MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 2. Đối tượng, mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3. Phương pháp nghiên cứu 4. Kết cấu của đề tài NỘI DUNG CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BẢO HIỂM, BẢO HIỂM HÀNG HẢI 1. Tổng quan các công trình trong nước 2. Tổng quan các công trình nước ngoài CHƯƠNG 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM, BẢO HIỂM HÀNG HẢI 2.1. Một số khái niệm, đặc điểm, phân loại 2.2. Các nguyên tắc của bảo hiểm, bảo hiểm hàng hải 2.3. Vai trò của bảo hiểm hàng hải CHƯƠNG 3. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ BẢO HIỂM HÀNG HẢI 3.1. Tập quán quốc tế Incoterms 2020 3.2. Điều ước quốc tế 3.3. Pháp luật một số quốc gia phát triển về bảo hiểm hàng hải CHƯƠNG 4. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HIỂM HÀNG HẢI THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 4.1 Quy định pháp luật Việt Nam về bảo hiểm 4.2 Thực trạng thực thi pháp luật KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Vận tải đường biển đóng một vai trò chủ đạo trong kinh tế thế giới, đứng đầu trong hệ thống vận chuyển quốc tế. Theo số liệu của Liên Hợp quốc, vận tải đường biển đảm nhận hơn 90% lượng hàng hóa lưu thông toàn cầu. Các tàu chở dầu chuyên chở khoảng 60% lượng dầu thô thế giới, loại năng lượng chính hiện nay của con người. Trong thế kỷ 21, vận tải đường biển vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng và quyết định trong nền kinh tế toàn cầu. Vận tải đường biển luôn tiềm ẩn những rủi ro có thể dẫn đến tổn thất và thiệt hại. Các trường hợp bất khả kháng hay các hành vi sai sót của các nhân viên hàng hải có thể gây ra những tổn thất rất lớn.Bảo đảm an toàn hàng hải và giảm thiểu tai nạn trên tàu là một vấn đề phức tạp, bao gồm nhiều khía cạnh như kỹ thuật, tổ chức, nhân sự, kinh tế, pháp lý,... Trong đó, bảo hiểm hàng hải được xem là một biện pháp bảo đảm an toàn hiệu quả trong vận tải biển, vừa là một công cụ pháp lý vừa là một khái niệm kinh tế. Vận tải biển mang tính quốc tế, vì vậy bảo hiểm hàng hải cũng vượt ra ngoài lãnh thổ một quốc gia và nắm những nguồn tài chính khổng lồ tập trung ở những trung tâm tài chính quốc tế. Theo nghĩa rộng, bảo hiểm hàng hải được xem là biện pháp bảo đảm nghĩa vụ theo hợp đồng ký kết giữa các chủ thể tham gia vận tải biển. Quan điểm này xuất phát từ chỗ cho rằng vận tải biển luôn đi cùng với những rủi ro có thể gây ra những thiệt hại vật chất lớn, thiệt hại về tính mạng và những thảm họa môi trường khó khắc phục cũng như những hậu quả khác và bảo hiểm hàng hải là nguồn bồi thường những thiệt hại gây ra cũng như giảm thiểu hay ngăn ngừa những tổn thất có thể lường trước.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC LUẬT
BÀI TẬP NHÓM
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BẢO HIỂM HÀNG HẢI
Môn học: Luật hàng hải quốc tế
Giảng viên hướng dẫn: TS Mai Hải Đăng
Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm
2023
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Đối tượng, mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3 Phương pháp nghiên cứu
4 Kết cấu của đề tài
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BẢO HIỂM, BẢO HIỂM HÀNG HẢI
1 Tổng quan các công trình trong nước
2 Tổng quan các công trình nước ngoài
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM, BẢO HIỂM HÀNG HẢI
2.1 Một số khái niệm, đặc điểm, phân loại
2.2 Các nguyên tắc của bảo hiểm, bảo hiểm hàng hải
2.3 Vai trò của bảo hiểm hàng hải
CHƯƠNG 3 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ BẢO HIỂM HÀNG HẢI
3.1 Tập quán quốc tế - Incoterms 2020
3.2 Điều ước quốc tế
3.3 Pháp luật một số quốc gia phát triển về bảo hiểm hàng hải
CHƯƠNG 4 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HIỂM HÀNG HẢI THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
4.1 Quy định pháp luật Việt Nam về bảo hiểm
4.2 Thực trạng thực thi pháp luật
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vận tải đường biển đóng một vai trò chủ đạo trong kinh tế thế giới, đứng đầu trong hệ thốngvận chuyển quốc tế Theo số liệu của Liên Hợp quốc, vận tải đường biển đảm nhận hơn 90%lượng hàng hóa lưu thông toàn cầu Các tàu chở dầu chuyên chở khoảng 60% lượng dầu thô thếgiới, loại năng lượng chính hiện nay của con người Trong thế kỷ 21, vận tải đường biển vẫn tiếptục giữ vai trò quan trọng và quyết định trong nền kinh tế toàn cầu
Vận tải đường biển luôn tiềm ẩn những rủi ro có thể dẫn đến tổn thất và thiệt hại Các trườnghợp bất khả kháng hay các hành vi sai sót của các nhân viên hàng hải có thể gây ra những tổnthất rất lớn.Bảo đảm an toàn hàng hải và giảm thiểu tai nạn trên tàu là một vấn đề phức tạp, baogồm nhiều khía cạnh như kỹ thuật, tổ chức, nhân sự, kinh tế, pháp lý, Trong đó, bảo hiểm hànghải được xem là một biện pháp bảo đảm an toàn hiệu quả trong vận tải biển, vừa là một công cụpháp lý vừa là một khái niệm kinh tế
Vận tải biển mang tính quốc tế, vì vậy bảo hiểm hàng hải cũng vượt ra ngoài lãnh thổ một quốcgia và nắm những nguồn tài chính khổng lồ tập trung ở những trung tâm tài chính quốc tế Theonghĩa rộng, bảo hiểm hàng hải được xem là biện pháp bảo đảm nghĩa vụ theo hợp đồng ký kếtgiữa các chủ thể tham gia vận tải biển Quan điểm này xuất phát từ chỗ cho rằng vận tải biểnluôn đi cùng với những rủi ro có thể gây ra những thiệt hại vật chất lớn, thiệt hại về tính mạng vànhững thảm họa môi trường khó khắc phục cũng như những hậu quả khác và bảo hiểm hàng hải
là nguồn bồi thường những thiệt hại gây ra cũng như giảm thiểu hay ngăn ngừa những tổn thất cóthể lường trước
Bảo hiểm hàng hải ở Việt Nam còn đang trên con đường hình thành và phát triển, lại đangđứng trước những thách thức to lớn của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia toàn cầuhóa Trước tình hình đó, việc nghiên cứu đề tài bảo hiểm hàng hải ở Việt Nam là hết sức cầnthiết Việc nghiên cứu sâu về bảo hiểm hàng hải trong thương mại hàng hải là một việc làm quantrọng và cấp bách, bởi có liên quan chặt chẽ đến thực tiễn hoạt động thuyền trưởng, thuyền viên
và chủ tàu Hiểu rõ bảo hiểm hàng hải sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong vận chuyển hàng hóa vàngăn ngừa những thiệt hại có thể xảy ra, góp phần tích cực trong việc phát triển kinh tế biển và
thương mại hàng hóa Từ những lý do trên, nhóm nghiên cứu lựa chọn đề tài “Một số vấn đề về
bảo hiểm hàng hải” làm đề tài nghiên cứu của nhóm.
Trang 42 Đối tượng, mục đích nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng
Nhóm nghiên cứu tập trung tìm hiểu, nghiên cứu và phân tích các vấn đề lý luận về bảo hiểm,bảo hiểm hàng hóa; các vấn đề pháp lý về bảo hiểm hàng hóa theo quy định của các công ướcquốc tế về vận tải biển, một số quốc gia phát triển trên thế giới cũng như pháp luật Việt Namhiện hành Từ đó, đánh giá tìm ra những điểm còn bất cập, hạn chế của pháp luật Việt Nam vềbảo hiểm hàng hải và học hỏi kinh nghiệm quốc tế đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện
Mục đích
Bài nghiên cứu có mục đích làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn của bảo hiểm hàng hải, cụthể như sau:
– Làm rõ lý luận và pháp luật về bảo hiểm hàng hải
– Nhận diện thực trạng khung pháp lý hiện hành về bảo hiểm hàng hải ở trong nước vàquốc tế
– Đề xuất giải pháp góp phần làm đổi mới và hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm hàng hải ởViệt Nam
Phạm vi nghiên cứu
● Về nội dung:
Bảo hiểm hàng hải là một lĩnh vực tương đối rộng và phức tạp, chứa đựng nhiều nội dung khácnhau, không chỉ đối với pháp luật Việt Nam mà ngay cả đối với các nước trong khu vực và trênthế giới Do đó trong phạm vi luận văn tác giả tập trung nghiên cứu 05 nội dung: (1) Khái niệm,đặc điểm bảo hiểm, bảo hiểm hàng hải; (2) Phân loại bảo hiểm hàng hải; (3) Rủi ro của bảo hiểmhàng hải; (4) Tổn thất của bảo hiểm hàng hải; (5) Các nguyên tắc của bảo hiểm, bảo hiểm hànghải
● Về thời gian:
Khi đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hiểm hàng hải Luận văn lấy mốc từ năm2015- năm Việt Nam ban hành Bộ luật hàng hải Việt Nam số 95/2015/QH13 ngày 25 tháng 11năm 2015 Do đó, các số liệu được sử dụng để nghiên cứu trong luận văn được cập nhật từ năm
2015 cho đến nay
3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 53.1 Phương pháp luận và phương pháp tiếp cận
Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủnghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền, quán triệt đường lối, chủtrương chính sách của Đảng, nhà nước về cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luậttrong điều kiện nền kinh tế thị trường
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và trình bày: phương pháp nghiên cứu được sử dụng là sự kết hợpcủa các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống như phân tích, tổng hợp,logic và phương pháp so sánh pháp luật Tùy từng chương, mỗi phương pháp sẽ được sử dụngkết hợp với các phương pháp khác hoặc được sử dụng với vai trò chủ đạo phù hợp nội dungnghiên cứu
4 Kết cấu của đề tài
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo các nội dung chính được trìnhbày theo kết cầu sau:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về bảo hiểm, bảo hiểm hàng hải Chương 2 Một sốvấn đề lý luận về bảo hiểm, bảo hiểm hàng hải
Chương 3 Quy định pháp luật quốc tế về bảo hiểm hàng hải
Chương 4 Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm hàng hải, thực tiễn áp dụng và một sốkiến nghị hoàn thiện
Trang 6NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BẢO HIỂM, BẢO HIỂM HÀNG HẢI
Pháp luật về bảo hiểm hàng hải là một chủ đề không mới nhưng cũng có không nhiều các côngtrình nghiên cứu chuyên sâu về đề này Trên đây chúng tôi xin được đề cập một số các công trìnhnghiên cứu tiêu biểu về bảo hiểm , bảo hiểm hàng hải ở trong nước và nước ngoài
1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước
a) Nghiên cứu “Pháp luật về bảo hiểm hàng hải ” của tác giả :Ngô Văn Hưng (2020)
Bài nghiên cứu về các vấn đề pháp lý về bảo hiểm hàng hải theo Luật kinh doanh bảo hiểm số24/2000/ QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số42/2019/QH14 ngày 14 tháng 6 năm 2019 hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2019; Bộ luậthàng hải Việt Nam số 95/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng
7 năm 2017 ; và các hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan đến hoạt động bảo hiểmhàng hải
Ngoài ra, Luận văn còn nghiên cứu các quy định của các công ước quốc tế về vận tải biển vàquy định pháp luật của mỗi quốc gia trên thế giới, trên cơ sở so sánh các quy định pháp luật hiệnhành của Việt Nam về bảo hiểm hàng hải với mục đích chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế củapháp luật Việt Nam về bảo hiểm hàng hải, đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế nhằm đềxuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam Phương pháp nghiên cứu của đề tài là sự kết hợpcủa các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống như phân tích, tổnghợp,logic và phương pháp so sánh pháp luật, ngoài ra còn có phương pháp phỏng vẫn chuyên
gia Việc nghiên cứu đề tài “ Pháp luật về bảo hiểm hàng hải ” đóng góp khoa học về mặt lý
luận và thực tiễn trong hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hiểm hàng hải
b) Nghiên cứu “Một số vấn đề cơ bản của Luật bảo hiểm hàng hải Anh năm 1906 và việc
áp dụng thực tiễn ” của tác giả Phạm Anh Tuấn (2007)
Luận văn tập trung nghiên cứu khái quát lịch sử hình thành và phát triển của ngành bảo hiểmhàng hải nói chung và Luật bảo hiểm hàng hải Anh năm 1906 nói riêng Sau đó tập trung nghiêncứu một cách tổng quát những nội dung chính của Luật bảo hiểm hàng hải Anh năm 1906 Bêncạnh đó cũng đi sâu vào những nội dung chủ yếu của Luật như : các nguyên tắc cơ bản của bảo
Trang 7hiểm hàng hải được thể hiện trong Luật, quy lợi được bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm, các camkết, hành trình, tổn thất Phần cuối cùng sẽ nghiên cứu một số trường hợp áp dụng thực tế củaLuật bảo hiểm hàng hải Anh 1906 để từ đó có thể hiểu chính xác các quy định thể hiện trongLuật bảo hiểm hàng hải Anh 1906 và đánh giá phần nào hiệu lực áp dụng pháp luật của đạo luậtnày Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp đánh giá, phân tích, tổng hợp, nhằm đánh giá đượctính hữu hiệu và hạn chế của Luật bảo hiểm hàng hải Anh 1906, nguyên nhân của những hạn chếbất cập đó Bài nghiên cứu có trị trong việc tạo cơ sở cho những nhà làm luật Việt Nam đánh giá,nhìn nhận về luật bảo hiểm hàng hải của Anh từ đó có những hoàn thiện cho pháp luật bảo hiểmhàng hải ở Việt Nam.
c) Nghiên cứu “Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế” Luậnvăn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Ngọc Minh Khoa Luật- ĐHQGHN (2006)Luận văn nghiên cứu làm rõ những vấn đề căn bản nhất về bảo hiểm và bảo hiểm hàng hải,đồng thời nhấn mạnh những khía cạnh pháp lý đặc thù của hợp đồng hàng hóa vận chuyển bằngđường biển quốc tế Những vấn đề này chủ yếu được nghiên cứu trong Bộ luật hàng hải ViệtNam, Luật kinh doanh bảo hiểm, các quy định về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đườngbiển tương quan so sánh với pháp luật quốc tế và pháp luật các quốc gia khác.Bài nghiên cứu sửdụng phương pháp tổng hợp phân tích, so sánh , đánh giá pháp luật trong nước và sự tươngquan với pháp luật quốc tế và các quốc gia khác Bài nghiên cứu có ý nghĩa trong việc đánh giánhìn nhận, đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm hàng hải nói chung và bảohiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển nói riêng
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài
a) Sách “Marine Insurance Law” của tác giả Ozlem Gurses (2016)
Tác phẩm giới thiệu các nguyên tắc chung về đối tượng, cấu trúc và sự hình thành hợp đồngbảo hiểm, văn bản này tiếp tục xem xét chi tiết các vấn đề riêng lẻ, bao gồm – nghĩa vụ trungthực/trình bày trung thực về rủi ro, quyền lợi có thể được bảo hiểm, các điều khoản bảo hiểmhợp đồng, môi giới, phí bảo hiểm, quan hệ nhân quả và rủi ro hàng hải, tổn thất, kiện tụng và laođộng, thế quyền, khiếu nại gian lận và tái bảo hiểm Đồng thời, tác phẩm này phản ánh nhữngthay đổi đáng kể được đưa ra bởi Đạo luật Bảo hiểm 2015 của Anh và bao gồm các Phụ lục mớibao gồm các điều khoản pháp luật và ví dụ liên quan từ các hợp đồng bảo hiểm hàng hải
b) Sách “The modern law of marine insurance” tập 3 của tác giả Rhidian Thomas (2009)
Trang 8Tác phẩm được viết bởi một nhóm các học giả và nhà thực hành hàng đầu, tập sách này phântích các câu hỏi và tranh luận pháp lý đương thời phát sinh từ thực tiễn thị trường, đồng thờicung cấp một phân tích hiện đại và cập nhật toàn diện về luật bảo hiểm hàng hải Các chủ đềđược đề cập bao gồm: các điều khoản được bảo hiểm, kết hợp các điều khoản vào hợp đồng táibảo hiểm, chính sách có giá trị, quyền lợi có thể bảo hiểm, bảo đảm và hành vi sai trái cố ý Nócũng cung cấp một phân tích so sánh vô giá về luật pháp và thực tiễn ở Châu Âu, Úc và Hoa
Kỳ Tích lũy các đóng góp cung cấp một tuyên bố toàn diện về pháp luật hiện đại và thực hànhbảo hiểm hàng hải
c) Sách “Law of Marine Insurance” tái bản lần 2 của Howard Bennett (2006)
Tác phẩm cung cấp một miêu tả rõ ràng, cập nhật về luật bảo hiểm hàng hải của Anh, kết hợpphân tích chi tiết về luật hiện đại và án lệ với sự hiểu biết rõ ràng về thực tiễn và thương mạitrong thế giới vận chuyển tác phẩm thảo luận những nội dung bao gồm không chỉ các án lệkhông ngừng phát triển, mà cả các mẫu và điều khoản tiêu chuẩn (bao gồm cả Điều khoản thântàu quốc tế năm 2003) và các quy tắc của hiệp hội bảo hiểm tương hỗ Phạm vi bảo hiểm baogồm tất cả các lĩnh vực liên quan của luật hợp đồng bảo hiểm chung cũng như tất cả các vấn đềcủa luật bảo hiểm hàng hải cụ thể Toàn bộ nội dung của ấn bản thứ hai đã được xem xét lại từđầu và bao gồm các tài liệu mới hoặc bổ sung quan trọng, đặc biệt liên quan đến: bối cảnh lịch
sử, quyền lợi có thể được bảo hiểm, hình thành chính sách, học thuyết về thiện chí tối đa, phí bảohiểm, diễn giải chính sách, tổn thất loại trừ, quyền của bên thứ ba , tổn thất, khiếu nại, ác cảm vàgiảm thiểu tổn thất, quyền đóng góp của công ty bảo hiểm và các chính sách tổng hợp
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM, BẢO HIỂM HÀNG HẢI 2.1 Một số khái niệm, đặc điểm, phân loại
2.1.1 Bảo hiểm, bảo hiểm hàng hải
2.1.1.1 Khái niệm bảo hiểm
Thuật ngữ bảo hiểm trong tiếng Việt được hiểu theo các nghĩa: “1 Giữ gìn, đề phòng tai nạn;
2 Bảo đảm bằng hợp đồng trả khoản tiền thỏa thuận khi có tai nạn, rủi ro nhất định xảy đến chongười được bảo hiểm (người được bảo hiểm phải đóng món tiền nhất định), ” Dưới góc độpháp lý, giáo sư Hemard đưa ra khái niệm: Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó một bên là ngườiđược bảo hiểm chấp nhận trả một khoản tiền ( phí bảo hiểm hay đóng góp bảo hiểm) cho chính
Trang 9mình hoặc cho một người thứ ba khác để trong trường hợp có rủi ro xảy ra họ được bồi thườngkhoản tiền từ một bên khác là người bảo hiểm, người chịu trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro, đền
bù những thiệt hại theo Luật thống kê”
Dưới góc độ kinh doanh bảo hiểm, tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ định nghĩa: Bảo hiểm làmột cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi
ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộcphạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm
Luật Kinh doanh Bảo hiểm 2000 của Việt Nam định nghĩa: “Kinh doanh bảo hiểm là hoạtđộng của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấpnhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanhnghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảohiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.”
Như vậy, định nghĩa về bảo hiểm chưa có một khái niệm thống nhất nào, ta có thể địnhnghĩa: “Bảo hiểm là sự cam kết của người bảo hiểm với người được bảo hiểm về bồi thường chongười được bảo hiểm những mất mát hư hỏng, thiệt hại của đối tượng bảo hiểm do rủi ro đã thỏathuận gây ra, với điều kiện người mua bảo hiểm đã mua bảo hiểm cho đối tượng đó và nộpkhoản tiền gọi là phí bảo hiểm” Theo đó, bên bảo hiểm sẽ chỉ trả tiền hoặc bồi thường vậtchất khi xảy ra sự kiện do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định trên cơ sở người thamgia bảo hiểm đóng phí bảo hiểm, đó là hình thức quản lý rủi ro, chủ yếu được sử dụng để bảohiểm cho những rủi ro ngẫu nhiên hoặc tổn thất có thể xảy ra Việc trả tiền hoặc bồi thường đượcthể hiện bằng một hợp đồng giữa tổ chức bảo hiểm và người được bảo hiểm
2.1.1.2 Khái niệm bảo hiểm hàng hải
Theo nghĩa rộng, bảo hiểm hàng hải được xem là biện pháp bảo đảm nghĩa vụ theo hợp đồng
ký kết giữa các chủ thể tham gia vận tải biển Quan điểm này xuất phát từ chỗ cho rằng vận tảibiển luôn đi cùng với những rủi ro có thể gây ra những thiệt hại vật chất lớn, thiệt hại về tínhmạng và những thảm họa môi trường khó khắc phục cũng như những hậu quả khác và bảo hiểmhàng hải là nguồn bồi thường những thiệt hại gây ra cũng như giảm thiểu hay ngăn ngừa nhữngtổn thất có thể lường trước
Từ các nghiên cứu trên, có thể định nghĩa “Bảo hiểm hàng hải là hoạt động nhằm bảo vệngười được bảo hiểm nhằm phân tán các thiệt hại tài chính khỏi những rủi ro, biến cố, hiểm họa
Trang 10trong hoạt động hàng hải cho nhiều người gánh chịu để người này không phải chịu ảnh hưởng tàichính quá lớn phát sinh bởi các rủi ro, thiệt hại đó gây ra.” Bản chất của bảo hiểm là sự phân chiarủi ro tổn thất của một hay một số người cho cả cộng đồng tham gia bảo hiểm cùng gánh chịu.
2.1.2 Phân loại bảo hiểm hàng hải
Có nhiều loại bảo hiểm hàng hải khác nhau, nhưng có ba loại bảo hiểm hàng hải chính đó là:Bảo hiểm thân và máy tàu (Hull and Machinery Insurance) là bảo hiểm những thiệt hại vật chấtxảy ra đối với vỏ tàu, máy móc và các thiết bị trên tàu đồng thời bảo hiểm cước phí, các chi phíhoạt động của tàu và một phần trách nhiệm mà chủ tàu phải chịu trong trường hợp hai tàu đâm
va nhau;
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu hay còn gọi là bảo hiểm dự phòng và bồi thường(P&I Insurance) là bảo hiểm cho các rủi ro liên quan đến những trách nhiệm và các chi phí theoluật định mà chủ tàu, người quản lý, người điều hành, người thuê tàu (không kể người thuê tàuchuyến) phải chi trả đối với các thiệt hại của người thứ ba do quá trình hoạt động của tàu, thuyềngây ra, bao gồm cả thiệt hại về con người và tài sản
Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển (Cargo Insurance) là bảo hiểm những rủi rotrên biển hoặc những rủi ro trên bộ, trên sông liên quan đến quá trình vận chuyển bằng tàuthuyền trên biển, gây ảnh hưởng đến các đối tượng chuyên chở do đó gây nên tổn thất về hànghóa
2.1.3 Rủi ro, phân loại rủi ro
2.1.3.1 Khái niệm rủi ro
Rủi ro là sự thiệt hại, trở ngại có thể xảy ra Trong giao dịch dân sự, nguyên nhân của sự rủi
ro phải là sự kiện bất khả kháng Trong trường hợp này, hậu quả của rủi ro là: hợp đồng đã đượcxác định sẽ bị hủy bỏ vì không thực hiện được và hai bên không còn nghĩa vụ với nhau
Căn cứ theo khoản 1 điều 303 Bộ luật hàng hải Việt Nam 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2018):
“Rủi ro hàng hải là những rủi ro xảy ra liên quan đến hành trình đường biển, bao gồm các rủi rocủa biển, cháy, nổ, chiến tranh, cướp biển, trộm cắp, kê biên, quản thúc, giam giữ, ném hàngxuống biển, trưng thu, trưng dụng, trưng mua, hành vi bất hợp pháp và các rủi ro tương tự hoặcnhững rủi ro khác được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.”
Trang 112.1.3.2 Rủi ro hàng hải có nhiều loại:
a Phân loại theo nguyên nhân, rủi ro hàng hải bao gồm rủi ro do thiên tai, rủi ro do tai nạnbất ngờ trên biển và rủi ro do hành động của con người
- Thiên tai: là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra như biển động, bão, lốc, sét, thời tiết quáxấu … mà con người không chống lại được
- Tai nạn bất ngờ trên biển: mắc cạn, đắm, bị phá huỷ, cháy, nổ, mất tích, đâm va với tàu hoặcmột vật thể cố định hay di động khác không phải là nước, phá hoại của thuyền trưởng và thuỷ thủtrên tàu,
- Hành động của con người: ăn trộm, ăn cắp hàng, mất cướp, chiến tranh, đình công, bắt giữ,tịch thu…
Ngoài ra còn các rủi ro khác như rủi ro lúc xếp dỡ hàng, hàng bị nhiễm mùi, lây bẩn
b Phân loại theo nghiệp vụ bảo hiểm, có 4 nhóm rủi ro là: rủi ro chính được bảo hiểm, rủi
ro phụ có thể được bảo hiểm, rủi ro được bảo hiểm trong trường hợp đặc biệt và rủi roloại trừ:
Rủi ro chính được bảo hiểm là rủi ro được bảo hiểm trong những điều kiện bảo hiểm hàng hóathông thường Bao gồm các rủi ro mắc cạn, chìm đắm, cháy nổ, đâm va
Rủi ro phụ có thể được bảo hiểm là các rủi ro: rách, vỡ, gỉ, bẹp, cong vênh, hấp hơi, mất mùi,lây hại, lây bẩn, va đập vào hàng hóa khác, nước mưa, hành vi ác ý, trộm, cắp, cướp, móc cẩu Rủi ro được bảo hiểm trong trường hợp đặc biệt (còn gọi là rủi ro phải bảo hiểm riêng): Lànhững rủi ro loại trừ đối với bảo hiểm hàng hải Ðó là các rủi ro đặc biệt, phi hàng hải như chiếntranh, đình công, bạo loạn… Các rủi ro này chỉ được bảo hiểm nếu có mua riêng, mua thêm Khichỉ mua bảo hiểm hàng hải thì những rủi ro này bị loại trừ Trong trường hợp chủ hàng yêu cầu,rủi ro chiến tranh sẽ được nhận bảo hiểm kèm theo rủi ro thông thường được bảo hiểm với điềukiện trả thêm phụ phí đặc biệt
Rủi ro loại trừ (còn gọi là rủi ro không được bảo hiểm): Là những rủi ro thường không đượcbảo hiểm trong mọi trường hợp Bao gồm: buôn lậu, tịch thu, phá bao vây, các hành vi sai lầm cố
ý của người tham gia bảo hiểm, nội tỳ, ẩn tỳ, bao bì không đúng quy cách, vi phạm thể lệ XNK
Trang 12hoặc vận chuyển chậm trễ làm mất thị trường, sụt giá, tàu không đủ khả năng đi biển, tàu đi chệch hướng, chủ tàu mất khả năng tài chính…
Các rủi ro được bảo hiểm phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra tổn thất Việc phân biệt nguyênnhân trực tiếp hay nguyên nhân gián tiếp có vai trò rất quan trọng để xác định rủi ro gây ra tổnthất có phải là rủi ro được bảo hiểm hay không Những tổn thất nào có nguyên nhân trực tiếp làrủi ro được bảo hiểm gây ra mới được bồi thường
(i) Giảm giá trị một phần của hàng hoá được bảo hiểm
(ii) Giảm trọng lượng do bao bì bì rách, vỡ …
(iii) Giảm về số lượng bao, kiện, thùng, hòm bị giao thiếu hay bị sóng đánh, nước cuốn trôi …(iv) Giảm về thể tích do bị rò rỉ chảy ra ngoài Tuy nhiên tổn thất bộ phận không được bao hàmhoặc là do sự hao hụt tự nhiên của hàng hoá Không được phép tính số hao hụt tự nhiên vào tổng
số tổn thất để đòi bảo hiểm bồi thường Đối với bảo hiểm hàng hoá có hao hụt tự nhiên thìthường người ta đề ra mức miễn đền có khấu trừ để loại hao hụt tự nhiên ra khỏi tổn thất đượcbồi thường
Trang 13Ví dụ: Thanh Long bị hỏng 100kg , gạo bị ướt giảm giá trị thương mại 50%, chất lỏng (xăng,dầu) rò rỉ, bay hơi
● Tổn thất toàn bộ
a.1 Tổn thất toàn bộ thực tế
Là toàn bộ đối tượng được bảo hiểm theo một HĐBH bị hư hỏng, mất mát, thiệt hại hoặc bịbiến chất, biến dạng không còn như lúc mới được bảo hiểm hay bị mất đi, bị tước đoạt không lấylại được nữa Chỉ có "Tổn thất toàn bộ thực tế" trong 4 trường hợp sau:
1 Hàng hoá bị huỷ hoại hoàn toàn
2 Hàng hoá bị tước đoạt không lấy lại được
3 Hàng hoá không còn là vật thể bảo hiểm
4 Hàng hóa ở trên tàu mà tàu được tuyên bố mất tích
Ví dụ: Một tàu chở cà phê xuất khẩu từ Quảng Ninh sang Hàn Quốc Trên hành trình, tàu gặpbão lớn Cà phê bị ướt và vón cục Nếu tiếp tục chở đến Hàn Quốc thì cà phê sẽ bị hỏng toàn bộ(không còn giá trị thương mại) Trong trường hợp này, khi hàng đến Hàn Quốc thì tổn thất toàn
bộ là không thể tránh khỏi
a.2 Tổn thất toàn bộ ước tính
Là tổn thất xảy ra với đối tượng bảo hiểm mà việc xảy ra tổn thất toàn bộ thực tế là khó tránhkhỏi hay vì chi phí cứu hàng, tu bổ lại và gửi hàng đến nơi nhận thuộc phạm vi bảo hiểm có thể
sẽ vượt quá giá trị hàng hoá tại nơi nhận đó Theo quy định của luật bảo hiểm hàng hải MIA,
1906 của Anh đối với tổn thất toàn bộ ước tính: "Khi người được bảo hiểm bị mất quyền sở hữuvới hàng hoá của họ do rủi ro được bảo hiểm, và (a) không chắc chắn thu hồi hàng hóa về được,theo tình trạng có thể, hoặc (b) phí tổn để cứu vớt hàng hóa trong trường hợp có thể, sẽ vượt quágiá trị của nó khi thu hồi" Sở dĩ trong bảo hiểm người ta đề ra 12 tổn thất toàn bộ ước tính là vìkhi xảy ra tổn thất toàn bộ là không thể tránh khỏi, hoặc chi phí cứu chữa, lấy lại hàng cao quágiá trị bảo hiểm thì người bảo hiểm lại phải bồi thường toàn bộ giá trị của lô hàng bảo hiểm.Trong khi đó người được bảo hiểm cũng mong thu hồi lại số tiền bồi thường toàn bộ cho lôhàng đó để tiếp tục kinh doanh lần khác Người bảo hiểm và người được bảo hiểm đều có trách
Trang 14nhiệm quan tâm tới quyền lợi bảo hiểm Nếu chưa thật sự mất toàn bộ trong khi có nguy cơ đedoạ mất toàn bộ, mà bảo hiểm chấp nhận bồi thường tổn thất toàn bộ, thì người bảo hiểm đượcquyền sở hữu lô hàng đang bị tổn thất đó Do đó người bảo hiểm có thể bỏ chi phí để cứu vãn,thu hồi giá trị còn lại của lô hàng để giảm nhẹ số tiền gánh vác bồi thường.
Ví dụ: Một tàu chở sắt thép xây dựng bị đắm trên hành trình do gặp bã cx o Nếu tiến hành trụcvớt thì chi phí trục vớt có thể bằng hoặc lớn hơn giá trị ban đầu của lô hàng
b Căn cứ vào trách nhiệm bảo hiểm
b.1 Tổn thất chung
Đó là các thiệt hại xảy ra do sự hy sinh hoặc chi phí bất thường, được thực hiện một cách có ýthức và hợp lý nhằm mục đích cứu tàu, hàng hoá và cước phí thoát khỏi một nguy hiểm thật sự.Trong thực tế, tổn thất chung là vấn đề rất phức tạp trong thương mại hàng hải Để tránh nhữnghiện tượng xung đột pháp luật về vấn đề này, đã từ lâu, trong các hợp đồng bảo hiểm hàng hoávận chuyển bằng đường biển, người ta thường thoả thuận thống nhất áp dụng quy tắc YORK -ANTWERP để xác định và phân bổ tổn thất chung Theo quy tắc YORK - ANTWERP 1974 xácđịnh khi nào thì có tổn thất chung như sau (Rule A) "có một hành động tổn thất chung khi và chỉkhi có sự hy sinh hoặc chi phí bất thường nào đó được làm hoặc phải chịu có chủ ý và hợp lý, vì
an toàn chung, nhằm mục đích bảo vệ tài sản có liên quan có phiêu trình hàng hải thông thườngthoát hiểm khỏi hiểm hoạ Những hy sinh và chi phí tổn thất chung sẽ được chịu bởi sự đóng gópcủa các quyền lợi khác nhau trên cơ sở quy tắc này đưa ra" Để xác định tổn thất có phải là tổnthất chung hay không, người ta phải căn cứ vào 4 đặc trưng sau đây:
Phải có nguy cơ đe doạ thật sự toàn bộ hành trình, sự hy sinh và chi phí phải được thực hiệnmột cách bất thường; Khi tàu đang làm hành trình bình an vô sự thì thuyền trưởng không cóquyền đem hy sinh tài sản, làm như vậy là hành động phá hoại; Tai hoạ đe dọa phải mang tínhcấp bách, hành động tổn thất chung nhằm tránh tai hoạ chung nhưng phải ở trong tình trạng thực
sự có tai hoạ và tai họa mang tính khẩn cấp Trường hợp phóng xạ có tai hoạ, phòng tránh có taihoạ thì không được coi là hành động tổn thất chung; Sự bất thường còn có nghĩa là ngoài nhiệm
vụ chức trách bình thường của thuyền trưởng và thuỷ thủ đoàn
Sự hy sinh, chi phí phải là hậu quả trực tiếp của hành động có ý thức và có suy xét Điều đó có
ý nghĩa là nguyên nhân gây ra tổn thất mang tính chủ quan Đó là hành động cố ý và tự nguyệncủa con người trên tàu Khi tiến hành làm hành động này, con người đã lường trước được tổnthất
Trang 15sẽ xảy ra Nhưng số tổn thất này sẽ đem lại lợi ích là tàu thoát khỏi nguy cơ đe doạ tổn thất toàn
bộ cho cả tàu và hàng Đó là mục đích của hành động tổn thất chung
Những hành động được xem là hợp lý còn tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể Luôn tồn tạimột nguyên tắc như sau: Để cứu tàu và hàng hoá thoát khỏi sự nguy hiểm chung có thể có nhiềucách xử lý khác nhau, thì cách xử lý hợp lý nhất được xem là cách cho phép cứu được nhiều giátrị tài sản mà thiệt hại và phí tổn phải bỏ ra là ít nhất
Hành động tổn thất chung phải đảm bảo vì an toàn chung của tất cả các quyền lợi có liên quanđến phiêu trình hàng hải Nguyên tắc này thể hiện ý chí của sự hy sinh Mục đích và dụng ý củahành động hy sinh phải đặt quyền lợi an toàn chung lên trên hết và phải thực sự đem lại sự antoàn chung cho tất cả các quyền lợi có ở trên tàu Tổn thất chung được phân bổ cho tất cả các bên
có quyền lợi ở trên tàu Đó là chủ tàu, chủ hàng và bên có cước phí vận chuyển Tổn thất chungđược phân bổ theo tỷ lệ của tài sản tham gia vào tổn thất chung của các bên tham gia đóng góptổn thất chung
b.2 Tổn thất riêng
Là những tổn thất chỉ liên quan đến quyền lợi của một bên hay một số bên nào đó có quyền lợi
ở trên tàu Tức là những tổn thất bị gây ra thiếu ít nhất một 14 trong bốn đặc trưng của tổn thấtchung là tổn thất riêng Tổn thất riêng cũng có thể là tổn thất bộ phận hoặc tổn thất toàn bộ, đểphân biệt tổn thất riêng với các dạng tổn thất khác người ta căn cứ vào hai điều kiện:
(i) Xem xét quyền lợi bảo hiểm tổn thất riêng chỉ liên quan đến từng quyền lợi bảo hiểm riêngbiệt
(ii) Nguyên nhân gây tổn thất là do thiên tai tai nạn bất ngờ thuộc rủi ro được bảo hiểm Bảohiểm không những bồi thường giá trị thiệt hại vật chất của tổn thất riêng mà còn chi trả cả nhữngchi phí liên quan nhằm hạn chế những hư hại tổn thất gây ra
2.2 Các nguyên tắc của bảo hiểm, bảo hiểm hàng hải
2.2.1 Các nguyên tắc của bảo hiểm
● Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn (Fortuity not certainty)
Nguyên tắc này chỉ ra rằng người bảo hiểm chỉ bảo hiểm một rủi ro, tức là bảo hiểm một sự
cố, một tai nạn, tai hoạ, xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của con người chứ
Trang 16không bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra, đương nhiên xảy ra, cũng như chỉ bồi thường nhữngthiệt hại, mất mát do rủi ro gây ra chứ không bồi thường cho những thiệt hại chắc chắn xảy ra,đương nhiên xảy ra.
Như vậy, người ta chỉ bảo hiểm cho những gì có tính chất rủi ro, bất ngờ, không lường trướcđược, nghĩa là không bảo hiểm cái gì đã xảy ra hoặc chắc chắn sẽ xảy ra Bởi lẽ, bảo hiểm đượcthực hiện chính là nhằm giải quyết hậu quả của những sự cố rủi ro ngoài ý muốn của con người,những rủi ro mà con người không thể hạn chế được hoặc chỉ hạn chế được phần nào Người khaithác không nhận bảo hiểm khi biết chắc chắn rủi ro được bảo hiểm sẽ xảy ra
● Nguyên tắc trung thực tuyệt đối (utmost good faith)
Tất cả các giao dịch kinh doanh cần được thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thựctuyệt đối Cả người được bảo hiểm và người bảo hiểm đều phải trung thực trong tất cả các nộidung liên quan đến giao kết hợp đồng bảo hiểm Người bảo hiểm phải công khai tuyên bố nhữngđiều kiện, nguyên tắc, thể lệ, giá 15 cả bảo hiểm… cho người được bảo hiểm biết Ví dụ, trongbảo hiểm hàng hải, thứ nhất của đơn bảo hiểm bao gồm các nội dung như điều kiện bảo hiểm, giátrị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, tỷ lệ bảo hiểm…, mặt khác bao gồm quy tắc, thể lệ bảo hiểm củacông ty bảo hiểm có liên quan Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có tráchnhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điềukhoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm Người bảo hiểm cũng không được nhận bảo hiểm khibiết đối tượng bảo hiểm đã đến nơi an toàn
Người được bảo hiểm phải khai báo chính xác các chi tiết liên quan đến đối tượng bảo hiểm
Họ cũng phải thông báo kịp thời những thay đổi về đối tượng bảo hiểm, về rủi ro, về những mối
đe dọa nguy hiểm hay làm tăng thêm rủi ro…mà mình biết được hoặc đáng lẽ phải biết Ngườiđược bảo hiểm cũng không được mua bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm khi biết đối tượng bảohiểm khi biết đối tượng bảo hiểm đó đã bị tổn thất
Sở dĩ có nguyên tắc này là vì trong giao dịch bảo hiểm, chỉ có người chủ (hoặc người quản lý,
sử dụng) mới biết được tất cả mọi yếu tố của đối tượng bảo hiểm, biết rủi ro mình yêu cầu bảohiểm, còn người bảo hiểm thường không biết rõ rủi ro mà chỉ dựa vào những thông tin do ngườiyêu cầu bảo hiểm cung cấp để xét đoán mức độ rủi ro và quyết định thái độ của mình đối với rủiro: nhận hay không nhận bảo hiểm, nhận bảo hiểm theo điều kiện, điều khoản như thế nào vàtính tỉ lệ phí bảo hiểm bao nhiêu… Do đó, người yêu cầu bảo hiểm phải có trách nhiệm khai báomọi yếu tố liên quan một cách đầy đủ và trung thực và phải khai báo sự phát sinh các yếu tố
Trang 17quan trọng, có ảnh hưởng đến đối tượng được bảo hiểm trong suốt thời gian hợp đồng có hiệulực hoặc khi tái tục hợp đồng.
● Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm (insurable interest)
Quyền lợi có thể được bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến, gắn liền với, hay phụthuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm Nguyên tắc này chỉ ra rằngngười được bảo hiểm muốn mua bảo hiểm phải có lợi 16 ích bảo hiểm Quyền lợi có thể đượcbảo hiểm có thể là quyền lợi đã có hoặc sẽ có trong đối tượng bảo hiểm
Nói khác đi, người có quyền lợi có thể được bảo hiểm là người bị thiệt hại về tài chính khi đốitượng bảo hiểm gặp rủi ro Người có quyền lợi có thể được bảo hiểm là người có một số quan hệvới đối tượng bảo hiểm được pháp luật công nhận Đó có thể là người chủ sở hữu của đối tượngbảo hiểm đó, người chịu trách nhiệm quản lý tài sản hoặc người nhận cầm cố tài sản Quyền lợi
có thể được bảo hiểm có ý nghĩa rất to lớn trong bảo hiểm, có quyền lợi có thể được bảo hiểm thìmới được ký kết hợp đồng bảo hiểm Khi xảy ra tổn thất, người được bảo hiểm đã phải có quyềnlợi có thể được bảo hiểm rồi mới được bồi thường
Để đảm bảo nguyên tắc này, trước khi phát hành hợp đồng bảo hiểm, công ty bảo hiểm phảikiểm tra giữa người tham gia bảo hiểm và đối tượng bảo hiểm có tồn tại quyền lợi có thể đượcbảo hiểm theo nguyên tắc và theo quy định của hợp đồng bảo hiểm đó hay không
● Nguyên tắc bồi thường (indemnity)
“Bồi thường” có thể được hiểu là “sự bảo vệ hoặc đảm bảo cho thiệt hại hoặc tổn thất phát sinh
từ trách nhiệm pháp lý” Ở đây, “đảm bảo” và “bảo vệ” rất phù hợp với ý nghĩa của bảo hiểm.Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thếnào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vị trí tài chính như trước khi có tổn thất xảy ra,không hơn không kém Các bên không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi
Mục đích của nguyên tắc bồi thường là khôi phục lại một phần hoặc toàn bộ tình trạng tàichính như trước khi xảy ra tổn thất cho người được bảo hiểm Tuy nhiên, thực tế cho thấy, có rấtnhiều trường hợp các công ty bảo hiểm không thể khôi phục được hoàn toàn vị trí tài chính banđầu cho người được bảo hiểm mà chỉ có thể cố gắng khôi phục được gần như thế
Một số trường hợp cần lưu ý:
Trang 18Theo nguyên tắc này, trong trường hợp người được bảo hiểm được nhận tiền bồi thường từnhiều hợp đồng bảo hiểm khác nhau, có thể từ các công ty bảo hiểm khác nhau hoặc của cùngmột công ty bảo hiểm, tổng số tiền bồi thường của tất cả các hợp đồng bảo hiểm sẽ không vượtquá giá trị tổn thất.
Trường hợp người được bảo hiểm cũng được một bên thứ ba có trách nhiệm chi trả thiệt hại
Ví dụ như nhận tiền bồi thường từ người điều khiển ô tô đã đâm phải mình Khi đó, tổng số tiềnbồi thường của bên thứ ba và công ty bảo hiểm cũng không vượt quá giá trị tổn thất mà ngườiđược bảo hiểm phải gánh chịu Nếu người được bảo hiểm đã nhận tiền bồi thường của công tybảo hiểm, người được bảo hiểm phải có trách nhiệm bảo lưu và chuyển quyền đòi bồi thườngngười thứ ba cho công ty bảo hiểm
● Nguyên tắc thế quyền (subrogation)
Theo nguyên tắc thế quyền, người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, cóquyền thay mặt người được bảo hiểm để đòi người thứ ba trách nhiệm bồi thường cho mình.Tất cả các khoản tiền nào có thể thu hồi được để giảm bớt thiệt hại đều thuộc quyền sở hữu củangười bảo hiểm, tức là người đã trả tiền bồi thường tổn thất Khi số tiền phải bồi thường càng lớnthì việc áp dụng nguyên tắc thế quyền càng quan trọng và có ý nghĩa Thế quyền có thể đượcthực hiện trước hoặc sau khi bồi thường tổn thất Trong trường hợp này, người bảo hiểm đượcthay mặt người được bảo hiểm để làm việc với các bên liên quan Để thực hiện được nguyên tắcnày, người được bảo hiểm phải cung cấp các biên bản, giấy tờ, chứng từ, thư từ… cần thiết chongười bảo hiểm
Điều cần chú ý là, người được bảo hiểm cũng có thể được bồi thường từ một nguồn khác ngoàinguồn bồi thường từ công ty bảo hiểm, nhưng trong trường hợp đó, bất cứ số tiền nào mà ngườiđược bảo hiểm thu được cũng phải đặt dưới danh nghĩa của công ty bảo hiểm đã thực hiện bồithường Do mối quan hệ chặt chẽ giữa thế quyền và bồi thường, một công ty bảo hiểm khôngđược phép thu nhiều 18 hơn số tiền họ đã bồi thường Người bảo hiểm chỉ được thực hiện thếquyền ở mức độ tương đương với số tiền đã trả hoặc sẽ trả Điều này cũng có nghĩa là không chỉngười được bảo hiểm mà cả công ty bảo hiểm đều không được phép thu lời từ việc thực hiệnquyền của mình
● Nguyên tắc nguyên nhân gần
Trang 19''Nguyên nhân gần'' không nhất thiết phải là nguyên nhân đầu tiên hay nguyên nhân cuối cùng
mà nó là nguyên nhân chi phối, nguyên nhân chủ động gây ra tổn thất cho đối tượng được bảohiểm Trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm, đối tượng được bảo hiểm thường gặpnhững rủi ro gây ra tổn thất Song có những tổn thất xảy ra do nhiều nguyên nhân, trong đó có cảnguyên nhân đã được loại trừ không thuộc trách nhiệm bảo hiểm Vậy điều quan trọng là phảixác định được nguyên nhân đó có thuộc trách nhiệm bảo hiểm không
2.2.2 Các nguyên tắc bảo hiểm hàng hải
● Quyền lợi có thể bảo hiểm
Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm chỉ ra rằng, người được bảo hiểm muốn mua bảohiểm phải có lợi ích bảo hiểm Quyền lợi có thể được bảo hiểm có thể là quyền lợi đã có hoặc sẽ
có trong đối tượng bảo hiểm Trong bảo hiểm hàng hải, quyền lợi có thể được bảo hiểm khôngnhất thiết phải có khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, nhưng nhất thiết phải có khi xảy ra tổn thất.Doanh nghiệp có quyền được bảo hiểm khi hàng hoá được đặt trong tình thế chịu hiểm hoạhàng hải và doanh nghiệp đó phải có quan hệ pháp lý với hàng hoá Thì khi đó, doanh nghiệp sẽđược hưởng lợi nếu hàng hoá đó bị tổn thất, hay bị cầm giữ hoặc phát sinh trách nhiệm
● Trung thực tuyệt đối
Là một đặc trưng của hợp đồng hàng hải, hợp đồng bảo hiểm hàng hóa đường biển phải đượcgiao kết trên cơ sở trung thực tuyệt đối Doanh nghiệp phải khai báo đầy đủ và chính xác mọithông tin cần thiết cho bên mua bảo hiểm
Trang 20● Bảo hiểm rủi ro
Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, cả doanh nghiệp mua bảo hiểm và bên bảo hiểm đều khôngthể khẳng định rủi ro có thể xảy ra hay không, nếu một hợp đồng bảo hiểm hàng hoá được giaokết mà người bảo hiểm đã biết có rủi ro xảy ra cho hàng hoá thì bảo hiểm sẽ trở nên vô hiệu.Tóm lại, bảo hiểm hàng hải ra đời là do sự tồn tại khách quan của các rủi ro và các rủi ro đó sẽđược chính là sự trang trải những tổn thất của những người được bảo hiểm gặp rủi ro cho tất cảnhững người tham gia bảo hiểm cùng chịu thông qua phí bảo hiểm Người bảo hiểm là ngườitrung gian đứng ra nhận lãnh tổn thất và phân chia tổn thất này cho tất cả những người tham giabảo hiểm
2.3 Vai trò của bảo hiểm hàng hải
Bảo hiểm là một biện pháp bảo vệ quan trọng đối với bất kỳ hoạt động kinh doanh nào Bảohiểm hàng hải là hình thức bảo hiểm lâu đời nhất cần thiết để thúc đẩy thương mại, từ đó dẫn đếntăng trưởng kinh tế Bất kỳ doanh nghiệp nào tham gia vào thương mại bao gồm cả xuất nhậpkhẩu hàng hóa đều phải đối mặt với nhiều rủi ro có thể dẫn đến mất mát hoặc hư hỏng các vật cógiá trị trong khi vận chuyển bằng đường sắt, đường bộ, đường hàng không hoặc đường biển Vớitoàn cầu hóa và gia tăng thương mại, nhu cầu về bảo hiểm hàng hải cũng ngày càng tăng trongcác doanh nghiệp để duy trì sự toàn vẹn tài chính của họ Những lý do sau đây nói lên tầm quantrọng của bảo hiểm hàng hải đối với các doanh nghiệp ở khắp mọi nơi
● Khi nói đến thương mại, một doanh nghiệp cần phải dựa vào vận chuyển Vận chuyển làmột quá trình cực kỳ rủi ro, phải đối mặt với nhiều hiểm họa có tên và không tên khácnhau trên biển Doanh nghiệp cần cẩn trọng từ khâu đóng gói hàng hóa cho đến vậnchuyển Ngoài ra, lựa chọn các phương thức hậu cần đáng tin cậy để vận chuyển suôn sẻ.Tuy nhiên, bất chấp tất cả các biện pháp an toàn, tai nạn vẫn có thể xảy ra dẫn đến mấtmát hoặc hư hỏng lô hàng hoặc hàng hóa Để quản lý những rủi ro vận tải này, điều quantrọng là phải tận dụng bảo hiểm hàng hải Bảo hiểm hàng hải có sẵn dưới nhiều hình thứckhác nhau như bảo hiểm quá cảnh đường biển, bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm quá cảnh nộiđịa, v.v để bảo hiểm cho cả giao dịch trong nước và quốc tế
● Doanh nghiệp vận chuyển lô hàng với số lượng lớn Theo hợp đồng vận tải, người cónhiệm vụ vận chuyển chỉ chịu trách nhiệm về tổn thất hàng hóa trong một phạm vi vàgiới hạn nhất định Khi vận chuyển hàng hóa có rất nhiều rủi ro, tai nạn các bên vậnchuyển loại trừ không chịu trách nhiệm nên mất mát hoặc hư hỏng đối với các lô hàng
Trang 21giá
Trang 22trị cao có thể khiến doanh nghiệp rơi vào khủng hoảng tài chính nghiêm trọng Bảo hiểmhàng hải cung cấp phạm vi bảo hiểm toàn diện bằng cách bảo vệ lô hàng của thương nhânkhỏi các rủi ro khác nhau như trộm cắp và cướp biển, hỏa hoạn, cháy nổ, thiên tai nhưbão, cuồng phong, động đất, lốc xoáy, va chạm, … trong vận chuyển đường bộ và chìmtàu ngoài việc trang trải các chi phí khác nhau.
CHƯƠNG 3: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ BẢO HIỂM HÀNG HẢI
Bảo hiểm hàng hải có một lịch sử lâu đời Một trong những đơn bảo hiểm đầu tiên mà người
ta tìm thấy là đơn bảo hiểm cấp vào năm 1347 tại Genoa (Italy) cho tàu Santa Clara đi đến đảoMajorca thuộc Tây Ban Nha Bảo hiểm sau đó phát triển sang Anh – đất nước có nền ngoạithương phát triển, mà ngay từ thế kỷ XVII Anh đã có mẫu đơn bảo hiểm tàu và hàng (Lloyd’s
SG form) Năm 1745 tại Anh, đạo luật bảo hiểm hàng hải (Marine insurance act 1745) ra đời vàsau đó được thay đổi bằng đạo luật bảo hiểm hàng hải 1788, đạo luật 1868 và hiện nay là đạoluật bảo hiểm 1906 được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới cùng với các điều ước quốc tế, tậpquán quốc tế về hàng hải
3.1 Tập quán quốc tế - Incoterms 2020
Các tập quán bảo hiểm hàng hải quốc tế bao gồm các quy tắc do các tổ chức, các hiệp hội bảohiểm hàng hải quốc tế xây dựng trên cơ sở đúc rút từ thực tiễn bảo hiểm hàng hải, được các bên
về bảo hiểm hàng hải Incoterms không mang tính bắt buộc phải sử dụng nhưng khi đã sử dụngthì các bên phải tuân thủ và chịu mọi rủi ro, chi phí và trách nhiệm theo điều kiện đã được thốngnhất