 282 cơ sở mới đi vào hoạt động) và thu hút 182.034 lao động (tăng thêm159.007 lao động), chiếm 65% tổng lao động toàn ngành công nghiệp Nhưvậy, trong giai đoạn này, ngành công nghiệp Đồng Nai tiếp tục phát triểnmạnh số lượng cơ sở và thu hút nhiều lao động vào khu vực công nghiệpngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Tóm lại, trong 12 năm phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, sự tăng trưởngcủa ngành công nghiệp Đồng Nai đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấukinh tế của tỉnh từ nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ (GDP nông nghiệpchiếm trên 50%) thành tỉnh có cơ cấu công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp(công nghiệp ngày càng cao trong GDP của tỉnh GDP công nghiệp từ 29,3%năm 1990 tăng lên 37,8% năm 1995 và 57% năm 2004) Nguyên nhân cơ bảnđạt được những thành tựu trên là do chính sách đổi mới kịp thời, đúng đắncủa Đảng và Nhà nước đã khơi dậy mọi tiềm năng nội lực, đồng thời thu hútmạnh được ngoại lực bên ngoài để phát triển kinh tế Mặt khác, nhờ sự lãnh
Trang 6đạo và chỉ đạo điều hành nhạy bén, kịp thời của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh ĐồngNai, sự phối hợp thực hiện của các ngành, các cấp đã phát huy mạnh mẽnhững lợi thế của Đồng Nai, triển khai xây dựng các KCN nhằm thu hútnguồn vốn bên ngoài để phát triển kinh tế Tỉnh
2 QUÁ TRÌNH 12 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KCN ĐỒNG NAI.
KCN được hình thành đầu tiên tại Đồng Nai từ sau khi có Luật Đầu tưnước ngoài là KCN Biên Hoà 2, do Công ty Phát triển Công nghiệp Biên Hoà(Sonadezi) làm chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Trước năm 1994, khiChính phủ chưa có quy chế về KCN tập trung, KCN Biên Hoà 2 đã có 11 dự
án đầu tư trong nước và 30 dự án đầu tư nước ngoài hoạt động, sử dụng 78,9
ha đất; chiếm 30% diện tích cho thuê Nguồn vốn đầu tư hạ tầng KCN tronggiai đoạn này chủ yếu dựa vào vốn đóng góp của các nhà đầu tư vào KCN.Sau khi Chính phủ ban hành quy chế KCN theo Nghị định 192/CP ngày 28-12-1994 Công ty Sonadezi nhanh chóng triển khai xây dựng hoàn thiện hạtầng KCN Đến ngày 8-6-1995, KCN Biên Hoà 2 chính thức được thành lậptheo quyết định phê duyệt của Chính phủ Tổng diện tích KCN là 334 ha vớivốn đầu tư hạ tầng KCN là 18 triệu USD Đến nay, KCN đã lấp đầy 100%diện tích đất dành cho thuê Đồng thời, Công ty Sonadezi triển khai thêm 2KCN gồm KCN AMATA (1995) liên doanh với Công ty Amata Thái Lan,với tổng diện tích 700 ha Trong đó, giai đoạn 1 là 129 ha, vốn đầu tư 4 triệuUSD và KCN Gò Dầu (1995) diện tích 210 ha, vốn đầu tư 16,2 triệu USD
Năm 1996, Chính phủ phê duyệt thành lập KCN Loteco, diện tích 100
ha do Công ty Liên doanh phát triển KCN Long Bình làm chủ đầu tư, vốn đầu
tư phát triển hạ tầng 22,71 triệu USD
Năm 1997, Chính phủ tiếp tục phê duyệt 2 KCN gồm Nhơn Trạch 1,diện tích 430 ha, vốn đầu tư 9,75 triệu USD, do Công ty Phát triển đô thị vàKCN làm chủ đầu tư và KCN Nhơn Trạch 2 với diện tích 350 ha vốn đầu tư
Trang 75,75 ha, vốn đầu tư 2,5 triệu USD, do Công ty Phát triển KCN Sông Mây làmchủ đầu tư.
Năm 1999, Chính phủ phê duyệt thành lập KCN Nhơn Trạch 3, diệntích 368 ha, Công ty Tín Nghĩa làm chủ đầu tư, vốn đầu tư là 3,31 triệu USD
Năm 2000, Chính phủ phê duyệt nâng cấp cải tạo KCN Biên Hoà 1,diện tích 335 do Công ty Sonadezi làm chủ đầu tư, vốn đầu tư là 3,79 triệuUSD
Năm 2003, Chính phủ phê duyệt 5 KCN trên địa bàn Đồng Nai gồm:KCN Tam Phương, diện tích 323 ha, do Công ty Tín Nghĩa làm chủ đầu tư,vốn đầu tư là 7,09 triệu USD; KCN Long Thành, diện tích 510 ha, do Công tySonadezi làm chủ đầu tư, vốn đầu tư là 3,9 triệu USD; KCN Nhơn Trạch 5,diện tích 302 ha, do Công ty Phát triển đô thị và KCN làm chủ đầu tư, vốnđầu tư là 0,63 triệu USD; KCN An Phước, diện tích 130 ha, do Công ty MỹHiệp là chủ đầu tư (chưa triển khai xây dựng hạ tầng); KCN Dệt may NhơnTrạch, diện tích 121 ha, do Công ty Vinatext Tân Tạo làm chủ đầu tư (chưatriển khai xây dựng
Năm 2004, Chính phủ phê duyệt KCN Định Quán, do Công ty Pháttriển hạ tầng KCN miền núi thuộc Ban quản lý KCN làm chủ đầu tư, diện tích
54 ha
Tính đến tháng 12/2004, tỉnh Đồng Nai đã có 16 KCN đã được Thủtướng Chính phủ phê duyệt thành lập với tổng diện tích 4.805 ha; tổng diệntích đã cho thuê là 1.941 ha, chiếm 57,52% diện tích dành cho thuê (3.363ha) Đã có 3 KCN cho thuê 100% diện tích là KCN Biên Hoà 2, KCN BiênHoà 1, KCN Tam Phước Có 7 KCN đã cho thuê trên 50% diện tích là GòDầu (85%), Hố Nai (64%), Loteco (70%), Sông Mây (62%), Nhơn Trạch 1(77%), Nhơn Trạch 2 (53%), Định Quán (76%) Trừ KCN An Phước đanglàm thủ tục đền bù, các KCN còn lại đều đang xây dựng hạ tầng và thu hútđầu tư Các công ty kinh doanh hạ tầng các KCN tại Đồng Nai đã đầu tư trên
110 triệu USD để xây dựng hạ tầng Đã có 4 KCN đã xây dựng nhà máy xử lý
Trang 8Đến tháng 12/2004, kết quả tại 16 KCN đã thu hút 645 dự án đầu tưtrong và ngoài nước, vốn đăng ký 6,8 tỷ USD Trong đó có 450 doanh nghiệp100% vốn nước ngoài với vốn đăng ký 5.676 triệu USD, chiếm 83% tổng vốnđăng ký; 45 doanh nghiệp liên doanh với vốn đăng ký 724 triệu USD, chiếm11% Các dự án còn lại là doanh nghiệp trong nước Vốn thực hiện của các dự
án trong các khu công nghiệp chiếm khoảng 90% tổng vốn FDI thực hiện trênđịa bàn Tổng lao động đang làm việc trong 16 KCN là trên 190.000 người.Kim ngạch xuất khẩu hàng năm của các doanh nghiệp trong các KCN chiếm80% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh và đóng góp 35% nộp ngân sách trên địabàn Năm 2004, các doanh nghiệp trong các KCN đã thực hiện giá trị sản xuấtcông nghiệp là 17.330 tỷ đồng, chiếm khoảng 61% giá trị SXCN toàn ngànhcông nghiệp
Kết quả sau hơn 12 năm xây dựng và phát triển các KCN tại Đồng Nai
đã đạt được những thành tựu quan trọng, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triểnkinh tế của Đồng Nai Các khu công nghiệp Đồng Nai đã có vai trò quantrọng việc thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tiếpnhận công nghệ mới, giải quyết việc làm, thúc đẩy xuất khẩu, đóng góp vào
Trang 9ngân sách nhà nước Trên cơ sở đó, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhậpkinh tế quốc tế Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến thành công trong việcxây dựng và phát triển các KCN trong thời giai qua là:
+ Các chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước trong việcxây dựng và phát triển KCN đã được thể chế hoá, thể hiện qua việc ban hànhQuy chế KCN cùng với các luật: Doanh nghiệp, Khuyến khích đầu tư nướcngoài, Đầu tư nước ngoài, Đất đai cùng nhiều luật khác có liên quan… đã tạo
ra môi trường pháp lý rõ ràng và thông thoáng cho môi trường đầu tư kinhdoanh
+ Sự lãnh đạo và chỉ đạo điều hành nhạy bén, kịp thời của Tỉnh uỷ,UBND tỉnh Đồng Nai trong việc phát huy những tiềm năng lợi thế của ĐÅngNai và đã chọn KCN là trọng điểm phát triển kinh tế của địa phương Sựthành công của KCN Biên Hoà 2 do Công ty Sonadezi làm chủ đầu tư đã mở
ra mô hình mới và tạo ra những kinh nghiệm, tiền đề cơ bản cho việc quyhoạch phát triển các KCN khác tại Đồng Nai Từ đó, chủ trương xây dựng vàphát triển các KCN Đồng Nai được thực hiện một cách nhất quán, đồng bộ vàngày càng hoàn thiện
Bên cạnh những mặt đạt được, việc xây dựng và phát triển các KCNĐồng Nai cũng còn tồn tại một số vấn đề chính cần giải quyết trong giai đoạntới: Vấn đề phát triển hạ tầng và phát triển các dịch vụ ngoài hàng rào khucông nghiệp còn chậm và thiếu đồng bộ Việc cung cấp điện, cấp thoát nước,viễn thông, nhà ở công nhân, dịch vụ hải quan, tài chính, ngân hàng… chưađáp ứng kịp thời cho sự phát triển khá nhanh của các KCN Việc triển khaixây dựng hạ tầng một số KCN chưa đồng bộ, tiến độ triển khai chậm nênchưa đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư; hệ thống các dịch vụ phục vụ tạicác KCN phát triển chậm, nhiều KCN chưa xây dựng nhà máy xử lý chất thải.Vấn đề đền bù giải toả mặt bằng gặp rất nhiều trở ngại làm chậm tiến độ xâydựng các KCN do giá đất đai tăng đột biến và công tác tổ chức thực hiện chưa
Trang 10linh hoạt khẩn trương Chất lượng quy hoạch các KCN còn thấp và tổ chứcthực hiện quy hoạch chưa triệt để Vấn đề cung cấp nguồn nhân lực cho cácKCN còn thiếu đồng bộ về cơ cấu ngành nghề, trình độ chưa đáp ứng nhu cầucho các doanh nghiệp, nhất là thiếu nguồn nhân lực đáp ứng cho việc thu hútcác dự án công nghiệp cao Việc xây dựng và phát triển các KCN chưa thực
sự phối hợp đồng bộ giữa các địa phương để đảm bảo tính hiệu quả phát triểntổng thể theo vùng… Những vấn đề trên cần được tập trung giải quyết tronggiai đoạn tới, nhằm đẩy mạnh xây dựng và phát triển các KCN, đáp ứng nhucầu cho kinh tế Đồng Nai phát triển bền vững
3 XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP LÀ YẾU
TỐ ĐẢM BẢO CHO CÔNG NGHIỆP ĐỒNG NAI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.
Trong hơn 12 năm xây dựng và phát triển KCN tại Đồng Nai, nhữngthành tựu về xây dựng và phát triển các KCN đã tác động tích cực đến sự pháttriển của ngành công nghiệp Đồng Nai và nó là yếu tố đảm bảo cho kinh tếĐồng Nai phát triển nhanh và bền vững Điều đó thể hiện qua những tác độngsau:
- Các KCN tại Đồng Nai đã có vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp Đồng Nai và kinh tế Đồng Nai phát triển nhanh và bền vững.
Sự phát triển nhanh của công nghiệp Đồng Nai đầu những năm 90 cùngvới việc xây dựng các KCN đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tếĐồng Nai Trong giai đoạn 10 năm 1991 - 2000, kinh tế Đồng Nai liên tục giữđược tốc độ tăng trưởng cao, bình quân 12,9%/năm So với năm 1990, giá trịtổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2000 tăng 3 lần và GDP bình quân đầungười tăng 2,7 lần Giai đoạn 2001 - 2004, tốc độ tăng GDP cũng duy trì khácao: năm 2001 tăng 11,2%, năm 2002 tăng 12,2%, năm 2003 tăng 13,16%,năm 2004 tăng 13,56% Như vậy, trong suốt 14 năm qua, kể từ khi có chủtrương phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự định
Trang 11hướng của Nhà nước và nhất chí chủ trương xây dựng các KCN để thu hútđầu tư nước ngoài, kinh tế Đồng Nai luôn tăng trưởng cao và vững chắc.
Trong hơn 12 năm phát triển đã cho thấy, ngành công nghiệp Đồng Naingày càng có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của Đồng Nai Tronggiai đoạn 1985 - 1990, Đồng Nai vẫn là một tỉnh nông nghiệp, trong cơ cấuGDP tỷ trọng nông nghiệp chiếm ưu thế (năm 1985: 57,4% và năm 1990:50,1%) Đến giai đoạn 1991 - 1995, công nghiệp Đồng Nai bắt đầu tăng tốcphát triển, tỷ trọng GDP nông nghiệp giảm xuống còn 31,8% (năm 1995) và
tỷ trọng GDP công nghiệp tăng lên 38,7% (năm 1995) Đây là giai đoạn bắtđầu thu hút nhiều cac dự án đầu tư trong và ngoài nước vào Đồng Nai
Bắt đầu từ giai đoạn 1995 - 2000, đanh dấu bước phát triển mới củangành công nghiệp Đồng Nai Đây là giai đoạn bắt đầu hình thành và pháttriển hàng loạt các khu công nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu thu hút các nhàđầu tư để phát triển công nghiệp Sau hơn 10 năm phát triển theo đường lốiđổi mới, công nghiệp Đồng Nai đã đạt được bước phát triển đột phá Đến năm
2000, tỷ trọng GDP công nghiệp đã vượt quá 50% cơ cấu GDP của tỉnh, thaythế cho vị trí nông nghiệp trong giai đoạn 1985 - 1990 Tỷ trọng công nghiệptrong cơ cấu GDP năm 2000 là 52,2% và đến năm 2004 tăng lên 57% Có thểnói bắt đầu từ năm 2000, công nghiệp Đồng Nai đã trở thành ngành kinh tếmũi nhọn, tạo động lực quyết định thúc đẩy kinh tế Đồng Nai tăng trưởngnhanh, góp phần rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của ĐồngNai
Xây dựng và phát triển các KCN tập trung đã góp phần quan trọng đểthu hút vốn và công nghệ của các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là thu hút các
dự án công nghệ cao; tạo điều kiện cho nhà đầu tư sử dụng có hiệu quả cáccông trình hạ tầng kỹ thuật chung cho cả khu, sử dụng hiệu quả đất đai, xử lýhiệu quả chất thải công nghiệp nhằm bảo vệ môi trường Từ đó, giúp cho cácnhà đầu tư tiết kiệm vốn, chi phí đầu tư và giúp cho xã hội tiết kiệm nguồnlực Do đó, sẽ tạo điều kiện cho kinh tế phát triển có hiệu quả và bền vững
Trang 12Xây dựng và phát triển các KCN là biện pháp cần thiết nhằm tạo độnglực đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên địa bàn tỉnh ĐồngNai Một số khu công nghiệp ngay sau khi thành lập đã gặp khó khăn do cuộckhủng hoảng tài chính năm 1997 ở Châu Á, các khu công nghiệp đã phải tìmcách lấp đầy diện tích nên việc thu hút các dự án chưa phù hợp với mục tiêuquy hoạch ban đầu Tuy nhiên, việc hình thành các khu công nghiệp trên địabàn Đồng Nai đã bước đầu định hình quy hoạch phát triển một số ngành côngnghiệp và có tác động tích cực đến việc phân bố công nghiệp một cách hợp lýhơn Như vậy, việc quy hoạch các khu công nghiệp là một trong những biệnpháp chủ yếu để định hướng phát triển ngành công nghiệp phù hợp với quyhoạch kinh tế - xã hội trên địa bàn
Trong chủ trương chính sách phát triển kinh tế của địa phương, tỉnhĐồng Nai đã xem việc phát triển các khu công nghiệp là mũi nhọn để thựchiện tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nên luôn quan tâm chỉ đạo nhấtquán, đồng bộ và ngày càng hoàn thiện trong việc đề ra các giải pháp pháttriển các khu công nghiệp, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thực hiệnkiên quyết và kịp thời các chính sách về đất đai, thuế, hải quan, tích cực hỗtrợ doanh nghiệp với phương châm “Chính quyền đồng hành cùng doanhnghiệp” Chính vì vậy, khu công nghiệp ra đời cùng với việc thực hiện môhình quản lý “một cửa, tại chỗ” tại các khu công nghiệp đã đáp ứng kịp thờinhu cầu phát triển kinh tế nói chung và phát triển công nghiệp nói riêng tạiĐồng Nai
- Xây dựng và phát triển KCN ở Đồng Nai là giải pháp quan trọng nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, đồng thời là yếu tố quan trọng đảm bảo cho công nghiệp Đồng Nai phát triển bền vững.
Đầu tư phát triển công nghiệp, tất yếu vấn đề cần quan tâm là cac giảipháp giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ môi trường Xây dựng các KCN sẽ là yếu tốđảm bảo cho việc bảo vệ tốt môi trường trong sản xuất công nghiệp
Trang 13- Việc quy hoạch phát triển các KCN đều xem xét đến các giải phápbảo vệ môi trường Cụ thể, yêu cầu bảo vệ môi trường đối với các KCN nhưsau: Mỗi KCN đều phải có hệ thống xử lý nước thải tập trung Quy hoạch xâydựng các bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt tại các địa bàn có KCN Quyhoạch khu liên hợp xử lý chất thải công nghiệp tập trung tại xã Giang Điền,Trảng Bom gồm khu chôn chất thải công nghiệp, chất thải công nghiệp hoáchất nguy hại…
- Việc thu hút các dự án đầu tư vào KCN phải phù hợp với ngành nghềđăng ký trong báo cáo tác động môi trường của KCN được phê duyệt và thựchiện thủ tục đánh giá tác động môi trường theo các quy định hiện hành Cáccông ty hạ tầng KCN chỉ được chính thức đi vào hoạt động khi có đủ các điềukiện đảm bảo môi trường Các doanh nghiệp KCN chỉ được phép hoạt độngkhi các hạng mục công trình xử lý ô nhiễm môi trường được xây dựng và vậnhành đạt yêu cầu
Nhìn chung, những yêu cầu bảo vệ môi trường đặt ra đối với việc pháttriển các KCN nhằm đảm bảo phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát cóhiệu quả ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất công nghiệp tạo ra
- Xây dựng và phát triển các KCN góp phần tác động công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp và giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.
Với hơn 10.000 ha đất nông nghiệp quy hoạch phát triển các KCN đãtạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp nhanh
và rõ nét Trong 16 KCN hiện nay, đã giải quyết việc cho trên 190.000 laođộng với thu nhập ổn định, khá hơn so với sản xuất nông nghiệp và góp phầnchuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và đô thị hoátrên địa bàn
Trang 14dự kiến mở đường, các huyện, thị xã mới thành lập và các nơi có kế hoạchxây dựng các công trình trọng điểm Ngoài ra, Đồng Nai còn quy hoạch nhiềucụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp quy mô nhỏ để đa dạng hoá địa bànthu hút đầu tư, hạn chế việc đầu tư sản xuất công nghiệp nằm phân tán tại cáckhu dân cư và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trongnước đầu tư.
Dự kiến quy hoạch xây dựng và phát triển các KCN đến năm 2010 là
32 KCN với diện tích khoảng 11.000 ha, thu hút khoảng 400.000 lao động.Khai thác hiệu quả các KCN hiện có và xây dựng mới một số KCN nhằmphân bố công nghiệp hợp lý hơn và đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệpphục vụ nông nghiệp, nông thôn Phát triển KCN tại những vùng đất xấukhông có khả năng phát triển nông nghiệp, đồng thời đi đôi với bảo vệ môitrường để đảm bảo thực hiện chiến lược phát triển kinh tế bền vững trên địabàn Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của xây dựng và phát triển các KCN trênđịa bàn tỉnh trong giai đoạn tới như sau:
- Nâng cao hiệu quả quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch pháttriển các KCN: Quy hoạch các KCN phải phù hợp với nhu cầu phát triển, cácđiều kiện và khả năng thực tế của các địa phương; kết hợp chặt chẽ việc phát
Trang 15triển các KCN với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quá trình đô thị hoá,phát triển nông nghiệp nông thôn; phát triển đồng bộ hạ tầng kỹ thuật trong vàngoài hàng rào KCN và đảm bảo tính kết nối có hiệu quả hạ tầng kỹ thuậtgiữa các KCN trên địa bàn; đồng thời quy hoạch phát triển các khu - cụmcông nghiệp vừa và nhỏ phục vụ công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn.
- Xây dựng và phát triển các KCN nhằm thu hút mạnh nguồn vốn trong
và ngoài nước để phát triển công nghiệp, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư nướcngoài, đồng thời có các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp trong nướcđầu tư vào các KCN Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ tiêntiến trong các dự án đầu tư để nâng cao trình độ công nghệ trong ngành côngnghiệp, góp phần đẩy nhanh quá trình thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá,hiện đại hoá trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
- Đa dạng hoá mô hình khu công nghiệp hướng tới nhu cầu của các nhàđầu tư Để đáp ứng nhu cầu thu hút vốn đầu tư nhằm thúc đẩy tăng trưởngcông nghiệp và phát triển kinh tế bề vững, việc xây dựng và phát triển cáckhu công nghiệp trong thời gian tới sẽ nghiên cứu vận dụng một số mô hìnhkhu công nghiệp: khu công nghiệp chuyên ngành; khu liên hợp công nghiệp -dân cư - thương mại - dịch vụ; Khu công nghiệp sinh thái; khu công nghiệpcao…
- Gắn mục tiêu phát triển các khu công nghiệp với định hướng quyhoạch phát triển ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh và phạm vi cả nước,nhằm phát huy lợi thế của từng vùng và địa phương Các khu công nghiệpĐồng Nai sẽ hướng tới mục tiêu nâng cao trình độ công nghiệp trên địa bàntỉnh và phạm vi cả nước, nhằm phát huy lợi thế của từng vùng và địa phương.Các khu công nghiệp Đồng Nai sẽ hướng tới mục tiêu nâng cao trình độ côngnghệ các dự án đầu tư, phân bố lại một cách hợp lý đối với các dự án sử dụngnhiều lao động, nhằm thực hiện cân đối nguồn lao động và các điều kiện đảmbảo khác cho việc phát triển các KCN
Trang 16- Xây dựng và phát triển các khu công nghiệp để đẩy mạnh tăng trưởng
và phát triển kinh tế bền vững, đảm bảo hài hoà phát triển công nghiệp và bảo
vệ môi trường, tuân thủ đúng các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường trong sản xuấtcông nghiệp
- Để xây dựng và phát triển các KCN thành công và mang lại hiệu quảcho nền kinh tế thì yếu tố môi trường đầu tư có vai trò rất quan trọng Do đó,tiếp tục đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư trong tỉnh và môi trường đầu tưchung của nước ta trên các mặt: hạ tầng kỹ thuật, chính sách thu hút đầu tư,thủ tục hành chính, phát triển nguồn nhân lực… nhằm nâng cao sức cạnhtranh để thu hút các nguồn vốn phục vụ cho phát triển kinh tế
Tóm lại, trong giai đoạn 1991 - 2004, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng
và Nhà nước ta, ngành công nghiệp Đồng Nai đã đạt được một bước phát triển vượtbậc, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đồng Nai theo hướng công nghiệp chiếm
tỷ trọng ngày càng cao Cơ cấu GDP công nghiệp đã chuyển dịch nhanh từ 29%năm 1990 tăng lên 57% năm 2004 trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Sự phát triểnnhanh của ngành công nghiệp gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển các khucông nghiệp Đồng Nai trong hơn 12 năm qua Việc xây dựng và phát triển của cácKCN Đồng Nai trong thời gian qua đã đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển củangành công nghiệp, đồng thời góp phần quan trọng trong việc thu hút các nguồnvốn để phát triển kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi tiếp nhận công nghệ, giải quyếtviệc làm và thúc đẩy xuất khẩu trên địa bàn Những thành tựu trong phát triển côngnghiệp cùng với việc xây dựng các KCN và thu hút vốn đầu tư FDI trong thời gianqua đã tạo ra nền tảng quan trọng để ngành công nghiệp tiếp tục phát triển mạnhhơn nữa trong những năm tiếp theo Trong những năm tới, ngành công nghiệpĐồng Nai sẽ phát triển mạnh theo chiều sâu và bền vững Do đó, việc phát triển cácKCN trong thời gian tới sẽ hướng vào thu hút các ngành công nghệ cao và cácngành “công nghiệp sạch” nhằm thúc đẩy công nghiệp Đồng Nai phát triển nhanh,bền vững và góp phần đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở ĐồngNai
Trang 17THỰC TRẠNG CÔNG NGHỆ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI
Trong môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng, các quốc gia trênthế giới coi công nghệ là một biến số chiến lược quyết định sự phát triển kinh
tế - xã hội của mỗi quốc gia Công nghệ cho phép ta tạo ra môi trường sốngnhân tạo đầy đủ và tiện nghi hơn, quan hệ giữa công nghệ và quá trình biếnđổi xã hội đã tăng thêm sức mạnh cho nhau
Vai trò quan trọng của công nghệ trong phát triển đã được thừa nhậnmột cách rộng rãi Việc nhìn nhận công nghệ như một yếu tố cấu thành trongcác nỗ lực phát triển đòi hỏi trả lời câu hỏi hiện trạng năng lực công nghệ nhưthế nào Khi trả lời câu hỏi này có nghĩa là chúng ta đã đưa ra những nhu cầucông nghệ cấp bách hay những lĩnh vực công nghệ cần chuyên môn hoá cũngnhư tạo nền tảng để tiếp tục phân tích, đề xuất phương hướng tiếp tục đầu tư,phát triển công nghệ
Nhận thức được ý nghĩa trên, việc thực hiện đánh giá năng lực côngnghệ được Chinh phủ quan tâm từ những năm đầu của thời kỳ mở cửa ĐồngNai là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là tỉnh dẫn đầu cảnước trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài, vấn đề công nghệ, đánh giá hiệntrạng công nghệ đã được Tỉnh uỷ, UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo với mục tiêuphục vụ cho việc đổi mới công nghệ và thu hút đầu tư nước ngoài và các lĩnhvực có trình độ công nghệ cao Do đo, năm 1997, Đồng Nai cũng đã có dự án
“Điều tra khảo sát trình độ công nghệ một số ngành sản xuất công nghiệp tỉnhĐồng Nai” Tuy nhiên, phạm vi dự án điều tra chỉ có 20 doanh nghiệp, cònhẹp, nên kết quả dự án chưa có tác dụng giúp tỉnh hoạch định chiến lược pháttriển công nghệ Đồng thời còn lúng túng về phương pháp luận nên chưa thểduy trì việc đánh giá hiện trạng công nghệ hàng năm
Để đáp ứng được yêu cầu chỉ đạo của Tỉnh uỷ và UBND tỉnh, được sự
hỗ trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ, Sở Khoa học và Công nghệ triển khai
đề tài “Điều tra đánh giá hiện trạng và xây dựng cơ sở dữ liệu về năng lực
Trang 183 Tạo nền tảng để tiến tới tiếp tục phân tích, đề xuất phương hướng tiếp tục đầu tư, phát triển công nghệ tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn
2005 - 2010.
4 Từng bước hoàn thiện việc xây dựng phương pháp tổng quát và hiệu quả để Bộ Khoa học và Công nghệ có thể ứng dụng vào công tác quản lý, phân tích đánh giá hiện trạng và xây dựng năng lực công nghệ của các tỉnh, thành toàn quốc.
Hiện trạng trình độ công nghệ của từng doanh nghiệp và của các nhómngành được xác định và so sánh đánh giá thông qua các hệ số thành phầnTechnoware (T), Humanware (H), Infoware (I), Orgaware (O) và hệ số đónggóp của công nghệ (TCC) Qua việc khảo sát 543 doanh nghiệp trên địa bàntỉnh Đồng Nai đã cho chúng ta cái nhìn tổng quan nhất về hiện trạng côngnghệ tỉnh Đồng Nai
Chỉ số công nghệ TCC, T, H, I, O toàn tỉnh
Trang 19Trên cơ sở giá trị T, H, I, O và TCC của từng doanh nghiệp, kết hợpvới tỉ trọng doanh thu của từng doanh nghiệp, chúng ta có thể tính toán cácchỉ số trên cho từng nhóm ngành, từng loại hình doanh nghiệp hoặc theo từngkhu công nghiệp Kết quả phân tích theo nhóm ngành được thể hiện ở bảngsau:
Phân tích công nghệ theo nhóm ngành
Trang 20là 0,3123.
Hệ số đóng góp công nghệ (TCC) của ngành chế biến thực phẩm trênmức trung bình tỉnh (0,5967) Trong đó trên 50% doanh nghiệp khảo sát cóchỉ số TCC dưới trung bình tỉnh Doanh nghiệp cao nhất là 0,6862 và doanhnghiệp thấp nhất là 0,2749
Hệ số đóng góp công nghệ (TCC) của ngành cơ khí trên mức trungbình tỉnh (0,5855) Trong đó trên 50% doanh nghiệp khảo sát có chỉ số TCCtrên trung bình Doanh nghiệp cao nhất là 0,6731 và doanh nghiệp thấp nhất
là 0,2690
Hệ số đóng góp công nghệ (TCC) của ngành điện tử trên mức trungbình, nhưng lại thấp hơn trung bình tỉnh (0,5556) Trong đó, 64,71% doanhnghiệp khảo sát có chỉ số TCC trên trung bình, nhưng chỉ có 12% doanhnghiệp có chỉ số TCC cao hơn trung bình tỉnh Doanh nghiệp cao nhất là0,6672 và doanh nghiệp thấp nhất là 0,3670
Hệ số đóng góp công nghệ (TCC) của ngành xây dựng thấp nhất Trong
đó 13 doanh nghiệp khảo sát, chỉ có 3 doanh nghiệp có chỉ số trên mức trungbình là Công ty Cổ phần xây dựng Sonadezi, Công ty Sika HH Việt Nam vàCông ty Công trình Giao thông Vận tải Đồng Nai
Trang 211 THÀNH PHẦN KỸ THUẬT (T)
Xét riêng thành phần kỹ thuật (T), giá trị này là 0,7366, cao nhất trong
4 chỉ số Giá trị của chỉ số này được đánh giá dựa trên các yếu tố như: tínhđồng bộ (GT1), nước sản xuất (GT2), thời kỳ sản xuất (GT3), mức độ tinhxảo (GT4), tình trạng hiện tại (GT5), thời gian còn có thể sử dụng (GT6), ônhiễm, an toàn lao động (GT7) và xử lý môi trường (GT8)
Phân tích thành phần kỹ thuật theo nhóm ngành, ta có biểu đồ sau:
- Thành phần công nghệ (T) của ngành hoá chất rất cao (> 0,8) Hệthống máy móc, thiết bị của ngành hoá chất được đầu tư tốt, tính đồng bộ khácao do các nước tiên tiến trong ngành hoá chất sản xuất Phần lớn máy móc,thiết bị đều được đầu tư mới, hiện đại, có mức độ tinh xảo cao Vì đặc thùngành hoá chất là ngành nguy hiểm với mức độ ô nhiễm môi trường cao, nêncác doanh nghiệp rất quan tâm đến vấn đề ô nhiễm môi trường, an toàn chongười lao động và đã có những đầu tư thích đáng cho vấn đề này về mặt côngnghệ
Trang 22- Ngành điện, nước có thành phần kỹ thuật thấp nhất Máy móc thiết bịtrong các doanh nghiệp này phần lớn là từ những năm 60 và một số năm1970-1980 Tương tự, thời gian còn có thể sử dụng và tình trạng hiện tại củamáy móc, thiết bị cũng chênh lệch với chỉ số trung bình toàn ngành rất lớn
- Ngành xây dựng có máy móc, thiết bị chủ yếu xuất xứ trong nước,mức độ tinh xảo, tính đồng bộ rất thấp
- Ngành sản xuất đồ gỗ phần lớn các thiết bị có xuất xứ từ Đông Âu,Đài Loan, Trung Quốc… và cấp tinh xảo của thiết bị chỉ ở trình độ cơ khíhoá, tính đồng bộ chỉ đạt cấp trung bình
- Ngành chế biến gỗ, giấy, in, xuất bản có dây chuyền công nghệ rất cũ,lạc hậu và có tính đồng bộ thấp
- Ngành khai thác mỏ thình tính đồng bộ của máy móc, thiết bị ở cácdoanh nghiệp phần lớn chỉ đạt ở mức độ trung bình Máy móc, thiết bị thườngđược nhập từ nhiều nguồn khác nhau và theo thời gian khác nhau Các máymóc thiết bị của các doanh nghiệp thường có xuất xứ từ Liên Xô trước đâyhoặc các nước Đông Âu, Trung Quốc và do Việt Nam sản xuất Mức độ tinhxảo của máy móc, thiết bị phần lớn chỉ đạt trình độ “cơ khí hoá” và một sốthiết bị chuyên dụng Chưa có doanh nghiệp nào có mức độ tinh xảo đạt trình
độ tự động hoá Tình trạng hiện tại của máy móc, thiết bị đã cũ và lạc hậu
2 THÀNH PHẦN CON NGƯỜI (H).
Thành phần con người (H) là hệ số thấp nhất (0,3662) trong 4 thànhphần T, H, I, O Hệ số này phụ thuộc trình độ học vấn (GH1), kinh nghiệmlàm việc (GH2), công tác đào tạo (GH3), chuyên gia nước ngoài (GH4), nănglực làm việc (GH5), nghiên cứu triển khai (GH6) và trách nhiệm xã hội(GH7)
Các chỉ số công nghệ GHi
Trang 23Số lượng các doanh nghiệp đầu tư vào tỉnh Đồng Nai là khá lớn, do cácđiều kiện về cơ sở hạ tầng cũng như về chính sách khuyến khích là rất tốt.Tuy nhiên, nguồn nhân lực của tỉnh lại có hạn Các doanh nghiệp đầu tư sớmthì có thể tìm kiếm được lao động phù hợp, những doanh nghiệp vào sau đều
có tình trạng thiếuld trầm trọng Cán bộ lãnh đạo (Trường phòng, Quảnđốc…) trong rất nhiều doanh nghiệp chỉ có trình độ “trung cấp” Mặc dù trình
độ học vấn, kinh nghiệm của lao động không cao, thế nhưng các doanhnghiệp trong tỉnh vẫn không chú trọng tới đào tạo và đào tạo lại trong doanhnghiệp Doanh nghiệp chỉ tiến hành đào tạo trong nội bộ khi tuyển mới chứ ítkhi quan tâm tới công tác đào tạo lại cán bộ trong doanh nghiệp và thiếu quantâm đến trách nhiệm xã hội
Khảo sát 543 doanh nghiệp với 157.993 lao động thì trong số đó chỉ6,34% có trình độ đại học và sau đại học, số lao động ở trình độ sơ cấp và phổthông trung học lại chiếm đến 81,73% Đây có thể coi là một trở ngại màĐồng Nai phải tìm cách khắc phục để thu hút hơn nữa các dự án đầu tư cóhàm lượng công nghệ cao
Trình độ học vấn toàn tỉnh
Trên ĐH (%)
Đại học (%)
Cao đẳng, trung cấp (%)
PTTH (%)
Sơ cấp (%)
Trình độ học vấn theo nhóm ngành
Trang 24Khả năng vận hành máy móc thiết bị toàn tỉnh
Thấp (%)
Trung bình (%)
Khá (%)
Cao (%)
Rất cao (%) Toàn tỉnh 1,60 14,57 50,90 29,54 3,39
Xét ở góc độ hiệu lực công tác quản lý, kết quả khảo sát cho thấy, nếunhư các yếu tố: tinh thần làm việc, tăng năng suất, sự phối hợp trong sản xuất
và phấn đấu nâng cao trình độ kỹ năng của nhân viên là khá tốt thì tỉ lệ nhân
Trang 25viên bỏ việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn Đồng Nai cũng khá cao.Nguyên nhân là do thiếu nguồn lao động được đào tạo sẵn có nên dẫn đếntình trạng doanh nghiệp đầu tư sau thu hút lao động ở doanh nghiệp đầu tưtrước.
Hiệu lực quản lý
Thấp (%)
Trung bình (%)
Khá (%)
Cao (%)
Rất cao (%)
Tăng tinh thần nhiệt tình làm việc 0,40 15,90 48,51 30,22 4,97
8 26,75 30,74 24,15 6,19Mức độ tuân thủ của nhân viên 0,60 6,57 41,63 43,82 7,37Nâng cao trình độ kỹ năng của nhân
có trình độ từ phổ thông trung học trở xuống chiếm đến trên 90%
- Chất lượng lao động trong ngành dệt may của tỉnh Đồng Nai rất thấp.Trình độ học vấn rất thấp, chủ yếu là có trình độ học vấn dưới phổ thôngtrung học Nhiều công ty truyển dụng lao động chỉ yêu cầu học hết tiểu học,nhưng vẫn không thể tuyển đủ số lượng cần thiết Điều này có thiể giải thích
vì sao chất lượng nguồn nhân lực trong ngành dệt may nói riêng và của toàntỉnh nói chung chưa cao Công tác đào tạo rất yếu, thậm chí chỉ số về đào tạocòn thấp hơn trung bình tỉnh, mặc dù chỉ số về đào tạo của tỉnh là rất thấp,dưới mức trung bình Năng lực làm việc của đội ngũ lãnh đạo trong ngành dệt
Trang 26- Ngành khai thác mỏ thấp nhất Trình độ học vấn cũng như kinhnghiệm làm việc của lao động trong nhóm ngành này đều thấp hơn trung bìnhtoàn tỉnh Lao động PTTH và sơ cấp chiếm tỷ trọng lớn, thường làm nhữngcông việc nặng nhọc, không có chuyên gia nước ngoài làm việc trong ngànhkhai thác mỏ.
3 THÀNH PHẦN THÔNG TIN (I).
Thành phần thông tin (I) phụ thuộc các yếu tố như cơ sở vật chất thôngtin (GH1), sử dụng máy tính (GH2), nguồn gốc thông tin (GH3), sử dụngthông tin (GH4), lưu trữ, tìm kiếm, trao đổi cập nhật (Gh5) Qua khảo sát chothấy, cơ sở vật chất thông tin cao nhất và thấp nhất là nguồn gốc thông tin
Các chỉ số công nghệ GHi
Tính chung cho các doanh nghiệp khảo sát có 99,66% doanh nghiệp cómáy tính Trong đó, 57,47% doanh nghiệp có trên 5 máy tính, 41,60% doanhnghiệp có trên 10 máy tính và 39,48% doanh nghiệp đã mạng máy tính nội bộ
và có kết nối Internet Ba nhóm ngành: điện nước, hoá chất và điện tử có tỉ lệ
Trang 27rất cao, tương ứng là 80,00%, 78,26% và 70,97% Ngành khai thác mỏ khôngnhững hệ số trang bị máy tính thấp, mà các nhà máy còn hoạt động đơn lẻ,chưa kết nối mạng.
Các chỉ số về thành phần thông tin (I) của các doanh nghiệp khảo sát vàcác nhóm ngành cũng khá cao Trong số đó, ngành điện tử đạt mức cao nhất(0,8211) Các doanh nghiệp trong ngành điện tử đầu tư rất lớn cho hạ tầngthông tin vì đã thấy được tầm quan trọng của thông tin Thể hiện qua chỉ sốGH1 đặc biệt cao (GH1 > 0,95) Do đặc thù ngành điện từ là ngành có hàmlượng chất xám rất cao trên nền tảng công nghệ cao Vì vây, hạ tầng thông tincủa ngành rất tốt Việc sử dụng hệ thống thông tin trong hoạt động sản xuấtkinh doanh cũng rất có hiệu quả Đặc biệt, có những doanh nghiệp thành phầnthông tin đạt đến 0,8856 như của Công ty TNHH Mitsuba M-Tech VN hoặc0,8640 như của Công ty sản phẩm máy tính FUJITSU Việt Nam
Thành phần thôn tin I theo nhóm ngành
Ngành khai thác mỏ có giá trị thấp hơn chỉ số trung bình trong toàn tỉnh
và thấp nhất Các doanh nghiệp trong nhóm ngành này đều được trang bị máytính phục vụ cho công tác văn phòng, các cán bộ quản lý Tuy nhiên, máy tính
Trang 28ở đây chỉ dùng trong công tác soạn thảo văn bản, tính toán đơn giản Rất ítdoanh nghiệp sử dụng các phần mềm máy tính chuyên dụng để phục vụ chocông tác quản lý, sản xuất kinh doanh Đặc biệt, các doanh nghiệp hầu nhưchưa có cách quản lý một cách hệ thống thông tin trong doanh nghiệp Cácthông tin được lưu trữ, cập nhật chưa có hệ thống và việc tìm kiếm thông tincần thiết rất khó khăn
4 THÀNH PHẦN TỔ CHỨC (O).
Thành phần tổ chức (O) chỉ đạt mức trung bình (0,5823) Chiến lược,mục đích tôn chỉ của doanh nghiệp (GO1); khen thưởng (GO2); công táckiểm tra, đánh giá kết quả (GO3); tuyển dụng (GO4); phương pháp quản lý(GO5); hiệu lực của công tác quản lý (GO6) và chứng chỉ chất lượng (GO7)
là những yếu tố tác động đến thành phần O
Tất cả các doanh nghiệp khảo sát đều quan tâm hoạch định các chiếnlược phát triển Tuy nhiên, mức độ quan tâm đến chiến lược phát triển nguồnnhân lực và chiến lược Marketing còn ở mức thấp
Trong số 543 doanh nghiệp khảo sát thì có đến 33,2% doanh nghiệp cóchứng chỉ đảm bảo chất lượng theo các hệ tiêu chuẩn khác nhau Đây là tỉ lệtương đối cao Với những doanh nghiệp có chứng chỉ chứng tỏ quá trình hànhđộng sản xuất kinh doanh đã được chuẩn hoá thành các quy trình cụ thể